CÁC VĂN KIỆN TÒA THÁNH II

16. THÔNG ĐIỆP REDEMTORIS HOMINIS ĐẤNG CỨU CHUỘC CON NGƯỜI

17. TÔNG HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC “SACRAMENTUM CARITATIS” BÍ TÍCH TÌNH YÊU

18 THÔNG ĐIỆP “SPE SALVI” NIỀM HY VỌNG CỨU ĐỘ

19. THÔNG ĐIỆP ÁNH RẠNG NGỜI CHÂN LÝ VERITATIS SPLENDOR

20. HUẤN THỊ DOMINUS JESUS

21. TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU ECCLESIA IN ASIA

22. TÔNG HUẤN HÒA GIẢI SÁM HỐI

23. TÔNG THƯ NGÀY CỦA CHÚA – DIES DOMINI

24. THÔNG ĐIỆP HUMANAE VITAE CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI VỀ VIỆC ĐIỀU HÒA SINH SẢN

25. THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM – TÂN SỰ

26. TÔNG THƯ NGÀN NĂM THỨ BA ĐANG ĐẾN

27. HUẤN THỊ ĐẠO ĐỨC TRONG INTERNET

29. TÔNG HUẤN LOAN BÁO TIN MỪNG (EVANGELII NUNTIANDI)

31. HUẤN THỊ DIGNITAS PERSONAE PHẨM GIÁ CON NGƯỜI (VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC)

33. TÔNG HUẤN VỀ DẠY GIÁO LÝ TRONG THỜI ĐẠI CHÚNG TA “CATECHESI TRADENDAE”

34. THÔNG ĐIỆP TIN MỪNG VỀ SỰ SỐNG “EVANGELIUM VITAE”

35. TÔNG HIẾN SACRAE DISCIPLINAE LEGES – CÁC LUẬT LỆ VỀ KỶ LUẬT THÁNH

HUẤN THỊ LINH MỤC MỤC TỬ VÀ LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ

37. HUẤN THỊ VỀ SỰ HỢP TÁC CỦA GIÁO DÂN VỚI THỪA TÁC VỤ LINH MỤC

34. THÔNG ĐIỆP TIN MỪNG VỀ SỰ SỐNG “EVANGELIUM VITAE”

Công bố ngày 30/03/1995

GỬI

CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC, PHÓ TẾ, TU SĨ NAM NỮ, GIÁO DÂN

VÀ MỌI NGƯỜI THIỆN CHÍ VỀ GIÁ TRỊ VÀ TÍNH BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA SỰ SỐNG CON NGƯỜI

LỜI GIỚI THIỆU CỦA ĐỨC HỒNG Y A. L. TRUJILLO

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TOÀ THÁNH VỀ GIA ĐÌNH

CHƯƠNG I : TIẾNG MÁU EM NGƯƠI TỪ ĐẤT KÊU ĐẾN TA NHỮNG ĐE DOẠ HIỆN NAY CHỐNG LẠI SỰ SỐNG CON NGƯỜI

CHƯƠNG II: TÔI ĐẾN ĐỂ CHO HỌ ĐƯỢC SỐNG

CHƯƠNG III: NGƯƠI CHỚ GIẾT NGƯỜI

1. Thông Điệp này, bức thông điệp thứ mười một trong triều đại Giáo Hoàng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, là một giải đáp mang tính lịch sử và đầy ý nghĩa trước những xâm phạm hết sức nghiêm trọng chống laị sự sống con người. Thông điệp đã được các hồng y đồng loạt yêu cầu soạn thảo khi các Ngài nhóm họp Hội Nghị bất thường do Đức Thánh Cha triệu tập tại Rôma, từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 7 tháng Tư năm 1991. Qua một lá thư gởi riêng cho từng vị Giám Mục, tất cả các Ngài đều được tham khảo ý kiến về một hiện tượng kinh hoàng mang những tầm mức lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử, mà lại thường được luật dân sự tán đồng và được biện minh rộng rãi bởi nền văn hoá của sự chết.

Như Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh, Thông Điệp này thành quả bởi sự cộng tác của hàng Giám Mục ở mỗi quốc gia trên toàn thế giới. Như vậynó muốn là một lời khẳng định minh bạch và kiên quyết về giá trị và tính bất khả xâm phạm của sự sống con người. Thông Điệp này cũng muốn là một tiếng gọi tha thiết nhân danh Thiên Chúa gởi đến tất cả và đến mỗi người, là hãy tôn trọng, hãy bảo vệ, hãy yêu mến và phục vụ sự sống, mỗi một sự sống con người .

Thông Điệp Tin Mừng về sự sống biểu lộ một sức mạnh tập thể đặc biệt trong Giáo Hội, một Giáo hội ý thức sứ mệnh của mình phải bênh vực con người là hình ảnh Thiên Chúa, và ý thức về bổn phận bảo vệ toàn thể nhân loại trước những thách đố cực kỳ lớn lao này.

2. Ngay từ bức Thông Điệp đầu tiên, Đấng Cứu Chuộc con người (4.3.1979), trong cương vị kế nhiệm Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã tập trung giáo huấn của Ngài vào Chúa Kitô, Đấng Cức Chuộc con người, và vào sự gặp gỡ mang tính cứu độ của Chúa với cuộc sống cụ thể của con người ngày nay, con người được biểu theo thực tại, công việc, đời sống xã hội, sứ mệnh trong Hội Thánh, theo nhu cầu được tha thứ, và theo hành vi luân lý của mình. Trong mọi lãnh vực đó, luôn vẫn chính là con người đứng trước tác động cứu chuộc

của Chúa Kitô, Đấng cứu thoát con người trong thưc tại cụ thể của họ.

Thông Điệp Tin Mừng về sự sống tóm được sứ điệp đa dạng và đồng nhất này: “Tin Mừng về sự sống nằm ở ngay trung tâm sứ điệp của Chúa Giêsu”.

Để minh hoạ tính cách yếu lược và tổng quát của Thông Điệp ngay từ lúc khởi thảo, cần nhắc lại ở đây những tương quan với mỗi tài liệu khác nhau về nội dung đã được ban hành trong triều đại Giáo Hoàng này, như: Tông Huấn Familiaris consortio, Thông Điệp Veritatis splendor, nhắc nhở lại nền tảng của phán đoán luân lý, Thông Điệp Centesimus annus và Thư gởi các gia đình, mà Thông Điệp Tin Mừng về sự sống muốn nối tiếp theo, hay đúng hơn, muốn bổ túc thêm (x. số 6).

Qua các trưng dẫn trong Thông Điệp này ta có thể đọc lại Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công Đồng Vatican II, cũng như Thông Điệp Sự sống con người của Đức Phaolô VI. Viêc bênh vực sự sống qua giáo huấn thường ngày và qua công tác mục vụ của Đức Gioan Phaolô II là yếu tố được nhấn mạnh cách sâu sắc, liên tục và khẩn thiết hơn cả trong Thông Điệp này. Đức Thánh Cha cũng thường trưng dẫn những văn kiện của Thánh Bộ về Giáo Lý Đức Tin, đặc biệt là Huấn Thị Donum vitae (Ơn ban sự sống). Cũng rất hợp thời khi Thông Điệp được ban hành sau cuốn sách Giáo Lý của Giáo hội Công Giáo, là văn kiện có tầm quan trọng lớn, và Thông Điệp liên tục qui chiếu về văn kiện này.

3. Như nhan đề cho thấy, Thông Điệp Tin Mừng về sự sống mong mỏi trước hết được là một lời loan báo, một lời công bố hân hoan về ơn ban sự sống.

Đức Giáo Hoàng muốn nắm tay đọc giả để dẫn họ vào sự hiểu biết sẽ trở thành lời chúc tụng, nguyện cầu và tiếng hát. Mặc dầu tính vững chắc của suy tư và sức mạnh của lý chứng, trong một cuộc đối thoại đòi sự dấn thân và có sức lôi cuốn, lời lẽ của Đức Thánh Cha co thấy nơi Ngài khả năn thán phục, sửng sốt và khả năn chiêm ngưỡng chân lý và dâng lời tán tạ. bức Thông Điệp trở thành như một bài thánh thi, một bài hát ca ngợi sự sống. Tôi nghĩ rằng khám phá ra phương diện này, như nền tảng của Thông Điệp, là điều quan trong, tuy rằng không vì thế mà coi nhẹ những mối bận tâm mà Đức Thánh Cha bộc lộ, những bận tâm ấy đã trở thành những lời phi bác mang tính ngôn sứ, thành những chỉ dẫn có tính cách đòi hỏi và đồng thời là chứng từ mạnh mẽ và long trọng khác thường. Nhưng sự phi bác để bênh vực chân lý luôn luôn mở rộng đón chờ việc hoán cải.

Can đảm bảo vệ những người nghèo khổ nhất

Tôi muốn lưu ý quí vị một phương diện khác nữa: Thông Điệp Tin Mừng về sự sống là một lời bênh vực can đảm và kiên quyết cho những người nghèo khổ nhất, những người yếu đuối nhất, những người không được bảo vệ, những người vô tội nhất: đó là những trẻ em sẽ được sinh ra, những người nghèo, những người quẫn bách. Thông Điệp không trình bày những đề tài tách biệt hay xa lạ, nhưng trong một bầu khi cảm thông, nó tiếp cận và xuyên suốt những thảm kịch có liên quan tới chúng ta.

Tôi xin phép được nên lên một so sánh. Chúng ta vẫn còn nhớ rất rõ cách thức mà Thông Điệp Rerum novarum (Tân sự) đã được đón nhận, như một việc tiến lại gần nhau giữa Giáo hội và giai cấp công nhân. Chúng ta có thể nói rằng Thông Điệp Tin Mừng về sự

sống tạo nên sự gần gũi trong tình liên đới với những người nghèo, trước những kẻ có quyền lực; Giáo hội đã ra tay bênh vực người nghèo, điều mà Giáo hội coi như một vinh dự và một bổn phân cấp bách đòi hỏi phải dấn thân. Chúng ta hãy nghe lời Đức Thánh Cha trong bức thư gởi cho mỗi vị trong toàn thể các Giám Mục dịp lễ Ngũ Tuần năm 1991, bức thư này tiếp nhân những thỉnh nguyện của các Hồng Y và như thành quả của Hội Nghị bất thường đã nói tới trên đây, bức thư ấy thật sự đã hàm ý loan báo Thông Điệp Tin Mừng về sự sống. Sau đây là lời của Đức Thánh Cha được Thông Điệp trích dẫn: “Như cách đây một thế kỷ, khi giai cấp công nhân bị bóc lột những quyền căn bản của họ, thì Giáo hội đã rất can đảm bênh vực họ bằng cách công bố những quyền thánh thiêng của nhân vị người lao động, ngày nay cũng thế, khi một lớp người khác bị đàn áp về quyền căn bản là sự sống, thì Giáo hội cảm thấy mình cũng phải anh dũng lên tiếng thay cho người không có tiếng nói. Giáo hội luôn luôn kêu lên tiếng kêu của Tin Mừng để bênh vực những người nghèo trên thế giới, những người bị đe dọa, bị khinh dể, bị tước đoạt nhân quyền” (số 5).

Nhiều dịp Đức Thánh Cha nhắc tới những người yếu đuối nhất, mà quyền lợi bị chà đạp, những người bị tổn thương, nơi họ là những hữu thể nhân linh, các nhân vị và ngay cả Thiên Chúa đều bị thiệt hại.

Đó không phải đơn giản chỉ là một cái nhìn xã hội, chính trị hướng về những con người yếu đuối và nghèo khổ nhất, coi họ như là một “giai cấp” theo nghĩa hạn hẹp, nhưng đồng thời cũng là tấm lòng của vị mục tử đi vào chiều sâu bằng cách biểu lộ sự ân cần của vị mục tử tốt đối với đoàn chiên và với từng con chiên. Đó là tấm lòng của người Samaritano nhân hậu. Đây là vấn đề về một thảm kịch xã hội lịch sử, cực kỳ nghiêm trọng, mà Giáo hội coi như liên quan tới chính bản thân mình. Một thảm kịch càng bi đát khi mà sức mạnh và những tham vọng của các kẻ có quyền lực càng lớn, kể cả những phương tiện họ nắm trong tay nữa. Đây là vấn đề về một sự đối nghịch nặng nề chứng tỏ một mâu thuẫn hổ nhục. Những của cải mà các kẻ có quyền lực thụ hưởng dự dật không bao giờ mở lòng mở trí con người hướng tới tình liên đới cả, nhưng là tới một âm mưu chống lại sự sống. Trước thảm kịch lan tràn rộng khắp này, Giáo hội không thể làm thinh, và lời Giáo hội công bố về sự sống, một lời công bố phúc hạnh, trở thành lời chất vấn, lời phản kháng, lời kêu gọi hoán cải và lời động viên có tính lịch sử mọi năng lực để phục vụ sự sống.

Vì tính cách mới mẻ, nghiêm trọng và phổ biến của chúng, những điều xâm phạm đến sự sống được coi như một cơn khủng hoảng, một sự mất mát các giá trị, một sự dữ, mà Đức Giáo Hoàng đã nói tới trong bức thư gởi các gia đình. Những nạn nhân của các lề luật bất công là những trẻ em được sinh ra, các bệnh nhân, những người già cả – những nhóm người được xác định rõ ràng- nhưng đó cũng là những dân tộc nghèo vì bị áp lực bởi những nền chính trị nhân khẩu học. Vì sự phản bác này, một lần nữa, những người nghèo trên thế giới, những con người trung thành với nền văn hoá sự sống, sẽ rất biết ơn Đức Giáo Hoàng.

Một cuộc chiến mang nét vượt qua (1)

Trong Thông Điệp Tin Mừng về sự sống tình trạng nghiêm trọng và thê thảm này của người nghèo được nhìn trong nhãn giới một sự căng thẳng, một cuộc chiến có ranh giới xác định rõ ràng: cuộc chiến của nền văn hoá sự sống chống lại nền văn hoá sự chết, của những sức mạnh giữa điều thiện và điều ác, không phải chỉ là cuộc xung đột về lịch sử xã hội, chính trị, kinh tế (những phương diện đã được đề cập đến nhiều trong các Thông Điệp xã hội), nhưng là một cuộc chiến được hiểu theo trực giác do đức tin chỉ dẫn, trong nhãn giới của mối căng thẳng và của cuộc chiến vượt qua (lutte pascale). Đây không phải là cuộc chiến mà Giáo hội tìm kiếm, nhưng thực tế nó có mặt trong lịch sử, một lịch sử bị công hãm cũng như chính cuộc sống bị công hãm bởi tình huống đặc biệt này: những sức mạnh của sự dữ tập trung lại bao quanh thảm kịch của con người, có lẽ như đã từng xảy ra qua suốt dòng lịch sử. Đó không phải là một cuộc chiến được chọn lựa, nhưng là một cuộc chiến được xây dựng trên ý thức, nhờ ánh sáng đức tin, về một thưc tại tàn bạo và vô nhân. Giáo hội chọn lựa con đường bênh vực quyền của những người yếu đuối nhất và Giáo hội mở ra cho thế giới con đường hy vọng. Người ta biết được nỗi khó khăn cực kỳ cũng như những chênh lệch, những bất quân bình đang tồn tại trong thế giới ngày nay, nơi đó sự dữ lan tràn một cách có tổ chức và được hệ thống hoá, tiếp theo sau sự băng hoại về luân lý và việc sụp đổ những hàng rào bảo vệ sự sống. Nhưng chắc chắn Chúa sẽ toàn thắng! Đức Chúa của Phục Sinh, của sự sống, đã chiến thắng trên thập giá.

(1) Une lutte aux traits pascals

4. Thông Điệp Tin Mừng về sự sống cũng bênh vực và nâng đỡ tất cả những ai bị tấn công bởi nền văn hóa sự chết trong những xã hội bệnh hoạn, vì cuộc khủng hoảng sâu sắc về luân lý cũng là cuộc khủng hoảng về các giá trị (Thư gửi các gia đình, số 13), một cuộc khủng hoảng làm lu mờ và ngay cả xúc phạm đến chân lý, một cuộc knủng hoảng che giấu và vây hãm chân lý (x. Rm 1,18). Khi thiếu bánh chân lý, thứ bánh của tinh thần, thì con người sẽ suy nhược và bệnh hoạn.

Trong sự lộn xộn con người muốn lấy sự dữ làm sự thiện, lấy sai lạc làm chân lý, lấy những “phạm pháp” làm “quyền lợi”.

Đức Thánh Cha ra tay nâng đỡ những nạn nhân của tấn bi kịch tinh thần này, dù họ ở trong hay ở ngoài Giáo Hội.

Khi sự suy tư về sự dấn thân trong tư cách là Thầy và Mục Tử của Đấng Đại Diện Chúa Kitô được biểu lộ trong Thông Điệp Tin Mừng về sự sống, tôi nhớ lại giáo huấn của Thánh Augustinô: “Trong mọi trường hợp, qui luật tối hảo là trước hết phải đưa những người yếu đuối và chao đảo vào náu ẩn trong pháo đài đức tin cho khỏi những cuộc tấn công, và sau khi họ đã được bảo đảm an toàn, phải chiến đấu thay cho họ với tất cả sức mạnh của lý trí” (Thư 118, 5,32).

Trong ý thức này, Thông điệp nhằm phục vụ toàn thể nhân loại nhữg tín hữu cũng như những người vô tín, và Thông Điệp là như kết quả trực tiếp phát xuất từ nỗ lực quảng đại mà Đức Giáo Hoàng thể hiện trong năm quốc tế về Gia Đình, cũng như những gì ngài đã làm liên quan tới Hội nghị ở Cairô.

Chúng ta gặp thấy trong Thông điệp một tổng hợp chặt chẽ và năng động về đức tin và lý trí.

Đức Thánh Cha muốn dẫn đưa các tín hữu vào “trong pháo đài đức tin”. Thông Điệp

là một suy tư sâu sắc về đức tin và một bài suy niệm cảm kích về Lời Chúa.

Điều cần lưu ý nữa về đặc tính và bản sắc của Thông Điệp, đó là vị thế thần học và kitô hướng biểu hiện qua suốt bản văn: Chúa Kitô giúp ta nhận ra được giá trị của sự sống con người, Ngài là chuẩn mực luân lý cho việc bênh vực sự sống và phẩm giá con người. Thông Điệp chúng ta đón nhận đây không phải chỉ đơn thuần mang tính đạo đức nhưng đã được soạn thảo trong một nhãn giới thần học rộng lớn. Và chúng tôi muốn lưu ý ngay rằng điều đó không loại bỏ tính cách tự nhiên của giá trị sự sống, cũng như nền tảng hữu lý của nghĩa vụ tôn trọng và bênh vực sự sống con người. Đó là một đề tại được thường xuyên nhắc lại trong Thông Điệp (x. số 2, 29, 30, 34, 49, 57…).

Không cần chứng minh tỉ mi nhãn giới thần học này. Nhan đề bức Thông Điệp tự nó đã mang tính biểu trưng rồi. Mỗi chương được bắt đầu bằng một đề tài Thánh Kinh: máu Aben từ đất kêu lên tới Thiên Chúa (ch. I), “Chúa Kitô, Ngôi Lời ban sự sống” (ch. II), “Ngươi chớ giết người” (ch. III), “Chính cho Ta mà các con đã làm điều đó” (ch. IV). Và những tiểu mục trong các chương cũng được khai triển từ một bản văn Thánh Kinh. Nhưng toàn thể Thông Điệp, đặc biệt là chương II cốt yếu mang tính chất Thánh Kinh, là một nhắc nhở liên tục và cảm kích về Lời Chúa và về những nhãn giới đức tin. Hơn nữa tất cả các đầu đề tiểu mục đều tương ứng với một bản văn Kinh Thánh.

Người ta tự hỏi liệu phương diện Thánh Kinh này của Thông Điệp có làm giảm đi tính cách tự nhiên của giá trị sự sống, một giá trị phổ quát cho mọi người, và là giá trị nền tảng sánh với những giá trị khác và những quyền của con người hoặc là phương diện ấy có đẩy lui căn bản thuần lý của nghĩa vụ bênh vực sự sống xuống hàng thứ yếu, bằng việc hầu như chỉ gửi sứ điệp này tới các tín hữu mà thôi không?

Chính Thông Điệp sẽ giải đáp nghi vấn này khi cho thấy rằng những giá trị của nhân vị, của nề dân chủ và của xã hội đều được đề cao và được củng cố bởi đức tin, rằng những giá trị ấy không bị thay thế hoặc làm suy giảm. Và đàng khác, Thông Điệp quả quyết rằng sự kiện mất Thiên Chúa và mất nhãn giới về siêu việt, là những đòi hỏi tự nhiên nơi con người, cũng đồng thời gây nên sự mất mát ý thức về con người. Giáo huấn của Thông Điệp giúp ta hiểu rằng chỉ nhờ ánh sáng Chúa Kitô con người mới có thể được đánh giá và cứu độ cách đầy đủ, mà vai trò của lý trí, được đức tin hoàn

thiện hoá chứ không đè bẹp, vẫn không bị suy giảm.

Khi giải thoát con người khỏi bị người khác hay xã hội khuất phục theo cái nhìn của thuyết nội tại và duy vật thì mối tương quan liên hệ của sự sống trần gian nơi con người với đức tin và với tiếng mời gọi đến sự sống vĩnh cửu làm cho niềm tin vào sự sống tại thế trở nên quí giá hơn, đó là sự sống phải được nhiệt tình phục vụ, như Chúa Kitô đã dạy và đã làm.

Quan điểm này là viễn tượng tối hảo, trước hết để vượt thắng “sự phân cách giữa niềm tin Kitô và những đòi hỏi đạo đức của niềm tin này đối với sự sống” ( số 95). Quan điểm trên cũng đòi phải suy nghĩ về điều này: “tái khám phá mối liên hệ bất khả phân giữa những giá trị nhân bản, tức giữa sự sống và tự do, giữa sự sống và chân lý, là điều tối quan trọng” (x. số 96).

Chính ở đây mà cuộc đối thoại cần thiết đã mở ra, và ta có thể “chiến đấu … bằng tất cả sức mạnh của lý trí”.

5. Ta thấy rõ rằng ơn ban sự sống được nối liền với gia đình, là cung thánh của sự sống. Đó là ý định của Thiên Chúa từ khi tạo dựng, không những chỉ bằng sự cộng tác vào công trình tạo dựng ở lúc thụ thai, nhưng còn kéo dài suốt quá trình giáo dục (như một cuộc đồng tạo dựng toàn diện), là một quá trình phải làm cho mỗi con trẻ, mỗi nhân vị lớn lên theo hình ảnh Thiên Chúa, và giống như Ngài, nghĩa là theo như hình tượng tối hảo là chính Chúa Kitô.

Như vậy gia đinh là môi trường tự nhiên, bình thường và thích hợp nhất cho sự sống, chính trong gia đình mà sự sống được đón nhận, bảo vệ và phát triển. Qua suốt cuộc sống, trong những tình huống khác nhau, mọi người đều có liên hệ với gia đình, với trẻ em, thanh thiẽu niên, người cao tuổi, và với những người bệnh tật. Gia đình là ngôi trường của nhân loại, nơi mà Tin Mừng về sự sống vang lên cách tuyệt vời, nơi mà sự sống chiếu giãi cách bình thường dưới ánh rạng ngời của phẩm giá trong khung cảnh yêu thương, tận tụy và âu yếm mà mọi nhân vị đều có quyền hưởng. Đó là nơi mà nền văn hoá sự sống phát sinh, nơi mà sự sống được công bố khi thụ thai, như một tin phúc hạnh trong Chúa Kitô, nơi mà sự sống được tôn dương và nơi kiến tạo tương lai cho nhân loại, một nhân loại được coi như trung tâm điểm và trái tim của nền văn minh tình yêu.

Mọi ý tưởng chỉ đạo đều được nhắc lại và là những điểm nòng cốt của sứ điệp. Nếu tất cả mọi người đều được mời gọi bênh vực sự sống, thì đó là bổn phận đặc biệt và hàng đầu của gia đình. Xã hội, Nhà Nước và mọi thành phần quốc gia phải hỗ trợ gia đình. Ở đây ta có thể đánh giá cao về sự liên tục và tính phong phú của Thông Điệp, như Đức Thánh muốn, trong tương quan với bức Thư gửi các gia đình, và với Năm quốc tế về gia đình. Đức Thánh Cha nói: “Khi tôi nghĩ tới những kinh nghiệm phong phú trong Năm quốc tế về Gia đình, và để nói lên một lời kết thúc cho bức Thư mà tôi đã gửi “mỗi gia đình cụ thể ở khắp mọi miền trên thế giới”, tôi lại tin tưởng hướng nhìn tới các gia đình và tôi cầu mong sự dấn thân của mọi người để nâng đỡ gia đình được tái sinh và tăng cường ở mọi mức độ, để ngày nay, giữa nhiều khó khăn và đe dọa nặng nề, gia đình vẫn còn liên tục tồn tại là một “cung thánh của sự sống (số 6), như Thiên Chúa muốn.

6. Thông Điệp Tin Mừng về sự sống không chỉ nói với các gia đình, nhưng với tất cả mọi người, như Thông Điệp nêu rõ với sự dấn thân quyết liệt vì nền văn hóa sự sống: tín hữu và người vô tín, các Kitô hữu với tất cả sự phong phú của hoạt động đại kết; tất cả đều có trách nhiệm trong Giáo Hội, giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ, giáo dân và những người thiện chí. Đây là thời điểm quan trọng đối với những phong trào vì Sự Sống và đối với những phong trào mục vụ gia đình, với các nhóm, các hiệp hội. Các chính trị gia, các nhà làm luật, là những người mang trách nhiệm lớn lao, đều được khuyến cáo cách đặc biệt.

Như vậy, không ai có thể nghĩ là mình ít liên hệ hay có thể trốn tránh trách nhiệm này. Đối với những người tin cách hiển nhiên vào Chúa của sự sống thì trách nhiệm ấy lại càng cấp bách và rõ ràng hơn nữa. Tất cả mọi người, cá nhân, đoàn nhóm, xã hội và dân tộc đều có trách nhiệm. Riêng những người lo về sức khoẻ và Viện Hàn Lâm giáo hoàng về sự sống mang một trách nhiệm đặc biệt.

Sau cùng Đức Thánh Cha nhắc lại câu nói của thánh lrênê: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống, nhưng sự sống của con người là chiêm ngưỡng Thiên Chúa” (Chống lạc giáo IV, 20, 7).

Đó là sự sống vĩnh cửu, nơi vinh quang chiếu sáng trọn đầy, thứ vinh quang đã khởi đầu từ lúc con người được thụ thai. Vinh quang từ tạo dựng đến công chính hoá… từ đức tin đến vinh quang của ơn hưởng kiến, từ vinh quang làm cho ta trở thành con Thiên Chúa đến vinh quang biến đổi ta nên giống Ngài…” (Thánh Augustinô, Về Chúa Ba Ngôi, 14, 16, 22).

Hồng Y Alfonso López Trujillo

Vatican, 30/03/1995

 

Nhập Đề

1. TIN MỪNG VỀ SỰ SỐNG ở ngay trung tâm sứ điệp của Chúa Giêsu. Hàng ngày được Giáo Hội mến yêu tiếp nhận. Tin Mừng về sự sống phải được can đảm và trung thành loan báo, như một tln vui cho con người ở mọi thời đại và thuộc mọi nền văn hoá.

Vào buổi bình mình ơn cứu độ, có một hài nhi sinh ra; việc đản sinh này được loan báo như một tin vui: “Này ta báo cho anh em một niềm vui lớn và là niềm vui cho toàn dân: hôm nay đã sinh ra cho anh em vị Cứu Tinh, Ngài là Kitô Đức Chúa, trong thành của Đavid” (Lc 2,10-11). Quả vậy, việc giáng sinh của Chúa đã toả ra “niềm vui quan trọng” này, nhưng, vào ngày lễ Giáng Sinh, ý nghĩa sung mãn của việc mọi người sinh ra cũng được biểu lộ và niềm vui Đấng Thiên sai mang tới đã xuất hiện như nền tảng và sự hoàn chỉnh của niềm vui vẫn đi theo với việc chào đời của bất kỳ em bé nào (x. Ga 16,21).

Khi bày tỏ điều ấy ở ngay trung tâm sứ mệnh cứu thế của mình, Chúa Giêsu nói: “Tôi đến, để họ được sống và được sống dồi dào” (Ga 10,10). Thực thế, Chúa muốn nói về sự sống “mới” và “vĩnh cữu” là hiệp thông với Chúa Cha, sự thông hiệp mà mọi người được mời gọi tới, nhờ ơn sủng của Chúa Con, qua tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hóa. Chính trong “sựsống, này mà mọi phương diện và mọi giây phút cuộc đời con người nhận được ý nghĩa đầy đủ của chúng.

Giá trị không thể so sánh của nhân vị con người

2. Con người được gọi tới sự sống sung mãn vượt xa những chiều kích của cuộc sinh tồn trên trái đất này, bởi vì đó là sự tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa.

Chiều sâu của ơn gọi siêu nhiên này tiết lộ sự cao cả của giá trị sự sống con người, ngay từ giai đoạn trần thế. Quả vậy, sự sống trong thời gian là một điều kiện căn bản, là thời điểm khởi đầu và là một bộ phận cấu tạo cho sự phát triển toàn vẹn và thống nhất cuộc sinh tồn của con người. Sự phát triển sự sống như thế – một cách bất ngờ và không do công trạng nào – đã được sáng tỏ nhờ lời hứa ban sự sống thần linh và được canh tân nhờ ơn ban sự sống thần linh, sự phát triển ấy sẽ đạt tới độ hoàn chỉnh trong cõi vĩnh hằng (x. 1 Ga 3,1-2). Đồng thời, ơn gọi siêu nhlên này nhấn mạnh tính cách tương đối trong sự sống trên trần gian của người nam và người nữ. Thực vậy, sự sống này là một thực tại, không phải là “chót” mà là “áp chót”; dù sao cũng là một thực tại thánh thiêng được trao phó cho ta để ta giữ gìn một cách có trách nhiệm và để ta đưa nó tới mức toàn thiện trong tình yêu và trong sự hiến dâng bản thân mình cho Thiên Chúa và cho anh em ta.

