I. NHẬP ĐỀ
- Chúng tôi, các Thượng Phụ và Giám mục Công giáo trên toàn thể thế giới, nhân danh Chúa Kitô, tụ họp tại Rôma từ ngày 30 tháng 9 đến ngày 27 tháng 10, đã được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời gọi lượng định lại công việc phục vụ trong Giáo hội của chúng tôi dưới ánh sáng của Công Đồng Vaticanô II (1962-1965). Không khác gì các Tông đồ, những người đã tụ họp tại phòng lầu trên với Đức Maria, Thân mẫu Đức Giê-su sau ngày Phục sinh, chúng tôi đã “đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện”, khẩn cầu Thánh Thần của Chúa Cha soi sáng cho biết trách nhiệm của chúng tôi trong tư cách là tôi tớ của Đức Giê-su Kitô, vì niềm hy vọng của thế giới (x. Cv 1,14).
- Sự hiện diện liên tục của đấng kế vị thánh Phê-rô trong Thượng Hội Đồng là một nguồn khích lệ đặc biệt cho chúng tôi. Ngài đã công bố Tin Mừng cho mọi người và công du khắp thế giới như một người hành hương không biết mệt mỏi vì hoà bình. Cùng với Ngài, chúng tôi đã lắng nghe Lời Chúa và lắng nghe nhau. Theo cách đó, chúng tôi đã nghe tiếng nói của các Giáo hộiđịa phương và của các dân tộc khác nhau, trong một kinh nghiệm sinh động về tình huynh đệ phổ quát, điều mà chúng tôi muốn chia sẻ qu sứ điệp này
- Chúng tôi cảm thấy tiếc vì sự vắng mặt của một vài anh em yêu dấu trong Chúa, đã không thể đến Rô-ma được. Chúng tôi vô cùng cảm kích lắng nghe chứng từ của nhiều giám mục đã từng bị giam hãm hay bị đày ải trong những thập niên vừa qua, vì Chúa Giê-su. Có những vị khác đã chết vì trung thành với Tin Mừng. Nỗi đau đớn của họ cũng như của các Giáo hộiđịa phương đã không làm lu mờ niềm hy vọng Ki tô giáo, trái lại đã làm cho niềm hy vọng ấy rực sáng hơn trên toàn thế giới.
- Các bề trên tổng quyền một số Hội Dòng đã tích cực tham gia trong Thượng Hội Đồng. Chúng tôi cũng vui mừng đón tiếp các phái đoàn đến từ các Giáo hội Kitô anh em, các dự thính viên, các tu sĩ và giáo dân nam nữ, cũng như các chuyên viên và thông dịch viên. Chúng tôi chân thành cám ơn tất cả các vị cũng như Ban thư ký Thượng Hội Đồng.
II. ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ, NIỀM HI VỌNG CỦA CHÚNG TA
- Chúa Thánh Thần, khi ban cho chúng tôi ân huệ được cùng nhau mở rộng cõi lòng trước bối cảnh hiện nay của Giáo hộitrong thế giới, đã làm cho Đức Ki-tô Phục Sinh chiếu sáng trong tâm hồn chúng tôi, bằng cách lấy những gì của Người mà chia sẻ cho chúng tôi (x. Ga 16,14). Bởi vậy, khi chúng tôi nghiên cứu những thảm trạng cũng như những kỳ công trong thế giới hôm nay, chúng tôi nhìn những sự kiện đó dưới ánh sáng của Mầu Nhiệm Vượt qua, cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Đức Ki-tô. Nói như thánh Phao-lo, chúng tội nhận thấy đang đứng trước “mầu nhiệm của sự ác” và “mầu nhiệm của đạo thánh” (x. 2 Tx 2,7 và 1 Tm 3,16).
