THÁNH VỊNH LINH HƯỚNG VIỆC CẦU NGUYỆN
BÀI GIÁO LÝ ĐẦU TIÊN CỦA ĐTC VỀ THÁNH VỊNH, THỨ TƯ 28.03
1. Trong Tông thư “Novo Millennio Ineunte” (Khởi Đầu Thiên Niên Kỷ Mới), tôi tỏ bày hy vọng sao cho Giáo Hội ngày càng nổi tiếng trong thuật cầu nguyện, luôn luôn học cầu nguyện lại từ môi miệng của Thầy Thần Linh (n. 32). Một sự cam kết như vậy phải được thực hiện đặc biệt trong Phụng Vụ, nguồn mạch và chóp đỉnh của sự sống Giáo Hội.Trong liên quan này, điều hệ trọng là cống hiến sự chú tâm nhiều hơn để đẩy mạnh Phụng Vụ Giờ Kinh, coi như là kinh nguyện của toàn thể Dân Chúa (ibid., 34). Trên thực tế, nếu các linh mục và tu sĩ được uỷ nhiệm đặc biệt đọc Phụng Vụ Giờ Kinh, thì giáo dân cũng được tha thiết yêu cầu đọc kinh này. Điều đó, từ trên 30 năm hay hơn, đã được vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi là Đức Phaolô VI nêu rõ trong bản hiến chương “Laudis Canticum”, trong đó ngài phác hoạ kiểu mẫu hiện hữu của kinh nguyện đó, vì hy vọng rằng các Thánh Vịnh và Thánh Ca, làm nền tảng cho cấu trúc Phụng Vụ Giờ Kinh, phải được chú tâm đến “với tình yêu được tái lập bởi Dân Chúa” (AAS (1971), 532).
Đây là một sự kiện đầy khích lệ, nếu trong các giáo xứ cũng như trong các buổi họp giáo hội, nhiều giáo dân học biết quí trọng kinh này. Đó là một thể loại kinh gồm có việc đào tạo Giáo Lý và Kinh Thánh, nếu kinh đó được đánh giá cách sâu sắc. Vì lẽ đó, hôm nay chúng ta bắt đầu một loạt bài giáo lý về Thánh Vịnh và Thánh Ca dùng trong Kinh Sáng Laudes. Như vậy, tôi muốn khuyến khích và giúp đỡ mọi người cầu nguyện với cũng những lời Chúa Giêsu đã dùng, những lời hiện diện hàng ngàn năm trong kinh nguyện của dân Israel và của Giáo Hội.
2. Chúng ta có thể bắt đầu hiểu các Thánh Vịnh bằng nhiều cách. Cách thứ nhất là trình bày cấu trúc văn chương, các tác giả, sự hình thành và bối cảnh trong đó các Thánh Vịnh xuất hiện. Vì vậy, có một cách đọc gợi ý làm nổi lên đặc tính thi thơ, đặc tính đó thỉnh thoảng đạt những mức độ rất cao thuộc trực giác trữ tình hay thuộc sự biểu lộ có tính tượng trưng. Không ít thú vị hơn nếu đọc các Thánh Vịnh mà cảm nghiệm được những cảm giác khác nhau của tinh thần con người, được biểu lộ qua những Thánh Vịnh đó: vui, thừa nhận, cảm ơn, tình yêu, nhân hậu, nhiệt tình, nhưng cũng có nhiều đau khổ, trách móc, những van xin giúp đỡ và đòi công lý, thỉnh thoảng những van xin đó kết thúc trong giận dữ và chúc dữ. Hữu thể con người tự bộc lộ trọn vẹn trong các Thánh Vịnh.Việc đọc của chúng ta sẽ nhắm, trước tiên, lọc ra ý nghĩa tôn giáo của các Thánh Vịnh, cho thấy những Thánh Vịnh đó, tuy viết từ nhiều thế kỷ do những tín hữu Do thái, có thể đem dùng trong kinh nguyện của các môn đệ Chúa Kitô. Chúng ta có thể hưởng nhờ những thành quả của các nhà chú giải, nhưng cũng có thể học theo Truyền Thống, và hơn hết chúng ta sẽ nghe các Giáo Phụ.
3. Bằng nhận thức thiêng liêng sâu xa, các Giáo Phụ, trên thực tế, biết phân định và chỉ rõ “chìa khoá” quan trọng để đọc các Thánh Vịnh trong chính Chúa Kitô, trong sự viên mãn của mầu nhiệm Người. Các Giáo Phụ hoàn toàn xác tín : Các Thánh Vịnh nói về Chúa Kitô. Trên thực tế, Chúa Giêsu phục sinh áp dụng những Thánh Vịnh cho mình khi Người nói với các môn đệ rằng “tất cả những gì sách Luật Môisen, các sách Ngôn sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (Lc 24, 44). Các Giáo Phụ nói thêm rằng trong các Thánh Vịnh có qui chiếu về Chúa Kitô, hay là Chúa Kitô trực tiếp nói. Khi nói điều này, các Giáo Phụ không những nghĩ về cá nhân Chúa Giêsu mà thôi, nhưng cũng nghĩ đến “Chúa Kitô toàn diện,” (Christus totus) làm thành bởi Chúa Kitô là Đầu và các chi thể của Người. Như vậy, người Kitô hữu có thể đọc sách Thánh Vịnh trong ánh sáng của toàn thể mầu nhiệm Chúa Kitô. Từ quan điểm này, cách chính xác, chiều kích giáo hội cũng xuất hiện, chiều kích đó thấy được cách riêng biệt trong lúc hát cộng đồng các Thánh Vịnh. Do đó chúng ta hiểu rằng, từ những thế kỷ đầu các Thánh Vịnh có khả năng được sử dụng như là kinh của Dân Chúa.Nếu, trong một số thời kỳ lịch sử, có xu hướng thích đọc những kinh khác, công nghiệp lớn của các đan sĩ là giữ cao ngọn đuốc sách Thánh Vịnh trong Giáo Hội. Lúc bình minh của ngàn năm thứ hai Kitô giáo, một trong các đan sĩ đó, thánh Romuald, đấng sáng lập Dòng Camaldo, đi xa tới chỗ chủ trương rằng – như người viết tiểu sử của người là Bruno di Querfurt phát biểu – các Thánh Vịnh là con đường duy nhất để cảm nghiệm kinh nguyện thật sự sâu xa : “Una via in psalmis” (Một con đường trong các Thánh Vịnh) (Passio Sanctorum Benedicti et Johannes ac sociorum eorundem: MPH VI, 1893, 427).
4. Với câu phát biểu đó, mà lúc đầu có thể xem như quá đáng, ngài, thật sự, gắn bó với truyền thống tốt nhất của các thế kỷ đầu Kitô giáo, khi sách Thánh Vịnh đã trở nên cuốn sách kinh hảo hạng của Giáo Hội. Đây là sự chọn lựa chiến thắng trong những chạm trán với các khuynh hướng lạc giáo luôn xoi mòn sự hiệp nhất đức tin và hiệp thông. Về phương diện này, điều thích thú là ghi nhớ bức thư phi thường Thánh Athanasiô viết cho Marcellino trong nửa đầu thế kỷ thứ tư, khi bè rối Ariô hoành hành, đả kích đức tin vào thần tính của Chúa Kitô. Trước các người lạc giáo, những kẻ lôi kéo dân chúng về phía mình với những bài hát và kinh đọc làm thoả thích những cảm giác tôn giáo của họ, thì vị Giáo Phụ lớn này của Giáo Hội đã hiến mình với hết nghị lực để dạy sách Thánh Vịnh từ nguồn Kinh Thánh (x. PG 27, 12 ss.). Như vậy kinh nguyện Thánh Vịnh, sớm trở thành một thực hành chung giữa những kẻ đã lãnh Bí Tích Rửa Tội, được thêm vào “Kinh Lạy Cha”, lời kinh tuyệt hảo nhất của Chúa.5. Cũng nhờ kinh nguyện cộng đồng Thánh Vịnh, lương tâm Kitô hữu được nhắc nhớ và hiểu rằng không thể nào trở về với Cha Đấng ngự trên trời mà không hiệp thông đích thực với các anh chị em đang sống trên mặt đất. Không những vậy mà thôi, nhưng khi đặt mình vào trong truyền thống cầu nguyện của người Do thái, người Kitô hữu học cầu nguyện bằng cách thuật lại những “kỳ công của Thiên Chúa”, nghĩa là, những việc kỳ diệu lớn lao Chúa đã làm, cho dù đó là trong việc sáng tạo thế giới và nhân loại, hay là trong lịch sử dân Israel và Giáo Hội. Hình thức cầu nguyện này, rút ra từ Kinh Thánh, không loại trừ những phát biểu tự do, và những phát biểu này sẽ tiếp tục không những làm cho kinh nguyện cá nhân có đặc tính riêng, nhưng cũng làm giàu cho chính kinh nguyện Phụng Vụ, ví dụ với những Thánh Thi và những tropes (phép chuyển nghĩa ?). Do đó, sách các Thánh Vịnh vẫn là nguồn mạch kinh nguyện Kitô giáo, và Giáo Hội của ngàn năm mới sẽ tiếp tục được linh hứng trong đó.Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ.