Giáo Hội biết rằng Tin Mừng về sự sống đây, đã được Chúa trao cho Giáo Hội (1), gặp

thấy âm hưởng sâu sắc và mang tính thuyết phục trong con tim từng người, có tín ngưỡng cũng như không có tín ngưỡng, bởi vì, vượt trên mọi chờ mong, Tin Mừng này đáp ứng một cách rất đáng ngạc nhiên. Mặc dầu nhiều khó khăn và bấp bênh, người nào chân thành mở rộng lòng đón nhận chân lý và điều thiện đều có thể nhờ ánh sáng của lý trí, nếu không kể tới việc nhận biết – theo luật tự nhiên được ghi trong tâm hồn (x. Rm 2,14-15) – giá trị thánh thiêng của sự sống con ngườl, từ khởi điểm tới tận cùng của nó; người chân thành có thể khẳng định quyền của mọi người được thấy người ta tôn trọng toàn vẹn báu vật đầu tiên này của mình. Cuộc chung sống giữa con người và cộng đồng chính trị cũng đặt cơ sở trên sự nhìn nhận quyền sống này, Việc bảo vệ và làm nổi bật giá trị của quyền sống phải đặc biệt là công việc của những ai tin vào Chúa Kitô, vì ý thức chân lý kỳ diệu mà Công đồng Vatican II nhắc nhớ: “Qua việc Nhập thể, Con Thiên Chúa, một cách nào đó, đã kết hiệp chính mình với bất kỳ con người nào (2). Trong biến cố cứu độ này, nhân loại đã tiếp nhận không những mặc khải về Tình yêu vô cùng của Thiên Chúa Đấng “yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16), mà cả mặc khải về giá trị không thể so sánh của mọi nhân vị con người.

Và khi kiên trì tìm hiểu mầu nhiệm Cứu độ, Giáo Hội tiếp nhận giá trị này với sự ngạc nhiên mỗi ngày mỗi mới mế hơn (3). Và Giáo Hội cảm thấy mình được gọi để loan báo cho con người mọi thời đại biết “Tin Mừng” này, là nguồn hy vọng mạnh mẽ và vui mừng chân thực cho từng giai đoạn lịch sử. Tin Mừng về tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Tin Mừng về phẩm giá con người và Tin Mừng sự sống, là một Tin Mừng duy nhất và bất khả phân chia.

Vì thế con người, con người sống động, tạo nên con đường đầu tiên và căn bản của Giáo Hội (4).

Những đe doạ mới chống lại sự sống con người

3. Nhờ mầu nhiệm Ngôi Lời Thiên Chúa “đã thành xác phàm” (x. Ga 1,14), hết thảy mọi người đều được trao phó cho sự săn sóc hiền mẫu của Giáo Hội. Vì thế bất cứ sự đe dọa nào chống lại phẩm giá và sự sống con người cũng xúc phạm tới trái tim của Giáo Hội, sự đe doạ ấy quả là đụng chạm tới Giáo Hội ở ngay trung tâm đức tin của Giáo Hội vào mầu nhiệm Nhập Thể cứu độ của Con Thiên Chúa, và đụng chạm tới sứ mệnh loan báo Tin Mừng về sự sống trên toàn cầu cho mọi loài thụ tạo (x. Mc 16,15).

Ngày nay việc loan báo Tin Mừng lại đặc blệt trở nên cấp bách, vì số lượng gia tăng và mức độ nghiêm trọng rõ rệt của các mối đe doạ sự sống đối với nhiều người và nhiều dân tộc, nhất là khi sự sống này còn non nớt và không có gì bảo vệ. Thêm vào những tai ương đau đớn xưa kia, như cảnh cùng khổ, đói kém, bệch dịch ở từng miền, bạo lực và chiến tranh, ngày nay lại nảy sinh nhiều tai ương khác, mang hình thái mới lạ và chiều kích đáng sợ hãi.

Trong một trang về hiện trạng thê thảm hiện nay, Công đồng Vatican II đã mạnh mẽ biểu lộ nỗi xót xa trước vô số tội ác và sự mưu sát sự sống con người. Ba mươi năm sau, tôi xin mượn lời của phiên họp khoáng đại Công đồng, để khóc thương một lần nữa, và cũng mạnh mẽ như vậy, nhân danh toàn thể Gỉáo Hội, và chắc chắn, cũng diễn tả đúng tâm tình của mọi lương tâm ngay thẳng: “Tất cả những gì chống lại sự sống, như mọi thứ giết ngươi, diệt chủng, phá thai, làm chết êm dịu và ngay cả tự tử nữa; tất cả những gì xâm phạm đến sự toàn vẹn của con người, như cưa cắt hủy hoại một phần cơ thể, tra tấn thể xác hay tinh thần, tìm cách cưỡng bức tâm lý; tất cả những gì xúc phạm đến phẩm giá con người như cảnh sống dưới mức con người (infra-humain), giam tù vô cớ, lưu đầy viễn xứ, bắt làm nô lệ, cảnh mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em; hoặc những điều kiện làm việc hạ phẩm giá khiến công nhân trở thành ngang hàng với dụng cụ thuần túy để thu lợi, không màng tới nhân cách tự do và có trách hhiệm của họ: tất cả những đối xử trên và những đối xử tương tự, quả thật là ô nhục. Chúng vừa làm suy đồi văn minh, vừa làm mất phẩm giá những ai thi hành các điều ấy, và hơn nữa phẩm giá những người phải gánh chịu những điều ấy, vả chúng đã xúc phạm nạng nề đến vinh danh của Đấng Tạo Hóa”. (5)

4. Khốn thay, viễn cảnh đáng lo ngại ấy, không những không thu hẹp lại, mà còn lan rộng mãi ra: với những vlễn ảnh do tiến bộ khoa học kỹ thuật mở rộng, người ta thấy phát sinh nhiều hình thức mới xâm phạm phẩm giá con người đồng thời người ta hình thành và sắp xếp một mẫu văn hóa mới, làm cho những tội phạm chống sự sống có thêm một bộ mặt chưa từng có và – nếu có thể – nó còn bất chính hơn nữa; nó gây nên nhiều chuyện nghiêm trọng; nhiều tầng lớp rộng lớn trong dư luận quần chúng biện minh cho một số tội ác chống lại sự sống, nhân danh những quyền tự do cá nhân, và, khởi đi từ giả định trước, họ cho rằng không những họ được miễn tố, mà còn được nhà nước cho phép, để thực hiện những việc ấy, trong sự tự do tuyệt đối và, hơn thế, còn được các dịch vụ y tế can thiệp miễn phí nữa.

Tất cả những điều ấy gây ra một sự thay đối sâu xa trong cách nbìn sự sống vả các quan hệ giữa những con người. Sự kiện những luật lệ của nhiều quốc gia, khi được dịp liền bỏ xa những nguyên tắc tạo lập nền Hiến Pháp của họ, đã chấp nhận không trừng phạt, mà hơn nữa, còn cho là hoàn toàn hợp pháp những việc chống phá sự sống, sự kiện ấy vừa là triệu chứng đáng lo ngại, vừa là nguyên nhân không thể coi thường phát sinh sự sụp đổ về luân lý: những chọn lựa mà ngày xưa ai cũng luôn xa tránh, thì ngày nay dần dần trở nên được trân trọng về mặt xã hội! Cả y học, là khoa có sứ mệnh bảo vệ và chăm sóc sự sống con người, cũng luôn sẵn sàng tiếp tay rộng rãi trong một vài lãnh vực cho việc thực hiện các hành vi chống con người; làm như vậy, y học đã tự bóp méo khuôn mặt của mình, mâu thuẫn với chính mình và làm tổn thương phẩm giá những người thực hiện các hành vi ấy. Trong bối cảnh văn hoá và pháp luật như vậy, cả những vấn đề quan trọng về dân số, xã hội và gia đình, đang đè nặng trên nhiều dân tộc trên thế giới và đòi hỏi sự quan tâm có trách nhiệm và hoạt động của các cộng đồng quốc gia và quốc tế, những vần đề ấy cũng có nguy cơ được giải quyết một cách sai trái và lầm lẫn, đi ngược lại chân lý và lợi ích của các cá chân và các dân tộc.

Kết quả mà người ta đạt được thì thật bi thảm: nếu nhìn vào việc xảy ra hiện tượng loại bỏ biết bao nhân mạng đang nảy sinh hoặc đang trên đường suy thoái, là đặc biệt nghiêm trọng và đáng sợ, thì cũng không kém phần nghiêm trọng và đáng sợ việc chính lương tâm con người, như bị mờ tối đi bởi bấy nhiêu những điều kiện sống tệ hại như vậy, càng thêm khó nhìn ra để phân biệt điều tốt điều xấu, về những điểm liên hệ tới giá trị căn bản của sự sống con người.

Hiệp thông với tất cả các Giám mục hoàn cầu.

5. Vấn đề những đe dọa chống lại sự sống con người trong thời đại ta đã là đối tượng cho Hội nghị bất thuờng của các Hồng Y tại Roma từ ngày 4 đến ngày 7 tháng Tư, năm 1991. Sau khi nghiên cứu sâu rộng vấn đề và các thách đố đối với cả gia đình nhân loại và riêng cộng đồng Kitô giáo, các vị Hồng y đã bỏ phiếu đồng thanh thỉnh cầu tôi, với quyền bính của Người kế vị Thánh Phêrô, tái khẳng định giá trí sự sống con người, và tính bất khả xâm phạm của sự sống ấy, để đáp ứng trước những hoàn cảnh hiện thời cũng như các vụ mưu sát ngày nay đang đe dọa sự sống con người.

Sau khi tiếp nhận thỉnh cầu ấy ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1991, tôi đã gửi một lá thư riêng tới từng chư huynh trong hàng Giám Mục, để mỗi vị, theo tinh thần giám-mục-đoàn, góp phần cộng tác với tôi nhằm soạn thảo văn kiện về vấn đề này (6). Các Giám mục đã hồi âm, đã cho tôi những thông tin, những gợi ý và những kiến nghị thật là quí báu. Cũng nhờ cách ấy, các ngài đã mang lại một chứng từ cho việc đồng tâm tham gia chân thành vào sứ mệnh giáo huấn và mục vụ của Giáo Hội trong chủ đề Tin Mừng về sự sống.

Cũng qua lá thư ấy, ít lâu trước ngày Kỷ niệm “một trăm năm thông điệp Rerum Novarum” tôi đã xin tất cả các ngài chú ý đến một điều tương tự kỳ lạ này: “Cũng như cách đây một thế kỷ, chính giai cấp công nhân bị áp bức trong những quyền lợi căn bản, và Giáo Hội đã bảo vệ họ, bằng

cách mạnh dạn tuyên bố những quyền thánh thiêng của con người lao động, thì ngày nay, khi một lớp người khác bị áp bức trong những quyền lợi căn bản về sự sống, Giáo Hội cũng cảm thấy mình phải can đảm như thế để lên tiếng nói thay cho người không có tiếng nói. Giáo Hội luôn luôn nhắc lại tiếng kêu trong Tin Mừng là phải bảo vệ những người nghèo khổ trên thế giới, những người bị đe dọa, bị khinh bĩ, những người không được cho hưởng quyền con người (7).

Ngày nay có muôn vàn con người yếu đuối, không phương tiện tự vệ, bị coi rẻ trong quyền căn bản được sống còn, đặc biệt là trường hợp các hài nhi sắp được sinh ra. Nếu vào cuối thế kỷ trước Giáo Hội không được im lặng trước những bất công ở thời đó, thì ngày nay Giáo Hội càng không thể im lặng, khi mà cùng với những bất công, lại thêm lên, trên nhiều miền ở khắp thế giới, những bất công và những hiện tượng áp bức còn nặng nề hơn, đôi khi được trình bày như là những yếu tồ của tiến bộ nhằm tổ chức “trật tự thế giới mới”.

Thông Điệp này là kết quả do sự cộng tác của Hàng Giám mục ở mọi nước trên thế giới, muốn tái khẳng định cách chính xác và mạnh mẽ giá trị của sự sống con người và tính bất khả xâm phạm của sự sống ấy, và đồng thời, nhân danh Thiên Chúa: tha thiết kêu gọi tất cả mọi người và từng người: Hãy tôn trọng, bảo vệ, yêu thương và phục vụ sự sống, toàn diện sự sống con Người! Chỉ trên con đường này, bạn mới gặp được công bình, phát triển, tự do đích thực cũng như hoà bình và hạnh phúc!

Ước mong những lời này đến được với tất cả các con cái của Giáo Hội! Ước mong những lời này tới được mọi người thiện chí đang lo lắng cho lợi ích của từng cá nhân, nam cũng như nữ và cho vận mệnh của toàn xã hội.

6. Trong mối hiệp thông sâu xa với từng anh chị em của tôi trong Đức Tin và phấn khởi trong tình thân hữu chân thành với tất cả mọi người, tôì muốn lại được suy niệm và loan báo Tin Mừng về sự sống, là ánh rạng ngời của chân lý soi sáng mọi lương tâm, ánh rạng ngời sinh động chữa trị mọi cái nhìn mờ tối, là nguồn vô tận của sự kiên trì và lòng can đảm để đối diện với những thách đố luôn luôn mới mẻ mà chúng ta gặp trên đường đời. Và, trong khi tôi suy tư về những cảm nghiệm phong phú sống động trong Năm quốc tế Gia đình, như để đưa ra một kết luận cho lá thư tôl gửi tới “từng gia đình cụ thể của mọi miền trên trái đất” (8), với một niềm tin tưởng mới tôi hướng nhìn tới tất cả các gia đinh và ước mong sự dấn thân của mọi người lại tái sinh và được tăng cường, ở mọi cấp bậc, để nâng đỡ gia đình, ngõ hầu cho ngày nay nữa – giữa biết bao khó khăn và đe dọa nặng nề – gia đình vẫn không ngừng là “cung thánh sự sống” (9), theo ý đinh của Thiên Chúa. Với mọi thành phần trong Giáo Hội, dân tộc của sự sống và cho sự sống, tôi gửi lời kêu gọi cấp bách nhất, để tất cả chúng ta có thể mang lại cho thế giới những dấu chỉ mới của Hy Vọng, bằng cách hành động để công lý và tình liên đới được tăng trưởng, để khẳng định một nền văn hóa mới của sự sống con người, để xây dựng nền văn minh chính thực của chân lý và tình thương.

CHƯƠNG I : TIẾNG MÁU EM NGƯƠI TỪ ĐẤT KÊU ĐẾN TA NHỮNG ĐE DOẠ HIỆN NAY CHỐNG LẠI SỰ SỐNG CON NGƯỜI

“Ca-in xông đến và giết chết Abel em mình” (St 4,8): căn nguyên của bạo lực chống lại sự sống.

7. Thiên Chúa không tạo nên sự chết, cũng chẳng vui vì các sinh vật bị diệt vong; ngài dựng nên muôn vật, cốt cho chúng được tồn tại … Thật vậy, Thiên Chúa tạo dựng con người để nó sống mãi, Ngài dựng con người theo hình ảnh Ngài. Chính bởi ác quỉ ghen tương mà sự chết đã xâm nhập thế gian; những ai thuộc về nó, đều kinh nghiệm đều đó (Kn 1,13-14; 2,23-24).

Tin Mừng về sự sống, được công bố ngay từ nguyên thủy với việc tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa nhằm đạt đến một cuộc sống sung mãn và hoàn hảo (xem St 2,7; Kn 9,2-3), đã bị chống đối bởi kinh nghiệm đau thương về sự chết, sự chết ấy đã xâm nhập vào thế gian, và gieo rắc sự tối tăm phi lý trên cuộc sống con người. Sự chết xâm nhập thế gian bởi ác quỉ ghen tương (xem St 3,1.4-5) và bởi ông bà nguyên tổ phạm tội (xem St 2,17; 3,17-19). Sự chết còn xâm nhập thế gian một cách ác liệt, tại vì Ca-in đã giết Abel em mình: “Vừa khi ra tới đồng vắng, Cain xông đến và giết chết Abel em mình” (St 4,8).

Sự giết người đầu tiên này được trình bày cách đặc biệt hùng hồn trong một trang tiêu biểu của sách Sáng Thế, một trang không ngừng được viết lại hằng ngày trong quyển lịch sử của các dân tộc, một cách thường xuyên tệ hại hơn. Chúng ta cũng hãy đọc lại trang sách Thánh Kinh này, tuy cổ xưa và hết sức bình dị, nhưng đặc biệt phong phú về giáo huấn:

8. Ca-in “căm giận lắm” và “xịu mặt lại” bởi vì “Thiên Chúa đoái nhận Abel và lễ vật anh dâng” (St 4,4). Bản văn Kinh Thánh không tiết lộ nguyên do vì sao Thiên Chúa quý chuộng hiến lễ của Abel hơn hiến lễ của Ca-in: tuy nhiên bản văn trình bày rõ ràng rằng: trong khi quý chuộng hiến vật của Abel, Thiên Chúa vẫn không cắt đứt cuộc đối thoại với Ca-in. Trong khi nhắc lại cho hắn về sự tự đo trước sự dữ: Ngài khuyến cáo hắn rằng: con người không hề được tiền định để làm điều dữ. Thật vậy, như Ađam xưa kia, Ca-in đã bị quyền lực ác hại của tội lỗi cám dỗ, thứ tội lỗi giống như một con vật hung dữ, ẩn nấp ngay trước cửa lòng anh ta, chờ chực đúng lúc xông vào con mồi. Còn Ca-in thì vẫn tự do trước tội lỗi. Anh ta có thể và phải chế ngự tội lỗi: “Nó thèm muốn người, nhưng ngươi, hãy chế ngự nó!” (St 4,7).

Sự ghen tương và cơn giận dữ đã thắng Ca-in trước lời khuyến cáo của Thiên Chúa, bởi đó cho nên Ca-in xông đến và giết chết em mình. Như chúng ta đọc được điều nảy trong sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo: “Trong câu chuyện Ca-in giết chết Abel, Kinh Thánh mặc khải ngay từ buổi đầu lịch sử nhân loại là trong con người đã hiện diện cơn giận dữ và lòng tham lam, hậu quả của tội nguyên tổ. Con người trở nên thù địch của kẻ đồng loại”. (10)

Anh giết em. Như trong tội huynh đệ tương tàn đầu tiên này, trong tất cả mọi tội giết nguời, tình thân tộc “thiêng liêng” bị xâm phạm, tình thân tộc liên kết mọi người thành một đại gia đình tất cả cùng chia sẻ một điều thiện hảo duy nhất và căn bản đó là một phẩm giá ngôi vị ngang nhau. Cũng không hiếm trường hợp tình thân tộc “máu mủ” bị xâm phạm một cách tương tự, ví dụ như khi những đe dọa chống lại sự sống phát triển trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái: đó là trường hợp phá thai, hay trong toàn cảnh gia đình hoặc thân tộc rộng lớn hơn, trường hợp hưởng ứng hoặc khuyến khích việc làm cho chết êm dịu.

Ở nguồn gốc của mọi bạo lực chống lại tha nhân, có việc nhượng bộ cái suy luận của Ác thần, tức là của “tên sát nhân từ ban đầu” (Ga 8,44), Như tông đồ Gioan nhắn nhủ chúng ta: “Vì đây là lời loan báo mà anh em đã nghe từ đầu rằng: chúng ta hãy thương yêu nhau, đừng như Ca-in, nó là người của Ác thần, nên đã giết em mình (1 Ga 3,11-12). Như vậy tội giết em ngay từ khởi nguyên lịch sử là một bằng chứng đáng buồn về cách thức mà theo đó sự dữ phát triển nhanh chóng đến mức kinh ngạc: thêm vào sự phản nghịch của con người chống lại Thiên Chúa nơi vườn địa đàng, là cuộc tử chiến của con người chống lại con người.

Sau khi xảy ra tội ác, Thiên Chúa can thiệp để trả thù cho nạn nhân. Đối diện với Thiên Chúa, Đấng hạch hỏi hắn về số phận của Abel, Ca-in, thay vì tỏ ra bối rối và cầu xin ơn tha thứ, lại kiêu căng tránh né vấn đề: “Tôi không biết. Tôi là người bảo vệ em tôi sao?” (St 4,9) – “Tôi không biết”: Ca-in gian dối tìm cách che đậy tội ác. Chính như vậy đó mà điều này đã thường xảy ra và vẫn còn xảy ra khi những lý luận rất khác biệt nhau đang được dùng để biện minh và bao che cho những tội ác ghê tởm nhất vẫn luôn mãi chống lại con người. “Tôi là người bảo vệ em tôi sao?” – Ca-in không màng nghĩ đế em mình và từ chối lãnh nhận trách nhiệm của mọi người về

một ngưởi. Tức khắc ta nghĩ đến những khuynh hướng hiện tại đang làm cho con người quên mất trách nhiệm của mình đối với đồng loại: ta có rất nhiều triệu chứng, trong số đó là triệu chứng mất tình liên đới đõi với những thành phần yếu đuối nhất của xã hội như những người lớn tuổi, bệnh nhân, người tị nạn, trẻ em; tiếp đến là triệu chứng vô cảm mà ta thường nhận thấy trong các mối quan hệ giữa các dân tộc, ngay cả khi liên quan đến những giá trị căn bản như sự sống, tự do và hoà bình.

9. Nhưng Thiên Chúa không thể để cho tội ác không bị trừng phạt: từ mặt đất nơi máu đã đổ ra, máu của nạn nhân kêu nài Thiên Chúa thực thi công lý (x. St 37,26; Is 26,21; Ed 24,7-8). Từ bản văn này, Giáo Hội đã rút ra cách nói: “Tội lỗi kêu nài Thiên Chúa báo thù”, và Giáo Hội bao gồm trong đó trước tất cả, tội cố ý sát nhân (12). Đối với dân Do Thái cũng như đốl với nhiều dân tộc thời Thượng Cổ, máu chính là sự sống” (Đnl 12,23) và sự sống, nhất là con người, chị thuộc quyền Thiên Chúa; bởi vậy ai xâm phạm đến sự sống con người thì, một cách nào đó, xâm phạm đến chính Thiên Chúa.

Thiên Chúa chúc dữ Ca-in và ngay cả ruộng đất cũng chẳng cho hắn hoa trái (x. St 4,11-12). Và Ca-in bị trừng phạt: hắn đến ở trong đồng hoang và sa mạc. Bạo lực giết nguời thay đổi tận gốc khung cảnh cuộc sống con người. Ruộng đất, trước kia là “Vườn Eden” (St 2,15), nơi phì nhiêu sung túc, nơi gặp gỡ thanh thản và thân tình giữa con người với Thiên Chúa, giờ đây trở nên “Xứ Nod” (St 4,16), chốn “cùng cực”, hoang vắng và xa cách Thiên Chúa. Ca-in sẽ là “kẻ lang thang khắp cùng trái đất” (St 4,14): sự bất ổn, tính thất thường không ngừng đeo đuổi hắn.

Thế nhưng Thiên Chúa, Đấng luôn luôn nhân hậu ngay cả khi Ngài trừng phạt, “đặt một dấu trên Ca-in, để người đầu tiên bắt gặp, không giết hắn” (St 4,15): Thiên Chúa ban cho Ca-in một dấu đặc biệt, không nhằm mục đích đày đọa cho hắn bị những người khác ruồng rẫy, mà để hắn được bảo vệ và bênh vực khỏi những kẻ muốn giết hắn, dù là để trả thù cho cái chết của Aben. Tuy là tên sát nhân, nhưng Ca-in vẫn giữ phẩm giá cá biệt của mình và chính Thiên Chúa bảo đảm cho phẩm giá đó. Rõ ràng ở đây biểu lộ huyền nhlệm trái nghịch của sự công bằng đầy khoan dung của Thiên Chúa, như thánh Ambrôsiô đã vlết: “Vừa khi xảy ra cuộc huynh đệ tương tàn, tức là tội nặng nhất trong các thứ tội, đúng vào lúc mà tội lỗi len lỏi vào, tức khắc giới luật khoan dung của Thiên Chúa được mở rộng: vì rằng, nếu phạm nhân bị trừng trị ngay lập tức, thì loài người, khi họ trừng phạt, cũng sẽ không thể tỏ ra khoan dung nhân hậu, mà họ sẽ thẳng tay trừng trị ngay phạm nhân. (…) Thiên Chúa đuổi Ca-in đi xa khỏi mặt Ngài và, bởi vì hắn bị thân nhân ruồng bỏ, Thiên Chúa đưa hắn đi xa giống như đày hắn vào nơi cách ly, vì lẽ hắn đã để mất sự ôn hòa hiền hậu của loài người mà mặc lấy sự hung dữ tàn bạo của loài thú hoang dã. Dù vậy, Thiên Chúa không muốn trừng phạt tên sát nhân bằng sự sát nhân, bởi vì Ngài muốn tội nhân ăn năn hối lỗi hơn là phải chết” (13).

“Ngươi đã làm gì thế?” (St 4,10):Thiếu vắng giá trị của sự sống.

10. Chúa phán báo Ca-in: “Người đã làm gì thế? Hãy nghe tiếng máu của em ngươi đã từ đất kêu đến ta” (St 4,10). Tiếng máu do tay con người đổ ra không ngừng kêu than, từ đời nọ sang đời kia, vang lên những cung điệu, những âm sắc khác nhau và luôn luôn mới mẻ.

Câu Chúa hỏi: “Ngươi đã làm gì thế?” mà Ca-in không thể tránh né, cũng là câu Chúa hỏi con người thời nay, để con người ý thức về sự lan rộng và tính nghiêm trọng của mọi xâm phạm đến sự sống đang tiếp tục ghi dấu sâu đậm trên lịch sử loài người. Câu hỏi ấy được gửi tới con người để họ tìm ra vô số nguyên nhân gây nên và nuôi dưỡng những xâm phạm nầy, và để họ suy nghĩ một cách hết sức nghiêm túc về những hậu quả từ đó phát sinh cho sự tồn tại của mọi người và mọi dân tộc.

Một số đe dọa đến từ thiên nhiên, và thường thuờng con người có thể cữu vãn được, nhưng chúng lại trở nên trầm trọng hơn bởi con nguời cố tình chểnh mãng, không lo chạy chữa; có những

đe dọa khác, trái lại, đã xảy đến từ những tình trạng bạo động, hận thù hoặc từ những quyền lợi đối nghịch xô đẩy nhóm người này tấn công nhóm người kia, lao mình vào tội giết người vào chiến tranh, vào các cuộc chém giết hoặc những cuộc diệt chủng.

Và làm sao không kể đến bạo lực chống lại sự sống của hàng triệu sinh linh, nhất là của trẻ em, là nạn nhân của sự bần cùng, thiếu dinh dưỡng và đói khát, nguyên do vì sự phân phối của cải không công bằng giữa các dân tộc và giữa các giai cấp xã hội? Hoặc là, ngay trước khi xuất hiện trong chiến tranh, bạo lực đã gắn liền với việc mua bán các loại vũ khí, tạo thuận lợi cho cuộc leo thang của biết bao xung đột quân sự đẫm máu trên thế giới ? Hay còn nữa, việc truyền bá các mầm mống của sự chết được tác động bởi sự xuống cấp vô tâm của những cân bằng sinh thái, bởi sự bành trướng đầy tội ác của ma tuý hay bởi việc khuyến khích các loại hình sinh hoạt tính dục mà, ngoài việc chúng không thể được chấp nhận về phương diện luân lý, chúng còn cho thấy trước những hiểm họa nặng nề đối với sự sống ? Không thể nào kể ra cho hết được một tràng dài những đe dọa chống lại sự sống con người, vì trong thời đại chúng ta những đe dọa ấy được che đậy dưới rất nhiều hình thức, hoặc được công bố rõ ràng hoặc ém nhẹm phỉnh gạt.

11. Nhưng cbúng ta, muốn đặc biệt tập trung chú ý về một loại hình thức khác của những việc xâm phạm, liên quan đến sự sống vừa mới nẩy sinh cũng như sự sống vào những giờ phút cuối cùng; những thứ xâm phạm này mang những đặc trưng mới mẻ so với quá khư và khơi dậy nhiều vấn đề đặc biệt nghiêm trọng: bởi sự việc chúng hướng tới chỗ làm biến mất đi khỏi lương tâm quần chúng tính cách “tội ác” của chúng, và mặc lấy một cách trái nghịch tính cách “quyền lợi”, đến nỗi người ta đòi hỏi từ phía Nhà nước một sự công nhận đích thật, thực chất và hợp pháp và, tiếp theo đó, đòi hỏi được đưa ra thực hiện nhờ vào sự can thiệp không phải trả tiền của chính các nhân viên y tế. Những sự xâm phạm ấy đánh thẳng vào sự sống con người trong những hoàn cảnh hết sức bấp bênh, khi mà sự sống thiếu mọi khả năng tự vệ. Sự việc càng nghiêm trọng hơn nữa khi mà, phần lớn những xâm phạm này được thực hiện ngay bên trong gia đình, nơi mà, trái lại do bởi cơ cấu cùa, được gọi là “cung thánh của sự sống”.

Làm sao người ta có thể đi đến một tình trạng như thế ? Phải để ý đến nhiều yếu tố. Ở hậu trường là sự khủng hoảng sâu sắc của nền văn minh làm nẩy sinh mối hoài nghi đối với chính mình những nền tảng của tri thức và luân lý đạo đức, và ngày càng gây khó khăn đối với cảm nhận rõ ràng ý thức về con người, về những quyền lợi, bổn phận của con người. Thêm vào đó những khó khăn rất khác biệt trong cuộc hiện sinh, trong giao tiếp, được đánh dấu bởi thực tế của một xã hội hỗn tạp trong đó các cá nhân, các cặp vợ chồng, các gia đình thường thường bị đơn độc trước những vấn đề của họ. Cũng có những hoàn cảnh nguy cập vì nghèo khổ, lo âu hay cùng cực trong đó sức cố gắng để sinh tồn đã quá mức, nỗi đau đã vượt sức chịu đựng, trong đó những bạo lực phải chịu, đặc biệt những bạo lực xúc phạm đến phụ nữ, đòi buộc, đôi khi tới mức anh hùng, những sự lựa chọn nhằm bênh vực và thăng tiến sự sống.