- Dưới quan điểm nhân loại, thế lực sự dữ thường có vẻ như chiến thắng, nhưng với con mắt đức tin, lòng thương xót dạt dào của Thiên Chúa hoàn toàn thắng thế: “ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Chúng tôi đã cảm nhận sức mạnh và chân lý trong lời giáo huấn của thánh Tông Đồ khi chúng tôi xem xét hoàn cảnh của chúng ta hiện nay. “Chúng ta đã được cứu độ nhưng vẫn còn phải trông mong. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải trông mong nữa: vì ai lại trông mong điều mình đã thấy rồi? Nhưng nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ” (Rm 8, 24-25)
- Việc tổ tông từ chối không vâng lời Thiên Chúa mà Thánh Kinh mạc khải như là cội rễ của tội lỗi, là căn nguyên gây chia rẽ giữa con người với Đấng Tạo Hoá, giữa người nam và người nữ, giữa nhân loại và trái đất, giữa anh em đồng loại với nhau. Từ mối chia rẽ đó phát sinh một câu hỏi không ngừng cắn rứt lương tâm chúng ta: “Em ngươi ở đâu?” (St 4,9). Nhưng chúng ta không được quên rằng trình thuật về tội lỗi ấy tức khắc được nối tiếp bằng một lời hứa cứu độ, và lời hứa đó đi trước câu chuyện A-ben, kẻ vô tội bị giết, tiên trưng của Đức Giê-su. Tin Mừng, tin lành cho toàn thể nhân loại, được công bố ngay từ buổi bình minh của lịch sử (x. St 3,15)
- Hôm nay, Tin Mừng ấy vẫn còn được rao giảng trên khắp thế giới. Do đó, chúng ta không nên hoang mang trước những lý thuyết phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa hằng sống và bằng những cách thế ít nhiều xảo quyệt, nỗ lực làm suy yếu, xói mòn, chế diễu và bổ báng niềm hy vọng Kitô giáo. Trong niềm hân hoan của Thánh Thần, chúng tôi tuyên xưng: “Đức Ki-tô đã sống lại thật”. Trong nhân tính vinh quang của Ngài, Ngài đã khai mở viễn cảnh một cuộc sống vĩnh cửu cho những ai đón nhận ơn hoán cải.
Nỗi lo sợ nạn khủng bố
- Cùng với Đức Thánh Cha, Thượng Hội Đồng bày tỏ niềm cảm thông sâu xa đối với những nạn nhân trong cuộc thảm sát ngày 11 tháng 9 cũng như đối với gia đình các nạn nhân. Chúng tôi cầu nguyện cho họ cũng như các nạn nhân khác của nạn khủng bố trên thế giới. Chúng tôi kịch liệt lên án khủng bố, không gì có thể biện minh cho sự tàn bạo đó.
Tình trạng bạo động
- Trong Thượng Hội Đồng này, chúng tôi không thể làn ngơ trước nhiều thảm kịch tập thể khác. Điều vừa cấp bách vừa cần thiết là ghi nhớ những gì Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói về “những cơ cấu tội lỗi”, nếu chúng ta muốn khai phóng một hướng đi mới cho thế giới. Dựa theo thống kê đáng tin cậy của những chuyên viên kinh tế, 80% dân số trên hành tinh chúng ta sinh sống dựa vào 20% lợi nhuận của hành tinh và một tỷ hai trăm triệu người sống dưới mức một đô la một ngày! Cần có một thay đổi quyết liệt về phương diện luân lý. Ngày nay, giáo huấn xã hội của Giáo hội có một tầm quan trọng mà chúng tôi không thể nhấn mạnh hơn. Trong vai trò giám mục, chúng tôi cam kết quảng bá giáo huấn ấy sâu rộng hơn trong các Giáo hội địa phương chúng tôi.