BÀI GIÁO LÝ SỐ 3 VỀ THÁNH VỊNH 62, THỨ TƯ 25/4/01
Thánh Vịnh 63 (62)
Tâm hồn khao khát Thiên Chúa
Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.
Linh hồn con đã khát khao Ngài,
tấm thân này mòn mỏi đợi trông,
như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.
Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện
để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.
Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống,
miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương.
Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng,
và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.
Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc,
môi miệng con rộn rã khúc hoan ca.
Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ,
suốt năm canh thầm thĩ với Ngài.
Quả thật Ngài đã thương trợ giúp,
nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui.
Trót cả tâm tình, con cùng Ngài gắn bó,
giơ tay quyền lực, Ngài che chở phù trì.
Còn những kẻ tìm hại mạng sống con,
ước gì chúng phải xuống vực sâu lòng đất,
bị gươm giáo phanh thây, làm mồi cho muông sói.
Đức Vua sẽ vui mừng trong Thiên Chúa.
Ai lấy danh Chúa mà thề sẽ được hiên ngang;
còn người nói dối phải câm miệng
CON NGƯỜI KHAO KHÁT CHÚA
1. Thánh vịnh 62, chúng ta suy gẫm hôm nay, là Thánh vịnh nói về tình yêu huyền nhiệm, tán tụng việc kết hợp trọn vẹn với Chúa, bắt đầu với một sự ao ước gần như thể lý, cho tới khi đạt sự viên mãn trong một cái ôm nội tại và vững bền. Kinh nguyện trở nên sự ham mộ, sự khát và đói, bởi vì nó bao hàm linh hồn và thể xác.Như thánh Têrêsa Avila viết, “Tôi tưởng sự khao khát diễn tả một sự ao ước có cái gì, nhưng sự ao ước lên cường độ đến nỗi chúng ta chết được nếu không được như ao ước” (Way of Perfection, c. XXI). Phụng vụ nêu lên cho chúng ta hai vế thứ nhất của Thánh vịnh, tập trung, cách chính xác, về biểu tượng của sự khát và đói, đang khi vế thứ ba giới thiệu đàng chân trời đen sẫm của sự Chúa phán xét về sự dữ, điều nghịch lại vẻ sáng trong và nét dịu dàng trong phần còn lại của Thánh vịnh
2. Bây giờ chúng ta bắt đầu bài suy gẫm chúng ta với câu thứ nhất, nói về sự khao khát Chúa (coi cc. 2-4). Trời bừng sáng, mặt trời mọc lên trên nền trời trong sáng của Đất Thánh, và người cầu nguyện khởi sự ngày của mình khi lên đền tìm kiếm ánh sáng Chúa. Ông cảm thấy nhu cầu tự nhiên được gặp Chúa, xem ra là một (nhu cầu) “thể lý”. Như đất khô chết cháy, bao lâu không được uống nước mưa, và như những chỗ nứt nẻ trên mặt đất giống như cái họng khát nước và cháy bỏng, thì người tín hữu cũng khao khát Chúa như vậy, ngõ hầu được Người cho no đầy và có khả năng sống hiệp thông với Người.Ngôn sứ Giêrêmia đã cao rao Chúa là “nguồn mạch nước hằng sống”, và ông đã quở trách dân đã “làm cho chúng những hồ nứt rạn, không giữ được nước” (2, 13). Chính Chúa Giêsu muốn kêu lớn tiếng :” Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi hãy đến mà uống” (Ga 7, 37-38). Giờ đúng ngọ trong một ngày có ánh mặt trời và yên lặng, Chúa hứa với người nữ Samari: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Ga 4, 14).
3. Kinh Thánh vịnh 62, do chủ đề này, liên hệ với bài ca của một Thánh vịnh kỳ lạ khác, Thánh vịnh 41 : “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa. Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống” (cc. 2-3). Bấy giờ, trong tiếng Hêbreu, ngôn ngữ Cựu Ước, “linh hồn ” được diễn tả với từ ngữ “nefesh”, trong vài bản văn từ ngữ đó chỉ “cái họng”, và trong nhiều bản văn khác từ ngữ đó dùng theo nghĩa rộng để chỉ trọn vẹn hữu thể con người. Được đánh giá theo những chiều kích này, tiếng nói đó giúp hiểu sự cần đến Chúa thì thiết yếu và sâu xa là dường nào; không có Chúa, hơi thở và chính sự sống thành con số không. Do đó, tác giả Thánh vịnh đi xa tới mức đặt sự sống thể lý ở hàng thứ hai, nếu sự sống đó làm cho mình không được kết hợp với Chúa: “Ân tình Ngài quí hơn mạng sống” (Tv 62, 4). Cũng vậy, Thánh vịnh 72 lập lại với Chúa : “Bên Ngài thế sự thật tình chẳng ham. Dẫu cho hồn xác suy tàn, thì nơi ẩn náu kỷ phần lòng con, muôn đời là Chúa cao tôn… Còn hạnh phúc của con là ở kề bên Chúa” (cc. 25-28).4. Sau những thi ca trữ tình về sự khát, những lời Thánh vịnh xướng lên bài ca sự đói (x. Tv 62, 6-9). Có lẽ, với những hình ảnh của “bữa tiệc lớn” và của sự no thoả, người cầu nguyện nhớ lại một trong những hy tế được cử hành trong đền thờ Sion: (hy tế) được gọi là “hiệp thông”, nói cách khác một bữa tiệc thánh nơi đó người tín hữu ăn thịt các con vật bị sát tế. Một nhu cầu cơ bản khác thuộc sự sống, được sử dụng ở đây như là biểu trưng sự hiệp thông với Chúa: Sự Đói được no thoả khi được nghe Lời Chúa và được gặp Chúa. Thật vậy, “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8, 3; x. Mt 4,4). Và tới đây những ý nghĩ người Kitô hữu quay về bữa tiệc Chúa Giêsu đã dọn buổi chiều cuối đời sống trần thế của Người, giá trị sâu xa của nó đã được Chúa Giêsu giải thích trong bài diễn văn tại Capharnaum:” Vì thịt tôi là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 55-56).5. Nhờ của ăn huyền nhiệm hiệp thông với Chúa “linh hồn được ôm chặt” vào Chúa như tác giả Thánh vịnh tuyên bố. Một lần nữa, từ ngữ “linh hồn” gợi ý toàn hữu thể con người. Không phải là chuyện ngẫu nhiên mà có việc qui chiếu tới một cái ôm, tới một cái siết chặt thể lý: Bây giờ Chúa và con người hợp thông trọn vẹn với nhau và từ môi miệng của tạo vật chỉ có thể phát ra lòi ca khen đầy niềm vui và biết ơn. Mặc dầu trải qua đêm tối, chúng ta cảm giác được đôi cánh Chúa phù hộ, như hòm giao ước được che phủ bởi những cánh của thần Cherubim. Và bây giờ bật ra sự diễn tả xuất thần của niềm vui: “Nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui”. Sự lo sợ tan biến, vòng ôm không ôm khoảng trống nhưng ôm chính Chúa, tay chúng ta được sức mạnh tay mặt Người siết chặt (x. Tv 62, 8-9).6. Khi đọc Thánh vịnh này dưới ánh sáng mầu nhiệm phục sinh, sự khát và đói thúc đẩy chúng ta tới gần Chúa, sẽ được mãn nguyện trong Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại, từ nơi Người chúng ta lãnh nhận sự sống mới và lương thực nuôi dưỡng sự sống đó, nhờ hồng ân của Thần khí và các Bí tích.Thánh Gioan Kim Khẩu nhắc chúng ta nhớ sự kiện này khi, bình luận về nhận xét của thánh Gioan: từ cạnh sườn Người “máu và nước chảy ra” (x. Ga 19, 34), người khẳng định “Máu và nước là những biểu trưng cho bí tích Rửa tội và các Mầu nhiệm”, tức là, Thánh Thể. Và thánh nhân kết luận : “Hãy xem Chúa Kitô kết hợp hiền thê với chính mình thể nào ? Hãy xem Người lấy của ăn gì mà nuôi tất cả chúng ta ? Cũng từ một của ăn mà chúng ta được hình thành và được nuôi dưỡng. Thật vậy, như người đàn bà nuôi con mình sinh ra bằng máu và sữa của mình, thì Chúa Kitô cũng luôn luôn nuôi kẻ chính Người đã sinh ra, bằng chính máu của Người” (Bài giảng cho Tân tòng, 16-19 passim: SC 50 bis, 160-162).