Tất cả điều đó cho thấy, ít ra một phần, rằng ngày nay có thể là như đang thiếu vắng giá trị của sự sống, dù rằng lương tâm không ngừng phơi bày sự sống là thánh thiêng và bất khả xâm phạm. Chính từ sự kiện đó, người ta nhận thấy phải cố gắng che giấu một số những xúc phạm đối với sự sống, với sự sống vừa nảy sinh hoặc đối với sự sống ở vào những giây phút cuối cùng, bằng những thuật ngữ vay mượn ở ngữ vựng về sức khoẻ nhằm đánh lạc hướng cái nhìn về vấn đề trong cuộc là quyền sinh tồn của một con người cụ thể.

12. Thực ra, nếu nhiều khía cạnh quan trọng của vấn đề xã hội hiện nay có thể giải thích bằng một cách nào đó bầu khí luân lý bất ổn mù mờ và đôi khi giảm nhẹ trách nhiệm cá nhân nơi một số người, thì cũng không kém phần chân thực rằng chúng ta đang đối đầu với một thực tại rộng lớn hơn mà người ta có thể coi như là một cơ cấu thực thụ của tội lỗi, đặc trưng bởi ưu thế của một nền văn hoá trái nghịch với tình liên đới, nền văn hóa nầy tự biểu lộ trong nhiều trường

hợp như một “nền văn hóa thực thụ của sự chết”. Nền văn hoá sự chết này được tích cực khích lệ bởi những trào lưu văn hóa, kinh tế và chính trị mang phần nào quan niệm thực dụng của xã hội.

Nhìn vào các sự việc theo quan điểm trên, ta có thể, bằng một cách nào đó, nói về một cuộc chiến của những kẻ có quyền lực chống lại những kẻ yếu đuối; sự sống đáng lý cần đượcc tiếp đón, yêu thương và chăm sóc, thì bị xem là vô tích sự hoặc bị coi như một gánh nặng không kham nổi, và bởi vậy sự sống bị từ chối bằng nhiều cách. Do đau ốm, tật nguyền hay đơn giản hơn nhiều, do chính sự có mặt của mình, ai mà động chạm đến sự yên thân hay những tập quán sinh sống của những người được ưu đãi hơn, sẽ bị coi như một kẻ thù cầ phải đề phòng hoặc phải loại bỏ. Như thế bung ra một “âm mưu chống lại sự sống”. Âm mưu này không chỉ liên quan đến con người trong những mối quan hệ cá nhân, gia đình hoặc đoàn thể mà còn đi xa hơn nữa, đến độ lay chuyển và làm biến dạng, trên bình diện quốc tế, những quan hệ giữa các dân tộc và giữa các chính phủ.

13. Để tiếp tay cho việc thực hiện phá thai được lan rộng hơn, người ta đã đầu tư và tiếp tục đầu tư những số tiền đáng kể nhằm cập nhật việc bào chế các loại thuốc có thể giết chết phôi thai ngay trong bụng mẹ mà không cần phải nhờ đến bác sĩ. Về điểm nầy, chính sự nghiên cứu khoa học xem ra gần như chỉ chuyên tâm sản xuất những dược phẩm mỗi ngày mỗi đơn giản và hữu hiệu hơn chống lại sự sống và, đồng thời, có khả năng tránh cho sự phá thai khỏi mọi hình thức kiểm soát và trách nhiệm xã hội.

Người ta thường xác quyết rằng việc ngừa thai, đã trở nên chắc chắn có kết quả và dễ thực hiện đối với mọi người là phương cách hữu hiệu nhất để khỏi phá thai. Người ta cũng tố cáo Giáo hội Công giáo trong thực tế đang ủng hộ phá thai bởi vì Giáo Hội khô ngừng cương quyết truyền dạy tính bất hợp pháp về luân lý của việc ngừa thai. Nhìn kỹ vấn đề, lời tố cáo này thực ra lại đáng quí. Quả thực, có thể rằng nhiều trong số những người sử dụng các phương tiện ngừa thai, cũng có ý tránh chuớc cám dỗ phá thai về sau. Nhưng mà những giá trị trái ngược hiện hữu trong “tầm mức ngừa thai” rất khác blệt với công việc đầy trách nhỉệm của tình cha tình mẹ, thực hiện trong sự tôn trọng lẽ phải toàn vẹn của hành vi hôn nhân. Những giá trị trái ngược đó càng làm cho chước cám dỗ phá thai trở nên mãnh liệt, khi phải đối đầu với sự cưu mang ngẫu nhiên một sự sống không được mong ước. Kỳ thực, nền văn hóa thúc đẩy đến việc phá thai đã đặc biệt phát triển trong các giới từ chốỉ giáo huấn của Giáo Hộl về việc ngừa thai. Thực vậy, về phương diện luân lý, ngừa thai và phá thai là những điều ác có biệt tính khác nhau: ngừa thai đối kháng với lẽ phải toàn vẹn của hành vi tính dục như cách biểu lộ đặc trưng của tình yêu trong hôn nhân, còn phá thai thì hủy diệt sự sống của một con người; ngừa thai đối nghịch với nhân đức khiết tịnh trong hôn nhân, phá thai đối nghịch với nhân đức công bằng và vi phạm trực tiếp giới răn của Thiên Chúa: “Chớ giết người”.

Nhưng mà, ngay với bản chất và trách nhiệm luân lý khác biệt này, ngừa thai và phá thai rất thường liên kết chặt chẽ với nhau như những trái của cùng một cây. Thật ra thì cũng có những trường hợp trong đó người ta phảl đi đến ngừa thai và ngay cả phá thai vì sự thúc bách của nhiều khó khăn trong cuộc sống, tuy nhiên những khó khăn nầy không bao giờ có thể châm chước việc tuân giữ trọn vẹn giới luật của Thiên Chúa. Nhưng mà, trong rất nhiều trường hợp khác, việc thực hành ngừa thai và phá thai đang đâm rể sâu vào tâm lý hưởng thụ khoái lạc và sự vô trách nhiệm trong vấn đề tính dục; những việc thực hành nầy giả thiết một quan niệm ích kỷ về tự do, chỉ thấy trong việc sinh đẻ một trở ngại cho sự phát triển nhân vị của mỗi người. Như thế sự sống đã có thể nảy sinh từ quan hệ tính dục lại trở thành kẻ thù cần phải tuyệt đối tránh xa; và phá thai trở nên giải pháp duy nhất có thể và là phương cách xử lý trong trường hợp bị vỡ kế hoạch.

Tiếc thay, ngày càng bộc lộ lõ nét sự liên quan chặt chẽ mà ta thường bắt gặp trong mọi tâm trạng giữa việc thực hành phá thai và ngừa thai; và điều này càng được xác định một cách báo động bởi sự cập nhật việc bào chế các chất hoá học, các dụng cụ đặt trong tử cung và các thứ vác-

xanh; những thứ đó càng được phân phát dễ dàng như các phương tiện tránh thai ngay từ giai đoạn phát triển đầu tiên của sự sống nơi một con người mới.

14. Ngay cả các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo khác nhau là những kỹ thuật duờng như phục vụ sự sống và là những thực hành nhắm đến mục tiêu này, thực tế cũng đang mở ra những cách thức mới chống lại sự sống. Ngoài việc các kỹ thuật này không thể chấp nhận được về mặt luân lý bởi vì chúng tách rời sự truyền sinh thuộc lãnh vực hoàn toàn nhân bản khỏi hành vi vợ chồng (14), chúng còn có tỷ lệ thất bại cao, không những trong việc thụ tinh mà còn trong việc phát triển sau này của phôi, có nguy cơ tử vong trong thời gian thường là rất ngắn. Hơn nữa, đôi khi người ta sản xuất phôi với số lượng nhiều hơn nhu cầu để cấy vào tử cung của phụ nữ và các “phôi dư” này, như người ta gọi, sau đó bị loại bỏ hoặc được dùng như những cuộc nghiên cứu dưới danh nghĩa vì sự tiến bộ khoa học hoặc y học. Thực ra đây là những cuộc nghiên cứu biến sự sống con người thành một thứ “cbất liệu sinh học” đơn giản mà người ta có thể tuỳ ý sử dụng một cách tự do.

Việc chẩn đoán tiền sản, không làm nổi lên những khó khăn luân lý nếu nó được thực hiện để xác định những săn sóc nếu có đối với em bé chưa sinh ra, lại trở nên rất thường trở nên dịp để đề nghị phá thai và gây ra phá thai. Chính việc phá thai có tính cách ưu sinh, mà việc hợp pháp hóa trong dư luận chung phát sinh từ một tâm trạng – được nhận thức sai lầm rằng đó là hòa hợp với những đòi hỏi “chữa bệnh” – chỉ tiếp đón sự sống theo một số điều kiện nào đó và từ chối sự giới hạn, tàn phế, tật nguyền.

Trong khi theo đuổi cùng cái logíc đó, người ta đi đến chỗ từ chối những săn sóc thông thường sơ đẳng nhất và ngay cả thức ăn đối với những trẻ em sinh ra đã mang tật nguyền hoặc những chứng bệnh nặng. Hơn nữa, bối cảnh hiện nay còn trở nên bối rối hơn nữa vì những đề nghị được đưa ra đây đó trong cùng lãnh vực của quyền phá thai, cả đến giết con mới sinh nữa, là điều làm quay trở lại một giai đoạn man rợ mà người ta hy vọng đã vượt qua vĩnh viễn rồi.

15. Những đe dọa không kém nặng nề cũng đè nặng trên những người mắc bệnh bất khả trị và trên những người hấp hối, trong một bối cảnh xã hội và văn hóa là bối cảnh, khi gia tăng sự khó khăn trong việc đương đầu và chịu đựng đau khổ, đã làm cho mạnh mẽ hơn cám dỗ giải quyết vấn đề đau khổ bằng cách loại bỏ sự đau khổ đến tận gốc bằng việc giúp cho chết sớm đi vào lúc được xem là thuận tiện nhất.

Xét đến sự chọn lựa này, thường cũng gặp những yều tố có bản chất khác nhau là những yếu tố, tiếc thay, đồng quy ở kết cục kinh khủng do kinh nghiệm đau đớn dữ dộl và kéo dài, có thể có tính cách quyết định. Điều này thử thách thế quân bình đôi khi không vững vàng của cuộc sống cá nhân và gia đình, bởi vì, một đàng, bệnh nhân có nguy cơ cảm thấy bị đè nặng do sự mỏng dòn của mình mặc dù hiệu quả ngày càng cao của cơ quan y tế và cứu tế xã hội; đàng khác, bởi vì, nơi những người có liên hệ trực tiếp với bệnh nhân, điều này có thể tạo nên một tình cảm thương xót có thể được cảm nhận rõ mặc dù tình cảm đó bị hiểu sai. Tất cả những điều đó làm cho ra trầm trọng do môi trường văn hoá không nhận thức được ý nghĩa cũng như giá trị nào trong đau khổ, trái lại xem đau khổ là điều ác tiêu biểu nhất phải loại bỏ bằng bất cứ giá nào; điều đó đặc biệt được gặp thấy trong các trường hợp không có một quan điểm tôn giáo nào để có thể giúp hiểu một cách tích cực mầu nhiệm đau khổ.

Nhưng trong toàn bộ bối cảnh văn hóa, cũng không thiếu sự cân nhắc việc con người có thái độ của thần Promêthê tin có thể tự phong mình là chủ của sự sống và sự chết, bởi vì con người định đoạt chúng, trong khi thực tế con người bị thua và bị đè bẹp do một cái chết đóng lại mọi viễn tượng về ý nghĩa và hy vọng một cách không thể đảo ngược được. Chúng ta thấy điều này biểu lộ một cách bi thảm trong việc phát triển cái chết êm dịu có tính cách che giấu và lừa lọc, hoặc được thực hiện công khai và thậm chí được hợp pháp hóa. Ngoài việc được xem là thương bệnh nhân bị

đau khổ, đôi khi cái chết êm dịu được biện minh bằng lợi ích, đó là tránh cho xã hội những tiêu tốn phi sản xuất. Như thế người ta dự kiến loại bỏ các trẻ sơ sinh dị dạng, các người tàn tật nặng hoặc không có khả năng, các người già, nhất là nếu họ không có tự do, và các bệnh nhân ở vào giai đoạn cuối. Chúng ta không được phép im lặng trước những hình thức chết êm dịu khác xảo trá hơn nhưng không kém trầm trọng và có thực. Những hình thức này có thể được trình bày chẳng hạn như nếu, để có được nhiều hơn nữa các bộ phận trong cơ thể cho việc ghép ráp, người ta tiến hành lấy các bộ phận này mà không tôn trọng các tiêu chuẩn khách quan thích hợp để xác minh rằng người hiến tặng thực sự đã chết.

16. Thông thường các đe doạ và xâm phạm sự sống được liên kết với một hiện tượng có tính thời sự, đó là hiện tượng dân số. Hiện tượng này xảy ra mỗi nơi mỗi khác trên trái đất: tại các nước giầu và phát triển, người ta ghi nhận sinh suất giảm sút một cách đáng lo ngại, ngược lại, thường thường các nước nghèo có tỉ lệ gia tăng dân số cao, khó có thể chịu đựng được trong bối cảnh phát triển thấp về mặt kinh tế và xã hội, hoặc thậm chí dưới mức phát triển trầm trọng. Đứng trước tình trạng dân số quá đông của các nước nghèo, thì, trên bình diện quốc tế hiện đang thiếu những sự can thiệp có tính cách toàn cầu – như các chính sách gia đình và xã hội nghiêm túc, các chương trình phát triển văn hóa cũng như việc sản xuất và phân phối tài nguyên một cách công bằng -, trong khi đó người ta lại tiếp tục thực hiện các chính sách chống sinh sản.

Ngừa thai, triệt sản và phá thai dĩ nhiên phải được kể vào trong số nguyên nhân góp phần vào việc gây ra các tình hình chống sinh sản một cách mạnh mẽ. Người ta có thể dễ dàng bị cám dỗ dùng đến các phương pháp này và những xâm phạm đến sự sống trong các hoàn cảnh “bùng nổ dân số”.

Cảm thấy lo lắng do sự hiện diện và sinh sôi nẩy nở của con cái Israel, vua Ai Cập thời cổ đại tìm mọi cách đàn áp họ và ra lệnh giết tất cả các con trai do những người phụ nữ Do Thái sinh ra (x. Xh 1,7-22). Nhiều người có quyền lực trên thế giới hiện nay cũng xử sự theo cách đó. Họ cũng cảm thấy lo lắng về sự phát triển dân số hiện tại và họ sợ các dân tộc sinh sản nhiều nhất và nghèo nhất đang đe dọa sự sung túc và sự yên ổn của đất nước họ. Do đó thay vì muốn đương đầu và giải quyết các vấn đề nghiêm trọng này trong sự tôn trọng phẩm giá của con người và của gia đình, cũng như sự tôn trọng quyền bất khả xâm phạm của mọi người là được sống, thì họ lại muốn làm mọi cách thúc đẩy và áp đặt một sự kế hoạch hóa rộng rãi việc sinh sản. Có một điều kiện bất công đó là người ta sẵn sàng viện trợ nhân đạo nếu nước nhận viện trợ chấp nhận chính sách chống sinh sản.

17. Nhân loại thời nay bày ra một cảnh tượng thật sự đáng báo động khi chúng ta không chỉ nhìn vào những lĩnh vực khác nhau trong đó những vi phạm chống lại sự sống đang phát triển mà còn số lượng những xâm phạm này nữa, cũng như sự hỗ trợ và nhất trí mạnh mẽ của xã hội, của luật pháp, của một bộ phận nhân viên y tế.

Như tôi đã nhấn mạnh điều này tại Denver nhân dip ngày Quốc tế giớí trẻ lần thứ VIII, “các đe doạ chống lại sự sống không giảm bớt theo thời gian. Trái lại, chúng mang những chiều kích to lớn. Đây không chỉ là những đe doạ đến từ bên ngoài, từ những sức mạnh của thiên nhiên hoặc của những “Cain” giết chết những “Abel”; không, đây là những đe dọa được soạn thảo một cách khoa học và có hệ thống. Thế kỷ thứ 20 sẽ là một thời kỳ tấn công rộng rãi chống lại sự sống, một loạt vô tận những cuộc chiến đấu và một sự tàn sát thường xuyên sự sống của những con người vô tội. Các tiên tri giả và các ông thầy giả đã thu được thành công lớn nhất (15). Ngoài những mục tiêu có thể là đa dạng, và có tính thuyết phục cả đến nhân danh tình liên đới, thực ra chúng ta đang đứng trước một điều khách quan đó là “âm mưu chống lại sự sống”, trong đó người ta thấy bao gồm những thể chế quốc tế gắn liền với việc cổ võ và vạch ra những chiến dịch thực

sự nhằm phổ biến ngừa thai, triệt sản và phá thai. Cuối cùng, người ta không thể chối cãi rằng các phương tiện truyền thông thường đồng loã với âm mưu này bằng cách truyền bá trong dư luận quần chúng một tâm trạng coi việc sử dụng ngừa thai, triệt sản, phá thai và thậm chí chết êm dịu như một dấu hiệu của sự tiến bộ và chinh phục tự do, trong khi người ta mô tả những quan điểm vô điều kiện ủng hộ sự sống như là những kẻ thù của tự do và tiến bộ.

“Tôi đâu phải là người bảo vệ em tôi?” (St 4,9): một quan niệm đồi bại về tự do

18.Toàn cảnh mà người ta đã mô tả đòi hỏi được hiểu không những trên quan điểm các hiện tượng của cái chết làm rõ nét nó mà còn trên quan điểm nhiều nguyên nhân xác định nó. Câu hỏi của Chúa “Ngươi đã làm gì?” (St 4,10) dường như là một lời kêu gọi nói với Cain để anh ta vượt lên trên tính chất thể của hành vi giết người của anh ta nhằm nắm bắt được sự nghiêm trọng của hành vi đó trên bình diện các động cơ ban đầu và các hậu quả tiếp theo.

Việc chọn lựa chống lại sự sống đôi khi phát sinh do những hoàn cảnh khó khăn hay thậm chí bi đát của sự đau khổ lớn lao, cô đơn, vô phương có hy vọng cải thiện về kinh tế, sự suy sụp tinnh thần, lo âu đến tương lai. Những hoàn cảnh như thế có thể giảm thiểu đáng kể trách nhiệm cá nhân và tội lỗi phát sinh từ đó nơi những kẻ thực hiện những chọa lựa này mà tự chúng là những lựa chọn mang tính tội phạm. Tuy nhiên, ngày nay vấn đề còn vượt lên trên việc công nhận, đây đúng là điều cần thiết, các hoàn cảnh cá nhân này. Vấn đề cũng còn được đặt ra trên các bình diện văn hoá, xã hội và chính trị, và chính ở đó xuất hiện khía cạnh đảo lộn và gây ra bối rối nhất, vì cái khuynh hướng, luôn được chấp nhận rộng rãi hơngiải thích các tội ác chống lại sự sống như là những biểu lộ hợp pháp của tự do cá nhân, mà người ta sẽ phải công nhận và bảo vệ như là những quyền thực sự.

Như vậy, sau khi khám phá ra tư tưởng “quyền con người” – như là quyền bẩm sinh của tất cả mọi người có trước mọi định chế và mọi luật pháp của các quốc gia – người ta đi đến một khúc quanh những hậu quả bi thảm trong một quá trình lịch sử dài là quá trình ngày nay đang đứng trước một sự mâu thuẫn đáng ngạc nhiên: vào một thời kỳ mà người ta long trọng công bố những quyền bất khả xâm phạm của con người và công khai khẳng định giá trị của sự sống, thì chính cái quyền được sống thực ra lại bị từ chối và xâm phạm, nhất là trong những lúc có ý nghĩa nhất của cuộc sống đó là khi sinh ra và khi chết.

Một đàng, những tuyên ngôn khác nhau về quyền con người và nhiều sáng kiến phát sinh từ đó chứng tỏ rằng trên toàn thế giới có sự tiến bộ của ý thức luân lý sẵn sàng công nhận giá trị và phẩm giá của mọi người; không hề phân biệt chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo, chính kiến hoặc tầng lớp xã hội.

Đàng khác thực ra, người ta thấy những tuyên bố cao đẹp nay tiếc thay đi ngược lại cái phủ định bi thảm của chúng. Điều làm chưng hững hơn và thậm chí gây ra gương mù đó là việc này xảy ra ngay trong một xã hội coi khẳng định và bảo vệ quyền con người như là mục đích chính và đồng thời là niềm kiêu hãnh của mình. Làm sao có thể làm cho các khẳng định về nguyên tắc được lặp đi lặp lại này tương hợp với việc gia tăng liên tục và việc hợp pháp hóa thường xuyên như xâm phạm đến sự sống của con người? Làm sao dung hoà các tuyên ngôn này với các việc loại trừ kẻ yếu thế nhất, kẻ nghèo hèn nhất, kẻ già nua và kẻ vừa mới được thụ thai? Nhưng xâm phạm này đi theo chiều hướng hoàn toàn ngược lại việc tôn trọng sự sống, và chúng đe doạ trực tiếp đến toàn bộ việc vun đắp các quyền con người. Cuối cùng: đây là một sự đe doạ có khả năng gây nguy hiểm cho chính ý nghĩa của việc đồng sinh tồn theo tin thần dân chủ: thay vì là những xã hội sống chung hoà hợp”, các quốc gia của chúng ta có nguy cơ trở thành các xã hội của những người bị loại trừ, những người ở ngoài lề; những người bị biệt xứ, những kẻ bị xua đuổi. Và nếu người ta nhìn rộng ra một vòng chân trời thế giới, làm sao không nghĩ rằng chính việc công bố các quyền của con người và của các dân tộc, như điều này đã được thực hiện tại những hội nghị cấp cao quốc tế, chỉ

là một công việc khoa trương vô ích bao lâu mà người ta không lột mặt nạ sự ích kỷ của các nước giàu là những nước từ chối không muốn cho các nước nghèo đạt đến sự phát triển hoặc lảm cho các nước đó thuộc vào những cấm đoán điên rồ đối với việc truyền sinh, và như thế là chống lại sự phát triển của con người? Có nên đặt lại vấn đề các mô hình kinh tế được các quốc gia thường theo đuổi, nhất là được quyết đlịnh do sức ép có tính cách quốc tế là những sức ép tạo ra và duy trì các hoàn cảnh bất công và bạo lực trong đó sự sống con người của trọn cả những dân tộc bị làm cho giảm giá, và bị đàn áp hay không?

19. Đâu là nguồn gốc của một sự mâu thuẫn hết sức nghịch lý như thế?

Chúng ta có thể nhận thấy những nguồn gốc này khi đánh giá tổng quát về mặt văn hoá và luân lý, bắt đầu với não trạng đưa khái niệm chủ thể đến chỗ cực đoan và thậm chí làm biến chất nó, và công nhận như một chủ thể của các quyền chỉ người nào hưởng được hoàn toàn hoặc ít ra là vào lúc đầu và xuất hiện từ một tình trạng hoàn toàn không lệ thuộc người khác. Nhưng làm sao dung hòa quan điểm này với việc tán dương rằng con người là một hữu thể “không bị khiến dụng”? Lý luận về quyền con người chắn chắn dựa căn bản trên việc xác quyết rằng, khác với các động vật và các sự vật, con người không thể bị đặt dưới sự thống trị của ai cả. Còn phải nêu lên cái lôgic có huynh hướng đồng nhất hóa phẩm giá của con người với khả năng trao đổi bằng lời nói rõ ràng hoặc ít ra, có thể nhận biết và khả năng giao tiếp. Rõ ràng là với những điều được giả định như thế, thế giới không có chỗ cho kẻ nào – đối với người sắp sinh ra cũng như sắp chết đi – là một chủ thể có thể tạng yếu, là kẻ dường như hoàn toàn được phó mặc cho những người khác, triệt để lệ thuộc họ, và là kẻ chỉ có thể trao đổi bằng ngôn ngữ câm lặng của một sự chia sẻ sâu xa bằng cảm tính mà thôi. Do đó, đây là sức mạnh trở nên tiêu chuẩn chọn lựa và hành động trong tương quan giữa các cá nhân với nhau và trong đời sống xã hội. Nhưng đây lại chính là trái ngược với việc, trong lịch sử, Nhà Nước pháp quyền công bố như là cộng đồng mà trong đó “lý lẽ của sức mạnh” được thay cho “sức mạnh của lý trí”.

Trên một bình diện khác, nguồn gốc của sự mâu thuẫn giữa việc long trọng khẳng định quyền con người với sự phủ định bi đát các quyền này trong thực tế nằm ở cách quan niệm về tự do. Quan niệm này tuyệt đối ca tụng cá nhân và không chuẩn bị cho cá nhân có được sự liên đới, sự tiếp nhận không đắn đo cũng như sự phục vụ của tha nhân. Nếu thật sự đôi khi việc loại bỏ sự sống sắp sửa ra đời hoặc sự sống đến hồi kết thúc cũng cỏn lệ thuộc vào ý nghĩa được hiểu sai về lòng vị tha hay lòng thương xót, người ta không thể chối cãi rằng đại thể, nền văn minh chết chóc cho thấy một quan niệm về sự tự do hoàn toàn có tính cách cá nhân chủ nghĩa, rốt cuộc là sự tự do của “những kẻ mạnh” chống lại những kẻ yếu sắp ngã gục.

Chính trong chiều hướng này mà người ta có thể giải thích câu trả lời của Cain khi Thiên Chúa hỏi: “Abel, em ngươi ở đâu?” – “Tôi không biết. Tôi đâu phải là người bảo vệ em tôi?” (St 4,9). Phải, mọi người đều là “kẻ bảo vệ người anh em của mình”, bởi vì Thiên Chúa giao phó con người cho con người. Và chính vì muốn giao phó con người cho con người như thế mà Thiên Chúa ban tự do cho mọi người, một sự tự do bao hàm chiều kích liên hệ chủ yẽu. Đây là một ân huệ lớn lao của Đấng Tạo hoá, bởi vì sự tự do được dùng để phục vụ con người và hoàn thành con người do chính việc tự hiến và tiếp nhận tha nhân; trái lại, khi chiều kích cá nhân chủ nghĩa được tuyệt đối hóa, thí tự do sẽ mất đi ý nghĩa đầu tiên của nó, rồi chính ơn gọi và phẩm giá của nó cũng bị chối bỏ.

Có một khía cạnh khác sâu xa hơn cần phải chú ý: tự do sẽ chối bỏ chính mình, tự do sẽ tự hủy và chuẩn bị loại bỏ tha nhân khi tự do không còn công nhận và tôn trọng mối dây cấu thành nó với sự thật. Mỗi lần muốn giải phóng khỏi mọi truyền thống và quyền lực, là sự tự do tự đóng khung ngay cả trong những cái hiển nhiên đầu tiên của một sự thật khách quan và thường thấy là cơ sở của cuộc sống con ngườ và xã hội, rốt cuộc con người không còn lãy sự thật căn cứ trên cái

thiện và cái ác mà chỉ lấy quan điểm chủ quan và hay thay đổi hoặc thậm chí những lợi lộc ích kỷ và những ý thích thất thường của mình làm tiêu chuẩn duy nhất và bất khả tranh luận cho những lựa chọn của mình.

20. Với quan niệm như thế về tự do, đời sống trong xã hội bị biến chất sâu sắc. Nếu việc hoàn chỉnh cái “tôi” được hiểu bằng những từ “ tự trị tuyệt đối”, thì người ta sẽ không thể tránh được việc chối bỏ tha nhân, coi họ như một kẻ thù mà mình phải tự vệ. Như thế, xã hội sẽ trở thành một tổng thể những cá nhân đứng bên nhau, chứ không có liên lạc gì với nhau cả: mỗi người muốn tự khẳng định mình biệt lập với người khác, hay đúng hơn, mỗi người đều muốn đề cao tư lợi của riêng mình. Tuy nhiên, trước những lợi ích tương tự của tha nhân, người ta phải giải quyết bằng cách tìm một thứ thỏa hiệp, nếu muốn bảo đảm tự do tối đa cho từng người trong xã hội. Như thế mọi qui chiếu về các giá trị chung và về một chân lý tuyệt đối cho tất cả mọi người sẽ tiêu tan: đời sống xã hội sẽ phiêu lưu trên một bãi cát trôi nổi của chủ nghĩa trôi nổi quá khích. Lúc đó điều gì cũng là vấn đề qui ước, điều gì cũng là vấn đề thương lượng được, kể cả quyền đầu tiên trong các quyền căn bản, đó là quyền sống.

Trên thực tế, việc ấy cũng đang xảy ra trong phạm vi chính trị nói riêng của Nhà nước: quyền được sống, một quyền nguyên thuỷ và bất khả nhượng, mà vẫn bị đưa ra thảo luận và phủ quyết, dựa trên sự biểu quyết ở Nghị viện hoặc theo ý muốn của một phần dân chúng – có thể là một phần lớn nữa. Đó là kết quả bất hạnh của chủ nghĩa tương đối đang hoành hành mà không hề bị chống đối: cái “quyền” mà hết còn là một quyền, vì nó không còn được đặt vững chắc trên phẩm giá bất khả xâm phạm của nhân vị, nhưng lại bị người ta bắt lệ thuộc ý muốn của kẻ mạnh hơn. Thế là nền dân chủ, mặc dầu có nguyên tắc đấy, nhưng lại đi tới một chủ nghĩa chuyên chế có hạng. Nhà nước không còn là “Ngôi nhà chung” mà ở đó ai cũng có thể sống theo những nguyên tắc bình đẳng căn bản, nhưng nó đã biến thành nhà nước độc tài bá đạo, với tham vọng có thể quyết định về sự sống của những người yếu kém và những con người không có chi bảo vệ, từ hài nhi sinh ra đến người già cả, nhân danh lợi ích công cộng mà thực chất chỉ là lợi ích của một số người thôi.

Mọi sự có vẻ diễn tiến trong việc tôn trọng luật pháp, ít là khi những luật cho phép phá thai hoặc làm chết êm dịu được biểu quyết theo những khoản luật người ta cho là dân chủ. Thực ra, chúng ta phải chứng kiến cái bộ mặt thảm khốc của luật pháp và của lý tưởng dân chủ và lẽ ra nó chỉ là dân chủ khi nó nhìn nhận và bảo vệ phẩm giá của mọi nhân vị, nhưng nó lại bị phản hồi ngay từ nền tảng: “làm sao còn nói được tới phẩm giá của nhân vị, khi người ta giết những kẻ yếu nhất và vô tội nhất? Nhân danh công lý nào mà người ta thực hiện sự kỳ thị tới bất công giữa những con người như thế, bằng cách tuyên bố rằng một số những kẻ này đáng được bảo vệ, còn những kẻ kia bị từ chối quyền sống?”. Khi người ta nhận xét về những kiếu cách hành động ấy, thì đã khơi mào những quá trình dẫn tới sự tiêu huỷ việc cùng chung sống đích thực giữa những con người và dẫn tới sự phân hóa chính thực tại của Nhà nước.