- Một số thảm hoạ địa phương, khi bị lãng quên trong một thời gian dài, có thể gây tuyệt vọng cho toàn thể dân cư. Làm sao chúng ta có thể giữ mãi thinh lặng khi đương đầu với thảm hoạ nghèo đói dai dẳng và bần cùng tột độ, trong một kỷ nguyên mà nhân loại hơn bao giờ hết có thừa khả năng để chia sẻ các tài nguyên cách công bình? Chúng tôi bày tỏ tình liên đới với dòng người tị nạn và di dân, vì chiến tranh, vì đàn áp chính trị hay vì bị phân biệt đối xử trong phạm vi kinh tế, buộc phải rời bỏ quê hương đi tìm việc làm hay hy vọng tìm được bình an. Những tổn hại do bệnh sốt rét, sự bùng nổ của dịch AIDS, nạn mù chữ, tình trạng tuyệt vọng của nhiều trẻ em và thanh niên sống lây lất trên vỉa hè, việc khai thác phụ nữ, nạn khiêu dâm, tình trạng bất khoan dung, sự xuyên tạc tôn giáo đáng hổ thẹn vì mục đích bạo động, việc buôn bán ma tuý và vũ khí… danh sách này chưa đầy đủ! Tuy nhiên, giữa cảnh khốn cùng ấy, người khiêm nhu vẫn ngẩng đầu lên. Chúa đoái nhìn và ban sức mạnh cho họ. “Vì kẻ khó bị hành hạ, người nghèo kêu rên, thì ta đây, ta sẽ đứng dậy, Chúa phán” (Tv 12,6).
- Điều làm cho chúng tôi là những người mục tử lo âu hơn hết là tình trạng khinh miệt sự sống con người từ lúc thụ thai cho đến khi chết đi, cũng như sự suy thoái của gia đình. Lời nói “không’ của Giáo hội với việc phá thai và với chủ trương chết êm dịu, là thưa “vâng” với sự sống, “vâng” với sự thiện hảo nền tảng của tạo thành, một tiếng “vâng” có thể lay động mỗi người trong cung thánh lương tâm của mình, “vâng” đối với gia đình, là cộng đoàn cơ bản nhất của niềm hy vọng mà Thiên Chúa hài lòng đến độ kêu gọi nó trở thành một “Giáo hội tại gia”
Xây dựng một nền văn minh tình thương
- Chúng tôi hết lòng cám ơn tất cả các linh mục, các tu sĩ nam nữ và các nhà truyền giáo. Được thôi thúc bởi niềm hy vọng phát xuất từ Thiên Chúa và do Đức Giê-su Na-da-rét mạc khải, họ hiến thân phục vụ những người yếu đuối và ốm đau, đồng thời công bố Tin Mừng sự sống. Chúng tôi thán phục lòng quảng đại của nhiều người hoạt động cho nhân quyền, sự kiên trì của những vị lãnh đạo các tổ chức quốc tế, lòng can đảm của các ký giả dám chấp nhận rủi ro nhằm phụng sự cho sự thật và khai sáng cho công luận, sự tận tuỵ của các khoa học gia, bác sĩ và y tá, lòng dũng cảm của các nhà doanh nghiệp trong việc tạo công ăn việc làm ở những lãnh vực ít lợi nhuận, lòng đạo đức của những bậc cha mẹ, các cán sự xã hội và giáo viên, sự sáng tạo của các nghệ sĩ và biết bao người kiến tạo hoà bình, họ tìm cách bảo vệ sự sống, củng cố gia đình, cổ võ phẩm giá phụ nữ, giáo dục trẻ em và bảo trì hay làm phong phú gia sản văn hoá của nhân loại. Chúng tôi tin rằng “ân sủng hoạt động cách vô hình” bên trong những con người đó (Vui mừng và Hy vọng số 22)
III. GIÁM MỤC, NGƯỜI PHỤC VỤ TIN MỪNG CỦA NIỀM HI VỌNG
Lời mời gọi nên thánh
- Công Đồng Vaticanô II trình bày lời mời gọi mọi người nên thánh. Các Giám mục thực thi ơn gọi ấy thông qua việc chu toàn tác vụ tông đồ với tinh thần “khiêm tốn và can đảm” của vị Mục Tử Nhân Lành. Một hình thức nên thánh mà thế giới hôm nay cần đến chính là sự mở lòng ra với tất cả mọi người, vốn là nét đặc trưng của một giám mục, qua thái độ kiên nhẫn và dũng cảm trả lời cho “lý do của niềm hy vọng” hiện diện ở trong mình (1Pr 3,15). Để đối thoại trong sự thật với những người không cùng một đức tin với chúng tôi, mối hiệp thông của chúng tôi trong Giáo hộiphải đơn sơ và chân thành, ngõ hầu tất cả mọi người, dù đảm nhận vai trò gì trong Giáo Hội, cũng “duy trì sự hiệp nhất Thánh Thần mang lại, bằng cách ăn ở thuận hoà với nhau” (Ep 4,3).