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ.
BÀI GIÁO LÝ THỨ NĂM VỀ THÁNH VỊNH CỦA ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
Thánh Vịnh 149
“Chúa thưởng kẻ Khiêm Nhượng bằng sự Chiến Thắng”
“Kẻ hiếu trung hãy vui mừng rạng rỡ; nào phủ phục mà cất tiếng reo hò”. Lời kêu cầu này trích từ Thánh Vịnh 149, vừa được công bố, qui chiếu về một buổi bình minh sắ p xuất hiện và bắt gặp kẻ hiếu trung sẵn sàng cất lên bài ca buổi sáng. Bài ca đó được định nghĩa, bằng một phát biểu có ý nghĩa, là “một bài ca mới” (c. 1), tức là, một ca vịnh long trọng và hoàn hảo, xứng hợp cho những ngày sau cùng, khi Chúa qui tụ người công chính trong một thế giới mới. Toàn bài Thánh Vịnh tràn ngập một không khí ngày lễ, đã khởi sự với tiếng Alleluia đầu câu và được đánh dấu với nhịp hát, ca khen, vui mừng, nhảy múa, nhịp trống và đàn. Kinh nguyện mà Thánh Vịnh này linh hứng là kinh tạ ơn của con tim đầy sự hoan hỉ tôn giáo.
2. Trong nguồn gốc Do Thái của ca vịnh, những người chủ xướng Thánh Vịnh được qui chiếu đến bằng hai tiếng nói lên đặc điểm của linh đạo Cựu Ước. Ba lần họ được định nghĩa, hơn hết, là hasidim (cc. 1, 5, 9), nghĩa là, “những người đạo đức, hiếu trung”, những kẻ đáp ứng với lòng trung thành và yêu thương đối với tình yêu phụ tử của Chúa.Phần thứ hai Thánh Vịnh có rắc rối, bởi vì đầy những phát biểu hiếu chiến. Điều xem ra kỳ dị là, trong cũng một câu, Thánh Vịnh kết hợp “những lời ngợi khen Chúa trong miệng mình” với “một chiếc gươm hai lưỡi trong tay mình” (c. 6). Nếu suy nghĩ, chúng ta có khả năng hiểu tại sao; Thánh Vịnh được soạn thảo do người “hiếu trung” đang lao vào trận đấu dành giải phóng; họ đang chiến đấu để giải phóng dân bị áp bức của mình và cho họ khả năng phụng sự Chúa. Trong khoảng thời gian của anh em Maccabê, thế kỷ thứ hai trước Chúa Kitô (B. C.), những kẻ chiến đấu vì quyền tự do và đức tin, phải chịu đựng sự đàn áp khốc liệt do quyền lực Hy Lạp, thật sự được gọi là Hasidim, “người hiếu trung”, với Lời Chúa và truyền thống cha ông.
3. Trong viễn cảnh hiện tại của lời cầu nguyện chúng ta, biểu trưng hiếu chiến này trở nên hình ảnh cửa sự dấn thân chúng ta như người tín hữu, sau khi hát bài ca sớm mai ngợi khen Chúa, đi ra ngoài các ngõ đường thế giới, giữa sự dữ và bất công. Vô phúc thay, những sức lực chống lại Nước Chúa thì oai vệ: Tác giả Thánh Vịnh nói tới những “quốc gia, chư dân, vua chúa và vương hầu”. Nhưng tác giả Thánh Vịnh đầy lòng tin tưởng bởi vì ông biết có Chúa ở kề bên ông, Người là Vua thật của lịch sửc (c.2). Do đó, sự chiến thắng trên sự dữ là điều chắc chắn, và sẽ là sự khải hoàn của tình yêu. Tất cả những người hasidim tham gia cuộc chiến đấu này, tất cả những kẻ hiếu trung và công chính, nhờ sức mạnh Thần Khí, sẽ thi hành đến cùng công trình kỳ diệu bao hàm trong danh Nước Chúa.4. Khi bắt đầu với những qui chiếu của Thánh Vịnh về “ca đoàn” và “trống và đàn”, thánh Augustino giải thích: “Cái gì được ca đoàn diễn tả ? […] Ca đoàn là một tập thể những ca viên hát chung với nhau. Nếu chúng ta hát trong ca đoàn, chúng ta phải hát trong sự hài hoà. Khi người ta hát trong một ca đoàn, thì chỉ một tiếng hát lạc lõng cũng làm chói tai người nghe và đặt chính ca đoàn trong một tình trạng lộn xộn” (Enarr. in psalm 149: CCL 40, 7, 1-4).Rồi, khi qui chiếu tới những khí cụ tác giả Thánh Vịnh sử dụng, thánh Augustinô hỏi: “Tại sao tác giả Thánh Vịnh cầm trống và sách Thánh Vịnh trong tay ?” Người trả lời: “Bởi vì không những tiếng nói mà các công trình cũng ngợi khen Chúa. Khi cầm trống và sách Thánh Vịnh, hai tay cùng một nhịp với tiếng nói. Đối với anh em cũng vậy đó. Khi anh em hát Alleluia, anh em phải cho người đói ăn, người trần truồng mặc, đón rước người khách lạ. Nếu anh em làm như vậy, không những tiếng nói hát mà thôi, nhưng hai tay hoà nhịp với tiếng nói, bởi vì những tiếng nói hoà nhịp với những công trình” (ibid. 8, 1-4).
Có một tiếng thứ nhì định nghĩa những người đọc Thánh Vịnh này: Họ là ‘anawim, nghĩa là, “người nghèo, người hèn” (c. 4). Đây là một kiểu nói rất thường trong sách Thánh Vịnh, và có ý nói đến không những kẻ bị áp bức, kẻ nghèo hèn, kẻ bị bắt bớ vì lẽ công chính, nhưng cũng ám chỉ những kẻ, vì trung thành với những cam kết giữ Khế Ước với Chúa, bị loại ra bên lề bởi những kẻ chọn bạo tàn, của cải và kiêu căng. Trong ánh sáng này người ta hiểu rằng “kẻ nghèo” không chỉ là một hạng người xã hội, nhưng cũng là sự chọn lựa thiêng liêng. Đó là ý nghĩa của Mối Phúc danh tiếng thứ nhất: “Phúc cho những ai có lòng khó nghèo, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3). Ngôn sứ Xôphônia cũng đã quay về người “anawim” mà nói: “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa” (Xp 2, 3)
6. Đúng vậy, “ngày thịnh nộ của Đức Chúa”, thật sự là một ngày được diễn tả trong phần nhì của Thánh Vịnh khi “người nghèo” được xếp hàng bên Chúa để chiến đấu chống sự dữ. Tự mình, họ không có đủ sức, hay các phương tiện, hoặc những chiến thuật cần thiết để chống lại sự bùng nổ của sự dữ. Nhưng câu nói của tác giả Thánh Vịnh không cho phép nghi ngờ: “Chúa mến chuộng dân Người, ban cho kẻ nghèo hèn được vẻ vang chiến thắng” (c. 4). Đây là một hình bóng lý tưởng khi thánh Phaolô tuyên bố với tín hữu Corintô: “Những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có” (1 Cr 1, 28).Với lòng tin tưởng này, “những con cái Sion” (c. 2), Hasidim và ‘anawim’ nghĩa là kẻ hiếu trung và nghèo, chuẩn bị sống chứng nhân trong thế giới và lịch sử. Kinh Magnificat, bài hát của Đức Maria trong Tin Mừng thánh Luca, là tiếng vang của những tâm tình hay nhất của “con cái Sion”: lời ngợi khen đầy vui mừng dâng lên Chúa Đấng Cứu Chuộc, lời cảm tạ vì những sự trọng đại Đấng Quyền Năng đã làm cho Mẹ, sự tranh đấu chống lại những quyền lực sự dữ, tình liên đới với người nghèo, lòng trung hiếu với Chúa Giao Ước (Lc. 1, 46-55).
