10 giờ sáng thứ Hai, ngày 12.12.2011, Đức Cha Antôn, Giám mục Giáo phận Đàlạt đã đến dâng Thánh Lễ tạ ơn Thiên Chúa và mừng kính hai thánh Tử Đạo Việt Nam : Simon Phan Đắc Hòa và Philipphê Phan Văn Minh. Đồng tế với Đức Cha Antôn có quý cha trong Ban Giám đốc Đại chủng viện Minh Hòa, quý cha giáo và quý cha xuất thân từ nơi đây. Ngoài một số giáo dân và phụ huynh của các ứng sinh, các thầy đang theo học tại Đại chủng viện, còn có những người con đã từng được sống tại ngôi nhà thân thương này, họ trở về đây, về “nhà mẹ” với niềm vui trong ngày Giỗ Tổ. Tất cả mọi người đều một lòng một ý tạ ơn Thiên Chúa và cầu nguyện cho gia đình Chủng viện, nơi không chỉ là chiếc nôi đào tạo linh mục của Giáo phận, mà còn là nơi cả Giáo phận cùng hướng về để chung tay bồi đắp.
Lời đầu Thánh Lễ, Đức Cha Antôn mời gọi cộng đoàn dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, cầu nguyện cách đặc biệt cho Đại chủng viện trong dịp mừng Bổn mạng. Đồng thời ngài xin mọi người nhớ và cầu nguyện cho các Vị Mục tử tiền bối, các vị ân nhân còn sống hay đã qua đời, đã dày công hình thành và góp phần để Đại chủng viện được như ngày nay.
49 năm trôi qua, với kết quả là hơn 100 Linh mục đang phục vụ nhiều nơi, hơn 100 ứng sinh và các thầy đang theo học tại đây hay tại Đại chủng viện Xuân Lộc, đang giúp xứ hoặc đang du học… cũng phải kể đến sự hiện diện của đông đảo anh em trong đời sống gia đình tại quê nhà hay ở các phương trời xa…
Dưới ánh sáng Lời Chúa và qua cuộc đời của hai Thánh Bổn mạng, Đức Cha Antôn chia sẻ :
“Trong lịch sử Giáo phận Đà Lạt, Tiểu chủng viện mang tên thánh Simon Hòa và Đại chủng viện mang tên thánh Philipphê Minh. Cả hai đều là thánh tử đạo được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tôn phong ngày 18.6.1988.
Thánh Simon Hòa sinh năm 1787 tại Thừa Thiên, đã từng tu học tại Tiểu chủng viện, nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt nên 30 tuổi về lập gia đình và là cha của 12 người con (có 3 người là nữ tu), tử đạo ngày 12.12.1840 lúc 53 tuổi.
Thánh Philipphê Minh sinh năm 1815 tại Vĩnh Long, là con thứ 12 trong một gia đình 14 anh chị em, sau thời gian học tại Tiểu chủng viện Lái Thiêu, đã học tiếp tại Đại chủng viện Penang – Malaysia, thụ phong linh mục tại Huế năm 31 tuổi, tử đạo ngày 3.7.1853 lúc 38 tuổi.
Thánh Simon Hòa và Philipphê Minh là hai trong số hàng trăm ngàn người Công giáo Việt Nam đã sống và chết theo gương Đức Giêsu Kitô, như những hạt lúa mì rơi xuống đất để trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương Việt Nam, trong đó có các linh mục, chủng sinh, giáo dân xuất thân từ Tiểu và Đại chủng viện Đà Lạt mang tên các Ngài.
Các Ngài là những người đã để lại cho chúng ta tấm gương thực hiện lời Chúa Giêsu dạy: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12, 25).
Các Ngài là những người đã ý thức như các tông đồ xưa: “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4, 8-10). Đức Giêsu Chết và Sống lại, trong mầu nhiệm Vượt Qua, như một kho tàng, “nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2Cr 4, 7).