Chiến đấu chống lại sự đói nghèo bằng tinh thần nghèo
- Ngay khi chúng ta phải đấu tranh nhằm giải thoát những kẻ bị áp bức trong sự nghèo đói tàn bạo, thì có thể có một sự nghèo khó khác giải phóng những năng lực yêu thương và phục vụ của chúng ta. Đó là sự nghèo khó Tin Mừng mà chúng tôi muốn thực hành. Chúng tôi phải trở nên nghèo khó trước mặt Chúa Cha, như Đức Giêsu trong lời cầu nguyện, giáo huấn và hành động của Ngài. Chúng tôi phải trở nên nghèo khó với Đức Mari-a, Đấng hằng ghi nhớ những kỳ công của Thiên Chúa Tối Cao. Chúng tôi phải trở nên nghèo khó trước mặt anh chị em chúng tôi, bằng thái độ sống lôi kéo người ta đến với Chúa Giêsu. Giám mục là cha và là anh em của người nghèo. Khi cần thiết, ngài không nên do dự lên tiếng thay cho những người không có tiếng nói, để quyền lợi của họ được nhìn nhận và tôn trọng. Cụ thể, ngài “phải làm bất cứ điều gì trong khả năng mình để trong mọi cộng đoàn Kitô, người nghèo cảm thấy ‘như ở nhà mình’” (Novo millennio ineunte, 50). Chỉ như thế, khi chúng tôi đối diện với thế giới với năng động truyền giáo, chúng tôi mới có thể đáng tin khi nói về niềm vui của người khiêm nhu và thanh thoát trong tâm hồn, sức mạnh của sự tha thứ và niềm hy vọng mà những ai đói khát lẽ công bình cuối cùng sẽ được Thiên Chúa cho toại nguyện.
Hiệp thông và tính cộng đoàn
- Từ «hiệp thông» (koinonia) thuộc về truyền thống Kitô giáo không phân chia của cả Đông phương lẫn Tây phương. Nó múc lấy nguồn sức mạnh trong niềm tin vào Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chính mầu nhiệm có tính chất liên hệ về sự hiệp nhất và tình yêu bên trong Ba Ngôi chí thánh là nguồn mạch của hiệp thông ở trong Giáo hội. “Tính đồng đoàn”, nhằm phục vụ sự hiệp thông, là nét đặc trưng của tập đoàn các tông đồ và các đấng kế vị là các giám mục, hiệp nhất giữa các ngài và với Đức Giáo hoàng, Đấng kế vị thánh Phê-rô. Mọi lúc và mọi nơi, các ngài cùng dạy dỗ cùng một đức tin với một “đoàn sủng chắc chắn về chân lý” (Thánh I-rê-nê, Adversus Haereses IV, 26, 2) và loan báo chân lý cho mọi dân trên mặt đất (Dei Verbum, 8). Hiệp thông và tính đồng đoàn, khi được sống cách trọn vẹn, cùng góp phần vào sự quân bình của giám mục, cả về phương diện nhân bản lẫn thiêng liêng. Nó giúp cho các cộng đoàn Kitô hữu chiếu toả niềm hi vọng tràn ngập niềm vui và nhiệt tâm truyền giáo.