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách
Bài thứ sáu về Thánh Vịnh của ĐTC (30-5-2001)
THÁNH VỊNH 5
Kinh mai giúp người ta đương đầu với một thế giới thù nghịch mở rộng
1. “Ngay từ sớm, Ngài đã nghe tiếng con; ngay từ sớm, con tỏ bày ước nguyện, rồi chăm chú đợi trông”. Với những lời này Thánh Vịnh 5 được trình bày như một kinh mai và, do đó, được đặt trong phụng vụ Kinh Sáng, bài ca của người tín hữu lúc ngày bắt đầu. Giọng nói phụ của lời nguyện xin này được đánh dấu bằng sự căng thẳng và âu lo vì những nguy hiểm và những buồn phiền trước mặt. Dầu sao, thì sự tín cậy không giảm sút vào Chúa, mãi mãi sẵn sàng nâng đỡ người tín hữu để họ không thể vấp ngã trên con đường sự sống.”Không một ai trừ ra Giáo Hội có được sự tin cậy này” (Jerome, Tractatus LIX in Psalms, 5, 27: PL 26, 829). Và thánh Augustino, khi nhắc tới danh hiệu đặt cho Thánh Vịnh này, một danh hiệu trong bản Latin phát biểu là: cho người nữ (her) nào nhận lãnh gia nghiệp, giải thích: “như vậy, danh hiệu này chỉ Giáo Hội, người nhận lãnh sự sống đời đời như là phần gia nghiệp nhờ Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, đến nỗi Giáo Hội chiếm hữu chính Chúa, gắn bó với Người, và tìm được hạnh phúc mình ở nơi Người, ăn khớp với điều đã viết: “Phúc thay ai hiền lành, vì sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5, 4). (Enarr. in Ps., 5:CCL 38, 1, 2-3).
2. Như thường xảy ra trong những Thánh Vịnh “cầu xin” dâng lên Chúa để được cứu khỏi sự dữ, có 3 đặc điểm nổi bật trong Thánh Vịnh này. Đây, trước hết, Chúa xuất hiện (cc. 2-7), “NGÀI” tuyệt vời của Thánh Vịnh, mà người cầu nguyện chạy tới với lòng cậy tróng. Một sự bảo đảm lộ ra trước những âu lo thuộc một ngày đầy mỏi mệt và có lẽ đầy nguy hiểm. Chúa là một Thiên Chúa kiên định, thẳng tay khi gặp bất công, không thoả hiệp với bất cứ sự dữ nào Ngài không phải là một vị thần ưa điều ác” (c. 5).Một danh sách dài những kẻ dữ – người kiêu căng, ngông cuồng, làm điều ác, nói láo, khát máu và điêu ngoa – lướt qua trước mắt Chúa. Người là Chúa duy nhất và công minh và Người đứng bên kẻ đi trên con đường công chính và tình yêu, chống đối kẻ chọn “những con đường đưa tới vương quốc tối tăm” (x. Cn. 2, 18). Người tín hữu, bấy giờ, không cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi khi họ giáp mặt với thành, đi vào trong xã hội và trong sự rối rắm của những công việc hằng ngày.
3. Trong những câu 8-9 kinh nguyện sáng của chúng ta, đặc điểm thứ hai, con người cầu nguyện, tự trình diện với tiếng “CON”, chứng tỏ toàn diện con người mình được tận hiến cho Chúa và cho “lòng thương xót cao cả” của Chúa. Người đó chắc rằng các cửa đền thờ, nghĩa là, nơi sống hiệp thông và thân mật với Chúa, bị những kẻ vô thần cài then, được mở rộng ra trước mình. Người đó đi vào bên trong để hưởng sự an toàn nhờ có Chúa bảo vệ, đang khi ở ngoài, sự dữ gào thét và cử hành những chiến thắng giả tạo và phù du của nó.Nhờ kinh nguyện ban mai trong đền thờ, người tín hữu nhận lấy năng lực nội tâm để đương đầu với một thế giới thường là thù địch. Chính Chúa sẽ nắm tay anh và dẫn anh trên những con đường thành phố, thật vậy, Chúa sẽ “san phẳng lối đường”, như tác giả Thánh Vịnh nói, sử dụng một hình ảnh đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa. Trong bản gốc tiếng Do Thái, sự tin cậy này dựa trên hai tiếng (hésed và sedaqáh): một đàng là “Lòng thương xót hay trung thành” và một đàng là “công chính và cứu độ”. Đó là những tiếng điển hình mừng giao ước kết hợp Chúa với dân Người và với tất cả mọi người tín hữu.
4. Sau hết, ở đây, gương mặt tối sầm của đặc tính thứ ba thuộc tấn kịch hằng ngày, được phát hoạ dưới đàng chân trời: Chúng nó là những “kẻ thù”, những kẻ dữ, những kẻ đã xuất hiện ở hậu trường của các câu trước. Sau tiếng “NGÀI” chỉ Chúa và tiếng “CON ” chỉ người cầu nguyện, bây giờ tới tiếng “CHÚNG NÓ” chỉ một đám người thù địch, biểu trưng sự dữ của thế giới (cc. 10-11). Diện mạo chúng nó được phác hoạ trên nền tảng tiếng nói, yếu tố căn bản trong sự truyền thông xã hội. Bốn yếu tố – miệng, tim, họng, lưỡi – diễn tả tính triệt để của sự dữ gắn liền với sự lựa chọn của họ. Miệng họ đầy sự giả dối, tim họ luôn luôn mưu đồ sự giữ, họng của họ giống như nấm mồ mở toát, mau mắn muốn có sự chết mà thôi, lưỡi của họ thì phỉnh phờ, nhưng “đầy nọc độc giết người” (Gc 3, 8).5. Sau bức hoạ chói mắt và thực tiễn này diễn tả một con người tấn công kẻ lành, tác giả Thánh Vịnh cầu xin Chúa ra vạ phạt trong câu (11), mà phụng vụ Kitô giáo bỏ qua, vì muốn có sự phù hợp với mặc khải Tân Ước về tình yêu thương xót, tình yêu nầy cũng có thể thuyết phục kẻ dữ trở lại.Tới đây, lời kinh của tác giả Thánh Vịnh kết thúc đầy ánh sáng và bình an (cc 12-13), sau nét mặt tối sầm của kẻ tội nhân vừa nói. Một làn sóng thanh bình và vui tươi bao trùm người nào trung thành với Chúa. Cái ngày mà bây giờ bắt đầu hiện ra trước trán người tín hữu, cho dù có cố sức và âu lo, luôn luôn có mặt trời mang phúc lành của Chúa đến cho. Tác giả Thánh Vịnh, kẻ hiểu biết sâu xa tấm lòng và kiểu cách của Chúa, không chút nghi ngờ : “Vâng lạy Chúa, Ngài ban phúc lành cho người công chính, lấy ân tình bao phủ như thuẫn đỡ khiên che” (c. 13).
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách
ĐTC trình bày quan điểm của Kitô Giáo về quyền lực (08/06/2001). Bài Giáo Lý thứ bảy về Thánh Vịnh của Đức Gioan Phaolô II trong buổi Triều Yết ngày thứ Tư 06/06/2001
QUAN NIỆM KITÔ GIÁO VỀ QUYỀN LỰC.