Đòi hỏi quyền phá thai, quyền giết trẻ sơ sinh, quyền làm chết êm dịu, và công nhận những quyền ấy là hợp pháp, thì có nghĩa là dành cho tự do con người một ý nghĩa phi đạo đức và bất công, ý nghĩa của một quyền lực chuyên chế trên người khác và phản lại người khác. Nhưng đó là giết chết tự do chân thực: “Thật, tôi bảo thật các ông: ai phạm tội là làm nô lệ cho tội” (Ga 8,34).

“Tôi sẽ phải lánh đi khỏi nhan Ngài” (St 4,14): Sự thiếu vắng ý thức về Thiên Chúa và ý thức về con người.

21. Khi ta tìm những cội rễ sâu sa nhất của cuộc chiến giữa “văn hóa sự sống” và “văn hóa sự chết”, ta không thể dừng lại ở quan niệm đảo lộn về tự do vừa được nhắc tới. Cần phải đi vào tâm điểm của tấn thảm kịch mà con người hiện đại đang sống: sự khuất bóng ý thức về Thiên Chúa

và ý thức về con người là đặc điểm của tình hình xã hội và văn hóa mà chủ nghĩa tục hóa đang thao túng, chủ nghĩa này với những cái vòi vươn dài đôi khi đã thử thách cả những cộng đồng Kitô giáo. Những ai tự để mình lây nhiễm tâm trạng ấy, sẽ dễ bị lôi cuốn vào cơn lốc của một vòng xoáy đồi bại kinh khủng; bỏ mất ý thức về Thiên Chúa, người ta lao tới chỗ đánh mất cả ý thức về con người, về phẩm giá và sự sống của con người; và đến lượt mình, sự vi phạm có hệ thống luật luân lý, đặc biệt trong vấn đề quan trọng là tôn quí sự sống và phẩm giá của sự sống con người, sẽ tạo ra một bóng tối ngày càng mù mịt che lấp khả năng nhìn ra sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng ban sự sống và cứu độ.

Một lần nữa, chúng ta có thể cảm hứng theo trình thuật Abel bị ông anh hạ sát. Sau khi bị Thiên Chúa chúc dữ, Ca-in thưa cùng Chúa rằng: “Tội vạ tôi quá lớn làm sao mang nổi, ngày hôm nay Ngài đuổi tôi ra khỏi mặt đất màu mỡ và tôi phải lánh đi khỏi nhan Ngài, nên kẻ vất vơ vất vưởng chạy rong trên đất. Và có ai gặp tôi sẽ giết tôi!” (St 4, 13-14) Ca-in cho rằng tội mình sẽ không được Chúa thứ tha và nghĩ số phận tất nhiên của mình là phải “ẩn nấp khỏi nhan Chúa”. Nếu Ca-in đạt tới được việc thú nhận tội mình “quá lớn”, là vì anh có ý thức rằng mình ở trước mặt Thiên Chúa và trước sự phán xét nghiêm minh của Người. Trong thực tế, con người chỉ có thể nhận ra tội của mình và hiểu được sự nặng nề của tội khi họ ở trước nhan Chúa. Đó cũng là cảm nghiệm của vua David, sau khi “đã làm điều ác trước mặt Ngài”, vị ngôn sứ Nathan trách cú (x. 2 Sm 11,12), vua đã kêu van: “Tội ác tôi, tôi xin nhận”; lỗi lầm tôi luôn luôn trước mắt tôi; tôi đã xúc phạm đến Ngài; điều ác trước mắt Ngài, tôi đã dám làm (Tv 50, 5-6).

22. Vì thế, khi mất ý thức về Thiên Chúa, thì ý thức con người cũng bị đe dọa, bị hư hỏng, như Công Đồng Vatican II đã tuyên ngôn dưới hình thức sâu sắc: Thụ tạo mà bỏ Đấng Tạo Hóa của mình thì tiêu vong.(…) Mà cả đến chính thụ tạo cũng bị u mê vây hãm, nếu nó quên Thiên Chúa” (17). Con người không còn đạt tới chỗ hiểu được mình là: “huyền diệu khác hẳn” những tạo vật khác trên mặt đất này nữa; con người coi mình chỉ là một trong những sinh vật, như một cơ thế cùng lắm là đã đạt được tới chặng hoàn hảo rất cao thôi. Bị nhốt trong một chân trời chật chội của thực tại thể chất, một cách nào đó con người sẽ trở nên một “sự vật”, không thấu hiểu được tính cách “siêu việt” trong “cuộc sinh tồn của mình trong tư cách là người”. Con người đã không coi sự sống như hồng ân của Thiên Chúa, như một thực tại “thánh thiêng” được trao cho trách nhiệm của mình và, do đó, để mình âu yếm bảo vệ, để mình “trân trọng”. Sự sống trở nên thuần túy là “một sự vật” mà con người đòi được chiếm hữu như của riêng mình, mà con người có thể hoàn toàn làm chủ và định đoạt.

Như thế, trước sự sống sinh ra và sự sống chết đi, con người không còn khả năng để tự hỏi về ý nghĩa đích thực của cuộc đời mình, cũng chẳng có khả năng chấp nhận những giờ phút cam go của cuộc sống trong một niềm tự do chân thực. Con người chỉ còn việc lo “hành động” và, nhờ vào mọi kỹ thuật có thể, họ cố gắng tối đa để đặt chương trình, kiểm soát, khống chế sự sinh và sự tử. Những thực tại này, là kinh nghiệm từ nguyên thuỷ đòi hỏi phải được “sống”, thì lại trở thành những điều mà người ta chỉ chủ trương đơn thuần là “chiếm đoạt” hay “từ chối”.

Hơn nữa, khi sự qui chiếu về Thiên Chúa bị loại trừ rồi, thì chẳng lạ gì chính ý nghĩa của mọi sự vật sẽ bị biến chất một cách sâu xa, và chính thiên nhiên, khi không còn là “mater” (mẹ) nữa sẽ bị coi như một “vật liệu “để người ta xử lý tùy thích, Hình như người ta được dẫn đưa vào đường hướng này, do tính thuần lý “kỹ thuật-khoa học”, là quân bài chủ trong văn hóa hiện đại, nó phủ định cả ý tưởng về con người phải công nhận công lý về cuộc sáng tạo, hay phải tôn trọng ý định của Thiên Chúa về sự sống. Và điều ấy không kém phần chân thật, khi nỗi khắc khoải trước các hậu quả của “tự do không luật pháp” này lại đưa một số người tới lập truờng trái ngược là “luật pháp không tự do”, như từng xảy ra, chẳng hạn trong các ý thức hệ tuyên bố tính hợp pháp cho mọi thứ can thiệp vào thi

không chịu nhận rằng mình lệ thuộc vào ý định của Đấng Tạo Hóa.

Thực ra, sống mà “coi như Thiên Chúa không có” thì không những con người mất ý thức về mầu nhiệm Thiên Chúa, mà mất luôn cả ý thức về thế giới và về chính bản thân mình.

23. Sự thiếu vắng ý thức về Thiên Chúa và về con người không thể nào lại không đưa tới chủ nghĩa duy vật thực dụng, khiến cho chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy ích và chủ nghĩa khoái lạc lan rộng. Ở đây nữa ta nhận thấy giá trị vẫn còn đó của lời Thánh Tông đồ: “ Và vì họ đã bỏ việc nhận biết Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã bỏ mặc họ cho trí não hư hỏng để họ làm những điều chẳng xứng” (Rm 1,28). Chính vì thế các giá trị của hữu thể bị thay thế bằng giá trị của những cái người ta sở hữu. Mục đích duy nhất đáng kể bây giờ chỉ còn là đi tìm tiện nghi vật chất cho riêng mình. Cái gọi là “ phẩm chất cuộc sống” chỉ còn được hiểu thiết yếu là ở hiệu quả kinh tế, tiêu thụ phóng túng, sắc đẹp, hưởng thụ đời sống thể lý, mà quên mất những chiều kích sâu xa của cuộc sinh tồn, của những lĩnh vực tương giao, tinh thần và tôn giáo.

Trong bối cảnh như vậy, đau khổ, là gánh nặng vốn đè trên cuộc nhân sinh nhưng cũng là khả năng giúp con người tăng trưởng, đã bị kiểm duyệt bỏ, bị vứt đi như một sự ác phải luôn luôn xa tránh và xa tránh bằng bất cứ giá nào. Khi người ta không thể vượt thắng đau khổ, và khi không còn viễn cảnh về hạnh phúc nữa, ít nhất là cho tương lai, lúc ấy cuộc đời dường như đã mất hết ý nghĩa và trong con người sẽ tăng lên cơn cám dỗ muốn dành quyền triệt bỏ đau khổ.

Vẫn trong cùng một bối cảnh văn hóa như vậy, thân xác không còn được coi như một thực tại đặc trưng cá vị, là dấu chỉ và là nơi tiếp xúc với tha nhân, với Thiên Chúa và với thế giới. Thân xác bị hạ xuống hàng bản chất duy vật thuần túy; thân xác chẳng còn là gì khác hơn một tổng hợp các cơ quan, các chức năng và năng lượng để dùng theo những tiêu chuẩn của lạc thú và của tính hiệu quả. Do đó, giới tính cũng bị phi nhân vị, bị khai thác: thay vì là dấu chỉ, là nơi chốn và là ngôn ngữ biểu lộ tình yêu -tức là hiến thân và đón nhận người khác trong tất cả sự phong phú của nhân vị – thì giới tính càng ngày càng trở nên một cơ hội làm dụng cụ cho việc khẳng định cái tôi và thỏa mãn cách ích kỷ các dục vọng và bản năng. Chính vì thế mà nội dung nguyên thủy của giới tính nơi con người bị bóp méo và biến chất đi. Hai ý nghĩa, là phối hiệp và trường sinh, gắn liền trong bản tính và hành vi hôn nhân, đã bị tách rời nhau cách giả tạo; theo kiểu đó, người ta làm hỏng sự phối hiệp khi người ta bắt việc truyền sinh phải theo ý thích tùy nghi của người nam và người nữ. Lúc đó việc truyền sinh sẽ trở nên “kẻ thù”, cần phải tránh trong việc hành xử giới tính: người ta chỉ chấp nhận truyền sinh theo mức độ hợp với dục vọng của con người, hay với ý muốn có một đứa con bằng “ bất cứ giá nào”; chứ không phải vì việc truyền sinh diễn tả sự đón nhận trọn vẹn người phối ngẫu và do đó rộng mở cho sự sống phong phú được thể hiện nơi đứa con.

Trong viễn ảnh duy vật trình bày trên đây, những tương quan giữa người với người bị giảm thiểu nghiêm trọng. Những người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả là phụ nữ, trẻ em, người bệnh hay người đau khổ và người già yếu. Tiêu chuẩn chân thực của phẩm giá con người – là tiêu chuẩn về sự tôn trọng, tặng trao và phục vụ – bị thay thế bằng tiêu chuẩn của hiệu quả tính, chức năng tính và duy ích: người ta được quí chuộng không vì họ là ai, mà vì họ có gì, làm gì và đưa lại được gì. Kẻ mạnh thắng kẻ yếu.

24. Chính ở nơi thẳm sâu nhất của lương tâm luân lý, người ta hoàn chỉnh việc che lấp ý thức về Thiên Chúa cũng như ý thức về con người, với bao nhiêu là hậu quả thảm khốc trên sự sống. Trước hết là lương tâm của mỗi người bị liên lụy, vì trong sự thống nhất nội tâm và với đặc tính duy nhất của mình, lương tâm ấy thấy mình ở trước mặt Thiên Chúa (18). Nhưng theo một hướng khác, “lương tâm luân lý” của xã hội cũng có liên lụy: một cách nào đó, xã hội chịu trách nhiệm, không những vì xã hội dung tha hay còn ủng hộ những cách ăn ở nghịch lại sự sống, mà còn vì xã hội nuôi dưỡng cái “văn hóa sự chết”, đi tới chỗ phát minh và củng cố nhiều “cơ chế tội

lỗi” thực sự chống lại sự sống. Ngày nay lương tâm luân lý của cá nhân hay xã hội đang đứng trước một mối nguy hiểm rất nghiêm trọng và chết người tức là cái nguy trộn lẫn điều thiện với điều ác, trong những việc liên quan tới quyền căn bản được sống – dù chỉ là do ảnh hưởng tràn lan càng ngày càng nhiều những phương tiện truyền thông xã hội. Một phần lớn xã hội hiên nay tỏ ra rất giống với nhân loại mà Thánh Phaolô tả trong thư gửi Giáo đoàn Rôma. Xã hội ấy gồm những “người lấy bất chính hãm cầm sự thật” (Rm 1,18): vì chối bỏ Thượng Đế và tưởng chừng có thể xây dựng thành trì nơi trần gian mà không cần đến Ngài, “họ đã mất ý thức trong các lý luận của họ” đến nỗi “lòng họ đã ngu muội lại hóa ra tối tăm” (Rm 1,22); họ trở nên tác giả những hành động đáng chết và “chẳng những họ làm những điều ấy mà còn tán thành những kẻ làm như vậy” (Rm 1,32). Một khi lương tâm, là con mắt sáng của tâm hồn (x. Mt 22-23), lại gọi “dữ là lành và lành là dữ” (Is 5,20) thì lương tâm ấy đã đi vào con đường sa đọa làm ta phải lo ngại và cũng là con đường đui mù về tinh thần tối tăm nhất.

Tuy nhiên, mọi ảnh hưởng và cố gắng đều không thể làm tắt tiếng nói của Chúa đang vang lên trong lương tâm mỗi người. Bởi vì bao giờ thì cũng là từ thánh cung sâu thẳm của lương tâm mà người ta trở lại được con đường của tình thương, của đón nhận và phục vụ sự

“Anh em đã tiến lại gần máu thanh tẩy” (x. Dt 12,22.24): Những dấu chỉ hy vọng và lời kêu gọi dấn thân

25. “Hãy nghe tiếng máu của em ngươi từ đất kêu oán lên Ta” (St 4,10). Không phải chỉ có máu Abel, người vô tội đầu tiên bị sát hại, đang kêu lên Thiên Chúa là nguồn sự sống và là Đấng bảo vệ sự sống. Máu của bất kỳ người nào sát hại sau Abel, cũng là tiếng kêu oan lên tới Chúa. Một cách tuyệt đối duy nhất, tiếng máu Chúa Kitô cũng kêu lên tới Thiên Chúa – mà Abel vô tội là hình ảnh tiên tri về Chúa Kitô, như tác giả Do Thái nhắc nhở ta: “ Anh em đã tiến lại gần núi Sion, thành của Thiên Chúa hằng sống… gần Đấng trung gian Giao ước mới và dòng máu thanh tẩy hùng biện hơn máu Abel” (Dt 12,22-24).

Đó là máu thanh tẩy. Máu của các hy lễ Cựu Ước là dấu chỉ biểu tượng và báo trước về máu thanh tẩy ấy: máu các lễ hy sinh qua đó Thiên Chúa tỏ thánh ý Ngài muốn thông ban sự sống của Ngài cho mọi người bằng cách thanh tẩy và thánh hiến họ (Xh 24,8; Lv 17,11). Tất cả việc đó được hoàn thành và từ nay biểu lộ nơi Chúa Kitô: máu của Ngài là máu rảy trên con người để chuộc lại, thanh tẩy và cứu chữa; chính là máu Đấng Trung Gian của giao ước mới, “đổ ra cho nhiều người được tha tội” (Mt 26,28).

Máu này đổ ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Kitô trên thập giá (Ga 19,34) còn “hùng biện hơn” máu của Abel. Quả vậy, Máu Chúa Kitô kêu lên và đòi một “công lý” sâu sắc hơn, nhưng nhất là khẩn cầu lòng thương xót (19), máu ấy cầu bầu với Cha cho các anh em của Chúa Kitô (Dt 7,25) máu ấy là nguồn cứu chuộc hoàn hảo và là ơn ban sự sống mới.

Máu Chúa Kitô, mặc khải sự cao cả của tình yêu thương của Chúa Cha, đã bộc lộ rằng con người là rất quý trước mặt Thiên Chúa và giá trị của sự sống con người thật khôn lường. Thánh tông đồ Phêrô nhắn nhủ ta: “Anh em hãy biết rằng không phải bằng những của hư nát, vàng bạc, mà anh em được cứu chuộc khỏi cách sống phù phiếm do cha ông để lại, mà là nhờ Máu châu báu của Con Thiên Chúa không tì vết, không thể trách cứ, là chính Chúa Kitô” (1 Pr 1,18-19). Chính khi chiêm ngắm Máu châu báu của Chúa Kitô, là dấu chứng của sự hiến dâng Ngài thực hiện vì yêu ta, mà người tín hữu học biết cách nhìn nhận và quí chuộng phẩm giá gần như là thần thiêng của mọi người. Trong niềm thán phục và tri ân luôn luôn mới mẻ, người tín hữu có thể kêu lên: “Ôi! Giá trị của con người lớn biết bao trước mặt Đấng Tạo Hóa, tới độ đã xứng đáng có được một Đấng Cứu Chuộc rất vĩ đại và đáng kính tôn” (bài ca Exultet đêm phục sinh), tới độ Thiên Chúa đã ban Con Một của Ngài để con người khỏi hư mất, nhưng được sự sống đời đời” ! (Ga 3,16) (20).

Hơn nữa, Máu Chúa Kitô mạc khải cho con người biết sự cao cả và do đó ơn gọi của họ hiến dâng toàn thân mình. Bởi vì được đổ ra như ơn ban sự sống, nên Máu Chúa Kitô không còn là dấu chỉ sự chết, dấu chỉ biệt lý hẳn với anh em của Người, nhưng là phương tiện hiệp thông làm dồi dào sức sống cho mọi người. Trong Bí Tích Thánh Thể, người uống Máu này và ở lại trong Chúa Kitô (x. Ga 5,56) được lôi cuốn vào sức năng động của tình yêu Ngài để đưa tới mức sung mãn chính ơn gọi đầu tiên hướng tới tình yêu, là ơn gọi của mọi người (x.St 1,27; 2,18-24)

Trong Máu Chúa Kitô, tất cả mọi nguời cũng múc được sức mạnh để dấn thân phục vụ sự sống. Máu Chúa Kitô chính là lý do mạnh nhất để hy vọng và là nền tảng cho niềm xác tín tuyệt đối, theo kế hoạch của Thiên Chúa, sự sống sẽ dành được chiến thắng. Một tiếng nói mạnh mẽ từ ngai tòa Thiên Chúa trong thành Giêrusalem thiên quốc đã kêu lên: “Sẽ chẳng còn chết chóc nữa!” (Kh 21,4). Thánh Phaolô cũng bảo đảm với ta rằng sự chiến thắng hiện tại trên tội lỗi là dấu chỉ và là lời tiên báo cuộc chiến thắng hoàn toàn trên sự chết, khi hoàn tất lời chép: “Sự chết đã bị vùi trong chiến thắng. Hỡi sự chết, nọc độc của ngươi đâu?” (1 Cr 15,54-55)

26. Thật sự, người ta nhận thấy những dấu hiệu báo tin cuộc chiến thắng này trong các xã hội, các nền văn hóa của ta, mặc dầu chúng bị ghi dấu đậm nét bởi “văn hóa sự chết”. Người ta sẽ chỉ thiết lập một bảng thống kê không đầy đủ có thể làm ta nản lòng, nếu như cùng với những lời tố giác các mối đe dọa chống lại sự sống, người ta không nêu lên một khái lược những dấu chỉ tích cực có hiệu quả trong hiện tình của nhân loại.

Tiếc thay, những dấu chỉ tích cực ấy rất khó xuất hiện và không được dễ dàng nhận ra, chắc hẳn vì chúng không là đối tượng được chú ý đủ qua những phương tiện truyền thông xã hội. Nhưng nhiều sáng kiến để giúp đỡ những người yếu đuối nhất và không có ai bảo vệ đã được thực hiện và tiếp tục được thực hiện, trong cộng đồng Kitô giáo và trong xã hội dân sự, ở mức độ địa phương, quốc gia và quốc tế, do từng người, từng nhóm, từng phong trào và nhiều tổ chức khác nhau.

Có nhiều đôi vợ chồng biết quảng đại lãnh trách nhiệm đón nhận con cái như “ân huệ tuyệt vời nhất của hôn nhân” (21) Và không thiếu những gia đình, ngoài các phục dịch cho cuộc sống hàng ngày, đã biết mở rộng cửa đón tiếp những trẻ bị bỏ rơi, những thanh thiếu niên gặp khó khăn, những người bất hạnh, những người già cả cô đơn. Nhiều những trung tâm hỗ trợ sự sống hay những tổ chức tương tự, được sinh động nhờ có những cá nhân, những đoàn nhóm, với lòng tận tụy và những hy sinh đáng thán phục, đang nâng đỡ tinh thần và vật chất cho nhiều người mẹ gặp khó khăn và bị cám dỗ đi phá thai.

Người ta còn thiết lập và phát triển những nhóm thiện nguyện dấn thân tiếp đón những người không gia đình, những người gặp các hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hoặc những người cần tìm lại một nơi giáo dục, trong khi giúp họ vượt thắng các thói quen độc hại và trở về với ý nghĩa thực của cuộc sống.

Y học được nhiều nhà nghiên cứu và thành viên các ngành y tế nhiệt tình phục vụ, vẫn tiếp tục những cố gắng riêng để tìm ra các phương tiện ngày càng hữu hiệu: ngày nay người ta đạt những kết quả mà ngày xưa không ai có thể nghĩ tới, và mở ra những viễn ảnh có lợi cho sự sống đang triển nở, cho những người đau khổ, cho những bệnh nhân ở giai đoạn mãn tính hoặc cuối cùng. Có những cơ quan, những tổ chức khác nhau đang vận động để lấy y học làm mũi nhọn giúp đỡ những miền bị cùng khổ hay bị các bệnh tật hoành hành. Có những hiệp hội quốc gia và quốc tế các y sĩ cũng hoạt động để nhanh chóng cứu trợ những dân bị thiên tai, dịch tể hay chiến tranh. Dù còn lâu mới thực hiện được hoàn toàn nền công bình quốc tế chân thật, bằng việc phân phối các sản phẩm y tế rộng rãi, nhưng làm sao lại không nhận ra, trong các tiến bộ đã đạt được, những dấu chỉ của tình liên đới ngày càng gia tăng giữa các dân tộc, những dấu chỉ mang ý nghĩa nhân đạo và luân lý đáng ca ngợi, và là những dấu chỉ của một lòng tôn trọng lớn lao hơn đối với sự

sống?

27. Trước những bộ luật cho phép phá thai và trước những mưu toan, đã thành công ở nơi này nơi khác, chấp nhận việc làm chết êm dịu, nhiều phong trào được thành hình và nhiều sáng kiến được áp dụng trên toàn thế giới, để làm cho xã hội phải nhạy cảm với việc bảo vệ sự sống. Khi những phong trào này hành động đúng theo cảm hứng chính thực của mình. Mạnh mẽ xác định lập trường mà không dùng đến bạo lực, đã giúp cho có nhiều người hơn ý thức về giá trị của sự sống, cũng như họ đã khơi dậy và đạt được những việc dấn thân cương quyết hơn để bảo vệ sự sống.

Đàng khác, làm sao không nhắc tới những hành vi thường ngày như đón tiếp, hy sinh, săn sóc vô vị lợi mà một số đông vô kể những con người đã thực hiện với tấm lòng thương mến trong các gia đình, nhà thương, viện mồ côi, nhà hưu dưỡng cho những cụ già, và trong nhiều trung tâm hay cộng đoàn khác đang bảo vệ sự sống? Theo gương Chúa Giêsu là “người Samari nhân hậu” (x. Lc 10,29-37) và được Ngài ban sức mạnh nâng đỡ, Giáo Hội đã luôn đứng hàng đầu trên mặt trận của tình bác ái, nhiều con cái trong Giáo Hội nam cũng như nữ, đặc biệt là các tu sĩ, theo những hình thức truyền thống được canh tân, đã hiến dâng và tiếp tục hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, dâng đời mình vì yêu thương anh chị em yếu đuối nhất, thiếu thốn nhất. Họ xây dựng theo chiều sâu một nền “văn minh của tình yêu và sự sống”, không có nền văn minh này thì sự hiện hữu của cá nhân và xã hội sẽ mất đi ý nghĩa nhân bản chính thực nhất. Dù chẳng ai nhìn ra họ, dù họ vẫn ẩn khuất trước mặt số đông người đời, đức tin vẫn bảo đảm với ta rằng Thiên Chúa Cha, “Đấng nhìn thấy trong nơi kín đáo” (Mt 6,4), không những sẽ ban thưởng, mà còn làm cho họ thêm phong phú ngay từ đời này, làm cho họ mang nhiều hoa quả bền vững vì lợi ích của tất cả mọi người.

Giữa các dấu chỉ của niềm Hy vọng, phải ghi nhận trong các tầng lớp dư luận quần chúng, sự phát triển một cảm thức mới luôn luôn chống lại việc nhờ chiến tranh, để giải quyết những xung đột giữa các dân tộc, và luôn luôn hướng về việc tìm kiếm những phương tiện hữu hiệu, không “bạo lực” để chận đứng kẻ vũ trang xâm lược. Cũng trong hệ tư tuởng này, dư luận quần chúng vẫn phổ biến sự chống đối án tử hình, cho dù người ta chỉ coi nó như phương tiện “bảo vệ hợp pháp” cho xã hội, thì chiếu theo những khả năng mà một xã hội hiện đại có thể dùng để trấn áp tội phạm cách hữu hiệu, người ta phải làm sao cho kẻ phạm pháp không còn gây cho xã hội, mà vẫn không làm cho kẻ ấy mất hẳn khả năng tự cải hóa.

Cũng phải tích cực đón chào sự quan tâm càng ngày càng lớn đối với phẩm chất sự sống, đối với tương quan học mà ta gặp thấy nhất là tại các xã hội tiên tiến, nơi đó, hiện người ta ít chú tâm vào những vấn đề giúp sống lâu hơn, cho bằng vào việc cải thiện toàn bộ các điều kiện sống, việc lặp lại suy tư đạo đức về chủ đề sự sống mang một ý nghĩa đặc biệt; sự sáng tạo và phát triển liên tục khoa đạo đức sinh học hỗ trợ cho những suy tư và đối thoại- giữa những người có tín ngưỡng và không tín ngưỡng, cũng như giữa những tín hữu thuộc các tôn giáo khác nhau- về những vấn đề đạo đức căn bản liên quan đến sự sống con người.

28. Viễn cảnh này vừa mang ánh sáng vừa xen bóng tối, phải làm cho chúng ta ý thức đầy đủ rằng chúng ta đang đứng trước cuộc đối đầu gay gắt và thảm khốc giữa cái xấu và cái tốt, giữa sự chết và sự sống, giữa “văn hóa sự chết” và “văn hóa sự sống”. Không những chúng ta chỉ “đứng trước” mà chắc chắn còn “ở giữa’ cuộc xung đột này: chúng ta tất cả đều có liên quan tích cực trong đó, chúng ta không được tránh né trách nhiệm phải chọn lựa vô điều kiện việc bênh vực sự sống.

Lời răn đe rõ ràng và mạnh mẽ của Môsê cũng nói với chúng ta: “Này đây hôm nay ta đặt trước mặt ngươi sự sống và hạnh phúc, sự chết và đau khổ … Ta đặt trước mặt ngươi sự sống hoặc sự chết, sự chúc lành hoặc chúc dữ. Vậy hãy chọn sự sống, để ngươi và miêu duệ ngươi được

sống” (Đnl 30,15-19). Lời răn đe ấy cũng hoàn toàn hợp cho chúng ta là những kẻ hằng ngày phải chọn lựa giữa “văn hóa sự sống” và “văn hóa sự chết”. Nhưng tiếng gọi của sách Đệ Nhị Luật còn sâu sắc hơn vì đề nghị với chúng ta sự chọn lựa đích thực mang tính tôn giáo và luân lý. Đây là vấn đề tìm hiểu cho cuộc sống của mình một hướng đi căn bản, là vấn đề sống trung thành theo luật Chúa dạy: “Hãy nghe những huấn lệnh mà hôm nay ta truyền cho ngươi: Yêu mến Giavê Thiên Chúa của ngươi, đi theo đường lối của Người, giữ các lệnh truyền, luật điều và phán quyết của Người … Hãy chọn sự sống, hầu ngươi và dòng dõi người được sống, là yêu mến Giavê Thiên Chúa của ngươi, nghe tiếng Người và khăng khít với Người: vì đó là sự sống của ngươi, là sự sống lâu dài nơi ngươi cư ngụ trên trái đất … (Đnl 30,19-20)

Việc lựa chọn sự sống cách vô điều kiện sẽ đạt tới độ sung mãn theo ý nghĩa tôn giáo và luân lý, khi nó phát xuất từ niềm tin vào Chúa Kitô, khi nó được thành hình và nuôi dưỡng bằng niềm tin ấy. Không có gì giúp ta sẵn sàng tham gia cuộc chiến tranh giữa sự chết và sự sống, một cuộc đấu tranh mà ta đang đắm chìm vào, cho bằng niềm tin nơi Con Thiên Chúa làm người và đã đến giữa loài người “để loài người được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10) : Đó là niềm tin vào Chúa Phục Sinh, Đấng chiến thắng sự chết; đó là niềm tin vào Máu Thánh Chúa Kitô “hùng biện hơn máu Abel” (Dt 12,24). Trước những thách đố của tình hình hiện nay,theo ánh sáng và sức mạnh của niềm tin ấy, Giáo Hội ý thức cách sống động hơn về ơn sủng và trách nhiệm Chúa trao, để loan báo, để tôn dương và để phục vụ Tin Mừng về sự sống.

(1) Une lutte aux traits pascals

(2) “A-ben làm nghề chăn chiên, còn Ca-in làm nghề cày cấy đất đai.

(3)Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên ÐỨC CHÚA.