Một cuộc chiến đấu thiêng liêng
- Công đồng Va-ti-căng II, “ân ban tuyệt vời cho Giáo hội trong thế kỷ XX”, vẫn là «một la bàn đáng tin cậy hướng dẫn chúng ta trên con đường đúng đắn trong thế kỷ đang đến» (Novo millennio ineunte, 57). Bằng cách luôn trung thành với giáo huấn của Công đồng về Giáo hội, bí tích hiệp nhất, chúng tôi sẽ có thể phục vụ Tin mừng của Đức Giê-su Ki-tô ở bất cứ nơi nào vì niềm hi vọng của thế giới. Lòng yêu mến sự hiệp nhất không hề bao hàm sự dửng dưng trước những trào lưu chống lại cái chân lý chiếu toả rạng rỡ trên khôn mặt Đức Ki-tô: Ecce homo (Ga 19,5). Tình yêu ấy thúc bách vị mục tử, trong tư cách là người bảo vệ và ngôn sứ, cảnh giác dân mình khỏi những giáo huấn sai lạc là mối đe doạ sự tinh tuyền của niềm hi vọng Kitô giáo. Tình yêu ấy dẫn ngài chống lại mọi khẩu hiệu và lập trường, khi tự hào “làm cho Thập giá của Đức Ki-tô trở nên vô hiệu” (1 Cr 1,17), đồng thời che khuất khuôn mặt đích thực của con người và định mệnh cao cả của chúng ta là những tạo vật được mời gọi chia sẻ đời sống thần linh. “Vậy hãy đi…” (Mt 28,19)
- Khi cử hành bí tích Thánh Thể cho dân Chúa mỗi ngày, giám mục kết hiệp chính mình với của lễ của Đức Ki-tô chịu đóng đinh và sống lại dâng lên Chúa Cha, bằng cách tái thể hiện trong chính mình hành động của Đức Ki-tô là “trao ban thịt mình vì sự sống thế gian” (Ga 6,51). Trong suốt Thượng hội đồng này, chúng tôi được canh tân trong thừa tác vụ của chúng tôi là loan báo cho mọi người chương trình cứu độ của Thiên Chúa, tán dương lòng thương xót của Người, chia sẻ điều ấy qua các bí tích của đời sống mới và dạy dỗ giới luật tình yêu của Người qua việc làm chứng cho sự hiện diện của Người “mỗi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). “Vậy hãy đi…”: nhiệm vụ truyền giáo này được giao phó cho mọi người đã chịu phép Thánh tẩy, các linh mục, phó tế, những người sống đời thánh hiến, giáo dân. Qua họ, điều ấy lan rộng tới “mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15).
Những người dệt nên sự hiệp nhất
- « Hội thánh trở thành ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông » (Novo millennio ineunte, 43) bằng cách mở rộng vòng tay cho mọi người, bằng lectio divina, phụng vụ, phục vụ và làm chứng: chính thách đố thiêng liêng và mục vụ này thúc đẩy các giám mục củng cố đức tin cho người này, khơi dậy lại đức tin cho người kia và rao giảng cách tự tin cho mọi người. Ngài không mỏi mệt trong việc nâng đỡ sự nhiệt tình đạo đức của các giáo xứ và phát triển năng động truyền giáo nơi họ, qua sự cộng tác của các linh mục quản xứ. Các phong trào, cộng đoàn nhỏ và các hội đoàn huấn luyện và bác ái, những cơ chế này làm nên tấm thảm màu của đời sống Kitô hữu sẽ đem lại nhiều lợi ích do bởi sự tỉnh thức và quan tâm của các ngài. Như một người thợ chuyên môn dệt nên sự hiệp nhất, giám mục cùng với các linh mục và phó tế của mình, sẽ biện phân và nâng đỡ tất cả những đoàn sủng đó trong sự khác biệt kỳ diệu của nó. Ngài sẽ qui tụ tất cả họ lại để xúc tiến một sứ vụ duy nhất của Giáo hội: làm chứng giữa lòng thế gian cho niềm hi vọng hồng phúc hiện diện trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta. Luôn nhớ đến sự dấn thân không thể vãn hồi của Công đồng cho việc tái thiết lập sự hiệp thông trọn vẹn giữa các Kitô hữu, giám mục sẽ nhiệt thành dấn thân trong việc đối thoại đại kết và làm tăng trưởng sự hiểu biết đại kết của dân Chúa.