1. “Lạy Chúa, là Thiên Chúa Israel tổ phụ chúng con, xin dâng lên Ngài lời chúc tụng” (1 Sbn 29,10). Bài ca khen mãnh liệt này, mà sách Sử Biên Niên Quyển I đặt vào miệng lưỡi Đavit, làm chúng ta sống lại niềm vui bộc phát, với niềm vui đó cộng đồng giao ước cũ hớn hở mừng những chuẩn bị cả thể để xây cất đền thờ, hoa quả do sức cố gắng chung của nhà vua và của rất nhiều người đã chung sức với vua. Gần như họ tranh đua quảng đại, bởi vì đây là sự kêu gọi làm một nhà, nhà “không phải dành cho một người phàm nào, nhưng là để dâng kính Đức Chúa là Thiên Chúa (1 Sbn 29,1).Khi đọc lại biến cố này sau nhiều thế kỷ, người chép sách Sử Biên Niên trực kiến những cảm nghĩ của Đavit và của toàn dân, niềm vui và sự khâm phục của họ đối với tất cả những kẻ đã đóng góp phần của mình: “Dân chúng vui mừng vì đã tự nguyện dâng các của lễ ấy, quả họ đã dâng kính Đức Chúa với cả tấm lòng thành; chính vua Đavit cũng vui mừng khôn tả” (1 Sbn 29, 9).
2. Đó là bối cảnh làm phát sinh bản thánh ca. Bản thánh ca không chú ý, trừ ra cách vắn tắt, đến sự thoả mãn của con người, nhưng tập trung ngay sự chú ý về vinh quang Chúa: “Lạy Chúa, Ngài oai vệ… Ngài nắm giữ vương quyền …” Sự càm dỗ lớn tuy vẫn ẩn kín, khi các công trình được thực hiện vì Chúa, là tự đặt mình vào trung tâm, hầu như cảm giác mình là những chủ nợ của Chúa. Ngược lại, vua Đavit, coi mọi sự là của Chúa. Không phải con người, với tài trí và sức lực của mình, là kiến trúc sư đầu tiên của tất cả những gì đã làm, nhưng chính là Chúa.Như vậy vua Đavit phát biểu chân lý sâu xa là mọi sự đều là ân sủng. Nói được, tất cả những gì sử dụng để xây đền thờ, là không gì nhưng chỉ là một sự đền đáp, rất nhỏ, cho tất cả những gì dân Israel đã nhận lãnh qua ân huệ vô giá của giao ước được Chúa thiết lập với các tổ phụ. Theo một đường hướng đó, vua Đavit tin Chúa làm mọi sự để gầy dựng vận mạng mình, dầu trong binh nghiệp hay trong lãnh vực chính trị và kinh tế. Mọi sự bởi Chúa mà đến !
3. Những câu này hàm chứa bên trong sự phó thác có tính chiêm niệm. Xem ra tác giả thánh ca không đủ lời để tuyên xưng sự cao sang và quyền năng của Chúa. Ông thấy Chúa trước hết trong tình phụ tử riêng biệt tỏ bày cho dân Israel, “Tổ Phụ chúng con”. Và đây là tước hiệu thứ nhất khêu ra lời ngợi khen “bây giờ và muôn thuở”.Khi người Kitô hữu tuyên đọc những lời này, chúng ta không thể quên rằng tình phụ tử tự mặc khải trọn vẹn trong việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Chính Người và chỉ một mình Người có thể nói với Chúa, gọi Chúa, trong một nghĩa xứng hợp và cách trìu mến, là “Abba” (Mc 14, 36). Đồng thời, nhờ hồng ân Thần Khí, chúng ta tham dự vào tình con của người, qua đó chúng ta là “những người con trong người Con. Phúc lành Chúa Cha chúc cho dân Israel xưa, đạt được cho chúng ta cường độ mà Chúa Giêsu tỏ bày cho chúng ta, khi dạy chúng ta kêu Chúa là “Cha chúng con”.
4. Cái nhìn của tác giả Thánh Kinh bấy giờ trải dài từ lịch sử cứu rỗi cho tới toàn thể vũ trụ, để chiêm ngắm sự cao cả của Chúa Sáng Tạo: “Vì mọi sự trên trời dưới đất thuộc về Ngài”. Và nơi khác: “Chúa được suy tôn như đầu của vạn vật”. Như trong Thánh Vịnh 8, người đọc bài ca của chúng ta, ngước mắt nhìn khoảng không trung vô tận, rồi lại nhìn xuống cách khâm phục mặt đất rộng lớn, và thấy mọi sự đều ở dưới quyền quản trị của Chúa. Làm sao có thể diễn tả vinh quang Chúa? Những lời nói chồng chất, trong một thứ liệt kê thần bí: sự cao cả, quyền năng, vinh quang, vẻ uy nghi, ánh sáng ngời, và rồi, trở lại, sức lực và quyền năng. Tất cả những gì con người kinh nghiệm như là đẹp đẽ và cao cả phải chỉ về Chúa, Đấng là nguồn mạch mọi sự và cai quản muôn loài. Con người biết rằng mọi sự mình có là hồng ân của Chúa, như vua Đavit nhấn mạnh hơn trong bản Thánh Ca: “Nhưng con là ai, và dân của con là gì mà chúng con cả lòng tự ý dâng hiến như vậy ? Vì mọi sự đều do bởi tay Ngài mà ra, và chúng con chỉ dâng lên Ngài điều mà chúng con đã nhận lãnh nơi Ngài” (1 Sbn, 14).5. Kinh nghiệm về thực tại như hồng ân của Chúa giúp chúng ta phối hợp những cảm giác ngợi khen và biết ơn của bản thánh ca với nền linh đạo đích thực “hiến dâng” mà Phụng Vụ Kitô giáo dạy chúng ta phải sống theo, cách riêng trong việc cử hành Thánh Thể. Đó là điều hiện ra từ hai kinh linh mục đọc khi dâng bánh và rượu để trở thành Mình và Máu Chúa Kitô: “Vì Chúa rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và công lao của con người. Xin dâng lên Chúa để trở nên bánh nuôi sống chúng con”. Kinh đó cũng lặp lại trên rượu. Những tâm tình như thế được gợi ý trong Phụng Vụ Byzantine hay là trong Lễ Quy Roma, khi kinh Tạ Ơn Thánh Thể biểu lộ ý thức về sự dâng hiến, như quà tặng lên Chúa, những sự đã nhận lãnh bởi Chúa.6. Một áp dụng cuối cùng của quan niệm này về Chúa, được hoàn thành trong bản thánh ca, bằng cách nhìn đến kinh nghiệm con người đối với của cải và quyền lực. Hai chiều kích này xuất hiện khi vua Đavit chuẩn bị những gì cần thiết để xây dựng đền thờ. Cái gì là một cám dỗ chung, cũng có thể là một cám dỗ riêng đối với vua: hành động như thể vua là người trọng tài tuyệt đối của những gì vua có, khiến điều đó thành nguồn gốc kiêu căng và lạm dụng đối với kẻ khác. Kinh đọc trong Thánh Ca nầy nhắc con người nhớ hoàn cảnh của mình là “một con người nghèo hèn”, lãnh nhận mọi sự.Các vua trên mặt đất này, như vậy, chỉ là những hình ảnh của vương quyền Chúa: “Người nắm giữ vương quyền, lạy Chúa”. Người giàu có không thể quên nguồn gốc sinh ra của cải mình: “Của cải và vinh quang đều do Ngài”. Người quyền thế phải biết nhìn nhận Chúa, là nguồn mạch “của mọi sự cao cả và quyền phép”. Người Kitô hữu được mời đọc những câu này, hớn hở chiêm ngắm Chúa Phục Sinh, được Thiên Chúa tôn vinh, “trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được” (Ep 1, 21). Chúa Kitô là Vua thật vũ trụ.
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách
BÀI GIÁO LÝ THỨ 9 VỀ THÁNH VỊNH CỦA ĐTC GIOAN PHAOLÔ II
Buổi Triều Yết Chung ngày thứ Tư (20/06/2001).