(4)A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. ÐỨC CHÚA đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông,

(5)nhưng Ca-in và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. Ca-in giận lắm, sa sầm nét mặt.

(6)ÐỨC CHÚA phán với Ca-in: “Tại sao ngươi giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt?

(7)Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó.”

(8)Ca-in nói với em là A-ben: “Chúng mình ra ngoài đồng đi! ” Và khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến giết A-ben, em mình.

 

 

(9)ÐỨC CHÚA phán với Ca-in: “A-ben em ngươi đâu rồi? ” Ca-in thưa: “Con không biết. Con là người giữ em con hay sao? “

(10)ÐỨC CHÚA phán: “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta!

(11)Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra.

(12)Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất.”

(13)Ca-in thưa với ÐỨC CHÚA: “Hình phạt dành cho con quá nặng không thể mang nổi.

(14)Ðây, hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con.”

(15)ÐỨC CHÚA phán với ông: “Không đâu! Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy.” ÐỨC CHÚA ghi dấu trên Ca-in, để bất cứ ai gặp ông khỏi giết ông.

(16)Ông Ca-in đi xa khuất mặt ÐỨC CHÚA và ở tại xứ Nốt, về phía đông Ê-đen.” (St 4,2-16).

 

CHƯƠNG II: TÔI ĐẾN ĐỂ CHO HỌ ĐƯỢC SỐNG

Sứ điệp Kitô Giáo về sự sống.

“Sự sống đã được tỏ hiện, chúng tôi đã nhìn thấy” (1Ga 2):

Nhìn về Chúa Kitô “Lời sự sống”

29. Trước vô số những đe dọa nghiêm trọng đè nặng trên sự sống trong thế giới hôm nay, ta có thể vẫn như là bị dằn vặt, vì cảm thấy một nỗi bất lực không thể vượt qua: điều thiện sẽ không bao giờ đủ mạnh mẽ để chiến thắng cái ác.

Chính lúc đó Dân Chúa, và trong Dân Chúa mọi người tin được kêu mời khiêm tốn và can đảm tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô, “Lời sự sống” (1Ga 1,1) Tin Mừng về sự sống không phải là một suy tư đơn thuần về sự sống, mặ dù độc đáo và sâu sắc, cũng không phải chỉ là lệnh truyền để báo động lương tri và khơi lên những biến đổi quan trọng trong xã hội, càng không phải là lời hứa viễn vông về một tương lai tốt đẹp hơn. Tin Mừng về sự sống là một thực tại cụ thể và mang tính ngôi vị, vì hệ tại ở việc loan báo về chính ngôi vị của Chúa Giêsu. Với tông đồ Thomas và qua ông, với bất kỳ ai, Chúa Giêsu tự giới thiệu: “Thầy là Đường đi, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,60), Ngài cũng khẳng định căn tính ấy với Marta, chị của Lazarô: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Thầy, dù kẻ ấy có chết cũng sẽ sống và bất kỳ ai sống và tin Thầy, sẽ không chết bao giờ” (Ga 11,25-26). Chúa Giêsu là Chúa Con từ nguyên thủy đã nhận sự sống của Chúa Cha (x.Ga 5,26) và đã đến giữa loài người để cho họ tham dự vào hồng ân này: “Tôi đến để cho họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Như thế, chính là từ lời nói, hành động và ngôi vị của Chúa Giêsu mà loài người được khả năng “nhận biết” chân lý trọn vẹn về giá trị của sự sống con người; chính từ “nguồn” này mà tựu trung loài người nhận được khả năng “thi hành” chân lý cách hoàn hảo, hoặc nhận lãnh và thi hành đầy đủ trách nhiệm yêu quý và phục vụ sự sống con người, bảo vệ và thăng tiến nó.

Quả vậy, trong Chúa Kitô, đã dứt khoát được loan truyền và trao ban đầy đủ Tin Mừng về sự sống, Tin Mừng này vốn hiện diện trong Mạc Khải của Cựu Ước, và một cách nào đó đã ghi khắc trong trái tim của mọi người, nam cũng như nữ, vẫn hằng vang lên trong mỗi lương tâm “ngay từ ban đầu,tức là ngày Thiên Chúa sáng tạo thế giới, đến mức, cho dù có những lựa chọn tiêu cực của tội lỗi, Tin Mừng này vẫn được lý trí con người nhận biết ở những nét cốt yếu. Như Công đồng Vatican II đã viết, Chúa Kitô dùng “tất cả sự hiện diện và biểu lộ về chính Ngài bằng lời nói và việc làm, bằng dấu chỉ và phép lạ, và đặc biệt nhất, là bằng sự chết và phục sinh vinh hiển của Người từ giữa những người chết, rồi qua việc ban Thánh Thần chân lý, Ngài kết thúc mặc khải bằng cách hoàn chỉnh, và củng cố Mặc Khải bằng cách xác nhận uy quyền rằng chính Thiên Chúa ở cùng ta để lôi kéo ta ra khỏi chốn tối tăm tội lỗi và sự chết, và phục sinh ta cho ta được sống đời đời (22)

30. Vì vậy, hưóng nhìn lên Chúa Giêsu, chúng ta muốn nghe lời Ngài nói lại “những lời Thiên Chúa” (Ga 3,34) và muốn lại được suy gẫm Tin Mừng về sự sống. Ý nghĩa sâu xa nhất và độc đáo nhất của việc suy gẫm sứ điệp mặc khải về sự sống con người, đã được thánh Gioan tông đồ thấu hiểu, khi Ngài viết ngay ở đầu lá thư thứ nhất: “Điều từ thuở ban đầu đã có, điều chúng tôi chính mắt nhìn xem, điều chúng tôi đã từng chiêm ngắm, điều hai tay chúng tôi đã sờ tới, về Lời sự sống- vì Sự Sống đã tỏ hiện, chúng tôi đã từng thấy, chúng tôi đã làm chứng và loan báo sự

sống đời đời ấy cho anh em, Sự Sống ấy luôn hướng về Chúa Cha và đã xuất hiện cho chúng ta- điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho anh em, để anh em cùng hiệp thông cùng chúng tôi” (1Ga 1,1-3)

Như vậy nơi Chúa Giêsu, “Lời sự sống”, sự sống thần linh và vĩnh hằng đã được loan báo và ân ban này, sự sống thể lý và thiêng liêng của con người, ngay cả trong giai đoạn trần thế, đã nhận đầy đủ giá trị và ý nghĩa của nó: quả vậy, sự sống thần linh và vĩnh cửu là mục đích mà con người trên trần gian hướng đến và được mời gọi tới. Như thế Tin Mừng về sự sống chứa đựng điều mà ngay cả kinh nghiệm và lý trí con người đều nói về giá trị của sự sống, Tin Mừng về sự sống tiếp đón, nâng cao và đưa sự sống con người tới mức hoàn chỉnh.

“Sức mạnh và lời ca của tôi chính là Chúa, tôi mong ơn Ngài cứu độ” (Xh 15,2): Sự sống bao giờ cũng là điều thiện hảo.

31. Quả thực, sự sung mãn mang tính Tin Mừng của sứ điệp về sự sống đã được chuẩn bị ngay trong Cựu Ước. Nhất là chính trong biến cố Xuất hành, trọng tâm của kinh nghiệm đức tin trong Cựu Ước, mà khi Israel bị án tiêu diệt, vì một đe dọa tàn sát đè nặng trên hết thảy hài nhi sơ sinh của họ (x.Xh 1,15-23) thì Chúa tỏ mình ra cho họ như Đấng Cứu Độ, Đấng cơ thể bảo đảm tương lai cho kẻ không còn hy vọng. Và như thế nảy sinh trong dân Irael một ý thức chính xác: Sự sống của họ không thể tùy hứng của một Pharao muốn lấy quyền độc tài mà áp bức ra sao cũng được, trái lại sự sống của họ là đối tượng của tình yêu nhân hậu và mạnh mẽ từ phía Thiên Chúa.

Sự giải phóng khỏi cảnh nô lệ là ân ban một căn tính, là sự nhìn nhận một phẩm giá bất khả hủy và là khởi đầu một lịch sử mới, ở đó sự khám phá ra Thiên Chúa và sự khám phá ra chính mình đi đôi với nhau. Kinh nghiệm này của xuất hành là căn bản và mẫu mực. Israel học biết được rằng, mỗi khi họ bị đe dọa trong cuộc sống, họ chỉ cần chạy lại cùng Thiên Chúa với niềm cậy trông mới để gặp được nơi Ngài một sự phù trì linh nghiệm: “Ta đã nặn đúc ngươi, ngươi làm đầy tớ Ta, Israel ơi, Ta sẽ không quên ngươi” (Is 44,21)

Như thế, khi nhận biết được giá trị sự sinh tồn của mình như là một dân tộc, Israel cũng tiến bước trong sự hiểu được ý nghĩa và giá trị của sự sống với tư cách là sự sống. Đó là một suy tư được phát triển cách đặc sắc trong các sách triết ngôn, khởi đi từ cảm nghiệm hằng ngày về sự sống bấp bênh, cũng như ý thức được những đe dọa đang rình rập nó. Trước những mâu thuẫn trong cuộc sống, đức tin được mời gọi lên tiếng giải đáp.

Nhất là chính vấn đề đau khổ đang thách đố niềm tin, đang thử lửa nó. Làm sao không hiểu thấu được tiếng kêu than của con người ở khắp nơi, trong lúc gẫm suy sách Job? Người vô tội bị đau khổ đè bẹp thì cũng dễ hiểu là họ phải đi tới chỗ tự hỏi: “Tại sao ban ánh sáng cho kẻ khốn cùng, ban sự sống cho kẻ lòng đầy đắng cay, mong chết đi mà chẳng được, kẻ tìm cái chết như kẻ tìm kho báu?” (Job 3,20-21). Ngay trong cảnh tối tăm dày đặc, đức tin vẫn thúc đẩy nhìn nhận ra “một mầu nhiệm, trong tinh thần cậy trông và tôn thờ: “Tôi biết là Ngài toàn năng: điều Ngài nghĩ,Ngài thực hiện được.” (Job 42,2)

Dần dần,mặc khải làm cho ta hiểu được mỗi ngày rõ ràng hơn cái mầm sống bất tử mà Đấng Tạo Hóa đặt trong trái tim mọi người: “Tất cả những vật Chúa ban đều tốt trong thời chúng; Chúa đã đặt trong lòng chúng tổng số thời gian” (Gv 3,11). Cái niềm tin toàn thể và sung mãn này đang chờ được tỏ lộ trong tình yêu thương và được hoàn chỉnh trong việc dự phần sự sống đời đời nhờ một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa.

“Danh Chúa Giêsu đã làm cho người này mạnh khỏe lại” (Cv 3,16): Trong cảnh đời bấp bênh, Chúa Giêsu đưa ý nghĩa sự sống đến mức hoàn hảo.

32. Kinh nghiệm của dân tộc Giao Ước lại tái diễn trong kinh nghiệm của mọi “người nghèo khổ” những người gặp gỡ Chúa Giêsu thành Nazareth. Như Thiên Chúa, “bạn của sự sống” (Kn 11,26), đã trấn an Israel giữa cơn hiểm nghèo, cũng thế ngày nay con Thiên Chúa loan báo

cho những ai cảm thấy mình bị đe dọa và bị cản trở trong cuộc đời biết rằng sự sống của họ là một thiện hảo mà tình yêu của Chúa Cha phú ban cho một ý nghĩa và một giá trị.

“Những người mù được thấy, những kẻ què được đi, kẻ cùi được sạch, kẻ điếc lại được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo khó được nghe loan báo Tin Mừng” (Lc 7,22). Qua những lời kêu gọi của ngôn sứ Isaia (Is 15,5-6; 61,1), Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa của sứ mệnh Ngài, những kẻ đau khổ vì một hình thức bất hạnh nào trong đời họ, cũng được nghe từ Ngài Tin Mừng về lòng Thiên Chúa Cha chăm sóc cho họ và họ xác tín rằng sự sống của họ cũng là một hồng ân được giữ chắc trong bàn tay Cha” (x.t 6,25-34).

Chính những “kẻ nghèo khổ” được đặc biệt quan tâm bởi lời giảng và hành động của Chúa Giêsu. Những đoàn bệnh nhân và người bên lề xã hội khi đi theo Chúa, và đi tìm Chúa, đã gặp được trong lời nói và hành vi của Ngài sự Mặc Khải về giá trị sự sống của họ, và về những gì làm cơ sở cho việc họ mong chờ ơn cứu độ.

Trong sứ mệnh của Giáo Hội khi loan báo về Chúa Giêsu “Đấng” đi qua đâu cũng đều thi ân giáng phúc và chữa lành mọi kẻ bị quỷ ma thống trị, vì Thiên Chúa ở cùng Ngài” (Cv 10,38), Giáo Hội cũng biết rằng mình mang sứ điệp cứu rỗi đang vang vọng một cách trọn vẹn mới mẻ, nhất là giữa những hoàn cảnh của khốn cùng và nghèo đói mà con người phải trãi qua trong cuộc đời. Chính thánh Phêrô đã làm như thế, khi chữa lành người què, ngày ngày được đưa tới đặt gần “Cửa Đẹp” của Đền Thờ Giêrusalem để sin bố thí: “Bạc vàng thì tôi không có, nhưng có gì thì tôi cho anh: nhân danh Chúa Giêsu người Nazareth, anh hãy bước đi” (Cv 3,6). Trong niềm tin vào Chúa Giêsu “tác giả sự sống” (Cv 3,15), thì sự sống hiện có đó, bị bỏ rơi và đang van xin lại gặp được ý thức về mình và gặp được phẩm giá đầy đủ.

Lời nói và việc làm của Chúa Giêsu và của Giáo Hội không chỉ liên hệ tới người sống trong bệnh tật, đau khổ hay trong những hình thức bị gạt bỏ khác nhau. Một cách sâu xa hơn, những lời nói việc làm ấy đụng chạm tới ý nghĩa sự sống của mọi người trong chiều kích luân lý và tinh thần của họ. Chỉ ai nhìn nhận đời sống mình bị mắc bệnh tội lỗi, mới có thể tìm lại được trong cuộc gặp Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế, chân lý và sự chính thực của đời mình, như lời Chúa Giêsu dạy: “Có cần đến lương y, hẳn không phải là người lành mạnh, mà là người đau ốm. Ta không đến gọi những người công chính mà gọi người tội lỗi hối cải” (Lc 5,31-32)

Trái lại, người bắt chước anh nông dân giàu có trong dụ ngôn Tin Mừng, tưởng mình có thể bảo đảm cuộc sống chỉ bằng tài sản vật chất của mình, thì thực ra đã sai lầm, sự sống đã vụt tắt khỏi anh ta, anh ta mất nó rất nhanh, không nhìn ra được ý nghĩa thực của sự sống: “Đồ ngu ngốc, ngay đêm nay người ta sẽ đòi hồn ngươi, mọi thứ ngươi tích trữ sẽ về tay ai?” (Lc 12,20)

33.Chính trong cuộc đời của Chúa Giêsu từ đầu tới cuối, mà ta tìm gặp được “biện chứng” lạ lùng giữa kinh nghiệm về sự bấp bênh của sự sống con người và sự khẳng định của sự sống ấy. Quả thật, sự sống của Chúa Giêsu đã được ghi dấu bằng sự bấp bênh ngay từ khi Ngài sinh ra. Quả thực Chúa đã gặp được sự đón tiếp thuận lợi của những người công chính, họ hiệp ý với lời “xin vâng” nhanh nhẹn và vui vẻ của Đức Maria (x. Lc 1,38). Nhưng cũng chính ngay từ đầu đã có sự từ chối của một thế giới tỏ ra thù địch và tìm hài nhi để giết đi (Mt 2,13), hoặc là dửng dưng, không quan tâm tới việc hoàn tất mầu nhiệm sự sống đã vào nơi trần thế: “Không còn chỗ nào trong quán cho hai ông bà (Lc 2,7). Sự tương phản giữa một đàng là những đe dọa bất an, một đàng là quyền năng của ơn Thiên Chúa ban làm rạng ngời lên, hết sức mạnh mẽ, chính vinh quang toát ra từ máng cỏ Bêlem và từ căn nha Nazareth: sự sống sinh ra đây là ơn cứu độ cho nhân loại. (x. Lc 2,14).

Những mâu thuẫn, những rủi ro trong cuộc sống Chúa Giêsu nhận cả: “Giàu có như Ngài, mà vì anh em, Ngài đã nên nghèo khổ, ngõ hầu anh em nên giàu có, nhờ sự khó nghèo của Ngài”

(2Cr 8,9). Sự nghèo khó mà Thánh Phaolô nói, không chỉ là trút bỏ mọi đặc ân của thần tính, mà còn là chia sẻ mọi cảnh sống thấp hèn nhất, bấp bênh nhất của đời người, (x. Pl 2,6-7). Chúa Giêsu sống cảnh nghèo trong suốt cuộc đời trần thế, tới giây phút cuối cùng trên Thập Giá: “Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở nên vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá. Bởi vậy, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và trao Ngài danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu”. (Pl 2,8-9). Chính trong cái chết của mình mà Chúa Giêsu mạc khải tất cả sự cao cả và giá trị của sự sống, bởi vì việc Ngài tự hiến dâng trên Thập giá đã trở nên nguồn sống mới cho mọi người (x. Ga 12,32) khi Ngài đối diện với những chống đối và những cái tiêu diệt sự sống của Ngài, Chúa Giêsu đi thẳng tới vì nắm chắc bảo đảm rằng sự sống của Ngài ở trong tay Chúa Cha. Vì thế, trên cây Thập Tự, Ngài thân thưa: “Lạy Cha, Con ký thác hồn Con trong tay Cha” (Lc 23,46) tức là Chúa Giêsu phó thác sự sống cho Chúa Cha. Quả thực là cao cả, giá trị của sự sống con người, vì Con Thiên Chúa đã lãnh nhận sự sống ấy và làm cho trở nên dụng cụ để Cứu độ toàn thể nhân loại!

“Được gọi … để nên người đồng hình đồng dạng với hình ảnh Con của Người (Rm 8,28-29): Vinh Quang Thiên Chúa rạng ngời trên khuôn mặt của con người.

34.Sự sống bao giờ cũng là điều thiện hảo. Đó là điều ta trực giác thấy, mà cũng là một dữ kiện của kinh nghiệm mà con người được gọi để thấu hiểu lý do sâu xa của nó.

Tại sao sự sống là một thiện hảo? – Câu hỏi được đặt ra trong toàn bộ Kinh Thánh và ngay những trang đầu, đã tìm ra được câu giải đáp mạnh mẽ tuyệt vời. Sự sống mà Thiên Chúa ban cho con người thì khác với và tách biệt khỏi sự sống của bất cứ sinh vật nào, bởi vì, dù vẫn “thân thích” với bụi đất (x. St 2,7; 3,19; G 34,15; Tv 103 (102),14; 104(103),29), con người trên trái đất là sự biểu lộ Thiên Chúa, một dấu chỉ cho sự hiện diện của Ngài, một vết tích của vinh quang Ngài (x. St 1,26-27; Tv 8,6). Đó là điều Thánh Irênê thành Lyon muốn nhấn mạnh bằng định nghĩa thời danh: “Vinh quang Thiên Chúa là con người đang sống” (23). Con người đã được trao ban một phẩm giá cao sang mà căn nguyên bám sâu trong liên hệ thân thiết nối kết con người với Đấng Tạo Thành nên họ: nơi con người, tỏa sáng chính thực tại của Thiên Chúa.

Đấy là khẳng định của sách Sáng thế ký, trong trình thuật thứ nhất về nguồn gốc các sự vật, trình thuật này đặt con người trên đỉnh cao trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa, như một kết thúc cho khối hỗn mang vô dạng, sau thời kỳ phát triển, đã đạt tới tạo vật hoàn thành nhất. Trong tạo vật tất cả đều được hướng tới con người và tất cả lụy thuộc con người: “Hãy nên đầy dẫy trên đất, hãy bá chủ nó! Hãy cai trị …trên mọi loài sinh vật” (St 1,28). Thiên Chúa đã truyền lệnh cho người nam và người nữ như vậy.Trình thuật này thuộc về nguồn gốc các vật, đưa ra một sứ điệp tương tự: “Giavê Thiên Chúa đã đem con người đặt trong vường Eden để canh tác và giữ vườn” (St 2,15). Như vậy là quyền bá chủ của con người trên các vật được tái khẳng định: mọi vật được dành cho con người, được giao cho con người chịu trách nhiệm, trong khi con người không vì một lý do gì mà có thể bị nô lệ cho đồng loại mình,cũng không bị liệt một cách nào đó vào hàng sự vật.

Trong trình thuật Thánh Kinh, sự phân biệt giữa con người và các thụ tạo khác được bày tỏ hiển nhiên qua sự kiện việc sáng tạo nên con người được trình bày như kết quả do một quyết định đặc biệt của Thiên Chúa, do một thảo luận để đặt mối dây liên hệ riêng và đặc biệt với Đấng Tạo Hóa: “Ta hãy làm ra người theo hình ảnh Ta, giống như ta” (St 1,16), sự sống mà Thiên Chúa ban tặng con người là một hồng ân, qua đó Thiên Chúa làm cho thụ tạo của Ngài tham dự vào cái gì đó của chính Ngài.

Israel tự hỏi mình rất lâu về ý nghĩa của mối liên hệ riêng đặc biệt giữa con người với Thiên Chúa. Sách Giảng Viên cũng nhận rằng khi Thiên Chúa dựng nên loài người, “Ngài mặc cho họ bộ áo sức mạnh và dựng nên họ theo hình ảnh Ngài” (Gv 17,3). Tác giả Thánh Kinh nối kết với điều đó không những việc con người cai trị thế giới, mà cả những tài năng tinh thần đặc thù của

con người nữa, như lý trí, khả năng phân biệt tốt xấu, ý chí tự do: “Ngài ban cho họ được đầy trí thức và thông minh, và cho họ biết được điều thiện điều ác” (Gv 17,7). Khả năng đạt tới chân lý và tự do là những đặc ân của con người xét theo sự kiện con người được tạo thành theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa, Thiên Chúa chân thật và công minh (x. Đnl 32,4). Trong các tạo vật hữu hình, chỉ con người có được “khả năng nhận biết và yêu mến Đấng Sáng Tạo nên mình” (24). Sự sống mà Thiên Chúa ban cho con người còn hơn cả một cuộc hiện hữu trong thời gian. Đây là việc vươn tới sự sống sung mãn; đây là mầm của sự sinh tồn vượt ra khỏi giới hạn thời gian. “Phải, Thiên Chúa đã dựng nên con người để không hư nát, Ngài làm ra nó như hình ảnh của bản tính Ngài”. (Kn 2,23).

35.Trình thuật Giavít về nguồn gốc các sự vật cũng diễn tả xác tín ấy. Quả vậy câu chuyện kể xa xưa nói về hơi thở thần linh được thổi vào con người để con người bước vào sự sống. “Giavê Thiên Chúa đã nắn hình người bằng đất bùn nhuyễn và Ngài đã hà hơi sống vào mũi nó và người đã thành một hữu thể sống động” (St 2,7)

Nguồn gốc thần linh của tinh thần sự sống ấy giải thích tại sao có sự triền miên không thỏa mãn đi theo con người suốt cuộc đời. Được Thiên Chúa dựng nên, mang trong mình một dấu ấn thần linh không thể xóa được, tự nhiên con người vươn lên với Chúa. Khi lắng nghe khát vọng sâu xa của lòng mình, con người không thể không coi như của chính mình, lời chân thật này của Thánh Augustinô “Lạy Chúa, Chúa tác thành chúng con cho Chúa, và lòng chúng con không an nghỉ được, cho tới khi nó ở trong Ngài” (25)

Càng có ý nghĩa hơn nữa, khi thấy cái không thõa mãn này xâm nhập sự sống của con người trong vườn Eđen, bao lâu người chỉ quan hệ với thế giới thực vật và động vật mà thôi (x. St 2,20). Mãi tới khi xuất hiện người nữ, một hữu thể là thịt của thịt mình, là xương của xương mình (x. St 2,23) và nơi nàng cũng có thần khí sống của Thiên Chúa sáng tạo, bấy giờ người mới có thể thỏa mãn nhu cầu đối thoại giữa các nhân vị, là điều sinh tử trong cõi nhân sinh. Trong kẻ khác là người nam hay nữ đó, Thiên Chúa đã giải tỏa hình ảnh Ngài, Đấng là cùng đích làm thỏa mãn mọi con người.

“Con người là chi mà Chúa tưởng nghĩ đến, loài người là gì mà Chúa phải chăm lo?” Tác giả thánh vịnh tự hỏi như vậy (Tv 8,5). đứng trước cảnh vũ trụ bao la, con người quả là một vật bé nhỏ, nhưng chính nét tương phản này làm nổi bật sự cao cả của con người: “Người đã dựng nên con người kém thiên thần một chút, (cũng có thể dịch: “kém Thiên Chúa một chút”) danh dự và vinh quang, Ngài ban tặng con người” (Tv 8,6). Vinh quang Thiên Chúa rực rỡ trên nét mặt con người. Nơi con người,Thiên Chúa gặp được chốn nghỉ ngơi, như Thánh Ambrôsiô đã thán phục và cảm kích chú giải: “Ngày thứ sáu đã kết thúc; công trình sáng tạo thế giới đã hoàn thành với việc dựng nên kiệt tác là con người, còn con người thì hành xử quyền bính trên mọi sinh vật, vì người là tột đỉnh của vũ trụ và là nét đẹp cao quý nhất của mọi hữu thể đã được tạo thành. Thật vậy, lẽ ra chúng ta phải tôn kính mà im lặng, vì Chúa đã nghỉ ngơi sau khi sáng tạo thế giới. Sau đó Ngài nghỉ ngơi trong sâu thẳm của con người, Ngài nghỉ ngơi trong tâm trí và tư tưởng của con người: Quả vậy, Ngài đã dựng nên con người có lý trí, có thể bắt chước Ngài, noi theo các nhân đức của Ngài, khát vọng những hồng ân thiên giới. Trong những ân huệ đó là ơn ban của Ngài,Thiên Chúa nghỉ ngơi, Ngài phán: “Ta sẽ nghỉ ngơi trên ai,… nếu không phải trên con người khiêm tốn,người yên hàn và run sợ trước lời Ta” (Is 66,1-2). Tôi cảm tạ Chúa là Thiên Chúa chúng ta, Ngài dựng nên một công trình kỳ diệu quá đỗi để nơi đó Ngài gặp được chốn nghỉ ngơi” (26)

36. Rủi thay kế hoạch lạ lùng của Thiên Chúa lại bị phản ngược vì tội lỗi đã xâm nhập vào lịch sử. Bởi tội lỗi, con người khởi loạn chống lại Đấng tạo thành nên mình, để sau đó thờ các thụ tạo, thờ ngẫu tượng: “Họ đã tôn thờ và phụng sự tạo vật hơn là thờ Đấng Tạo Hóa” (Rm 1,25). Như vậy, làm dơ bẩn nơi mình chính hình ảnh của Thiên Chúa vẫn chưa đủ, con người còn d

xúc phạm hình ảnh ấy nơi những người khác nữa, bằng cách thay thế nhiều quan hệ hiệp thông bằng những thái độ khinh thường dửng dưng, thù nghịch tới mức ghen ghét sát nhân. Khi người ta không nhận biết Thiên Chúa như là Thiên Chúa, người ta sẽ phản bội ý nghĩa sâu xa về con người và vi phạm sự hiệp thông giữa loài người.

Trong đời sống con người, hình ảnh Thiên Chúa lại sáng ngời và bộc lộ với tất cả sự sung mãn khi Con Thiên Chúa xuống mang lấy thân xác con người: “Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), là “ánh rạng ngời vinh quang của Thiên Chúa, là ảnh đúc bản thể của Người” (Dt 1,3). Ngài là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha.

Sau cùng kế hoạch về sự sống được trao phó cho Ađam thứ nhất cũng hoàn tất trong Chúa Kitô. Khi sự bất tuân của Adam nhận chìm và làm sai lệch ý định của Thiên Chúa trên cuộc sống của con người, và làm cho sự chết len lõi vào thế gian, thì sự tuân phục của Chúa Kitô Cứu Thế là nguồn ơn lại tràn đổ trên mọi người, khi mở cửa vương quốc sự sống cho tất cả (x. Rm 5,12-21). Thánh Phaolô tông đồ khẳng định điều đó: “Người đầu tiên là Ađam đã thành hồn sống, còn Ađam cuối cùng đã nên thần khí tác sinh (1 Cr 15,45).

Tất cả những ai chấp nhận đi theo Chúa Kitô, sẽ được sống sung mãn, nơi họ, hình ảnh Thiên Chúa được phục hồi,đổi mới, đưa tới mức hoàn thiện. Đấy là ý định của Thiên Chúa trên tất cả mọi người: Họ hãy nên “đồng dạng với hình ảnh con của Ngài” (Rm 8,29). Chỉ có như thế, trong ánh sáng ngời của hình ảnh này, con người mới có thể được cứu thoát khỏi vòng nô lệ của việc thờ ngẫu tượng, mới có thể xây dựng tình huynh đệ đã bị gãy đổ và tìm lại được căn tính của mình.

“Ai Sống và tin Ta sẽ không chết bao giờ” (Ga 11,26): Ơn ban của sự sống vĩnh cửu.