Thật vậy, là giáo sĩ cũng như giáo dân, đặc biệt là giám mục, linh mục hay chủng sinh, tất cả đều được mời gọi sống Mầu nhiệm Vượt qua. Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô đã khẳng định: (Họ) “phải sống Mầu nhiệm Vượt qua của Ngài làm sao để có thể đưa dẫn đoàn dân được giao phó cho mình vào trong Mầu nhiệm ấy” ; phải “biết tìm kiếm Đức Kitô bằng cách trung thành suy niệm Lời Chúa, bằng cách tích cực hiệp thông với các Mầu nhiệm rất thánh của Giáo Hội, trước hết qua Bí tích Thánh Thể và Giờ kinh thần vụ, phải tìm kiếm Đức Kitô nơi giám mục là người sai phái mình và nơi những con người mà mình được sai phái đến, nhất là nơi những người nghèo, những người bé nhỏ, những người yếu đau, những người tội lỗi và những người không tin. Với niềm cậy tin hiếu thảo, phải yêu mến và tôn kính Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, mà khi hấp hối trên thập giá, Đức Kitô Giêsu đã ban cho người cho môn đệ yêu dấu để làm mẹ của mình” (số 45).
Đức Thánh Cha cũng đã lưu ý sống Mầu nhiệm Vượt qua khi triển khai về việc sống khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục (tức là phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa).
Khi làm nghề thuốc và dạy thuốc, ông Simon Hòa được học trò thương mến và ông cũng coi họ như con mình.
Trong khi ông Simon Hòa bị giam tù, con cái thường lui tới viếng thăm và được ông khuyên: “Chúng con hãy về giúp đỡ mẹ, chị em giúp đỡ lẫn nhau. Còn số phận cha chắc không tránh khỏi cái chết. Các con hãy vâng lời mẹ, săn sóc cửa nhà tử tế, vì cha không thể lo lắng gì hơn được nữa”.
Các quan đưa đòn tâm lý nói về chuyện thương vợ con cho ngài mủi lòng mà bỏ Đạo, nhưng ngài quả quyết: “Dầu tôi phải mất vợ mất con, mất hết của cải và mạng sống nữa, tôi cũng không bao giờ bỏ Chúa tôi thờ”.
Một hôm bà Hòa bế con đến thăm, ông nói: “Hãy can đảm, đừng buồn vì số phận tôi phải chịu. Cái chết của tôi làm vinh danh Chúa. Hãy khuyên bảo con cái biết sống theo ý Chúa”.
Trong bài giảng Lễ Tôn Phong Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Đức Thánh Cha nói: “Thật vậy, cần phải có mãnh lực và sự khôn ngoan từ Thiên Chúa mới có thể tuyên xưng Mầu Nhiệm Tình Yêu của Ngài, chính là tình yêu được diễn tả trong cuộc tử nạn trên Thập Giá để cứu chuộc trần gian: quả là Mầu nhiệm bao la vượt hẳn sự suy luận của loài người. “Là vì cái điên rồ nơi Thiên Chúa còn khôn ngoan hơn cả sự khôn ngoan của người đời, và cái yếu hèn nơi Thiên Chúa còn mạnh hơn cả sức lực phàm nhân” (1Cr 1, 25).
Trước mặt chúng ta hôm nay các vị Tử Đạo Việt Nam đóng vai trò những người đi gặt lúa cho Chúa, như đã ghi trong Thánh vịnh: “Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan. Lúc ra đi phải khóc than, vì công vất vả gieo hạt. Nhưng khi trở về, lòng hân hoan phấn khởi, vì sẽ ôm nặng nhiều bông lúa.” (Tv 125-126, 5, 6).
Lời huyền diệu trên đây nói lên ý nghĩa cuộc chứng nhân lịch sử nơi các vị Tử Đạo trong Giáo hội Việt Nam. Trong vũng nước mắt của họ đã gieo xuống hạt giống ân sủng, để rồi trổ thành vô số bông hoa Đức Tin: “Hạt giống gieo xuống mà không mục đi thì chỉ trơ trọi một mình, nếu mục đi sẽ sinh nhiều bông lúa” (Ga 12, 24).