“Bức tranh bộ ba đầy thi vị và lời cầu nguyện” TV 23
1. Bài ca xưa của Dân Chúa, chúng ta vừa nghe, đã vang dội trong đền thờ Giêrusalem. Muốn hiểu rõ chủ đề của ca vịnh này, cần phải lưu ý tới ba trích dẫn cơ bản của ca vịnh này. Trích dẫn thứ nhứt qui chiếu về chân lý sáng tạo: Chúa đã sáng tạo thế giới và Người là Chúa. Trích dẫn thứ hai qui chiếu về sự phán xét Chúa bắt những thụ tạo của người phải chịu: Chúng ta phải ra trước mặt Người và bị tra vấn về những gì chúng ta đã làm. Trích dẫn thứ ba là mầu nhiệm Chúa đến: Chúa đến trong vũ trụ và lịch sử, và muốn có tự do đến thiết lập một quan hệ hiệp thông sâu xa với con người. Đó là điều mà một tác giả hiện đại đã viết: “Đó là ba hình thức sơ đẳng của kinh nghiệm về Chúa và về sự liên hệ với Chúa: chúng ta sống nhờ hành động của Chúa, trước mặt Chúa và chúng ta có thể sống với Chúa” (Gerhard Ebeling, “Sui Salmi”, Brescia 1973, . 97).2. Ba phần trong Thánh Vịnh 23 đáp ứng với ba trích dẫn này, mà chúng ta cố gắng đi sâu vào, nhìn xem chúng như ba ô của bức tranh bộ ba đầy thi vị và lời kinh nguyện. Ô thứ nhất là một tiếng kêu ngắn lên Đấng Sáng Tạo, trái đất và những kẻ sống trên trái đất đều thuộc về Người (c. 1-2). Đây là một việc xưng đức tin vào Chúa của vũ trụ và lịch sử. Việc Sáng Tạo, theo như cái nhìn cổ xưa về thế giới, được quan niệm như một công trình kiến trúc. Chúa đặt nền móng trái đất trên biển, biểu trưng cho những làn nước hỗn độn và phá huỷ, dấu chỉ những hạn chế của tạo vật, qua cái không có và sự dữ. Thực tại được sáng tạo bị treo trên sự hỗn mang này và chính hành động sáng tạo và quan phòng của Chúa giữ gìn nó trong hữu thể và sự sống.3. Từ phạm vi vũ trụ, viễn tượng của tác giả Thánh Vịnh thu hẹp lại tiểu vũ trụ Sion, “Núi Chúa”. Bây giờ chúng ta đang ở trong bức tranh thứ hai của Thánh Vịnh (c. 3-6). Chúng ta đang ở trước đền thờ Giêrusalem. Đoàn kiệu người tín hữu xin những kẻ giữ cửa thánh cho mình vào: “Ai sẽ trèo lên núi Chúa, và ai sẽ đứng trong nơi thánh Chúa ?” Các thầy tư tế – như trường hợp trong bản văn Kinh Thánh khác mà các học giả gọi là “Phụng Vụ tiến vào” (x. Tv 14; Is 33, 14-16; Mk 6, 6-8) – đáp ứng bằng cách lên danh sách những điều kiện cho phép hiệp thông với Chúa qua sự thờ phượng. Đây không hẳn là nói tới những quy luật nghi thức và bề ngoài, nhưng nói về những cam kết luân lý và hiện sinh phải thực hiện. Đây hầu như là một việc truy vấn lương tâm hay là một hành vi sám hối làm trước cử hành phụng vụ.4. Vị tư tế đặt ra ba yêu sách. Trước hết cần phải có “tay sạch và lòng thanh”. “Tay” và “lòng” gợi lên hành động và ý định, đó là, toàn diện hữu thể con người, phải triệt để quay về với Chúa và lề luật của Người. Yêu sách thứ hai là “không nói dối”, kiểu nói, theo Kinh Thánh, không chỉ qui chiếu về sự chân thật mà thôi, nhưng cách riêng còn về sự tranh đấu chống lại việc thờ ngẫu tượng, bời vì các ngẫu tượng là những thần giả, nghĩa là, “dối, láo” Như thế, củng cố được sự tinh tuyền tôn giáo và thờ phượng, điều răn thứ nhất trong bản 10 điều răn. Sau cúng điều kiện thứ ba, “không thề gian thề dối”, qui chiếu về những tương quan với tha nhân. Như người ta biết, trong một nền văn minh bằng lời như nền văn minh của người Israel, lời nói không nên làm dụng cụ phỉnh gạt, ngược lại, làm một biểu trưng cho những liên hệ xã hội linh hứng bởi chân lý và lòng ngay thẳng.5. Như thế chúng ta tới bức tranh thứ ba, gián tiếp diễn tả sự đi vào mừng lễ của người tín hữu trong đền thờ để gặp Chúa (c. 7-10). Trong một cuộc thay đổi gợi ý của những tiếng gọi, những câu hỏi và thưa, Chúa tự mặc khải từ từ với ba trong số các tước hiệu long trọng của Người: “Vua vinh hiển, Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng, Đức Chúa các đạo binh”. Những cửa Đền Sion được nhân cách hoá và được mời cất cao lên để đón rước Đức Chúa, Ngài đến chiếm hữu nhà Ngài.Cảnh quan chiến thắng, diễn tả trong Thánh Vịnh qua bức tranh bộ ba đầy thi vị, được phụng vụ Kitô giáo phương Đông và Tây sử dụng để nhắc nhớ biến cố Chúa Kitô xuống Địa ngục cách chiến thắng, như thơ thứ nhất thánh Phêrô nói (x. 3- 19), và sự lên trời vinh hiển của Chúa sống lại (x. Cv 1, 9-10). Cũng bài Thánh Vịnh này còn được ca đoàn hát đối đáp trong phụng vụ Byzantine trong đêm Phục Sinh, như được dùng trong phụng vụ Roma, lúc kết thúc kiệu lá, ngày Chúa Nhật hai Thương Khó. Phụng vụ long trọng khi mở Cửa Thánh lúc khai mạc Năm Thánh cho phép chúng ta sống lại, với một sự cảm xúc cao độ nội tâm, cũng những tâm tình tác giả Thánh Vịnh cảm thấy khi ông bước qua ngưỡng cửa Đền Thờ Sion xưa kia.
6. Tước hiệu sau cùng, “Đức Chúa các đạo binh, không có – như có thể tưởng ra lúc mới xem lần đầu – một đặc tính chiến tranh, mặc dầu nó không loại bỏ việc qui chiếu tới hàng ngũ dân Israel. Ngược lại, nó có giá trị vũ trụ: Đức Chúa, Đấng sắp đến gặp nhân loại trong nội vi của không gian hạn định thuộc Đền Thờ Sion, là Đấng Sáng Tạo, Người có tất cả mọi tinh tú trên trời như là đạo binh, nghĩa là, mọi loài thọ tạo trong vũ trụ, chúng vâng phục Người. Ta đọc trong sách ngôn sứ Baruch: “Các tinh tú, mỗi ngôi ở vị trí mình, tưng bừng chiếu sáng. Người gọi chúng, chúng thưa: ‘Có mặt’, và hân hoan chiếu sáng mừng Đấng tạo nên mình” (Br 3, 34-35). Thiên Chúa vô cùng tận, toàn năng và vĩnh cửu, hoà hợp với thọ tạo nhân bản, đến gần nhân loại để gặp nhân loại, nghe nhân loại và đi vào hiệp thông với nhân loại. Và phụng vụ là sự diễn tả cuộc gặp gỡ này trong đức tin, đối thoại và tình yêu.Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách
BÀI GIÁO LÝ 10 VỀ THÁNH VỊNH CỦA ĐTC NGÀY 25/07/2001
Chúa Quan phòng bảo vệ người tín hữu trung thành
Những lợi ích của việc trở lại với Chúa là những ân huệ Chúa ban, và ân huệ lớn nhất là Người Con Thiên Chúa trong mầu nhiệm nhập thể.