37. Sự sống mà Thiên Chúa đã ban cho loài người không chỉ giới hạn ở cuộc sinh tồn trong thời gian. Sự sống, vốn từ muôn thuở ở “trong Ngài” và là “ánh sáng cho loài người” (Ga 1,4), sự sống ấy hệ tại việc được sinh ra bởi quyền năng Thiên Chúa và tham dự bởi tình yêu sung mãn của Ngài: “Còn những ai đón nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa, cho những kẻ tin vào Danh Ngài, họ không do máu huyết mà sinh ra, cũng không phải do ý xác thịt, cũng không phải do ý của nam nhân, nhưng chính do bởi Thiên Chúa mà được sinh ra” (Ga 1,12-14)

Đôi khi, Chúa Giêsu gọi sự sống Ngài mang đến bằng danh từ đơn giản “sự sống” và Ngài trình bày sự sinh ra bởi Thiên Chúa như điều kiện tất yếu để có thể đạt cùng đích mà vì đó Chúa đã sáng tạo con người: “Ai không bởi trên mà sinh ra, thì không thể thấy được Nước Thiên Chúa” (Ga 3,3). Ơn ban sự sống này làm nên đối tượng riêng của sứ mệnh Chúa Giêsu: Ngài là “Đấng từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian” (Ga 6,33) đến độ Ngài đã hết sức chân thật khẳng định: “Ai theo Ta …sẽ có ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12)

Vào những dịp khác, Chúa Giêsu nói tới sự sống vĩnh hằng bằng cách dùng một tính từ không nguyên chỉ nhắm về một nhãn giới siêu thời gian. “Sự sống được hứa và được trao ban nhờ Chúa Giêsu là sự sống vĩnh hằng bởi vì nó là sự tham dự sung mãn vào sự sống của Đấng Vĩnh Hằng. Ai tin Chúa Giêsu và hiệp thông với Ngài, là có sự sống vĩnh hằng, vì chính bởi Ngài mà người ấy hiểu được những lời có thể mạc khải và thông ban sự sống đời đời” mà Phêrô đã nhận ra trong lời tuyên tín: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy có những lời đem đến sự sống đời đời. Và chúng con đã tin cùng nhận biết Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69). Sự sống đời đời được Chúa Giêsu định nghĩa khi Ngài thân thưa với Cha trong lời nguyện tư tế: “Sự sống đời đời là chúng nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai đến là Chúa Giêsu Kitô!” (Ga 17,3). Nhận biết Thiên Chúa và Con của Ngài, là tiếp nhận mầu nhiệm hiệp thông tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần vào đời sống của ta mà ngay bây giờ đã hướng mở về cuộc sống vĩnh cửu trong việc thông phần vào sự sống Thiên Chúa.

38. Vậy sự sống đời đời là chính sự sống của Thiên Chúa cũng như sự sống của những con cái Thiên Chúa. Người tín hữu không thể không càng ngày càng sửng sốt bỡ ngỡ và không thể không tri ân vô hạn trước chân lý lạ lùng khôn tả từ Thiên Chúa mà đến với ta trong Chúa Kitô. Người tín hữu sẽ mượn lời Thánh Gioan tông đồ mà kêu lên: “Hãy coi tình yêu Chúa Cha ban cho ta lớn lao dường nào, để ta được gọi là con Thiên Chúa. Và thực chúng ta là con Thiên Chúa!… Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa, ta sẽ là gì thì chưa được tỏ hiện. Ta biết rằng một khi điều ấy tỏ hiện, thì ta sẽ được giống như người, vì Người thế nào, ta sẽ được thấy như vậy” (1 Ga 3,1-2). Chính như thế mà chân lý Kitô giáo về sự sống đạt tới mức tràn đầy. Giá trị sự sống không chỉ gắn liền với nguồn cội của nó, theo như nó được trao ban từ Thiên Chúa, mà còn nối kết vào cùng đích, vào vận mệnh của nó là được hiệp thông với Thiên Chúa, để nhận biết và yêu mến Ngài: Chính qua ánh sáng chân lý này mà Thánh Irênê xác định và bổ túc việc tuyên dương con người: “Vinh quang của Thiên Chúa đúng là “con người đang sống”, “nhưng sự sống của con người” là được “hưởng kiến Thiên Chúa”(27)

Từ đó, ta rút ra những hệ quả trực tiếp cho sự sống con người ngay trong thân phận trần thế của họ, nơi đó sự sống đời đời đã nảy mầm và tăng trưởng. Nếu con người tự bản năng vốn yêu sự sống vì sự sống là một thiện hảo, thì tình yêu này còn tìm thấy ra một động lực và một sức mạnh khác, một mức độ sâu rộng mới trong những chiều kích thần linh của thiện hảo này. Theo viễn ảnh ấy, tình yêu của bất cứ người nào đối với sự sống không chỉ hạn hẹp vào việc tìm một không gian để bày tỏ chính mình họ và để tương giao với những người khác mà thôi, nhưng tình yêu ấy còn mở rộng trong ý thức hân hoan rằng họ có thể làm cho cuộc sống họ trở nên “nơi chốn” Thiên Chúa tỏ mình ra, nơi được gặp Ngài và hiệp thông với Ngài. Sự sống mà Chúa Giêsu trao ban cho ta không làm giảm giá trị cuộc sống ta trong thời gian, nhưng đón nhận giá trị ấy và dẫn đưa nó tới vận mệnh cánh chung: “ta là sự sống lại và là sự sống, ai sống và tin Ta sẽ không chết bao giờ” (Ga 11,25-26)

”Với từng người, Ta sẽ đòi trả lẽ về sự sống của anh em mình” (St 9,5): Tôn trọng và yêu quý sự sống của mọi người.

39. Sự sống của con người từ Thiên Chúa mà đến, đó là ân huệ của Ngài, là hình ảnh, dấu ấn của Ngài. Thiên Chúa là Đức Chúa duy nhất của sự sống này: Con người không thể định đoạt về nó. Chính Thiên Chúa đã nhắc lại cho Noel sau đại hồng thủy: “Từ máu ngươi, là chính mạng sống ngươi, Ta sẽ đòi trả lẽ … với mọi người: với từng người, Ta sẽ đòi trả lẽ về mạng sống anh em mình” (St 9,5). Bản văn Kinh Thánh đã cẩn thận nhấn mạnh rằng tính cách thánh thiêng của sự sống có cơ sở nơi Thiên Chúa và nơi hành động sáng tạo của Ngài: “Vì con người được tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa” (St 9,6)

Vậy sự sống và sự chết của con người ở trong bàn tay Thiên Chúa, ở trong quyền năng Ngài: “Chính Chúa nắm trong tay hồn của mọi sinh linh và hơi thở của mọi xác thịt người phàm” ông Job đã kêu lên như vậy (G 12,10).”Giavê làm cho chết và làm cho sống, người đày xuống âm phủ và lại đưa lên” (1 Sm 2,6). Chỉ có Ngài mới có quyền phán: “Chính Ta làm cho chết và làm cho sống” (Đnl 32,39).

Thiên Chúa không thực hiện uy quyền một cách tùy nghi hay tàn ác, nhưng với sự ân cần và chăm sóc đầy yêu thương đối với các tạo vật của Ngài. Nếu quả thật đời sống con người ở trong tay Thiên Chúa, thì cũng rất thật là đôi tay ngài đầy dịu hiền, như đôi tay người mẹ đón nhận, nuôi nấng và chăm sóc con mình: “Con giữ hồn con bình an im lặng, hồn con ở trong con, như bé thơ trong lòng mẹ hiền” (Tv 131/139,2; x. Is 49,15; 66,12-13; Hs 11,4). Như thế, trong lịch sử các dân tộc và trong cảnh đời từng các nhân, Israel không thấy có hậu quả do ngẫu nhiên thuần túy hay do vận mệnh mù quáng, nhưng nhìn ra kết quả do một ý định yêu thương, qua đó Thiên Chúa khôi phục mọi tiềm năng của sự chết do tội lỗi gây ra: “Thiên Chúa không làm ra sự chết, Ngài không vui khi mất một sinh linh, Ngài dựng nên tất cả để tồn tại” (Kn 1,13-14)

40. Sự sống là thánh thiêng, nó mang tính bất khả xâm phạm được khắc ghi từ ban đầu trong lòng người, trong lương tâm con người. Câu hỏi: “Ngươi đã làm gì?” (St 4,10) mà Thiên Chúa hỏi Cain, sau khi hắn ta đã giết Abel em mình, diễn tả kinh nghiệm của mọi người: trong đáy sâu lương tâm mình, con người vẫn được nhắc nhở về tính bất khả xâm phạm của sự sống, sự sống mình cũng như sự sống của người khác,như một thực thể không thuộc con người, vì nó là sở hữu và ân ban của Đấng Tạo hóa và cũng là Cha của họ.

Giới răn liên hệ tới tính bất khả xâm phạm của sự sống vang lên giữa “mười lời” trong giao ước Sinai. (x. Xh 20,13). “Ngươi đừng giết kẻ vô tội, người ngay lành” (Xh 23,7). Giới răn ấy còn cấm gây thương tích cho người khác, như bộ luật của Israel về sau đã giải thích: cấm gây thương tích cho người khác (x. Xh 21,12-27).

Phải nhìn nhận rằng trong Cựu Ước, việc quan tâm tới giá trị của sự sống, dù được khẳng định rõ ràng, nhưng chưa đạt tới nét tinh vi của Bài giảng trên núi, như ta thấy trong một số Bộ luật hình sự có hiệu lực vào thời ấy, trong đó đã qui định những hình phạt nặng nề trên thân thể, có khi còn có án tử hình. Nhưng sứ điệp tổng quát mà Tân ước sẽ phải đưa tới mức hoàn hảo, vốn đã là lời kêu gọi khẩn thiết phải tôn trọng tính bất khả xâm phạm của sự sống thể lý và sự toàn vẹn nơi con người; giới luật ấy đạt tới cao độ trong điều răn tích cực bắt buộc lãnh trách nhiệm về người lân cận như về chính mình: “Ngươi sẽ yêu mến người lân cận như chính mình” (Lv 19,18)

41. Giới luật: “Ngươi sẽ không giết người”, được bao hàm và được đào sâu trong giới luật tích cực về tình yêu đối với người lân cận, được Chúa Giêsu tái khẳng định trong tất cả ý lực của giới răn ấy. Với chàng thanh niên giàu sang đến hỏi: “Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sống đời đời? Chúa Giêsu đáp: Nếu anh muốn vào trong sự sống, anh hãy giữ các giới luật” (Mt 19,16-17). Rồi Chúa nêu lên như điều thứ nhất trong những giới luật này: “ngươi chớ giết người” (câu 18). Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ một sự công chính cao hơn sự công chính của giới Ký lục và Biệt phái, trong mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực tôn trọng sự sống: “Các ngươi đã nghe bảo người xưa: chớ giết người; kẻ giết người thì sẽ can án. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: phàm ai tức giận anh em mình thì sẽ can án”. (Mt 5,21-22).

Sau đó bằng những lời nói và hành vi của mình, Chúa Giêsu đòi hỏi những tích cực của giới luật này về tính bất khả xâm phạm của sự sống. Những đòi hỏi ấy đã có trong Cựu Ước, trong đó luật lệ quan tâm đến việc bảo hộ và cứu trợ những người có cuộc sống yếu kém và bị đe dọa: ngoại kiều, bà góa, kẻ mồ côi, bệnh tật, nói chung là kẻ nghèo, cả đến sự sống trước khi sinh ra nữa (x. Xh 21,22; 22,20-26). với Chúa Giêsu, những đòi hỏi tích cực này mang một sức mạnh và một đà tiến mới, cũng như chúng được biểu lộ hoàn toàn sâu rộng: chúng đi từ sự cần thiết phải săn sóc đời sống của người anh em (người cùng một gia đình, thuộc cùng một dân tộc, người ngoại kiều ở trên đất Israel) tới việc gánh trách nhiệm về người ngoại quốc, cho tới cả việc yêu thương kẻ thù.

Người ngoài sẽ không còn là người ngoài nữa đối với kẻ tự làm cho mình gần gũi những ai cần được giúp đỡ, đối với kẻ cảm thấy mình có trách nhiệm về sự sống của họ, như chúa Giêsu dạy rất hùng hồn trong dụ ngôn người Samari nhân hậu (x. Lc 10,25-37). Cả kẻ thù cũng không còn là kẻ thù nữa đối với ai quyết tâm yêu thương họ (x. Mt 5,38-40; Lc 6,27-35) lại còn “làm ơn” cho họ (x. Lc 6, 27.33-35). Tình yêu này khi đạt tới tột đỉnh trong việc cầu nguyện cho kẻ thù sẽ làm cho ta được hòa nhịp với tình yêu khoan dung của Thiên Chúa: “Còn Ta, Ta bảo các con: hãy mến yêu thù địch và khẩn cầu cho những kẻ bắt bớ các con, ngõ hầu các con nên những người con của Cha các con, Đấng ở trên trời, vì Ngài cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác” (Mt 5, 44-45; Lc 6,28-35)

Như vậy, lệnh truyền của Thiên Chúa, chủ tâm bảo vệ đời sống con người, đã đi tới mức sâu xa trong sự đòi hỏi tôn trọng và thương mến mọi người cũng như mọi sự sống. Giáo huấn của Thánh Phaolô cũng vang vọng lời Chúa Giêsu đã dạy, Thánh tông đồ viết cho các Kitô hữu Roma: “những giới luật: chớngoại tình, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ tham muốn, và mọi lệnh truyền nào khác đều tóm lại nơi một lời này: Ngươi hãy yêu đồng loại như chính mình. Yêu mến hẳn không làm hại người đồng loại. Vậy yêu mến là chu toàn cả lề luật” (Rm 13,9-10).

“Hãy nên phong phú, sinh sôi nảy nở, đầy dẫy trên đất và bá chủ nó (St 1,28): Những trách nhiệm của con người đối với sự sống.

42. Bảo vệ và thăng tiến sự sống, tôn trọng và yêu mến sự sống, đó là nhiệm vụ Thiên Chúa trao cho mọi người, khi kêu gọi họ, vốn là hình ảnh sống động của Chúa, tham dự vào quyền làm chủ mà Ngài đang thực hiện trên thế giới: “Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng và phán bảo chúng: Hãy sinh sôi nảy nở đầy dẫy trên đất và bá chủ nó! Hãy cai trị trên các biển chim trời và mọi loài sinh vật bò trên đất” (St 1,28)

Bản văn Kinh Thánh làm sáng tỏ chiều rộng của quyền làm chủ mà Chúa ban cho con người. Trước hết đây là việc cai trị trên mặt đất và trên mọi sinh vật, như sách Khôn ngoan nhắc nhở: “Lạy Thiên Chúa của tổ tiên, là Chúa đầy thương xót…Chúa đã dùng sự khôn ngoan Chúa mà tạo nên con người để cai trị các tạo vật mà Chúa làm ra, để cai trị chúng trong thánh thiện công bình” (Kn 9,1-3). Tác giả Thánh vịnh cũng đề cao việc làm chủ của con người như dấu chỉ của Vinh quang và Danh dự được Đấng Tạo hóa ban cho: “Chúa cho con người thống trị các kiệt tác tay Ngài làm muôn sự, Ngài đã đặt dưới chân (con người) chiên, dê, bò, ngựa hết thảy, lại thêm các thú rừng, chim trời, cá biển, những vật ngang dọc trên đại dương…(Tv 8,7-8)

Được gọi để trồng trọt và giữ vườn thế giới (x. St 2,15) con người có trách nhiệm riêng đối với môi trường sự sống, nghĩa là đối với thiên nhiên mà Chúa đã dựng và sắp đặt để phục vụ phẩm giá cá vị của con người, phục vụ sự sống con người, và Ngài làm như vậy không những cho hiện tại, mà cho các thế hệ tương lai nữa. Đó là vấn đề môi sinh- từ việc bảo quản “nơi ở” tự nhiên của mọi loài động vật và nhiều hình thức sống khác cho đến “môi sinh của con người” nói riêng(28)- đều thấy trong trang Kinh Thánh này một lời linh hứng rõ ràng và mạnh mẽ mang tính đạo đức, để mọi giải pháp phải tôn trọng điều thiện hảo lớn lao nhất, là sự sống, mọi sự sống. Thực ra, “Quyền bá chủ mà Đấng Tạo Hóa ban cho con người, không phải là tuyệt đối, và người ta không thể nói đến tự do “xử dụng hay lạm dụng”, hoặc đặt để mọi cái theo như mình muốn được. Giới hạn mà Thiên Chúa đặt ra ngay từ đầu và được diễn tả biểu trưng bằng việc “cấm ăn trái Cây” (St 2,16-17), giới hạn đó cho thấy rã ràng rằng, trong khung cảnh thiên nhiên hữu hình, chúng ta vẫn phải tuân phục các định luật không những về sinh học mà còn về luân lý, những định luật không thể vi phạm cách vô tội vạ” (29)

43. Việc con người tham dự phần nào nào đó vào quyền Chủ Tể của Thiên Chúa cũng được biểu lộ rõ ràng, do sự kiện họ được trao phó trách nhiệm đặc thù đối với sự sống con người nói riêng. Đó là một trách nhiệm sẽ đạt tới đỉnh cao khi người nam và người nữ, trong bậc hôn nhân, ban tặng sự sống qua việc sinh sản, như công đồng Vatican II nhắc lại: “Chính Thiên Chúa, Đấng đã phán: “người ta ở một mình không” (St 2,18), và là Đấng ngay từ ban đầu đã dựng nên con người có nam có nữ (x. Mt 19,4), muốn con người đặc biệt tham dự vào công trình sáng tạo, vì thế Ngài chúc phúc cho người nam và người nữ: “Hãy sinh sôi nảy nở thêm nhiều” (St 1,28) (30). Khi nói người nam và người nữ “tham dự đặc biệt” vào “công trình sáng tạo” của Thiên Chúa, công đồng muốn nhấn mạnh: sinh được một đứa con là biến cố có tính nhân bản sâu sắc và tính tôn giáo cao cả, vì biến cố này đòi hỏi sự dấn thân của hai người phối ngẫu sau khi họ đã nên “một thân xác” (St 2,24), đồng thời Thiên Chúa cũng hiện diện trong biến cố đó. Như tôi đã viết trong Thư gởi các Gia đình, “khi sự phối hiệp trong hôn nhân của hai người sinh ra người mới, thì em bé này

mang trong đời hình ảnh và họa ảnh đặc biệt giống như Thiên Chúa: trong môn sinh học về ngành sinh sản, đã ghi khắc gia phả con người. Khi khẳng định rằng đôi vợ chồng, vì là cha mẹ, nên cũng là cộng tác viên của Thiên Chúa Sáng Tạo trong việc nhận mang thai và sinh một người mới, chúng ta không chỉ nhắc tới các định luật sinh học thôi mà đúng hơn chúng ta muốn nhấn mạnh rằng, trong việc làm cha làm mẹ đó của con người, chính Thiên Chúa hiện diện một cách khác với những gì xảy ra trong các loại hình sinh sản khác “trên trái đất”. Quả thế, “hình ảnh” và “họa ảnh” của Thiên Chúa chỉ có thể từ Thiên Chúa mà tới, và là điều dành riêng cho con người, như đã xảy ra trong ngày sáng tạo. Sinh sản là tiếp tục sáng tạo.”(31).

Đấy là điều bản văn Kinh Thánh dạy bằng ngôn ngữ nói và trực tiếp, bản văn kể lại tiếng reo vui của người nữ đầu tiên, “mẹ của tất cả chúng sinh (St 3,20). Ý thức được sự can thiệp của Thiên Chúa, bà Eva kêu lên: “Tôi đã được một người con nhờ ơn Đức Chúa” (St 4,1). Trong việc sinh sản, khi sự sống được thông truyền từ cha mẹ tới người con, và nhờ sự sáng tạo “linh hồn bất tử (32), thì hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa cũng truyền theo. Chính theo nghĩa đó mà “sách gia phả Adam” diễn tả: “Ngày Thiên Chúa dựng nên người, thì Chúa dựng nên người theo họa ảnh Thiên Chúa. Chúa dựng nên họ có nam có nữ; Chúa chúc phúc cho họ và cho họ cái tên là “người”, vào ngày họ được tạo thành. Khi Adam được một trăm ba mươi ba tuổi, ông sinh một con trai theo họa ảnh ông như hình ảnh ông, và ông đặt tên là Seth” (St 5,1-3). Chính trong vai trò cộng tác viên của Thiên Chúa, là truyền họa ảnh cho tạo vật mới, đã thể hiện sự cao cả của đôi vợ chồng, học được chuẩn bị đủ mà “cộng tác với tình yêu của Đấng Tạo Hóa và Cứu Độ, Đấng muốn nhờ họ mà không ngừng làm cho gia đình Ngài lớn rộng và nên phong phú” (33). Trong viễn ảnh ấy, Đức Giám mục Amphiloque đề cao “hôn nhân là điều thật có giá trị, thật là cao cả hơn hết mọi ân huệ trên trái đất”, bởi vì nó như “một người sáng tạo ra nhân loại, một họa sĩ vẽ lên hình ảnh thần linh. (34)

Như vậy khi người nam và người nữ kết hiệp với nhau bằng dây liên kết hôn nhân, họ đã hợp tác công việc của Thiên Chúa bằng hành vi sinh sản, hồng ân của Thiên Chúa được tiếp nhận và một sự sống mới được mở ra cho tương lai.

Như bên kia sứ mệnh đặc thù của cha mẹ, việc đón nhận và phục vụ sự sống liên hệ tới mọi người và phải biểu lộ nhất là đối với sự sống đang ở trong những điều kiện yếu đuối nhất. Chính Chúa Kitô nhắc nhở ta điều ấy, khi Ngài đòi ta yêu mến và phục vụ Ngài trong anh em Ngài là những kẻ bị thử thách bởi bất cứ đau khổ nào: những kẻ đói khát, những ngoại kiều, kẻ không có áo mặc, người bệnh tật, kẻ bị cầm tù…Điều gì ta làm cho từng người trong họ là làm cho chính Chúa Kitô (x. Mt 25,31-46)

“Tạng phủ tôi chính Ngài tạo dựng” (Tv 139/138,13): Phẩm giá của hài nhi chưa sinh ra.

44.Đời sống con người gặp một tình cảnh thật là bấp bênh, khi nó chào đời, và khi nó ra khỏi thời gian để tới cõi vĩnh hằng. Lời Chúa không thiếu những tiếng mời gọi ta chăm sóc và kính trọng sự sống, nhất là sự sống mang dấu bệnh tật hoặc già yếu. Nếu không có những lời mời gọi trực tiếp và minh nhiên phải cứu vãn sự sống con người, cũng như sự sống gần tàn lụi, thì điều ấy thật dễ giải thích, do sự kiện là khả năng xúc phạm, tấn công, hay tệ hơn nữa, phủ định sự sống trong những điều kiện như thế, là xa lạ đối với viễn ảnh tôn giáo và văn hóa của dân Chúa.

Trong Cựu Ước, người ta sợ việc không có con như sợ một sự chúc dữ, trong khi đó người ta cảm thấy như được Chúa chúc lành nếu có nhiều con cái: “Con cái là gia nghiệp mà Chúa ban và hoa quả lòng dạ là phần thưởng” (Tv 126,3; x Tv 127,3-4). Cùng với xác tín ấy, lại thêm tác dụng của ý thức rằng Israel là dân của Giao Ước, được gọi để sinh ra nhiều, theo lời Chúa hứa với Abrraham: “Hãy nhìn lên trời và hãy đếm các ngôi sao, xem ngươi có thể đếm được không… Dòng dõi ngươi sẽ đông như thế” (St 15,5). Nhưng điều đáng kể nhất, là xác tín rằng sự sống được cha

mẹ truyền cho có nguồn gốc từ nơi Thiên Chúa, như nhiều trang Thánh Kinh đã chứng thực, khi trân trọng và thân thương nói về việc thụ thai, việc sự sống thành hình trong lòng mẹ, việc chào đời và mối dây liên hệ chặt chẽ giữa giây phút đầu tiên của sự sống và tác động của Thiên Chúa , Đấng Tạo Thành. “Trước khi Ta nắn ra ngươi trong lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi” (Gr 1,5): Cuộc đời mỗi cá nhân, ngay từ đầu, đã ở trong kế hoạch của Thiên Chúa. Trong đáy vực đau khổ, ông Job vẫn nán lại để chiêm ngắm kỳ công của Thiên Chúa trong cách thức lạ lùng Chúa tác tạo nên thân ông trong lòng mẹ, từ đó ông rút ra lý do để tin cậy và bày tỏ niềm xác tín về dự tính của Chúa trên đời ông: “Tay Ngài đã nặn và tạo nên tôi, rồi đổi ý, Ngài muốn hủy tôi! Xin hãy nhớ, Ngài đã dựng nên tôi từ đất sét, rồi Ngài sẽ đưa tôi về đất bụi. Ngài đã chẳng đổ tôi như sữa, và làm tôi đặc lại như sữa đặc lên men sao? Ngài chẳng đã lấy da thịt mặc cho tôi và dệt tôi bằng gân cốt sao? Ngài đã cho tôi sự sống và máu nóng, và ân cần săn sóc hơi thở tôi” (G 10,8-12). Những âm điệu ngạc nhiên và tôn thờ sự can thiệp của Thiên Chúa vào sự sống đang thành hình trong lòng mẹ vang lên trong các Thánh vịnh (35). Làm sao tưởng tượng được rằng chỉ một khoảnh khắc thôi trong quá trình huyền diệu của việc xuất hiện sự sống có thể tách khỏi hành động khôn ngoan và nhân hậu của Thiên Chúa, và bị bỏ mặc cho độc quyền của con người? Điều ấy chắc chắn không phải là ý nghĩ của bà mẹ bảy người con tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng là nguyên lý và bảo đảm sự sống ngay từ lúc được thụ thai, và đồng thời là nền tảng của niềm hy vọng về một đời sống mới sau khi chết: “Mẹ không biết làm sao các con xuất hiện trong lòng mẹ, không phải mẹ đã cho các con tinh thần và sự sống, cũng không phải mẹ đã tổ chức các yếu tố tạo nên từng đứa chúng con. Vì thế, Đấng Tạo Thành vũ trụ, Đấng đã dựng nên loài người và là nguồn mọi vật, sẽ trả lại cho các con cả “tinh thần cả sự sống, theo lòng thương xót của Ngài, vì bây giờ các con biết khinh thường chính mình vì yêu mến Lề Luật của Ngài” (2 Mcb 7,22-23)

45. Mặc khải trong Tân Ước lại kiện chứng việc nhìn nhận không chối cãi được giá trị của sự sống từ khi nó bắt đầu hình thành. Những lời bà Isave tả nỗi vui mừng được mang thai cũng đề cao việc có đứa con và hăm hở đón chào một người con: “Chúa đã khấng cất nỗi hỗ nhục của tôi” (Lc 1,25). Nhưng giá trị của con người ngay từ khi thành thai, càng được tôn trọng hơn nữa trong dịp Đức Maria gặp bà Isave, cũng như việc gặp gỡ giữa hai hài nhi còn trong lòng hai bà mẹ. Chính hai người con ấy tiết lộ sự đăng quang của thời đại Messia: trong cuộc gặp gỡ giữa hai hài nhi, sức mạnh cứu độ do việc hiện diện của Con Thiên Chúa ở giữa loài người bắt đầu tác động. Thánh Ambrôsiô viết: “Ngay lập tức, người ta cảm thấy những ơn lành do Đức mẹ mang tới và do việc Chúa hiện diện… Bà Isave là người đầu tiên nghe lời chào, nhưng Gioan là người đầu tiên cảm nhận được ân sủng: người mẹ nghe, theo trật tự thiên nhiên, người con đã nhảy mừng vì mầu nhiệm; người mẹ thấy Đức Maria đến, nhưng người con nhận ra Đức Chúa đến. Người phụ nữ thấy người phụ nữ, nhưng con của bà nhận ra Đức Chúa Con. Hai phụ nữ trao nhau những lời ân sủng, hai hài nhi tác động ở trong lòng hai bà mẹ và bắt đầu thực hiện mầu nhiệm từ bi thương xót làm cho hai người mẹ được tiến lên trong mầu nhiệm ấy. Sau cùng, qua hai phép lạ, hai người mẹ nói tiên tri dưới sự cảm ứng của con mình. Người con nhảy mừng, thì người mẹ được đầy Chúa Thánh Thần; người mẹ đã không đầy Chúa Thánh Thần trước con bà, nhưng khi con bà được đầy Thánh Thần, thì cũng làm bà được đầy Thánh Thần.

Tôi vẫn tin, ngay cả khi tôi nói: Ôi, khổ thân tôi quá! (Tv 115,10) Sự sống trong tuổi già và trong đau khổ

46. Về những gì liên quan tới khoảnh khắc cuối cùng của đời người, sẽ là sai lầm nếu chờ đợi từ Mặc Khải Thánh Kinh một chỉ dẫn minh nhiên về vấn đề hiện nay, là sự tôn trọng người già cả, người bệnh tật, hay việc minh nhiên lên án những thử nghiệm nhằm dùng bạo lực để chấm dứt sớm sự sống; quả vậy, ta đã ở ngay đó rồi, ở trong một bối cảnh văn hóa và tôn giáo không hề có nguy cơ bị những cám dỗ tương tự, mà còn nhìn nhận nơi người cao niên, cùng với sự khôn

ngoan và kinh nghiệm, còn có sự phong phú không thể thay thế được cho gia đình và cho xã hội.

Tuổi già là tuổi có uy tín và được người chung quanh kính trọng(x. 2 Mcb 6,23). Người công chính không xin được cất đi tuổi già hay gánh nặng cuộc sống, trái lại người già cầu xin: “Lạy Chúa, Ngài là niềm hy vọng của con, nâng đỡ con từ lúc thanh xuân… Mãi tới ngày già nua tóc bạc, xin ngài đừng bỏ con, để con loan báo cho người thời nay biết quyền lực của Ngài, và những kỳ công của Ngài cho những người sẽ đến” (Tv 71,5.18). Lý tưởng của thời Đấng Messia được đề ra như một thời gian sẽ không còn “người nào không đạt tuổi thọ” (Is 65,20).

Nhưng đến tuổi già, làm sao đối phó với sự suy tàn không thể tránh được? Cư xử ra sao trước sự chết? Người tín hữu biết rằng sự sống mình ở trong tay Chúa: “Lạy Chúa, số phận con lệ thuộc vào ngài” (Tv 16,5) và họ chấp nhận sự chết từ nơi Chúa: Đó là định luật Chúa mang đến cho mọi xác phàm: Sao lại phản nghịch Thánh ý của Đấng Tối Cao?” (Gv 41,4).

Con người chẳng làm chủ được sự sống, cũng chẳng làm chủ được sự chết: trong khi sống cũng như trong khi chết, con người phải hoàn toàn tuân theo “thánh ý Đấng Tối Cao”, tuân theo ý định tình thương của Ngài.

Khi bệnh tật cũng vậy, con người cũng được gọi để phó thác cho Chúa như thế, và nhắc lại lòng cậy trông bền vững nơi Ngài, Ngài có thể “chữa mọi bệnh tật” (Tv 103,3). Khi mọi viễn ảnh về sức khỏe như khép lại trước con người đến mức phải kêu van: “Những ngày sống của con như chiều nghiêng bóng, và thân con như cây cỏ héo tàn” (Tv 102,12), cả những lúc như thế người tín hữu được sinh động bằng đức tin vững mạnh vào quyền năng tác sinh của Thiên Chúa. Tật bệnh không xúi con người thất vọng và đi tìm cái chết, nhưng khiến họ kêu xin với lòng tin tưởng: “Tôi vẫn tin ngay cả khi tôi nói: ôi khổ thân tôi quá” (Tv 116,20) “Khi con kêu lên Chúa, Chúa của con, Ngài đã chữa con; Lạy Chúa, Ngài đã đưa con lên khỏi vực sâu và cho con sống, lúc con đã xuống mồ” (Tv 30,3-4)

47. Sứ mệnh của Chúa Giêsu, kèm theo nhiều lần chữa bệnh, chứng tỏ Thiên Chúa cũng để tâm đến đời sống thân xác của con người. “Là lương y chữa thân xác và tinh thần”(37) Chúa Giêsu được Cha sai đến mang Tin Mừng cho người nghèo khó, băng bó những tấm lòng bị thương (x Lc 4,18, Is 61,1) Về sau, khi sai môn đệ đi khắp thế giới, Ngài trao sứ mệnh cho họ, trong sứ mệnh ấy có việc chữa trị bệnh tật kèm theo việc loan báo Tin Mừng: “Hãy đi và loan báo rằng: Nước Trời đã gần bên. Hãy chữa lành bệnh nhân, phục sinh kẻ chết, tẩy sạch người phong cùi, hãy xua đuổi ma quỷ.” (Mt 10,7-8; Mc 6,13; 16,18).

Quả thực, đời sống thân xác trong điều kiện trần thế, không phải là tuyệt đối cho người tín hữu: Có thể có việc yêu cầu họ phải bỏ mạng sống vì sự thiện cao hơn, như Chúa Giêsu đã dạy: “Ai cứu mạng mình thì sẽ mất, nhưng ai mất mạng mình vì Ta và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được nó” (Mt 8,35). Về vấn đề này ta có một số chứng từ trong Tân Ước. Chúa Giêsu không ngại hy sinh chính mình và tự do lấy mạng sống làm của lễ dâng lên Chúa Cha (x. Ga 10,17) vì bạn hữu mình (x. Ga 10,15). Cái chết của Gioan tẩy giả, vị tiền hô của Chúa Cứu Thế, cũng chứng nhận sự sống trần gian không phải là tuyệt đối: việc trung thành với lời Chúa còn quan trọng hơn, ngay cả nếu làm cho sự sống ấy bị lâm nguy (x. Mc 6,17-29). Và Stephanô, khi con người cướp sự sống trần thế của ông, vì ông là chứng nhân kiên quyết về việc Chúa Phục sinh, thì ông đã đi theo bước chân của Thầy và đáp trả bằng lời tha thứ cho những người ném đá ông (Cv 7,59-60), như thế ông đã mở đường cho đoàn lớp đông vô kể các vị tử đạo đã được Giáo Hội tôn kính ngay từ những buổi đầu.

Tuy nhiên không ai được phép tự ý muốn sống hay chết; quả vậy, chỉ một mình Đấng Tạo Hóa là chủ thể mới có quyền cho chết hay sống,vì nơi Ngài mà “ta sống, cử động và hiện hữu” (Cv 17,28)

“Kẻ giữ lề luật sẽ sống” (Br 4,1): Từ lề luật Sinai tới ơn ban Thánh Thần.

48. Sự sống mang chân lý được ghi khắc trong mình không thể bị xóa bỏ được. Khi đón nhận ân huệ của Thiên Chúa, con người phải cam kết giữ sự sống ấy trong chân lý, chân lý này là điều thiết yếu cho sự sống. Tách rời khỏi chân lý tức là liều mình rơi vào cái vô nghĩa và khốn khổ, mà hậu quả là trở nên mối đe dọa cho sự sống của kẻ khác, do việc phá đổ các rào chắn bảo đảm lòng tôn trọng và bênh vực sự sống trong mọi tình huống.

Chân lý vế sự sống được mạc khải qua giới răn của Thiên Chúa. Lời Chúa đã cụ thể vạch ra con đường mà sự sống phải theo để có thể tôn trọng chân lý và cứu lấy phẩm giá mình. Không chỉ có giới răn riêng biệt “ngươi chớ giết người” (Xh 20,13; Đnl 5,17) mới đảm bảo việc bênh vực sự sống: Toàn thể luật của Chúa đều phục vụ cho việc bảo vệ sự sống, vì luật Chúa mạc khải chân lý trong đó sự sống tìm được ý nghĩa đầy đủ của mình.

Vậy không lạ gì mà Giao Ước của Thiên Chúa với dân Ngài được gắn chặt với viễn ảnh sự sống, ngay cả trong thành phần cơ thể. Giới răn ấy được biểu lộ nơi thành phần cơ thể như con đường dẫn tới sự sống: “Hãy coi! Ta đặt trước mặt ngươi hôm nay sự sống và sự lành, sự chết và sự dữ. Điều Ta truyền dạy ngươi hôm nay là yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, là đi theo đường lối của Người, tuân giữ các lệnh truyền và luật điều cùng phán quyết của Người, ngươi sẽ được sống và nên đông đảo, và Thiên Chúa, Chúa của ngươi sẽ chúc phúc cho ngươi trên đất mà ngươi sẽ vào chiếm lấy” (Đnl 30,15-16). Đây không chỉ là đất Canaan và cuộc sinh tồn của dân Israel, mà là thế giới hôm nay và tương lai, là cuộc sinh tồn của nhân loại. Quả vậy, tuyệt đối sự sống không phải là chân thực và đầy đủ nếu nó tách rời khỏi sự thiện, và về phần mình, sự thiện được căn bản gắn liền với các giới răn của Chúa, có nghĩa là với “luật về sự sống” (Gv 17,11). Điều thiện cần được hoàn thành không phải là phụ thêm vào sự sống như một sức nặng làm khổ sự sống, bởi vì ngay lý hữu của sự sống lại chính là sự thiện, và sự sống chỉ được xây dựng bằng việc hoàn thành sự thiện.

Vậy chính toàn thể lề luật bảo đảm cách đầy đủ sự sống con người. Điều ấy có nghĩa là rất khó trung thành tuân giữ lệnh “ngươi chớ giết người” khi ta không giữ “những lời sự sống” khác (Cv 7,38) mà giới luật trên có liên hệ. Ngoài viễn ảnh này, cuối cùng thì giới luật đi từ việc bắt buộc đơn thuần từ bên ngoài mà người ta mau chóng muốn đặt ra những giới hạn và người ta sẽ tìm ra những cách giảm khinh hay nhưng khoản luật trừ. Chỉ khi nào ta mở lòng đón nhận toàn bộ chân lý về Thiên Chúa, về con người, về lịch sử, thì mệnh lệnh “ngươi chớ giết người” mới rực rỡ như một điều tôt lành cho con người, trong mọi chiều kích và quan hệ của con người. Trong nhãn giới nay ta mới hiểu được sự sung mãn của chân lý chứa đựng trong đoạn sách Đệ Nhị Luật mà Chúa Giêsu nhắc tới khi Ngài chống lại cơn cám dỗ thứ nhất: “Con người không sống chỉ bằng cơm bánh, mà còn bằng mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3; x. Mt 4,4).

Chính khi nghe Lời Chúa mà con người có thể sống đầy đủ theo phẩm giá và công lý; chính khi giữ luật Chúa, con người mới có thể sinh được hoa trái sự sống và hạnh phúc: “Ai giữ lề luật Chúa sẽ sống, ai bỏ lề luật sẽ chết” (Br 4,1)

49. Lịch sử Israel cho thấy quả là khó trung thành với lề luật về sự sống mà Chúa đã ghi khắc trong trái tim con người, và đã ban hành trên núi Sinai cho dân của Giao Ước. Trước việc người ta tìm những kế hoạch sống khác với kế hoạch của Thiên Chúa, các ngôn sứ đặc biệt nhắc lại mạnh mẽ rằng chỉ có Đức Chúa là nguồn chính thực của sự sống. Giêrêmia viết: “Dân của Ta đã phạm hai tội ác: họ đã bỏ Ta, là nguồn nước sự sống, để đào những cái giếng, những cái giếng nứt nẻ không giữ nước” (Gr 2,13). Các Ngôn sứ giơ tay chỉ vào những kẻ khinh thường sự sống và vi phạm quyền lợi con người mà tố cáo: “Họ giày đạp lên đầu kẻ yếu trên bụi đất” (Am 2,7); “Họ làm đầy máu vô tội lên nơi này” (Gr 19,4). Trong số các ngôn sứ, Êzêkiel nhiều lần ghi dấu cả trên Giêrusalem và gọi là “thành vấy máu” (Ed 22,2; 24,6.9), “thành đã đổ máu giữa ngươi” (Ed 22,3)

Nhưng khi tố cáo những vi phạm sự sống, các Ngôn sứ đặc biệt có ý khơi lên việc chờ đợi một nguyên lý sự sống mới xứng hợp để thiết lập những quan hệ được đổi mới giữa con người với Thiên Chúa và với anh em, mở ra những khả năng chưa từng thấy và rất khác thường, để hiểu và thực hành những đòi hỏi của Tin Mừng về sự sống. Việc này chỉ có thể làm được nhờ ơn Chúa, Đấng thanh tẩy và canh tân tất cả: “Và trên các ngươi, ta sẽ rảy nước sạch trong, Ta sẽ làm cho các ngươi sạch mọi uế nhơ. Ta sẽ cho các ngươi một quả tim mới, Ta sẽ đặt trong các ngươi một tinh thần mới” (Ed 36,25-26; x.Gr 31,31-34). Nhờ “trái tim mới” này, người ta có thể hiểu và thực hiện ý nghĩa thật và sâu xa nhất của sự sống: là ân huệ được hoàn chỉnh trong sự trao tặng chính mình. Đó là sứ điệp rạng ngời về giá trị của sự sống, sứ điệp đến với ta từ dung mạo người tôi tớ Thiên Chúa: “Nếu người đã hiến mình làm hy sinh đền tội, người sẽ thấy một dòng giống, sẽ được trường thọ… chính vì cảnh lao đao mạng người phải chịu, người sẽ thấy sự sáng” (Is 53,10-11)

Lề luật đã hoàn thành trong lịch sử của Đức Giêsu thành nazareth, và trái tim mới đã được Thánh Thần trao ban. Quả vậy, Chúa Giêsu không chối bỏ nhưng hoàn chỉnh Lề Luật (x. Mt 7,17); Lề Luật và Ngôn sứ gồm tóm trong điều luật này của tình yêu thương nhau (x. Mt 7,12). Nơi Chúa Giêsu, Lề Luật biến hẳn thành “Tin Mừng”, tin vui của quyền Chủ Tể của Thiên Chúa trên thế giới, đưa mọi sự sống về nguồn cội và về viễn ảnh nguyên thủy của nó. Đó là Lề Luật mới. “luật của Thánh Thần ban sự sống, trong Chúa Giêsu Kitô” (Rm 8,2), là hiến ban chính mình trong tình yêu thương anh em: “Phần chúng ta, chúng ta biết rằng chúng ta sẽ từ cõi chết qua cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em” (1 Ga 3,14). Đó là lề luật của tự do, của niềm vui và phúc lộc.

“Chúng sẽ trông lên Đấng chúng đã đâm thâu” (Ga 19,37):Tin Mừng về sự sống hoàn tất trên thập giá.

50. Đến cuối chương này, trong đó chúng ta đã suy gẫm sứ điệp Kitô giáo về sự sống, tôi muốn được cùng với từng người trong anh em dừng lại ngắm nhìn Đấng mà họ đã đâm, Đấng đã kéo mọi người lên với Ngài (x. Ga 19,37; 12,32). Nhìn tấm thảm kịch Thánh Giá (x. Lc 23,48) chúng ta đã khám phá trên cây vinh quang này việc hoàn tất và sự mạc khải đầy đủ toàn bộ Tin Mừng về sự sống.

Vào những giờ đầu của buổi chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Mặt trời bị che lấp, tối tăm xảy ra trên khắp địa cầu… bức màn trong thánh điện bị xé ra ở chính giữa” (Lc 23,44-45). Đó là biểu tượng một việc đảo lộn mang tính vũ trụ và cuộc đấu tranh hãi hùng giữa các lực lượng của sự thiện và sự ác, giữa sự sống và sự chết. Ngày nay cũng thế, chúng ta đang ở giữa cuộc đấu tranh thảm khốc giữa “văn hóa sự chết” và “văn hóa sự sống”.

Nhưng ánh sáng rạng ngời của Thánh Giá đã không bị cái tối tăm này che khuất. Thánh Giá càng nổi bật rõ nét và sáng tỏ hơn, và xuất hiện như một trung tâm, một định hướng,một mục đích của cả lịch sử và của từng sự sống con người.

Chúa Giêsu bị đóng đinh vào Thánh giá và được đưa lên cao khỏi mặt đất. Chúa sống giây phút của sự bất lực hoàn toàn và mạng sống Ngài như phải hứng lấy tất cả mọi sự chế giễu của kẻ thù địch và bị nộp vào tay những lý hình. Chúa Giêsu bị mỉa mai, chế giễu, sỉ nhục (x. Mc 15,24-36).

Tuy nhiên, trước tất cả những điều ấy, và “thấy Ngài đã tắt thở như thế”, viên sĩ quan La mã kêu: “Thật người nầy là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Như vậy là vào lúc yếu nhược cùng cực, căn tính của con Thiên Chúa được mạc khải: vinh quang tỏ hiện trên thập giá.

Qua sự chết của Ngài, Chúa Giêsu soi chiếu cho ý nghĩa sự sống và sự chết của từng con người chúng ta. Trước khi chết, Chúa Giêsu cầu khẩn Cha Ngài, xin tha thứ cho những người bách hại (x. Lc 23,34) và với kẻ tội phạm xin ngài nhớ đến anh ta khi Ngài về nước của Ngài, Chúa đáp: “Thật tôi bảo anh, hôm nay anh sẽ ở cùng tôi trên thiên đàng” (Lc 23,43). Sau khi Chúa chết, “các

mồ mả mở ra, nhiều xác các thánh đã sống lại” (Mt 27,52). Ơn cứu độ do Chúa Giêsu thực hiện là ân ban sự sống và sự sống lại.. Trong cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu cũng đã ban ơn cứu độ bằng cách chữa bệnh, làm ơn lành cho mọi người. (x. Cv 10,38). Nhưng những phép lạ, những việc chữa trị và cho sống lại, chính chúng là dấu chỉ của một ơn cứu độ khác, hệ tại của việc tha thứ tội lỗi, tức là giải phóng con người khỏi cơn bệnh sâu xa nhất và đưa họ lên tới sự sống của chính Thiên Chúa.

Trên Thập giá, được canh tân và thực hiện một cách trọn vẹn hoàn hảo và dứt khoát điều kỳ diệu về con rắn đồng mà Môsê treo lên trong hoang địa (x. Ga 3,14-15, Ds 21,8.9). Cả ngày nay, khi nhìn về Đấng đã bị đâm thâu, bất kỳ người nào bị đe dọa về sự sống, cũng tìm được niềm hy vọng vững chắc đạt tới ơn giải thoát và cứu chuộc.

51. Nhưng còn một biến cố chính xác nữa thu hút cái nhìn của tôi và khơi lên một suy niệm nồng nhiệt: “khi đã uống giấm, Chúa Giêsu nói: “mọi sự đã hoàn tất, và gục đầu xuống, Ngài tắt hơi thở” (Ga 19,30). Rồi người lính Lamã: “lấy đòng đâm cạnh sườn Ngài và tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34).

Từ nay, tất cả đã đạt tới mức hoàn chỉnh đầy đủ. Kiểu nói: “ tắt thở” diễn tả cái chết của Chúa Giêsu, giống như cái chết của mọi người khác, nhưng hình như còn ám chỉ “ơn ban Thánh Thần”, qua Người, Chúa Giêsu dùng sự chết của mình mà cứu chuộc ta khỏi chết và mở cửa cho ta vào sự sống mới.

Con người được ơn tham dự vào sự sống của chính Thiên Chúa. Đó là sự sống, nhờ Bí Tích của Giáo Hội- mà máu cùng nước từ cạnh sườn Chúa Kitô là biểu tượng- được luôn luôn thông ban cho con cái Thiên Chúa, nhờ đấy họ trở nên dân của giao ước mới. Từ nơi Thánh Giá, là nguồn sống, phát sinh và phát triển “dân của sự sống”.

Việc chiêm ngắm Thánh Giá dẫn ta đến cội rễ sâu xa nhất của những việc đã xảy ra. Khi đến thế gian Chúa Giêsu đã nói: “Này con đến để thi hành ý Cha” (x. Dt 10,9). Ngài muốn vâng lời Chúa Cha trong mọi sự và “vì đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), bằng cách nộp mình hoàn toàn vì họ.

Ngài đã ‘không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và trao nộp mạng sống làm giá cứu chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45), trên Thánh Giá, Chúa đạt đỉnh cao của tình yêu: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13). Và chính Chúa đã chết cho chúng ta khi ta còn là tội nhân (x. Rm 5,8)

Bằng cách này, Ngài tuyên bố rằng sự sống đạt tới tâm điểm, ý nghĩa và độ sung mãn khi nó được trao ban. Đến đây việc suy gẫm biến thành lời ngợi khen và cảm tạ, đồng thời việc ấy thúc giục chúng ta bắt chước Chúa Giêsu và đi theo vết chân Ngài. (x. 1 Pr 2,21). Chúng ta cũng vậy, chúng ta được gọi để hiến ban sự sống mình vì anh em, nhờ thế mà trở thành hiện thực. trong sự sung mãn của chân lý, chính ý nghĩa ấy và vận mạng của đời ta.

Lạy Chúa, chúng con có thể làm điều ấy, bởi vì Chúa đã làm gương cho chúng con, Chúa đã thông ban cho chúng con sức mạnh Thánh Thần của Chúa. Chúng con sẽ có thể làm được, nếu mỗi ngày chúng con cùng với Chúa và bắt chước Chúa mà vâng lời Chúa Cha và thi hành thánh ý Cha. Xin Chúa ban cho chúng con được ơn lắng nghe, với tấm lòng ngoan ngoãn và quảng đại, mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra; và như thế chúng con biết rằng chúng con không được giết sự sống, mà còn phải tôn trọng và mến yêu, yểm trợ sự sống.

CHƯƠNG III: NGƯƠI CHỚ GIẾT NGƯỜI

Lề luật thánh của Thiên Chúa

Nếu anh muốn vào trong Sự sống, hãy tuân giữ các giới răn” (Mt 19,17): Tin Mừng và giới luật.

52. “Và này một người đến gần và nói với Ngài: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì là tốt để đạt sự sống vĩnh hằng?(Mt 19,16). Chúa Giêsu trả lời: “Nếu anh muốn vào trong sự sống, hãy tuân giữ giới răn (Mt 19,17). Thầy nói về sự sống vĩnh hằng, nghĩa là về việc tham gia chính sự sống ấy bằng việc tuân giữ các giới răn của Chúa, vậy thì kể cả giới răn “ngươi chớ giết người”. Đó chính là giới luật thứ nhất trong Mười Điều Răn mà Chúa Giêsu nhắc nhở cho người thanh niên hỏi Ngài những giới răn nào anh ta phải tuân giữ: “Chúa Giêsu nhắc lại: ngươi chớ giết người,chớ ngoại tình, chớ trộm cắp…(Mt 19,18).

Giới luật của Thiên Chúa không bao giờ tách rời khỏi tình yêu của Thiên Chúa: Nó luôn luôn là một ơn ban vì sự tăng trưởng và vì niềm vui của con người. Với tư cách ấy, nó là một phương diện chủ chốt và một yếu tố của Tin Mừng mà người ta khôg thể từ bỏ; hơn nữa, nó xuất hiện như “Tin Mừng”, nghĩa là tin tốt lành và tin vui. Tin Mừng về sự sống cũng là một ơn ban của Thiên Chúa và đồng thời là một bổn phận ràng buộc con người. Nó khơi dậy nơi con người tự do sự ngạc nhiên, lòng biết ơn và đòi tiếp nhận, giữ gìn và đề cao với một ý thức trách nhiệm sắc bén: khi ban cho con người sự sống, Thiên Chúa đòi hỏi con người phải kính trọng, yêu mến và thăng tiến nó. Theo cách này,ơn ban trở thành giới luật và chính giới luật là một ơn ban.

Con người, hình ảnh sống của Thiên Chúa, được Đấng tạo hóa muốn cho là vua và chúa tể. “Thiên Chúa đã tạo thành con người, thánh Giêrôgriô thành Nyssê viết, để nắm lấy vương quyền trên mặt đất. Con người đã được tạo dựng theo hình ảnh của Đấng cai trị vũ trụ. Tất cả biểu lộ rằng, từ khởi thủy bản tính con người đã được ghi dấu bởi vương quyền. Con người cũng là vua. Như vậy bản tính nhân loại được tạo dựng để thống trị thế giới, vì giống với vua của toàn thể vũ trụ, nên được làm thành như một hình ảnh sống tham gia vào mẫu gốc bằng phẩm giá” (38). Được gọi trở nên phong phú và sinh sôi nảy nở, bắt địa cầu phải phục tùng và thống trị các tạo vật khác (x. St 1,28),con người là vua và chúa tể không chỉ cuat vạn vật, nhưng cũng và trước hết là vua và chúa tể của chính mình (39), và một cách nào đó của sự sống đã được ban cho mình và mình có thể truyền lại bằng hành động sinh sản được hoàn thành trong tình yêu và trong sự tôn trọng ý định của Thiên Chúa. Nhưng quyền chúa tể của con người không tuyệt đối, nó chỉ là một thừa tác vụ; nó là phản ánh thực sự của quyền chúa tể duy nhất và vô tận của Thiên Chúa. Do đó con người phải sống quyền chúa tể đó với sự khôn ngoan và tình yêu, tham gia vào sự khôn ngoan và tình yêu vô lượng của Thiên Chúa. Và điều ấy được thực hiện bằng sự tuân phục Lề luật thánh của Ngài, một sự tuân phục tự do và vui vẻ (x. Tv 119/118), phát sinh và được dưỡng nuôi bởi nhận thức rằng các giới luật của Chúa là một tặng phẩm của ân sủng, rằng chúng luôn luôn và duy chỉ được giao phó cho con người vì lợi ích của con người, để con người bảo vệ phẩm giá riêng của mình và đẻ họ đi tìm kiếm hạnh phúc.

Cũng như đối diện với vạn vật, hơn thế nữa đối diện với sự sống, con người không là chủ tuyệt đối và trọng tài không thể tranh cãi, nhưng là “thừa tác viên của dự định do Đấng Tạo Hóa thiết lập và sự cao cả khôn sánh của con người hệ tại ở điều này (40).

Sự sống đã được giao phó cho con người như một kho báu không được phung phí, như một nén bạc phải làm cho sinh lợi, con người phải trả lẽ về điều ấy với Chúa của mình (x. Mt 25,14-30; Lc 19,12-27).

“Với mỗi người, Ta sẽ đòi phải trả lẽ về sự sống của người anh em mình” (St 9,5): Sự sống của con người là thánh thiêng và bất khả xâm phạm

53. “Sự sống của con người là thánh thiêng bởi vì ngay từ nguồn gốc, nó bao hàm “hành động sáng tạo của Thiên Chúa” và mãi mãi nằm trong một mối quan hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hóa, cứu cánh duy nhất của nó. Duy chỉ Thiên Chúa là Chủ sự sống từ khi nó bắt đầu cho đến lúc

nó kết thúc: không ai, trong bất cứ trường hợp nào, có thể đòi cho mình quyền trực tiếp hủy diệt một con người vô tội” (41). Bằng những lời này, Tông huấn Donum vitae trình bày nội dung trung tâm mặc khải của Thiên Chúa về tính cách thánh thiêng và về sự bất khả xâm phạm của sự sống con người.

Quả nhiên, Thánh Kinh trình bày cho con người giới luật “ngươi chớ giết người như một giới răn của Thiên Chúa (Xh 20,13; Dt 5,17). Giới luật này– như tôi đã nhấn mạnh – nằm trong thập giới, ở trung tâm Giao Ước mà Thiên Chúa ký kết với dân tộc được tuyển chọn, nhưng nó đã được bao gồm trong giao ước nguyên thủy của Thiên Chúa với nhân loại sau sự trừng phạt thanh tẩy của đại hồng thủy, do sự lan rộng của tội lỗi và bạo lực gây ra (x. St 9,5-6).

Thiên Chúa tự tuyên bố là Chúa tể tuyệt đối của sự sống con người, được tạo thành theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài (x. St 1,26-28). Do đó, sự sống của con người biểu thị một tính chất thánh thiêng và bất khả xâm phạm, nơi đó phản chiếu chính sự bất khả xâm phạm của Đấng Tạo Hóa. Vì vậy Thiên Chúa sẽ tỏ ra là Đấng thẩm phán rất nghiêm khắc đối với mọi vi phạm giới răn “ngươi chớ giết người”, đặt ở nền tảng của tất cả sự đồng sinh tồn của xã hội. Ngài là “Goel”, nghĩa là Đấng bênh vực người vô tội (x. St 4,9-15 ; Is 41,14 ; Is 50,34 ; Tv 19/18,15). Bằng cách đó, Thiên Chúa cũng chứng tỏ rằng “Ngài không vui thích vì sự hư mất của các sinh linh” (Kn 1,13). Duy chỉ có satan có thể vui mừng về điều đó : bởi sự đố kỵ của nó, cái chết đã vào trong thế gian (x. Kn 2,24). Nó, kẻ “giết người ngay từ ban đầu”, cũng là “tên dối trá, cha của sự dối trá” (Ga 8,44) : khi dối gạt con người, nó đã dẫn đưa con người tới tội lỗi và sự chết, được trình bày như những cứu cánh và những thành quả sống.

54. Giới luật “ngươi chớ giết người” rõ ràng có nội dung rất tiêu cực : nó biểu thị giới hạn cuối cùng không bao giờ được vượt qua. Nhưng nó ngầm thúc đẩy giữ một thái độ tích cực tuyệt đối tôn trọng sự sống, nó dẫn đến thăng tiến sự sống và tiến tới trên con đường của tình yêu tự hiến, tiếp nhận và phục vụ. Mặc dù chậm rãi và có những mâu thuẫn, dân tộc của Giao Ước đã tuần tự trưởng thành trong chiều hướng đó, và như thế được chuẩn bị cho lời tuyên bố vĩ đại của Chúa Giêsu: tình yêu đối với tha nhân là một giới răn giống như giới răn về tình yêu đối với Thiên Chúa. “Tất cả Lề Luật và lời Tiên Tri đều gồm tóm trong hai điều răn đó” (x. Mt 22,36-40). Thánh Phaolô nhấn mạnh “Giới luật…ngươi chớ giết người và các giới luật khác đều tóm lại trong công thức này : “Ngươi hãy yêu thương tha nhân như chính mình” (Rm 13,9 ; x. Ga 5,14). Được lấy lại và đưa đến hoàn thành trong Lề Luật mới, giới luật “ngươi chớ giết người” vẫn còn là một điều kiện mà người ta không thể chối từ để có thể “vào trong sự sống” (x. Mt 19,16-19). Trong chính viễn cảnh đó, những lời này của Tông đồ Gioan cũng có một giọng kiên quyết: “Người nào ghét anh em thì là một kẻ giết người ; mà anh em biết rằng không một kẻ giết người nào có sự sống vĩnh hằng ở trong nó” (1 Ga 3,15).

Từ những buổi đầu, Truyền Thống sống động của Giáo Hội đã nhắc lại một cách dứt khoát giới răn “ngươi chớ giết người”, như quyển Didachè, tác phẩm Kitô giáo ngoài bộ Thánh Kinh cổ xưa nhất đã chứng tỏ điều ấy : “Có hai con đường, một con đường của sự sống, một con đường của sự chết, nhưng sự khác nhau giữa hai con đường này rất lớn […] Giới răn thứ hai của đạo lý. Ngươi chớ giết người […] ngươi chớ giết con bởi phá thai và ngươi sẽ không làm cho nó chết sau khi nó sinh ra. […] Còn đây là con đường của sự chết: nhẫn tâm đối với người nghèo, dửng dưng đối với người đau khổ, và không biết đến Đấng Tạo Hóa của mình, những điều đó làm thất bại công trình của Thiên Chúa, xua đuổi kẻ bần cùng, đè nén người bị áp bức, những kẻ bênh vực bọn nhà giàu, những viên thẩm phán bất công, đó là những kẻ tội lỗi thâm căn cố đế. Ước gì các con có thể tránh xa tất cả những điều ấy !” (42).

Khi tiến lên theo thời gian, Truyền thống của Giáo Hội luôn luôn nhất trí giảng dạy giá trị tuyệt đối và trường tồn của giới răn “ngươi chớ giết người”. Người ta biết rằng, trong những thế

kỷ đầu tội giết người thuộc vào số ba tội nặng nhất – cùng với tội chối đạo và tội ngoại tình – và nó đòi hỏi một sự sám hối công khai đặc biệt nặng nề và lâu dài, trước khi kẻ phạm tội giết người đã ăn năn hối cãi được ban ơn tha thứ và được thu nhận lại vào trong cộng đồng Giáo Hội.

55. Điều ấy chẳng đáng ta ngạc nhiên, vì giết chết con người, trong đó hiện diện hình ảnh của Thiên Chúa, là một tội có tính đặc biệt nghiêm trọng. Duy chỉ Thiên Chúa là chủ sự sống. Tuy nhiên xưa nay khi đứng trước nhiều trường hợp thường là bi thảm xảy ra nơi những cá nhân và trong xã hội, tâm trí của những kẻ có niềm tin bao giờ cũng cố thử đạt tới một sự hiểu biết đầy đủ hơn và sâu sắc hơn về những gì giới răn của Thiên Chúa cấm và đòi hỏi (43). Có những tình thế trong đó những giá trị do Lề Luật của Thiên Chúa đề xuất hiện ra dưới một dạng trái ngược. Ví dụ, đó là trường hợp của sự phòng vệ chính đáng, vì sự phòng vệ ấy mà quyền bảo đảm sự sống của mình và bổn phận không làm tổn thương sự sống của người khác rõ ràng thấy khó mà dung hòa được. Chắc chắn rằng giá trị nội tại của sự sống và bổn phận phải yêu thương chính mình cũng bằng yêu thương những người khác là nền tảng cho một quyền thực sự được tự bảo vệ chính mình. Giới luật đầy yêu sách này về tình yêu thương những người khác, như Cựu Ước phát biểu và Chúa Giêsu xác nhận, đòi hỏi phải có tình yêu thương chính mình trước: “ngươi hãy yêu thương tha nhân như chính mình” (Mc 12,31). Vậy không ai có thể từ bỏ quyền tự bảo vệ vì thiếu tình yêu sự sống hay yêu thương mình, nhưng chỉ vì một tình yêu anh hùng thứ tình yêu đào sâu và biến đổi hình dạng tình yêu thương chính mình, theo tinh thần các mối phúc thật của Tin Mừng (x. Mt 5,13-18), trong sự hiến dâng triệt để mà Chúa Giêsu là gương mẫu tuyệt vời.

Đàng khác, “sự phòng vệ chính đáng có thể không chỉ là một quyền lợi nhưng còn là một bổn phận nghiêm trọng, đối với kẻ có trách nhiệm về sự sống của người khác, về lợi ích chung của gia đình hay của đất nước” (44). Có lúc không may, sự cần thiết phải đặt kẻ tấn công trong tình trạng không làm hại được mình, đôi khi lại bao hàm sự thủ tiêu nó. Trong giả thiết như thế, cái kết cục chết chóc phải được quy trách cho chính kẻ tấn công, đã do hành động của mình mà đưa thân ra hứng chịu, ngay cả trong trường hợp mà nó không có trách nhiệm về mặt luân lý, bởi thiếu xử dụng lý trí của mình (45)

56. Cũng được đặt vào viễn cảnh đó vấn đề án phạt tử hình. Về vấn đề này người ta ghi nhận, trong Giáo Hội cũng như trong xã hội dân sự, một xu hướng đòi áp dụng thật hạn chế, thậm chí bãi bỏ hoàn toàn án ấy. Cần đặt lại vấn đề này trong khuôn khổ công lý hình sự , xét đến cùng, phải phù hợp với ý định của Thiên Chúa về con người và về xã hội. Thực tế là hình phạt mà xã hội bắt chịu “có tác dụng đầu tiên là đền bù cho sự mát trật tự do tội phạm gây ra”(46). Trước sự vi phạm những quyền cá nhân và xã hội, các quyền lực công cộng phải nghiêm trị qua việc áp đặt cho con người phạm tội, một sự đền tội thích đáng với lỗi phạm, như điều kiện để người ấy lại được phép hưởng quyền tự do của mình. Trong chiều hướng đó, chính quyền cũng đạt được tới mục tiêu bảo vệ trật tự công cộng và sự an toàn cho cá nhân, mà không phải là đem lại cho người phạm tội một sự khích lệ và một sự hổ trợ để cho họ tự sửa chữa và cải thiện (47)

Chính vì để đạt đến những mục đích đó mà rõ ràng là mức độ và tính chất của hình phạt phải được chăm chú ước lượng và xác định. Chúng không được dẫn đến biện pháp cuối cùng là thủ tiêu người có tội, nếu có không phải là trong trường hợp tuyệt đối cần thiết, khi việc bảo vệ xã hội không thể thực hiện được cách nào khác. Nhưng mà ngày nay, do một tổ chức cơ chế hình sự luôn có hiệu năng hơn, những trường hợp ấy từ nay đã khá hiếm, nếu không phải thực tế là không còn tồn tại.

Dù thế nào nguyên tắc được chỉ định trong quyển Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo mới xuất bản vẩn có hiệu lực, theo nguyên tắc đó, “ nếu những phương thế không đổ máu đủ để bênh vực mạng sống con người chống lại kẻ tấn công và bảo vệ trật tự công cộng cũng như sự an toàncác cá nhân , chánh quyền sẽ bằng lòng với những phương thế ấy, bởi vì chúng tương ứng hơn với

những điều kiện cụ thể của lợi ích chung và xứng hợp hơn với phẩm giá của nhân vị con người”(48).

57. Nếu người ta phải chú ý nhiều như thế tới việc tôn trọng mọi sự sống, ngay cả sự sống của người có tội và của kẻ tấn công cách bất chính, thì giới răn “ngươi chớ giết người” phải có một giá trị tuyệt đối khi nó liên quan tới người vô tội. Và điều ấy lại càng tuyệt đối hơn khi đó là một con người yếu đuối, không được bênh vực. vốn chỉ tìm thấy trong tính cách tuyệt đối của giới răn Thiên Chúa một sự bảo vệ triệt để, trước sự độc đoán và lạm quyền của kẻ khác.

Quả nhiên, tính bất khả xâm phạm tuyệt đối của mạng sống con người vô tội là một sự thật luân lý được chỉ dạy rành mạch trong Thánh kinh, được luôn luôn duy trì trong Giáo Hội và được quyền Giáo Huấn nhất trí đề ra. Sự nhất trí là thành quả hiển nhiên do “ý thức siêu nhiên về niềm tin” được Chúa Thánh thần khơi lên và nâng đỡ, ý thức ấy bảo đảm cho dân Thiên Chúa khỏi sai lầm, khi sự nhất trí đó “ đem đến cho những chân lý liên quan tới đức tin và phong hóa một sự đồng ý phổ phát”(49).

Trước sự giảm bớt từng bước, nơi lương tâm con người và trong xã hội, nhận thức về tính bất hợp pháp tuyệt đối và nghiêm trọng, về mặt đạo đức của việc thủ tiêu trực tiếp mọi sự sống của con người vô tội, đặc biệt là khi nó mới bắt đầu hay lúc nó sắp kết thúc, quyền Giáo huấn của Giáo Hội đã tăng cường những can thiệp của mình để bảo vệ tính cách thánh thiêng và bất khả xâm phạm của sự sống con người. Quyền Giáo Huấn của Giám mục đã luôn luôn kết hợp cách đặc biệt khẩn khoản với Quyền Giáo huấn của Giáo Hoàng, qua nhiều tài liệu tính lý và mục vụ quan trọng, hoặc của cá nhân các Giám mục, và cả sự can thiệp của Công Đồng Vatican II tuy ngắn ngọn nhưng mạnh mẽ và gay gắt.(50).

Vì vậy, với uy quyền được Chúa Kitô trao phó cho Phêrô và những người thừa kế vị Ngài, trong sự hiệp thông với tất cả các Giám mục của Giáo hội công giáo, tôi xác nhận rằng việc trực tiếp và cố ý giết người vô tội luôn luôn là điều vô luân nghiêm trọng. Giáo lý này, căn cứ vào Lề luật không viết ra mà mọi người phát hiện trong tâm hồn mình dưới ánh sáng của lý trí (x. Rm 2,14-15), được Thánh Kinh khẳng định lại, được Truyền Thống Giáo Hội lưu truyền và được Quyền Giáo huấn thông thường và phổ phát giảng dạy (51).

Quyết định có suy nghĩ tước đi sự sống của một người vô tội luôn luôn là xấu về phương diện luân lý và không bao giờ được phép làm, như mục đích cũng như phương tiện để đạt đến để đạt tới một mục đích tốt. Vì chưng, đó là một sự bất tuân phục lề luật luân lý, hơn nữa đó là sự bất tuân phục chính Thiên Chúa, tác giả là Đấng bảo đảm của sự sống ấy, điều ấy trái với các nhân đức cơ bản là công bằng và bác ái. “Không gì và không ai có thể cho phép người ta giết chết con người vô tội, dù là phôi hoặc thai, trẻ em hay người lớn, người già, bệnh nhân không thể chữa trị hay người háp hối. Không ai có quyền đòi hỏi cử chỉ giết người nào đó cho mình hay cho một người khác được giao phó cho trách nhiệm của mình, thậm chí cũng không ai có quyền đồng ý việc đó, một cách rõ ràng hay không. Không một uy quyền nào được áp đặt điều đó một cách chính đáng, hoặc thậm chí cho phép điều đó” (52).

Về những gì liên quan đến quyền sống, mọi con người vô tội điều tuyệt đối bình đẳng với tất cả những người khác. Sự bình đẳng này là cơ sở của tất cả các tương quan xã hội đích thực, để được thực sự như thế, các tương quan ấy không thể không được xây dựng trên chân lý và sự sống công bằng, bằng cách đón nhận và bảo vệ từng người nam và từng người nữ như một nhân vị, chứ không như một đồ vật mà người ta tự ý xử dụng. Đối với chuẩn mực luân lý cấm thủ tiêu trực tiếp một người vô tội thì “Không có đặc quyền hay ngoại lệ nào cho bất cứ ai. Cho dù là chúa tể cả thế giới hay là người cuối cùng trong những “kẻ khốn cùng” trên mặt đất, thì vẩn chẳng có gì là khác biệt cả :trước những đòi hỏi về mặt luân lý, tất cả chúng ta tuyệt đối bình đẳng” (53).

“Con chưa thành hình mắt Ngài đã nhìn thấy con” (Tv 139/138,16): Tội ác ghê tởm của việc phá thai.

58.Trong tất cả tội ác mà con người có thể thực hiện chống lại sự sống, sự phá thai do cố ý gây ra biểu thị những đặc trương làm cho nó đặc biệt nghiêm trọng và đáng kết tội. Công đồng Vatican 2 đã định nghĩa nó như “một tội ác ghê tởm”, cùng một lúc với tội giết trẻ sơ sinh (54).

Nhưng ngày nay, trong lương tâm nhiều người, nhận thức về tính nghiêm trọng của nó đã lu mờ dần. Sự chấp nhận phá thai trong tâm thức con người nơi các phong tục và chính trong pháp luật, là một dấu chỉ hùng hồn về một cơn khủng hoảng rất nguy hiểm trong ý thức luân lý, ý thức đó ngày càng trở nên không có khả năng phân biệt giữa sự thiện và sự ác, ngay cả khi nó liên quan đến quyền cơ bản về sự sống. Trước tình hình nghiêm trọng như thế, hơn bao giờ hết, cần thiết phải có can đảm nhìn thẳng vào sự thật và nói lên các việc bằng tên của chúng, không nhường bước cho những thỏa hiệp vì dễ dãi hoặc cho sự cám dỗ tự lừa phỉnh mình. Về vấn đề ấy, lời quở trách của vị ngôn sứ vang lên một cách dứt khoát: “Khốn cho những ai gọi điều ác là thiện và điều thiện là ác, lấy tối tăm làm ánh sáng và ánh sáng làm tối tăm” (Is 5,20). Chính trong trường hợp phá thai, người ta tuân theo sự phát triển của một hệ thống thuật ngữ nhập nhằng nước đôi, như thuật ngữ “sự ngừng có thai”, vốn hướng tới việc che dấu thực chất của nó và làm bớt tính nghiêm trọng của nó trong dư luận quần chúng. Có lẽ hiện tượng ngôn ngữ học này, chính nó là hội chứng của một sự bất ổn mà các lương tâm đã cảm nghiệm thấy. Nhưng không lời nào đạt đến kết quả thay đổi thực tại của cả sự việc: sự phá thai do cố ý gây ra, dù được thực hiện bằng cách nào, là việc giết chết, có suy nghĩ và trực tiếp, một con người trong giai đoạn đầu cuộc đời của nó, ở giữa sự thụ thai và sự sinh đẻ.

Tính chất nghiêm trọng về mặt luân lý của sự phá thai do cố ý gây ra xuất hiện trong tất cả sự thật của nó, nếu người ta thừa nhận rằng đó chính là việc giết người và, cách riêng, nếu người ta quan sát những tình tiết đặc thù xác định phẩm chất của nó. Kẻ bị thủ tiêu là một con người mới bắt đầu hiện hữu, nghĩa là, trong tyệt đối, một hữu thể vô tội nhất mà người ta có thể tưởng tượng, không bao giờ nó có thể coi như một kẻ tấn công, lại càng không thể coi như một kẻ tấn công bất chính! Nó yếu đuối, không biện pháp phòng vệ, đến mức độ thiếu thốn ngay cả biện pháp phòng vệ nhỏ mọn nhất, là sự khẩn nài bằng tiếng kêu than và khóc lóc của trẻ sơ sinh. Nó hoàn toàn được giao phó cho sự bảo vệ và những chăm sóc của người mang nó trong dạ. Ấy thế mà đôi khi chính người ấy, bà mẹ, lại quyết định và yêu cầu thủ tiêu nó và đi đến chố gây ra sự thủ tiêu đó.

Quả thật là nhiều lần, đối với bà mẹ, sự lựa chọn phá thai mang tính cách bi thảm và thương tâm, khi sự quyết định phá hủy thành quả của sự thụ thai không được thực hiện vì những lý do thuần túy là ích kỷ hay vì nhẹ dạ, nhưng bởi vì người ta muốn bảo vệ những lợi ích quan trọng, như sức khỏe hay một mức sống thích hợp cho các thành phần khác của gia đình. Đôi khi người ta sợ cho đứa con sẽ sinh gặp phải những điều kiện sống khiến người ta nghĩ rằng tốt hơn cho nó là đừng sinh ra. Thế nhưng, những lý do này và những lý do khác tương tự dù nghiêm trọng và bi thảm đến đâu, cũng không bao giờ có thể biện minh được cho sự thủ tiêu có suy nghĩ một con người vô tội.

59. Để quyết định về cái chết của đứa con chưa sinh ra, bên cạnh bà mẹ thường còn có những người khác. Trước hết người cha của đứa con có thể mang tội, không chỉ khi ông ta dứt khoát đẩy người phụ nữ đó vào việc phá thai, nhưng cả khi gián tiếp hổ trợ quyết định của bà, bởi vì ông ta để bà cô độc một mình trước những sự mang thai đặt ra (55): bởi cách đó, gia đình bị tổn thương đến chết được và bị uế tạp trong bản chất cộng đồng tình yêu của nó và trong ơn gọi làm thành “cung thánh của sự sống”. Người ta cũng không thể lờ đi trước những xúi giục đôi khi đến từ phạm vi gia đình rộng lơn hơn và từ bè bạn. Thường người phụ nữ phải chịu những áp lực mạnh đến nỗi về mặt tâm lý họ cảm thấy bị bắt ép phải đành chịu phá thai: không còn nghi ngờ chút nào,

trong trường hợp đó, trách nhiệm tinh thần đặc biệt đè nặng trên những ai buộc bà phải phá thai, trực tiếp hay gián tiếp. Cũng thế, các thầy thuốc và nhân viên y tế đều có tránh nhiệm khi họ đem phục vụ cho cái chết những khả năng chuyên môn đã đạt được để thăng tiên sự sống.

Nhưng trách nhiệm cũng quy vào những nhà lập phát đã xúc tiến và phê chuẩn các đạo luật ủng hộ việc phá thai, và, trong chừng mực thuộc ở họ, cả những người quản lý các cơ cấu trị liệu được sử dụng để thực hiện những nố phá thai. Và, trong chừng mực tùy thuộc ở họ, cả những người quản lý các cơ cấu trị liệu được sử dụng để thực hiện những nố phá thai. Một trách nhiệm toàn bộ nghiêm trọng như thế đè nặng trên những kẻ đã giúp việc phổ biến một não trạng buôn thả về tình dục và khinh thường tư cách làm mẹ, cũng như trên những người đáng lẽ phải tiến hành những chính sách gia đình và xã hội hữu hiệu để hổ trợ các gia đình, đặc biệt là những gia đình gặp khó khăn cách riêng về mặt kinh tế và giáo dục, mà lại đã không chịu làm. Cuối cùng, người ta không thể đánh giá thấp mạng lưới tòng phạm đang phát triển đến mức liên kết những cơ quan quốc tế, những tổ chức do tư nhân lập ra và những hiệp hội đấu tranh một cách có hệ thống cho việc làm pháp luật và phổ biến sự phá thai trên thế giới. Trong chiều hướng đó việc phá thai vượt quá trách nhiệm của những cá nhân và vượt quá sự thiệt hại gây ra cho họ, và nó mang một tầm quan trọng xã hội rất lớn: đó là một vết thương rất trầm trọng gây ra cho xã hội và cho nền văn hóa của xã hội từ phía những kẻ đáng lẽ phải là những người xây dựng và bảo vệ xã hội và văn hóa. Như tôi đã viết trong Thư gửi các gia đình, “ chúng ta đứng trước một đe dọa rất lớn chống lại sự sống, không nguyên sự sống của các cá nhân, nhưng còn là của toàn bộ nền văn minh” (56). Chúng ta đứng trước những gì có thể được đinh nghĩa như là một “cơ cấu của tội lỗi” chống lại sự sống con người chưa sinh ra.

60. Một số người mưu toan biện minh cho việc phá thai bằng cách chủ trương rằng thành quả của một sự thụ thai, ít ra là cho đến một số ngày nào đó, chưa có thể được coi như là một sự sống của con người cá vị. Sự thực là, “ ngay từ khi noãn thụ tinh, khởi đầu một sự sống vốn không phải là sự sống của người cha cũng không phải là sự sống của người mẹ, nhưng là của một con người mới, phát triển cho chính mình. Nó sẽ không bao giờ thành người, nếu nó không là người ngay từ lúc ấy.[…] Khoa học di truyền hiện đại đem lại cho sự hiển nhiên thường ngày từ khoảnh khắc đầu tiên này đã định hình chương trình của cái mà thực thể sống này sẽ là: một nhân vị, cái nhân vị cá thể ấy với những điểm đặc trưng của nó. Ngay từ lúc thu tinh, đã bắt đầu cuộc phiêu lưu của một sự sống con người mà mỗi khả năng lớn đòi hỏi có thời gian để nằm vào vị trí và sẵn sàng hành động” (57). Dù cho sự kiện của một linh hồn thiêng liêng không thể được ghi nhận bằng bất cứ phương tiện thực nghiệm nào, các kết luận của khoa học về phôi người cung cấp một chỉ dẫn quý giá để phân định bằng lý trí một sự hiện diện các nhân ngay từ sự xuất hiện đầu tiên này của một sự sống con người: làm sao một cá thể người lại sẽ không là một ngôi vị người” (58)

Vả chăng, cái được thua quan trọng đến nỗi, trên quan điểm nghĩa vụ đạo đức, duy chỉ khả năng đứng trước một ngôi vị đã đủ để biện minh cho sự cấm chỉ rõ ràng nhất mọi can thiệp dẫn tới thủ tiêu phôi người. Chính vì lý do đó, vượt trên những cuộc tranh luận khoa học và trên cả những khẳng định triết học, mà quyền Giáo huấn của Giáo hội đã không dứt khoát tỏ rõ thái độ, Giáo hội đã luôn luôn giảng dạy rằng phải bảo đảm cho thành quả của sự sinh sản con người, từ khoảnh khắc đầu tiên trong hiện hữu của nó một sự tôn trong vô điều kiện vốn phải có, về mặt đạo đức đối với con người trong toàn bộ và trong tính đơn nhất thể xác cũng như tinh thần của nó:” Con người phải được tôn trọng và đối xử như một ngôi vị ngay từ khi được thụ thai, và vậy thì ngay từ lúc đó, người ta phải thừa nhận cho nó những quyền của ngôi vị, trong đó đứng hàng đầu là quyền được sống, một quyền bất khả xâm phạm của mọi người vô tội” (59)

61.Các văn bản Thánh Kinh, vốn không bao giờ nói đến sự cố tình phá thai và vì thế không bao hàm những sự kết án trực tiếp và chuyên biệt về vấn đề này, để biểu lộ một sự quý trọng đối

với hữu thể người còn trong dạ mẹ, đến nỗi điều ấy đòi hỏi, như hậu quả lôgic, phải nói rộng ra về cả hữu thể ấy nữa giới răn của Thiên Chúa: “Ngươi chớ giết người”.

Sự sống con người là thánh thiêng và bất khả xâm phạm trong tất cả các khoảng khắc của sự hiện hữu của nó, cả trong khoảnh khắc khởi đầu có trước sự sinh ra. Từ trong dạ mẹ, con người thuộc về Thiên Chúa là Đấng dò xét và thấu biết tất cả, là Đấng hình thành và tác tạo nó từ tay Ngài, đã nhìn thấy nó khi nó mới còn là một phôi nhỏ không có hình dạng xác định và đoán thấy nơi nó con người trưởng thành nó sẽ trở nên ngày mai, mà ngày giờ đã được đến và ơn gọi đã được ghi vào “sách sự sống” (Tv 139/138, 1.13 16). Cũng nơi đó, khi nó còn trong dạ mẹ-như nhiều văn bản Thánh Kinh chứng tỏ (60)-con người là đối tượng thiết thân nhất của sự quan phòng trong tình yêu thương và trong tình hiền phụ của Thiên Chúa.

Từ thuở đầu cho đến ngày nay-như Tuyên ngôn do Thánh Bộ Giáo lý đức tin (61) công bố về vấn đề này cho thấy- Truyền thống Kitô giáo rất rõ và nhất trí đánh giá phẩm chất việc phá thai là sự hỗn loạn đặc biệt nghiêm trọng về mặt luân lý. Từ lúc đương đầu với thế giới hy-la, trong đó việc phá thai và giết trẻ em sơ sinh là những chuyện thông thường, cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đã triệt để chống lại những thói tục tràn lan trong xã hội ấy, bằng đạo lý và cách ăn ở của mình, như sách Didache đã dẫn trên đây cho thấy (62). Trong hàng các nhà văn thuộc Giáo hội của thế giới hy lạp, Athênagôrê nhắc lại rằng những người Kitô hữu coi như kẻ giết người các phụ nữ đã dùng đến phương tiện phá thai, vì lẽ rằng các đứa con tuy còn ở trong lòng mẹ cũng được “Thiên Chúa chăm sóc chúng” (63). Trong hàng cá văn sĩ la-tinh, Tertulianô khẳng định chỉ : “chỉ cần cản trở sinh ra thì đã là kẻ giết người rồi, người ta tước đoạt sự sống đã sinh ra hay là người ta hủy diệt nó trong lúc nó sinh ra thì không có gì khác biệt nhau cả. cái phải trở thành một con người thì đó là một con người rồi” (64).

Trải qua kịch sử gần hai ngàn năm của mình, cùng một đạo lý này đã được kiên trì giảng dạy bởi các Giáo phụ, các Mục tử và các Tiến sĩ. Ngay cả các cuộc tranh luận có tính cách khoa học và triết học về thời điểm chính xác của việc phú bẩm linh hồn thiêng liêng cũng không bao giờ gây ra do sự nhỏ nhất nào cho sự kết án về mặt luân lý đối với việc phá thai.

62. Gần đây, Quyền giáo huấn của Giáo Hoàng đã nhắc lại đạo lý chung ấy hết sức mãnh liệt. Đặc biệt, Đức Piô XI, trong Thông điệp Casti connubii, đã phi bác những luận cứ mạo xưng là biện minh cho việc phá thai (65), Đức Piô XI đã loại trừ mọi việc phá thai trực tiếp, nghĩa là mọi hành động trực tiếp dẫn đến hủy diệt sự sống con người chưa sinh ra, “dù sự hủy diệt đó được quyết định như một mục đích hay chỉ như một phương thế nhằm tới mục đích”.(66); Đức Gioan XXIII đã khẵng định lại rằng sự sống con người là thánh thiêng, vì “ngay từ trong cội nguồn của nó, nó đòi hỏi hành động sáng tạo của Thiên Chúa” (67). Như đã nhắc tới trên đây, Công Đồng Vatican II đã lên án sự phá thai rất nghiêm khắc: “vậy sự sống phải được bảo vệ với một chăm sóc tột độ từ lúc thụ thai: việc phá thai và giết trẻ sơ sinh là những tội ác ghê tởm” (68).

Từ những thế kỷ đầu, Kỷ luật Giáo hội đã trừng phạt những ai tự làm nhơ nhuốc bằng việc phá thai, và việc trừng phạt đó, với những hình phạt hoặc ít hoặc nhiều nặng nề, đã được xác nhận vào những giai đoạn lịch sử khác nhau. Bộ Giáo luật 1917 qui định vạ tuyệt thông cho việc phá thai (69). Giáo luật canh tân hiện nay nằm trong đường lối đó, khi tuyên bố rằng kẻ nào “phá thai mà có hiệu quả, thì tức khắc bị vạ tuyệt thông” (70),. Vạ tuyệt thông đánh vào tất cả những ai phạm tội ác này trong khi biết hình phạt họ phải chuốc lấy, cũng kể cả những kẻ tòng phạm mà nếu không có họ thì việc thực hiện tội ác đó không thể xảy ra (71); bằng sự xác nhận hình phạt ấy, Giáo Hội chỉ rõ tội ác này như một trong những tội ác nghiêm trọng và nguy hiểm nhất, để thúc đẩy những kẻ phạm tội nhanh chóng tìm lại con đường hoán cải. Vì chưng trong Giáo Hội vạ tuyệt thông nhằm mục đích làm cho người ta ý thức trọn vẹn tính nghiêm trọng của một tội ác, đặc biệt và giúp họ dễ dàng hoán cải, và đền tội thích đáng.

Trước sự nhất trí như thế của truyền thống đạo lý và kỷ luật Giáo Hội, Đức Phaolô VI đã có thể tuyên bố rằng giáo huấn này không bao giờ thay đổi và là bất di bất dịch (72). Vì vậy, với uy quyền Chúa Kitô đã trao cho Phêrô và những người kế vị ngài, trong sự hiệp thông với các giám mục- vốn đã nhiều lần liên tiếp lên án việc phá thai, và để trả lời cho sự tham khảo ý kiến nói trên đây., mặc dù tản mác khắp thế giới, đã nhất trí bày tỏ sự đồng ý với đạo lý này- tôi tuyên bố rằng, việc phá thai trực tiếp, nghĩa là được muốn như mục đích hay như phương thế luôn luôn là một thác loạn luân lý nghiêm trọng, xét như là sự cố ý giết chết một con người vô tội. Đạo lý này dựa trên cơ sở lề luật tự nhiên và lời của Thiên Chúa đã được viết ra, được tự nhiên truyền thống Giáo hội truyền lại và quyền giáo huấn thông thường và quyền phổ quát giảng dạy (73). Không bao giờ một trường hợp nào một mục đích nào, một luật pháp nào trên thế giới có thể làm cho trở thành hợp pháp một hành động vốn thực chất là không hợp pháp bởi vì trái với lề uật của Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn mọi người mà ta có thể phân biệt nhờ chính lý trí và đã được Giáo hội công bố.

63. Sự đánh giá việc phá thai về mặt luân lý cũng phải được áp dụng cho những hình thức can thiệp trên các phôi người mới đây, mặc dù theo đuổi những mục đích tự nó là chính đáng các can thiệp ấy không có thể tránh được việc giết chết nó. Đó là những trường hợp sự thí nghiệm trên các phôi ngày lan rộng trong lĩnh vực nghiên cứu y sinh học và được chính thức chấp nhận bởi một số nhà nước nếu “người ta phải coi như được phép là những sự can thiệp trên phôi người với điều kiện chúng tôn trọng sự sống và sự toàn vẹn của phôi, và nếu chúng không ghi cho nó những bất trắc không cân xứng, nhưng nhằm chữa trị nó, nhằm cải thiện những điều kiện sức khỏe hoặc sự sống” (74), thì trái lại phải khẳng định rằng việc xử dụng những phôi hoặc những thai người như những đồ vật thí nghiệm là một tội ác nghịch với phẩm giá người của chúng vốn có quyền được tôn trọng với những đứa trẻ được sinh ra và với mọi người (75)

Cùng một sự lên án về mặt luân lý đó cũng liên quan đến phương pháp khai thác các phôi và các thai người còn sống- đôi khi “được sản xuất” cho mục đích đó bằng sự thụ tinh trong ống nghiệm- hoặc như “ vật tư sinh học” để xử dụng, hoặc như kẻ cho cơ quan hay cho mô để đem ghép nhằm chữa trị một số bệnh giết chết những hữu thể người vô tội, dù có vì lợi ích của những người khác thực tế là một hành động tuyệt đối không thể chấp nhận.

Người ta phải đặc biệt chú ý đến sự đánh giá về mặt luân lý những kỹ thuật chẩn đoán tiền sản vốn cho phép sớm phát hiện rõ ràng những dị dạng thường có thể xảy ra nơi con trẻ sẽ sinh ra. Quả thật do tính phức tạp của những kỹ thuật ấy, sự định giá này phải được thực hiện rất cẩn thận và thật chặt chẽ các kỹ thuật sẽ hợp pháp về mặt luân lý khi chúng không có nguy cơ gây ra những bất trức không cân xứng cho đứa con và cho bà mẹ và được bố trí để có thể tiến hành một liệu pháp sớm, hoặc ít ra giúp cho dễ dàng chấp nhận đứa con sắp sinh ra một cách bình thản và có ý thức. Nhưng vì ngày nay những khả năng chăm sóc trước khi sinh còn giới hạn, nên thường xảy ra là những kỹ thuật đó được đem phục vụ cho một tâm địa ưu sinh vốn chấp nhận việc phá thai chọn lọc để ngăn cản sự sinh ra những đứa con có những dị dạng khác nhau. Một tâm địa như thế thật nhục nhã và luôn luôn đáng chê trách bởi vì nó có ý định đo lường giá trị của một sự sống con người, chỉ theo những tham số của “tính hợp chuẩn” và của sự thoải mái vật chất, như thế là mở đường cho việc hợp pháp hóa tội giết trẻ sơ sinh và việc làm chết êm dịu.

Nhưng thực tế là sự dũng cảm và bình thản mà một số đông những người của chúng ta, bị tàn tật trầm trọng, sống cuộc sống của họ, khi được chúng ta chấp nhận và yêu mến, hợp thành một bằng chứng đặc biệt mạnh mẽ, và những giá trị đích thực, làm rõ nét đặc tính của sự sống, và làm cho sự sống trở thành quý giá cho mình và cho những người khác, dù là trong những điều kiện khó khăn. Giáo hội gần gũi với những đôi vợ chồng trong lo sợ và đau khổ lớn lao, chấp nhận đón tiếp những đứa con tật nguyền trầm trọng; Giáo hội cũng biết ơn những gia đình tiếp nhận làm con nuôi những đứa con bị cha mẹ của chúng bỏ rơi vì tàn tật hay bệnh hoạn.