Các vị Tử Đạo Việt Nam “gieo trong lệ sầu” có nghĩa là các ngài đã khởi sự giữa lớp người đồng hương và giữa nền văn hóa dân tộc một cuộc đối thoại sâu rộng và cởi mở, bằng cách nêu cao chân lý và tin vào Chúa là sự kiện phổ cập cả hoàn cầu. Đồng thời các Ngài góp phần vào việc nhận định những giá trị và nghĩa vụ thích hợp với nền văn hóa tôn giáo trong thế giới Đông phương. Trong cuốn Giáo lý đầu tiên bằng tiếng Việt, các Ngài đã tuyên xưng nghĩa vụ tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi một bản thể đã tạo dựng trời đất. Ra trước quan quyền tra khảo về Đức Tin, các vị Tử Đạo đã quyết mình đưa tự do tín ngưỡng, và Đạo Chúa là Đạo duy nhất, nếu mình từ bỏ là bất tuân lệnh Thượng Đế, là Thiên Chúa. Đồng thời các Ngài can đảm nói lên ý chí tôn trọng quyền bính trong nước, nhưng không vì thế mà làm điều gì bất chính. Các Ngài đã dạy phải tôn kính Tổ Tiên theo truyền thống dân tộc và dưới ánh sáng Mầu nhiệm Phục Sinh. Do đó với sự dấn thân và hành động chứng nhân của các vị Tử Đạo, Giáo Hội Việt Nam hiên ngang nói lên sự quyết tâm và tha thiết của mình không chối bỏ truyền thống văn hóa và các thể chế quốc gia. Trái lại, Giáo Hội tuyên xưng và chứng minh rằng: nếu mình nhập cuộc trong truyền thống và văn hóa dân tộc là vì có ý góp phần vào việc xây dựng quốc gia một cách trung thực hơn”.
Chúng ta hợp ý cầu nguyện cho nhau và nâng đỡ nhau bước theo Chúa Kitô như hai thánh bổn mạng Simon Hòa và Philipphê Minh đã bước theo Chúa đến cùng. Amen”.
Trong bữa cơm thân mật chan chứa tình gia đình như lời Đức Cha Antôn “tôi hạnh phúc khi được sống trong gia đình Giáo phận Đàlạt, và cũng thật ấm áp khi được hòa mình vào gia đình Chủng viện”, Cha Giám Đốc Đại chủng viện – Micae Trần Đình Quảng – cám ơn và cho biết một vài hoạt động của Chủng viện. Về nhân sự hiện nay, tại Chủng viện có 11 thầy và 20 ứng sinh, 13 thầy đang giúp xứ, 52 thầy theo học Đại chủng viện Xuân Lộc, 02 thầy du học ; ngoài ra, con số các em tìm hiểu còn có trên 50. Những con số thật đáng vui mừng và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa.
Cha Micae thay mặt mọi người chúc mừng Đức Cha Antôn dịp kỷ niệm 40 năm linh mục sắp tới (18.12.1971 – 2011).
Cha Đaminh Nguyễn Chu Truyền, thay mặt cha niên trưởng Giuse Trần Văn Định (vì công việc không về tham dự) dâng lời chúc mừng Đức Cha Antôn, mừng cha Giám đốc Micae cũng tròn 40 năm linh mục và nói : “40 năm linh mục là 40 năm cha gắn bó với chủng viện, hết mình với công cuộc đào tạo linh mục cho Thiên Chúa và cho Giáo hội. Cha là tấm gương cho anh em chúng con”.
Tiếp đó, theo truyền thống, cha Đaminh chúc mừng 18 cha mới, thụ phong linh mục từ tay Đức Cha Antôn ngày 18.10.2011 vừa qua. Những món quà được trao tặng bày tỏ tình cảm yêu thương của lớp đàn anh dành cho những người em mới gia nhập vào Linh mục đoàn của Giáo phận, với ước mong những người em này cũng trở thành những thợ gặt lành nghề của Chúa trên cánh đồng truyền giáo, cũng cố gắng để mặc lấy hình ảnh hiền lành và khiêm nhượng của Đức Giêsu.
Trong lời đáp từ, Đức Cha Antôn cám ơn Chủng viện và mọi người đã chung tay, góp phần để nơi đây luôn là nơi ươm mầm ơn gọi linh mục. Ngài cũng xin mọi người tiếp tục yêu thương, đồng hành và cầu nguyện nhiều cho Chủng viện.
Thật bất ngờ khi Cha Giám đốc Micae cho xem một vài hình ảnh ngày lãnh nhận chức linh mục do tay Đức Cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, hình ảnh những ngày đầu đời linh mục của Đức Cha Antôn và của ngài. Đây chắc cũng là lời nhắc nhở cho mỗi người về sự trung thành trong ơn gọi và bậc sống của mình.
Hướng về ngày mừng 50 năm thành lập (21.12.2012), một ngày rất đặc biệt không chỉ cho Chủng viện, mà còn cho cả Giáo phận Đàlạt, cho hết những ai đã từng được đào tạo, hướng dẫn, dạy dỗ, được sống những tháng ngày đầy ắp yêu thương với những kỷ niệm thật đẹp trong cuộc đời. Dù đã là linh mục hay đang dấn bước theo ơn gọi linh mục, dù là giáo dân hay đang sống đời tu trì ở một môi trường khác, tất cả chúng ta, những người con của “Mẹ Chủng viện” thân yêu, hiệp lòng hiệp ý cầu nguyện, xin Thiên Chúa tuôn đổ muôn ơn lành và gìn giữ Chủng viện ; cầu nguyện cho các chủ chăn, các cha giáo và những ân nhân còn sống hay đã qua đời ; cầu nguyện cho chính mỗi người luôn biết làm chứng cho Tình Yêu của Thiên Chúa trong ơn gọi của mình.
Ước gì lời bài hát năm xưa : “Từ ngàn phương trời đoàn anh em về đây vui sống, dưới mái chủng viện là nơi ghi bao mến yêu. Anh em thân ái bên nhau, một lòng một ý kết đoàn, tìm đường tới đích sáng tươi huy hoàng. Từ miền xa vời từ muôn nơi vượt đèo qua núi, đến với Đà Lạt cùng xây tương lai thắm tươi. Ta vui ca hát bên nhau ngày ngày luyện đức gắng học để thành chiến sĩ Phúc Âm ngày mai. Nơi đây đầy tình âu yếm, nơi đây ngàn lời thương mến bao người. Bên nhau người người thân ái, bên nhau bạn bè mãi mãi đón mời. Cùng góp những ý kiến mới, mà xây vinh quang tương lai: Hội Thánh lớp lớp đuốc sáng đoàn ta. Bạn hỡi gắng sức tiến tới, Việt Nam thân yêu trông mong một lớp chiến sĩ cứu thế can trường. Nơi đây đây tình âu yếm, nơi đây ngàn lời thương mến bao người. Xa nhau lòng còn vương vấn, xa nhau đượm tình lưu luyến muôn đời” lại được vang lên từ chính môi miệng và từ tấm lòng của những người con trong ngày hội ngộ năm 2012.
Được biết, đã thành thông lệ, vào tối ngày áp lễ Bổn mạng, anh em chủng sinh trong gia đình Chủng viện đã có phút cầu nguyện và ôn lại tinh thần Minh Hòa, một tinh thần đã được Đức cha cố Bartôlômêô chia sẻ trong dịp cùng với Chủng viện tạ ơn trước ngày ngài lên đường nhận Giáo phận Thanh Hóa, 31.5.1994. Nơi Chủng viện này, ngài nói, tôi thấy được 3 điều : đời sống cầu nguyện đi với tinh thần hiếu học, lòng hiếu khách và biết quảng đại sống tinh thần phục vụ. Xin tạ ơn Chúa và cầu nguyện cho những con người xuất phát từ nơi đây trở thành những thừa tác viên đẹp ý Chúa, làm sáng danh Chúa và phục vụ lợi ích các linh hồn.
Khải Linh