- “Như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha, nguyện cho chúng cũng ở trong chúng ta, hầu thế gian có thể tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21). Lời cầu nguyện này “vừa là một mệnh lệnh ràng buộc chúng ta, vừa là một sức mạnh nâng đỡ chúng ta”. Cùng với Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, chúng tôi diễn tả niềm hi vọng rằng “sự trao đổi các ân huệ đã làm phong phú Giáo hội trong ngàn năm thứ nhất sẽ tìm lại được sự thực hiện viên mãn” (Novo millennio ineunte, 48). Dấn thân không thể vãn hồi của Công Đồng Vaticanô II cho sự hiệp nhất trọn vẹn của các Kitô hữu lôi kéo giám mục nhiệt thành dấn thân vào việc đối thoại đại kết và huấn luyện các tín hữu hiểu cho đúng đắn. Chúng tôi xác tín rằng vào lúc khởi đầu ngàn năm thứ ba, Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong lòng mọi tín hữu Kitô để xây dựng sự hiệp nhất ấy, một dấu hi vọng lớn lao cho thế giới.
Những thừa tác viên của Mầu nhiệm
- Thượng Hội đồng này muốn diễn tả lòng biết ơn chân thành của các giám mục với mọi linh mục, những cộng tác viên chính trong sứ vụ tông đồ. Phục vụ Tin mừng của niềm hi vọng có nghĩa là canh tân lòng nhiệt thành của chúng ta sao cho lời mời gọi của Thiên Chúa làm việc trong vườn nho của Người được lắng nghe. Qua sự tin tưởng lẫn nhau, giám mục sẽ nâng cao lòng quý mến của các linh mục đối với với thừa tác vụ của mình, thường bị hiểu sai lạc trong một xã hội bị sự tôn thờ của cải, lạc thú và quyền lực lôi cuốn. Sứ vụ tông đồ không thể bị tách rời khỏi mầu nhiệm của niềm hi vọng.
Đặt ưu tiên cho lời mời gọi này và cầu nguyện cho “các mục tử như lòng Chúa mong muốn” không có nghĩa là hạ giá những ơn gọi khác. Trái lại, khi làm thế, chúng tôi giúp họ tăng trưởng và mang lại hoa trái. Chúng tôi ước nguyện rằng các phó tế vĩnh viễn, là những người nhắc nhở cho tất cả mọi thành viên của Giáo hội bổn phận noi gương Đức Ki-tô người tôi tớ, sẽ tìm thấy trong những lời này một diễn tả cho sự nâng đỡ và khuyến khích của chúng tôi.
Đời sống thánh hiến
- Chúng tôi cũng tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với những người sống đời thánh hiến, đang hiến thân cho việc chiêm ngưỡng và việc tông đồ. Sự hiện diện và việc làm của họ trao ban một chứng từ đặc biệt cho niềm hi vọng là Nước Trời đang đến và họ thường giúp cho sứ vụ tông đồ của chúng tôi tới được với những người ở những nơi xa nhất trong giáo phận của chúng tôi, nơi ấy, nếu không có họ, Đức Ki-tô sẽ không được rao giảng. Qua sự chọn lựa triệt để của họ và lòng trung thành của cộng đoàn họ với đoàn sủng của các đấng sáng lập, “họ hát lên những nốt nhạc của Tin mừng” (thánh Phanxicô dệ Sa-leâ, Thö CCXXIX [6.10.1604]: Oeuvres XII, Annecy, Dom Henry Benedict Mackey, o.s.b., 1892-1932, p. 299-325).
Sứ vụ của giáo dân
- Ngày hôm nay hơn bao giờ hết, người giáo dân lại đang diễn đạt phần riêng của họ trong việc trao ban sự sống cho các cộng đoàn Kitô, đời sống phụng vụ, huấn luyện thần học và công việc bác ái. Chúng tôi muốn cám ơn và mạnh mẽ khuyến khích các giáo lý viên, cũng như những người nam nữ, qua các tài năng khác nhau của họ và cùng với các linh mục, phó tế và tu sĩ nam nữ, đã hiến tặng tình yêu và nghị lực lớn lao cho những nhiệm vụ cơ bản này. Cách đặc biệt, chúng tôi phải tỏ bày lòng biết ơn đối với chứng từ tràn đầy tình yêu của những ai đang nối kết bệnh tật vaø ñau khoå cuûa hoï vôùi ñau khoå cuûa Ñöùc Gieâ-su và Đức Ma-ri-a đứng dưới chân thập giá vì phần rỗi thế gian.