Tại buổi Triều Yết chung ngày thứ tư, 25/07/2001, ĐTC giải thích một phần bài ca vịnh của ông Tobit (Tb 13, 1-8), Giáo Hội sử dụng đoạn này trong Kinh Sáng ngày thứ ba tuần I. Sứ điệp sách Tobit thật rõ ràng: kẻ nào làm lành, trước hết, bằng cách mở lòng chăm lo cho những nhu cầu của tha nhân, được Chúa quí yêu, và, nếu họ phải chịu thử thách, thì cuối cùng họ sẽ kinh nghiệm lòng tốt lành của Chúa. Ca vịnh Tobit phải được hiểu trong viễn ảnh này. Hình phạt của Chúa là một cách giáo dục, trong đó lòng thương xót có tiếng nói cuối cùng. Người ta có thể hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, vì Người không bao giờ chê bỏ tạo vật của Người.
Sự đau khổ có một ý nghĩa tích cực mầu nhiệm khi nó được sống trong sự phó thác vào chương trình của Chúa. Thánh giá Chúa Kitô là câu trả lời cuối cùng cho câu hỏi tại sao con người phải đau khổ trong thế giới chúng ta. Đức Thánh Cha nói, “nếu tác giả ca vịnh nghĩ tới những lợi ích kèm theo việc Chúa “trở lại”, tức là sự khuyến khích đổi mới của Người đối với dân Người, trong ánh sáng mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng ta phải nghĩ rằng trước hết ân huệ này là chính Chúa. Con người cần đến Người hơn cần đến tất cả các ân huệ của Người. Tội lỗi là một thảm kịch không phải vì nó kéo hình phạt của Chúa xuống trên chúng ta, nhưng bởi vì nó xua đuổi Người ra khỏi lòng chúng ta”. Ca vịnh hướng chúng ta đến gương mặt của Chúa. Sau đây là bản dịch bài giáo lý bằng tiếng Ý.
1. “Tôi suy tôn Thiên Chúa của tôi, hồn tôi suy tôn người là Thượng Đế” (Tb 13, 9). Người nói những lời này trong ca vịnh vừa trích dẫn, là ông già Tobit mà Cựu Ước ghi lại tiểu sử và nêu gương tốt, trong quyển sách mang tên con ông (trong bản Latinh Vulgata) là Tobias (Tobit trong RSV và NAB). Muốn hiểu hết ý nghĩa ca vịnh này, chúng ta phải nhớ lại câu chuyện trong những trang trước. Câu chuyện nói về những người Israel bị lưu đày tại thành Ninivê. Tác giả thánh, viết sau đó nhiều thế kỷ, xem họ như là một tấm gương của đàn anh đàn chị trong đức tin, bị phân tán giữa một dân ngoại và bị cám dỗ từ bỏ những truyền thống của cha ông mình. Hình ảnh ông Tobit và gia đình ông được xem như là một chương trình sống. Đây là một con người, cho dù tất cả những sự việc đã xảy ra cho ông, vẫn trung thành với những chuẩn mực của lề luật, và cách riêng, với việc thực hành bố thí. Ông lâm vào số rủi, mang cảnh nghèo và bị tật đui mù, nhưng niềm tin của ông không mất.Sự đáp trả của Chúa không chậm trễ, qua Tổng lãnh Thiên thần Raphael, người hướng dẫn cậu Tobias con trong một cuộc hành trình đầy rủi ro, đưa cậu vào một cuộc hôn nhân đầy hạnh phúc và, cuối cùng, chữa lành ông Tobit cha khỏi tật đui mù.
Sứ điệp thật rõ ràng: Những ai làm lành, trước hết biết mở lòng nghĩ đến những nhu cầu của người tha nhân, thì đẹp lòng Chúa, dầu họ bị thử thách; sau cùng, họ sẽ kinh nghiệm lòng lành của Chúa.
Tác giả phác họa thần học của lịch sử: Thiên Chúa không bao giờ chê bỏ tạo vật của Người và như vậy, sự đau khổ có thể mang ơn cứu rỗi
2. Với điều nói trên đó, những lời trong ca vịnh chúng ta làm nên một mũi nhọn. Những lời đó kêu mời chúng ta ngước mắt lên cao cho tới “Chúa Đấng sống muôn thuở, tới nước của người, nước tồn tại muôn đời”. Từ chiêm niệm này về Chúa, tác giả thánh có thể hiến một bức phác hoạ ngắn ngủi về một thần học lịch sử, trong đó ngài cố gắng trả lời cho câu hỏi mà Dân Chúa bị phân tán và chịu thử thách nêu lên: tại sao Thiên Chúa xử với chúng tôi như thế này? Câu trả lời quay về cả hai sự công bình và lòng thương xót của Chúa: “Người đánh phạt vì anh em làm điều gian ác, nhưng rồi lại thương xót anh em hết thảy (c. 5). Như vậy sự đánh phạt chỉ là một lối giáo dục, trong đó tiếng nói cuối cùng dành cho lòng thương xót: “Chính Người đánh phạt rồi lại xót thương, đẩy xuống tận âm ty trong lòng đất sâu thẳm, rồi kéo ra khỏi đại họa tiêu vong (c. 2).Sự đau khổ, kể cả Thánh giá, có một ý nghĩa tích cực nếu biết sống theo chương trình của Chúa
Người ta có thể tuyệt đối tin tưởng vào Chúa, Người không bao giờ chê bỏ tạo vật của Người. Hơn nữa, những lời ca vịnh dẫn tới một viễn tượng khác, khoác cho hoàn cảnh đau khổ một ý nghĩa cứu độ, biến cuộc lưu đày thành một cơ hội ngợi khen những công trình của Chúa: “Con cái nhà Israel hỡi, nào xưng tụng Chúa trước mặt chư dân, chính Người đã phân tán anh em vào giữa họ, tại đó Người đã cho anh em thấy Người là Đấng cao cả muôn trùng (cc. 3-4).
3. Từ việc mời gọi đọc lại cuộc lưu đày trong niềm tin vào Chúa quan phòng, việc chiêm niệm của chúng ta có thể đưa tới sự xem xét ý nghĩa tích cực mầu nhiệm của đau khổ, khi đau khổ được sống trong sự phó thác theo chương trình của Chúa. Nhiều đoạn trong Cựu Ước đã mô tả chủ đề này. Chúng ta nên nhớ tới truyện ông Giuse trong sách Sáng Thế (x. St 37, 2-36), ông bị các anh mình bán và được định làm người cứu độ tương lai của các anh. Làm sao chúng ta có thể quên sách ông Gióp? Ở đây người vô tội đau khổ và không biết phải giải thích làm sao về tấn thảm kịch của mình, chỉ biết tùng phục sự cao cả và khôn ngoan của Chúa (x. G 42, 1-16).Sự chuyển đổi hỗ tương giữa Chúa và con người mang đến những lợi ích to lớn, cách riêng sự Nhập Thể
Đối với chúng ta những kẻ đọc những đoạn Cựu Ước này từ một viễn tượng Kitô hữu, điểm qui chiếu duy nhất là Thánh giá Chúa Kitô, vì Thánh giá cung hiến một câu trả lời sâu xa cho mầu nhiệm đau khổ trong thế giới.
4. Đối với những tội nhân, kẻ bị phạt vì những điều gian ác của mình (c. 5), ca vịnh Tobit đưa ra một lời mời gọi cải thiện, sự cải thiện này mở ra một viễn ảnh diệu kỳ nhắm tới một sự chuyển đổi “hỗ tương giữa Chúa và con người: “Nếu anh em hết lòng hết dạ trở về với Chúa mà sống theo sự thật trước tôn nhan Người, thì Người sẽ trở lại với anh em, không còn ngoảnh mặt làm ngơ nữa (c. 6). Việc dùng tiếng “chuyển đổi – conversion cho tạo vật và cho Chúa nói lên những số lượng lớn, mặc dầu với những ý nghĩa khác nhau.Nếu tác giả Ca vịnh nghĩ tới những lợi ích đi kèm theo sự “trở lại của Chúa, sự khuyến khích đổi mới đối với dân của Người, trong ánh sáng mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng ta phải nghĩ tới trước tiên ân huệ là chính Chúa. Con người cần Chúa hơn cần tất cả các ân huệ của Người. Tội lỗi là một thảm kịch không phải do nó kéo hình phạt của Chúa xuống trên chúng ta, nhưng vì nó xua đuổi Chúa ra khỏi lòng chúng ta.