- Về phần mình, các giám mục ước ao cổ võ nhiệm vụ đầu tiên của người giáo dân, là làm chứng cho Tin mừng trong thế gian. Qua sự dấn thân của họ cho đời sống gia đình, xã hội, văn hoá và chính trị, và qua sự hiện diện của họ giữa lòng cái mà Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II gọi là “các trung tâm văn hoá hiện đại”, đặc biệt qua việc làm của họ trong lãnh vực truyền thông hay trong việc cổ võ sự tôn trọng đối với tạo thành của Thiên Chúa (Redemptoris missio, 37), ước gì họ tiếp tục xây dựng chiếc cầu nối kết giữa đức tin và văn hoá. Ước gì họ tập hợp lại với nhau trong những công việc tông đồ được tổ chức qui củ trong cuộc chiến quan trọng vì công lý và tình liên đới, và như thế tiếp tục đem lại hi vọng và ý nghĩa cho thế giới.
Thần học và hội nhập văn hóa
- Ý thức sâu sắc về sự đa dạng kỳ diệu hiện diện trong Thượng Hội Đồng này, chúng tôi, các giám mục, một lần nữa đề cập đến chủ đề quan trọng hội nhập văn hoá. Chúng tôi muốn nhìn nhận “hạt giống của Ngôi Lời” mà Thiên Chúa đã gieo trồng trong các nền văn hoá, tôn giáo, công trình nghệ thuật khác nhau và trong tất cả sự phong phú thiêng liêng của các dân tộc khác nhau suốt giòng lịch sử. Những phát triển trong phạm vi khoa học và kỹ thuật cũng như cuộc cách mạng thông tin toàn cầu bó buộc chúng tôi phải xem xét lại mầu nhiệm đức tin, với một sinh lực, táo bạo và sáng suốt mà các Giáo Phụ, các thần học gia, các thánh và các mục tử đã thường thi hành công việc của mình trong những giai đoạn bất an và thay đổi như chúng ta hiện nay.
- Sự toàn vẹn đời sống của các cộng đoàn chúng ta hệ tại việc kiên trì đối thoại và tăng trưởng này. Nhưng để giảng giải sự tinh tuyền của đức tin Kitô giáo nguyên thuỷ bằng một ngôn ngữ mới mẻ và hợp thời mà vẫn trung thành với truyền thống, chúng tôi cần có sự đóng góp đặc biệt của các nhà thần học chuyên môn. Giống như những nhà thần học vĩ đại đã đào sâu kiến thức thần học trong quá khứ, được thúc đẩy bởi ước muốn đồng tâm nhất trí với Giáo hội, họ sẽ giúp chúng tôi trở nên những người phục vụ Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô vì niềm hy vọng của thế giới. Ước gì chúng ta tiếp tục trong niềm vui, khôn ngoan và chân thành cuộc đối thoại giữa các tôn giáo lớn, trong tinh thần của cuộc gặp gỡ Át-xi-di năm 1986.
IV. KẾT LUẬN
Giờ đây chúng tôi mở rộng chân trời của chúng tôi để đón nhận anh chị em, tất cả những người đang tìm kiếm một thế giới công bình, yêu thương, chân lý và hoà bình. Ước gì sứ điệp này khích lệ anh chị em trong công cuộc tìm kiếm đó!
Lời kêu gọi gởi đến các nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế
- Các nghị phụ Công Đồng Vaticanô II, trong sứ điệp gởi cho các chính phủ, đã dám nói rằng: “Trong thành đô trần thế và tạm thời của quý vị, Thiên Chúa đang thiết lập một thành đô thiêng liêng và vĩnh cửu”. Vì thế, mặc dầu nhận thức các giới hạn của chúng tôi cũng như vai trò giám mục của mình, và không hề kỳ vọng vào thế lực chính trị nào, chúng tôi vẫn mạnh dạn ngỏ lời với các vị lãnh đạo chính trị và kinh tế: Chớ gì lợi ích chung của tất cả mọi người và mọi dân tộc là động lực hành động của quý vị. Không phải là vượt quá sự ủy thác của quý vị khi liên kết với nhau càng rộng rãi bao nhiêu có thể để kiến tạo công lý và hoà bình. Chúng tôi xin quý vị nhớ đến những vùng hẻo lánh trên thế giới không nhận được phủ sóng của truyền thông và là nơi anh em, chị em chúng ta đang chết dần chết mòn vì đói kém và thiếu thuốc men. Sự tồn tại của những bất bình đẳng nghiêm trọng giữa các quốc gia là mối đe doạ cho hoà bình. Như Đức Giáo Hoàng đã công khai yêu cầu, chúng tôi cũng yêu cầu quý vị giảm bớt gánh nặng nợ nần nước ngoài cho những quốc gia đang phát triển, bảo vệ mọi nhân quyền, nhất là quyền tự do tôn giáo. Hết lòng tin tưởng và quý trọng, chúng tôi yêu cầu quý vị nhớ rằng quyền bính chỉ có ý nghĩa trong việc phục vụ mà thôi.
Kêu gọi giới trẻ
- Và các bạn trẻ thân mến, các bạn là “lính canh buổi rạng đông”. Chính Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã gọi các bạn như thế. Đức Chúa của lịch sử đang mời gọi các bạn xây dựng một nền văn minh tình thương như thế nào? Các bạn có một cảm thức bén nhạy về những đòi hỏi của sự lương thiện và lòng chân thành. Các bạn không muốn dính líu vào những cuộc đấu tranh chia rẽ sắc tộc và bị đầu độc bơi sự truỵ lạc. Làm sao chúng ta có thể cùng nhau trở nên môn đệ Đức Giê-su và thực hành giáo huấn của Đức Kitô trên Núi các Phúc lộc? Giáo huấn này không thay thế cho mười giới răn đã được ghi tạc trong con tim các bạn. Các mối phúc lộc ấy mang lại cho các giới răn một sức sống và một nguồn cảm hứng toả sáng có thể lôi kéo các tâm hồn đến với Sự Thật giải phóng chúng ta. Các mối phúc lộc nói với mỗi người trong các bạn: “Bạn phải yêu mến đức Chúa, Thiên Chúa của bạn, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn bạn và yêu thương người thân cận như chính mình” (Lc 10,27). Các bạn hãy giữ mối dây hiệp nhất với các giám mục và các linh mục của các bạn, các ngài là những người làm chứng công khai cho Sự Thật là Đức Giê-su, Chuùa chuùng ta.
- Lời kêu gọi đối với Giê-ru-xa-lem
Cuối cùng, chúng tôi hướng về ngươi, hỡi Giê-ru-xa-lem Thành đô nơi Thiên Chúa mặc khải trong lịch sử:
Chúng tôi cầu nguyện cho hạnh phúc của ngươi!
Ước gì mọi con cái của A-bra-ham lại gặp gỡ nhau nơi ngươi, với lòng tôn trọng chân thực đối với quyền lợi của người khác. Ước gì ngươi vẫn là, đối với mọi dân tộc trên mặt đất, một dấu chỉ trường cửu của hi vọng và hoà bình.
- Spes nostra, salve!
Lạy Đức Ma-ri-a rất thánh, thân mẫu của Đức Kitô, Bà là Mẹ của Giáo hội, Mẹ của mọi sinh vật.
Bà là Mẹ của Niềm Hi Vọng. Chúng con biết Mẹ luôn đồng hành với chúng con trên các nẻo đường của lịch sử.
Xin chuyển cầu cho mọi dân tộc trên khắp mặt đất, để họ có thể tìm thấy, trong công lý, tha thứ và hoà bình, sức mạnh để yêu thương lẫn nhau như thành viên của một gia đình duy nhất!
Lm Phan Du Sinh chuyển ý