Tình Phụ tử của Chúa mang lại giao ước, việc Nhập thể mạc khải lòng thương xót vô tận của Chúa
5. Ca vịnh nâng đôi mắt chúng ta lên tới gương mặt của Chúa như người Cha, kêu mời chúng ta chúc tụng và ngợi khen Người: “Người là Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, Cha chúng ta”. Người ta cảm thấy ý nghĩa được làm con riêng, điều mà Israel kinh nghiệm với ân huệ giao ước và chuẩn bị cho mầu nhiệm nhập thể Con Chúa. Như thế, trong Chúa Giêsu, gương mặt Chúa cha sẽ chiếu sáng và lòng thương xót vô tận của Người sẽ được mạc khải.Ở đây chúng ta có thể nhớ đến dụ ngôn người cha nhân hậu trong Tin Mừng thánh Luca. Không những người cha đáp ứng sự trở về của người con phung phí bằng sự tha thứ, nhưng còn với một vòng tay ôm đầy tình thương vừa vui vừa mừng: “Anh ta còn ở đàng xa thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (Lc 15, 20). Sự diễn tả của Ca vịnh rập khuông với hình ảnh đánh động của Tin Mừng. Sự cần thiết ngợi khen và tạ ơn Chúa nổi lên: “Vậy giờ đây hãy chiêm ngưỡng việc Chúa đã làm cho anh em mà lớn tiếng tạ ơn Người. Hãy chúc tụng Người, là Chúa công minh chính trực, suy tôn Người là Vua hiển trị thiên thu (c. 7).
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách.
BÀI GIÁO LÝ SỐ 12 VỀ THÁNH VỊNH CỦA ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II (05/09/2001). THÁNH VỊNH 35
Ác tâm của ngươi tội lỗi, Lòng tốt lành của Đức Chúa (Kinh Sáng, thứ Tư tuần 1)
1. Có hai thái độ căn bản mà mỗi người cần phải lựa chọn khi một ngày làm việc mới và những giao tiếp con người bắt đầu: hoặc là chọn sự lành hay chiều theo sự dữ. Thánh vịnh 35 chúng ta vừa mới nghe cách đặc biệt. Trình bày hai quan điểm đối nghịch nhau. Một đàng là con người mưu đồ sự dữ trên “giường nằm” nó sắp chổi dậy; đàng khác, ngược lại có người tìm ánh sáng của Chúa, nguồn mạch sự sống (c. 10). Vực thẳm sự dữ của kẻ dữ đối nghịch với vực thẳm lòng lành Chúa, một mạch nước hằng sống làm đả khát và là một ánh sáng soi sáng người tín hữu.Do đó, có hai kiểu người được diễn tả trong Thánh vịnh mới đọc, mà Phụng Vụ các Giờ Kinh đề nghị đọc trong Kinh Sáng ngày thứ Tư Tuần Một.
2. Hình ảnh thứ nhất do tác giả Thánh vịnh giới thiệu là hình ảnh kẻ tội lỗi(c. 2-5). Như bản gốc tiếng Hi bá trình bày, “tội lỗi nói với người dữ tận đáy lòng của nó “(c. 2). Kiểu nói thật mạnh mẽ. Nó làm cho người ta tưởng rằng tiếng nói của ma quỉ, ngược lại tiếng nói của Chúa, vang dội trong lòng và trong lời nói của kẻ dữ.Sự dữ xem ra là bẩm sinh của nó, đến đổi nó trào ra trong lời nói và hành động. Nó phung phí những ngày của nó để chọn lựa “những con đường không tốt“ từ sáng sớm, khi nó còn “nằm trên giường (c. 5), cho tới chiều lúc nó sắp sửa đi ngủ. Việc lựa chọn liên tục này của kẻ tội lỗi phát xuất từ một lựa chọn bao hàm cả đời sống của nó và sinh ra sự chết.
3. Tuy nhiên, tác giả Thánh vịnh hoàn toàn hướng về gương mặt khác, mà ông muốn được phản chiếu trong đó: khuôn mặt của người tìm kiếm chân dung Chúa (c. 6-13). Ông cất lên một bài hát chân thật và thích hợp ca ngợi tình yêu Chúa (c. 6-11) mà ông theo cho đến cùng, với một lời cầu xin được giải phóng khỏi sự mê hoặc của tối tăm sự dữ và được bao bọc mãi trong ánh sáng ân sủng.Một lời cầu nguyện thật sự và thích hợp được xướng lên rõ ràng trong bài ca này, bài hát ca tụng những nét của Chúa tình yêu: ân sủng, tín thành, công lý, phán xét, cứu độ, hình bóng bảo vệ, sự dồi dào, sự thích thú, sự sống, ánh sáng. Cách riêng bốn nét thần linh này phải được nhấn mạnh, những nét được diễn tả trong tiếng Hy bá có một giá trị được đánh giá cao hơn là trong những bản dịch ra ngôn ngữ ngày nay.
4. Trước hết, là từ ngữ “hésed”, “ân sủng”, có nghĩa bao hàm cả thành tín, yêu thương, liêm chính, dịu hiền. Đó là một trong những từ ngữ cơ bản tuyên dương giao ước giữa Chúa và dân Người. Và điều có ý nghĩa là từ ngữ đó đếm được 127 lần trong sách Thánh vịnh, hơn một nửa tất cả các lần mà từ ngữ này được nhắc đến trong phần còn lại của Cựu Ước. Rồi tới “emunáh” phát xuất từ cùng một gốc như tiếng Amen, tiếng của đức tin, có nghĩa là sự bền vững, an ninh, sự trung tín vô điều kiện. Tiếp theo là “sedaqah”, công lý, từ này hơn hết có nghĩa là: thái độ thánh thiện và quan phòng của Chúa, qua việc Chúa can thiệp trong lịch sử, Chúa giải phóng người tín hữu khỏi sự dữ và bất công. Sau hết, có từ “mishpát”, xét xử, nhờ đó Chúa quản trị các tạo vật của người cúi xuống trên kẻ nghèo và kẻ bị áp bức và hạ thấp kẻ kiêu ngạo và hống hách.Bốn từ thần học con người cầu nguyện lặp đi lặp lại trong khi tuyên xưng đức tin lúc ông rảo bước trên những nẻo đường thế gian, vì chắc chắn có một Thiên Chúa yêu thương, trung tín, công bình và cứu độ ở bên mình.
5. Cùng với những danh hiệu khác nhau tán dương Chúa, tác giả Thánh vịnh thêm hai hình ảnh gợi ý. Một mặt, sự dư thừa lương thực: điều đó làm người ta nghĩ trước hết đến tiệc thánh, được cử hành trong Đền Thờ Sion với thịt các tế vật. Cũng có nguồn mạch và suối nước, nước không những làm mát cổ họng bị nóng cháy, nhưng cũng làm mát tâm hồn (c. 9-10; Thánh vịnh 41, 2-3; 62, 2-6). Chúa làm thoả mãn và no đầy con người cầu nguyện, và làm cho họ chia sẻ đời sống viên mãn và bất tử của Người.
Bức tranh khác cung cấp một biểu tượng của ánh sáng: “trong ánh sáng Chúa chúng con thấy ánh sáng (c. 10). Đó là một độ sáng chiếu toả như một “thác nước và là một dấu chỉ sự mạc khải của Chúa cho người tín hữu Người. Điều này đã xảy ra cho ông Môisen trên núi Sinai (Xh 34, 29-30) và điều này, xảy đến cho người Kitô hữu tùy mức độ mà, với một bộ mặt bóc trần, phản chiếu vinh quang Thiên Chúa như trong một tấm gương soi, họ được biến đổi thành cũng một hình ảnh đó (2 Cr 3,18). Trong ngôn ngữ Thánh vịnh, “thấy ánh sáng của chân dung Chúa có nghĩa là cách đặc biệt, gặp Chúa đúng lúc, khi cử hành Kinh phụng vụ và nghe Lời Chúa bất cứ lúc nào. Người Kitô hữu cũng có kinh nghiệm này khi đọc Kinh Sáng lúc bình minh, trước lúc đi trên những con đường hằng ngày của sự sống, những con đường không phải luôn ngay thẳng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO







