REDEMTORIS HOMINIS
Thông điệp Đấng Cứu Chuộc con người của Đức Giáo hoàng
Gioan-Phaolô II gửi các anh em trong hàng giám mục, các linh
mục, các dòng tu, các tín hữu nam nữ trong Giáo hội cùng tất cả
mọi người thiện chí vào lúc bắt đầu nhiệm kỳ giáo chủ của người.
Anh em đáng kính, các con thân mến, xin gửi đến anh em và
các con lời chào và chúc lành Tòa thánh.
I. Di sản.
1. Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai.
Đấng Cứu chuộc con người, Đức Giêsu Kitô, là trung tâm vũ
trụ và lịch sử. Tư tưởng và tâm tình tôi hướng cả về Người trong
ngày giờ trọng đại Giáo hội và toàn thể gia đình loài người hiện
nay đang sống. Thật thế, thời buổi Thiên Chúa trong ý định nhiệm
mầu của Ngài đã trao phó cho tôi trách nhiệm kế tiếp vị tiền nhiệm
của tôi là Đức Gioan-Phaolô I, phục vụ mọi người trong cương vị
Tòa thánh Phêrô tại Rôma, thời buổi này đã gần kề năm 2000 lắm
rồi. Thật khó mà nói được ngay từ bây giờ là năm đó sẽ đánh dấu
sự tiến triển của lịch sử nhân loại như thế nào, và năm đó sẽ ra sao
đối với mỗi dân tộc, quốc gia, xứ sở và lục địa, mặc dù ngay từ
bây giờ người ta cũng đang thử đoán trước một số biến cố. Đối với
Giáo hội, đối với dân Thiên Chúa trải rộng đến tận cùng trái đất,
đã hẳn là một cách không đồng đều, năm đó sẽ là một năm kỷ
niệm lớn. Dẫu có phải tôn trọng tất cả những đính chính cần thiết
cho đúng hẳn về thời gian, chúng ta từ nay vẫn khá gần thời điểm
phải nhắc chúng ta nhớ và làm mới lại một cách đặc biệt ý thức về
chân lý then chốt của Đức tin đã được Tin mừng theo thánh Gioan
diễn tả ngay từ những dòng đầu: “Lời đã thành xác phàm và đã lưu
trú nơi chúng tôi” 1 , và chỗ khác nữa: “Thiên Chúa đã yêu thế gian
1 Ga 1,14
đến nỗi đã thí ban Người Con một, ngõ hầu phàm ai tin vào Người
thì khỏi phải hư đi, nhưng được sống đời đời” 2 .
Cả chúng ta nữa, chúng ta đang sống một cách nào đó trong
thời gian của một Mùa Vọng mới, một thời gian mong chờ. “Đã
lắm phen cùng nhiều cách, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông
nơi các tiên tri. Vào thời sau hết, tức là những ngày này, Ngài đã
nói với chúng ta nơi một Người Con…" 3 , nơi Ngôi Lời, Đấng làm
người và sinh bởi Đức Trinh nữ Maria. Ngay trong hành vi cứu
chuộc này, lịch sử con người đã đạt tới đỉnh cao trong ý định yêu
thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã đi vào trong lịch sử nhân
loại và với tư cách là người, Ngài đã trở nên thành phần của lịch
sử, một trong hàng tỷ thành phần khác tuy vẫn là Đấng Duy Nhất.
Nhờ sự Nhập Thể, Thiên Chúa đã ban cho đời sống con người cái
kích thước mà Ngài vốn đã muốn ban cho con người ngay từ giây
phút đầu tiên, và Ngài đã ban dứt khoát, theo cách mà chỉ một
mình Ngài có thể làm, chiếu theo tình yêu muôn đời và lòng nhân
từ của Ngài, với tất cả sự tự do của Thiên Chúa, Ngài cũng đã ban
với tất cả lòng quảng đại khiến chúng ta, dù đứng trước tội nguyên
tổ và tất cả lịch sử tội lỗi của loài người, đứng trước những sai lầm
của trí khôn, của ý chí và trái tim con người, vẫn có thể thán phục
lặp lại những lời Phụng vụ: “Ôi tội hồng phúc bởi đã đem lại cho
chúng ta một Đấng Cứu Chuộc lớn lao như thế” 4 .
2. Những lời đầu tiên của nhiệm kỳ giáo hoàng mới.
Tôi đã đưa tâm tình và tư tưởng tôi lên hướng về Đức Kitô cứu
chuộc ngày 16.10 năm ngoái, sau cuộc bầu cử theo giáo luật, khi
được hỏi: “Ngài có chấp nhận không?”. Lúc đó tôi đã trả lời: “Vì
vâng phục Đức Kitô là Chúa tôi trong đức tin, vì trông cậy vào
Thánh mẫu của Đức Kitô và của Giáo hội, và mặc dầu có những
khó khăn lớn biết bao, tôi xin nhận”. Câu trả lời ấy, tôi muốn công
bố cho tất cả mọi người không trừ ai được biết để chứng tỏ rằng sứ
vụ đã trở nên nghĩa vụ đặc biệt của tôi tại Tòa Thánh Phêrô này
2 Ga 3,16
3 Dt 1,1-2
4 Bài mừng vui lên (Exultet) trong đêm phục sinh.
khi tôi chấp nhận được chọn làm giám mục Rôma và kế vị thánh
tông đồ, cũng là sứ vụ gắn liền với chân lý đầu tiên và căn bản của
mầu nhiệm Nhập thể nhắc đến trên đây.
Tôi đã muốn mang chính những danh hiệu mà Đức Gioan-
Phaolô I, vị tiền nhiệm rất được yêu mến của tôi đã chọn. Quả vậy,
ngày 26.8.1978, khi Người tuyên bố với Đoàn Hồng Y là Người
muốn danh xưng là Gioan Phaolô – một danh hiệu kép như thế
chưa từng có trong lịch sử các giáo hoàng – thì ngay bấy giờ tôi đã
coi đó là một tiếng hùng hồn kêu xin ơn xuống trên nhiệm kỳ giáo
hoàng mới. Vì nhiệm kỳ giáo hoàng này chỉ kéo dài không tới 30
ngày, cho nên phần tôi không những là phải tiếp tục nó mà còn
như phải bắt đầu lại từ cùng một khởi điểm. Đó chính là điều tôi
muốn xác nhận bằng việc chọn danh hiệu kép kia. Làm như thế,
theo gương vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, tôi muốn như Người,
bày tỏ lòng yêu mến di sản đặc thù do hai đức Gioan XXIII và
Phaolô VI để lại cho Giáo hội cũng như cho bản thân tôi sẵn sàng,
nhờ ơn Chúa giúp, làm cho di sản ấy sinh hoa kết quả.
Qua hai tên gọi này và hai triều đại này, tôi liên kết với tất cả
truyền thống của Tông Tòa, cùng với các vị tiền nhiệm của tôi ở
thế kỷ XX và các thế kỷ trước và đi ngược dòng thời gian cho tới
những thời xa xôi nhất, tôi cũng tự nối mình hơn mãi với kích
thước của sứ mệnh và thừa tác vụ đã dành cho Tòa Thánh Phêrô
một chỗ đứng hoàn toàn đặc biệt trong Giáo hội. Đức Gioan XXIII
và Đức Phaolô VI làm thành một giai đoạn mà tôi muốn trực tiếp
tham chiếu như một khởi điểm để từ đó tôi muốn như cùng với
Đức Gioan-Phaolô I tiếp tục tiến về tương lai. Với một lòng tin
tưởng vô biên, tôi sẽ lấy sự tuân phục Chúa Thánh Thần làm chỉ
đạo, Thánh Thần mà Đức Kitô đã hứa và đã gửi đến cho Giáo hội
của Người. Quả vậy, Người đã phán với các tông đồ trước ngày
thụ nạn: “Thầy ra đi thì ích lợi hơn cho anh em, vì nếu Thầy không
ra đi thì Đấng Bàu Chữa không đến với anh em” 5 . “Khi Đấng Bàu
Chữa đến, Đấng Thầy sẽ gửi đến từ nơi Cha, Thần Khí sự thật từ
Cha xuất ra, Ngài sẽ làm chứng về Thầy. Và các anh em cũng làm
chứng vì từ ban đầu anh em hằng ở với Thầy” 6 . “Khi nào Ngài
5 Ga 16,7
đến, vì là Thần khí sự thật, Ngài sẽ đưa anh em vào tất cả sự thật;
vì không phải tự mình mà Ngài nói, nhưng nghe gì Ngài sẽ nói ra
và Ngài sẽ loan báo cho anh em những điều sẽ đến” 7 .
3. Tin tưởng ở Thánh Thần chân lý và tình thương.
Vậy với lòng tin tưởng hoàn toàn ở Thánh Thần chân lý, tôi
bước vào trong di sản phong phú của các nhiệm kỳ giáo hoàng vừa
qua. Di sản này ăn rễ vững chắc vào ý thức Giáo hội, một cách
hoàn toàn mới mẻ và chưa từng thấy từ trước đến nay, nhờ Công
đồng Vat.II do Đức Gioan XXIII đã triệu tập và bắt đầu rồi do
Đức Phaolô VI đã kết thúc một cách tốt đẹp và kiên trì đem ra
thực hành. Tôi đã có thể quan đát thật gần hoạt động của Đức
Phaolô VI. Tôi đã luôn luôn cảm phục sự khôn ngoan sâu sắc và
lòng dũng cảm của Người, cũng như sự bền chí kiên tâm của
Người trong thời Hậu Công đồng đầy khó khăn của nhiệm kỳ
Người. Là kẻ cầm lái Giáo hội, con thuyền của Thánh Phêrô,
Người đã biết giữ sự bình tĩnh và quân bình được Chúa sắp đặt cả
trong những lúc gay go nhất, khi mà Giáo hội như bị lay chuyển từ
bên trong, và Người đã luôn giữ vững một niềm cậy trông không
thể giao động vào sự đồng tâm nhất trí của Giáo hội, Bởi vì điều
mà Thánh Thần đã dùng Công đồng vừa rồi để nói với Giáo hội
trong thời đại chúng ta, điều mà trong Giáo hội này, Thánh Thần
đang nói với tất cả các Giáo hội 8 , điều ấy chỉ có thể – mặc dù đôi
lúc có những lo âu – làm cho dân Thiên Chúa ý thức về sứ mệnh
cứu độ của mình mà đồng tâm nhất trí hơn nữa.
Đức Phaolô VI đã lấy ý thức hiện đại của Giáo hội làm đề tài
đầu tiên cho Thông điệp căn bản của Người, Thông điệp mở đầu
bằng mấy chữ Ecclesiam suam (Giáo hội của Đức Kitô ). Tôi xin
được tham chiếu Thông điệp ấy trước hết và liên hệ với nó trong
văn kiện đầu tiên cũng được kể là văn kiện khai mạc nhiệm kỳ
giáo hoàng này. Nhờ Thánh Thần soi sáng và nâng đỡ Giáo hội
ngày càng có một ý thức sâu sắc hơn về mầu nhiệm thiên linh của
6 Ga 15,26-27
7 Ga 16,13
8 x. Kh 2,7
mình, về sứ mệnh nhân gian và cả về những yếu đuối phàm nhân
của mình: chính ý thức ấy là và phải còn là nguồn mạch đầu tiên
cho lòng yêu thương Giáo hội, cũng như lòng yêu thương lại góp
phần củng cố và đào sâu ý thức ấy. Đức Phaolô VI đã để lại cho
chúng ta bằng chứng một ý thức hết sức sắc bén về Giáo hội. Qua
nhiều hợp tố phức tạp lắm khi đầy day dứt của nhiệm kỳ Người,
Người đã dạy cho chúng ta một tình yêu kiên cường đối với Giáo
hội là “Bí tích, nghĩa là vừa là dấu chỉ vừa là phương thế cho sự
kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và cho sự thống nhất toàn thể
loài người”, như Công đồng đã nói 9 .
4. Tham chiếu Thông điệp đầu tiên của Đức Phaolô VI.
Chính vì lý do trên mà ý thức Giáo hội phải đi đôi với một thái
độ cởi mở đối với tất cả để mọi người tìm được nơi Giáo hội “sự
phong phú khôn dò của Đức Kitô” 10 mà vị tông đồ các dân ngoại
nói tới. Sự cởi mở này, nối kết một cách hữu cơ với ý thức về bản
chất của Giáo hội, với xác tín về chân lý của Giáo hội như Đức
Kitô đã dạy: “Lời anh em nghe đây không phải là của Thầy nhưng
là của Cha, Đấng đã sai Thầy” 11 , chính sự cởi mở như thế quy định
tính năng động tông đồ, nghĩa là tính năng động thừa sai của Giáo
hội vẫn tuyên xưng và công bố toàn vẹn tất cả chân lý đã được
Đức Kitô truyền đạt cho. Đồng thời Giáo hội cũng phải thiết lập
cuộc “đối thoại” mà Đức Phaolô VI trong Thông điệp Giáo hội
Đức Kitô đã gọi là “đối thoại cứu độ”, khi vạch rõ từng phạm vi
một trong các phạm vi đối thoại 12 . Ngày nay khi tham chiếu văn
kiện đó là văn kiện đã xác định chương trình nhiệm kỳ giáo hoàng
của Đức Phaolô VI, tôi không ngừng cảm tạ Thiên Chúa, bởi vì vị
tiền nhiệm lớn này đồng thời cũng thật là người cha đối với tôi, đã
biết bày tỏ cho bên ngoài, ad extra, khuôn mặt đích thực của Giáo
hội, mặc dù đã có những yếu kém xảy ra trong Giáo hội thời hậu
Công đồng. Nhờ vậy một phần lớn gia đình nhân loại, trong những
môi trường khác nhau của cuộc sống phức tạp, theo như tôi nghĩ,
9 LG 1; AAS 57, 1965,5.
10 Ep 3,8
11 Ga 14,24
12 Thông điệp ES, AAS 56, 1964, 650 tt.
đã ý thức hơn là mình tuyệt đối cần đến Giáo hội của Đức Kitô,
cần đến sứ vụ và việc phục vụ của Giáo hội. Ý thức ấy đôi khi đã
tỏ ra mạnh mẽ hơn những thái độ phê phán công kích Giáo hội từ
bên trong, ab intra, công kích các thể chế và cơ cấu của Giáo hội,
các thành phần của Giáo hội và hoạt động của họ. Việc phê phán
ngày càng tăng thêm này dĩ nhiên đã có những nguyên nhân khác
nhau, và chúng ta chắc chắn rằng không phải bao giờ nó cũng
thiếu một lòng yêu mến đích thực đối với Giáo hội. Đã đành nó
biểu lộ cùng với điều này điều nọ khuynh hướng muốn ra khỏi cái
gọi là óc hiếu thắng đã hay được bàn đến trong thời gian Công
đồng. Nhưng nếu quả thật Giáo hội, theo gương Thầy mình là
Đấng “khiêm nhượng trong lòng” 13 cũng đặt nền tảng của mình
trên đức khiêm tốn, có tinh thần phê phán đối với tất cả những gì
làm nên tính cách và hoạt động phàm nhân của mình, luôn nghiêm
khắc đối với chính mình, thì những kẻ phê phán Giáo hội, về phần
họ, cũng phải giữ những giới hạn phải chăng. Bằng không việc
phê phán không còn là xây dựng, không còn tỏ bày chân lý, lòng
biết ơn đối với ân sủng mà chúng ta được chia sẻ một cách chính
yếu và đầy đủ trong Giáo hội và nhờ Giáo hội. Ngoài ra, óc phê
phán không nói lên thái độ phục vụ mà chỉ để lộ ý muốn điều
khiển ý kiến kẻ khác theo ý kiến riêng của mình và ý kiến riêng
này lắm khi lại được công bố một cách quá nhẹ dạ.
Chúng ta phải biết ơn Đức Phaolô VI vì người vừa tôn trọng
từng mảnh chân lý trong các ý kiến khác nhau của loài người, vừa
giữ được sự quân bình cần thiết của người lái tàu 14 . Giáo hội được
giao phó cho tôi hầu như liền sau Người – thông qua Đức Gioan-
13 Mt 11,29
14 Ở đây phải lưu ý các văn kiện chính trong thời đại Đức Phaolô VI. Chính
Ngài đã trích dẫn một số các văn kiện đó trong bài giảng ngày lễ mừng kính
trọng thể Thánh Phêrô và Phaolô 1978. Tđ ES: AAS 56, 1964, 609-659; Tông
thư investigabiles divitias Christi : AAS 57, 1965, 298-301; Tđ Mysterium fidei
: AAS 57, 1965, 753-774; Tđ Sacerdotalis caelibatus : AAS 59, 1967, 657-696;
Sollemnis Professie Fidei : AAS 60, 1968, 433-445; Tđ Humanae vitae : AAS
60,1968,481-503; Tông huấn Quinque iam anni : AAS 63, 1971, 97-106; Tông
huấn Evangelica testificatio: AAS, 63, 1971, 487-535; Tông huấn Paterna cum
benevolentia: AAS 67, 1975, 5-23; Tông huấn Gaudete in Domini: AAS 67,
1975, 289-322; Tông huấn Evangelii nuntiandi: AAS 68, 1976, 5-76.
Phaolô I – chắc hẳn không thiếu những khó khăn và căng thẳng
bên trong. Nhưng đồng thời Giáo hội được phòng bị tốt hơn từ bên
trong để chống lại những cái quá đáng của việc tự phê: nói được là
Giáo hội sẵn tinh thần phê phán hơn đối với những thứ phê phán
nhẹ dạ, có sức kháng cự hơn trước những cái “mới lạ”, chín chắn
hơn trong sự cân nhắc, có khả năng hơn để rút ra từ kho tàng vĩnh
cửu của mình “cái mới và cái cũ” 15 , biết tập trung hơn vào chính
mầu nhiệm mình, và nhờ tất cả những mặt tích cực đó, sẵn sàng
hơn để thi hành sứ mệnh cứu độ mọi người: Thiên Chúa “muốn
cho mọi người được cứu thoát và được nhìn biết sự thật” 16 .
5. Tập đoàn tính và việc tông đồ.
Trái với mọi vẻ bề ngoài Giáo hội ngày nay hiệp nhất hơn
trong sự hiệp thông phục vụ và trong ý thức tông đồ. Sự hiệp nhất
này xuất phát từ nguyên tắc tập đoàn tính được Công đồng Vat.II
nhắc lại và chính Đức Kitô đã ban cho Đoàn mười hai tông đồ,
đứng đầu là thánh Phêrô, và Người ban lại liên tục cho Đoàn Giám
mục. Đoàn giám mục này không ngừng gia tăng trên khắp thế giới
mà vẫn hiệp nhất với Đấng kế vị Thánh Phêrô và do Người lãnh
đạo. Công đồng không những đã nhắc lại nguyên tắc tập đoàn này
của các giám mục, mà còn đem lại cho nó một sức sống mãnh liệt,
như khi ước mong thành lập một cơ cấu thường trực, mà Đức
Phaolô VI đã thực hiện, đó là thượng hội đồng các giám mục.
Hoạt động của hội đồng này đã đem lại cho nhiệm kỳ Giáo hoàng
của Người một kích thước mới và hơn nữa đã phản chiếu rõ ràng
ngay từ những ngày đầu tiên trên nhiệm kỳ Đức Gioan-Phaolô I và
trên nhiệm kỳ của kẻ kế vị bất xứng này.
Nguyên tắc tập đoàn đã chứng tỏ là rất hợp thời trong thời khó
khăn hậu Công đồng: Lúc ấy giám mục đoàn đã bày tỏ sự hiệp
nhất với Người kế vị thánh Phêrô, nhất là qua thượng hội đồng.
Lập trường chung và nhất trí của các giám mục đã góp phần đánh
tan những mối nghi ngờ và cũng vạch ra cho thấy con đường đúng
để canh tân Giáo hội trên khắp thế giới. Quả thế, từ Thượng hội
15 Mt 13,52
16 1Tm 2,4
đồng đã phát sinh, bên cạnh những hoa trái khác, cái sức đẩy thiết
yếu hướng về việc phúc âm hóa; sức đẩy này đã được diễn tả trong
Tông Huấn Evangelii Nuntiandi 17 (rao giảng Tin mừng) mà người
ta đã hân hoan đón tiếp như là chương trình canh tân có tính cách
vừa tông đồ, vừa mục vụ. Cũng một đường hướng như thế đã được
tiếp tục trong khóa họp thường lệ sau cùng của Thượng hội đồng
một năm trước khi Đức Giáo hoàng Phaolô VI từ trần. Như mọi
người biết, khóa họp đã bàn về việc huấn giáo. Hiện Tòa thánh
còn đang phải tổng hợp những kết quả của khóa làm việc này và
soạn thành những văn kiện chính thức.
Vì chúng ta đang nói tới sự phát triển hiển nhiên từ những hình
thức biểu lộ tập đoàn tính của các giám mục, thì ít nữa cũng phải
nhắc lại quá trình củng cố các hội đồng giám mục quốc gia trong
toàn thể Giáo hội, và những cơ cấu tập đoàn khác có tính cách
quốc tế hay lục địa. Chiếu theo truyền thống lâu đời của Giáo hội,
cũng nên chú ý đến hoạt động của các hội đồng địa phương. Thật
vậy, ý tưởng của Công đồng như Đức Phaolô VI đã đem ra thực
hiện một cách mạch lạc, là những cơ cấu loại ấy, đã từng được
Giáo hội thí nghiệm từ bao nhiêu thế kỷ, và cả những hình thức
cộng tác tập đoàn khác giữa các giám mục, chẳng hạn như giáo
tỉnh, chưa nói tới riêng mỗi giáo phận, đều hoạt động với ý thức
đầy đủ về chân tính của mình và đồng thời về tính cách độc đáo
của mình trong sự duy nhất của Giáo hội ở khắp thế giới. Cũng
một tinh thần cộng tác và đồng trách nhiệm như thế đang lan ra
giữa các linh mục nữa, bằng chứng là rất nhiều hội đồng linh mục
đã ra đời sau Công đồng. Tinh thần này cũng đã lan rộng tới các
giáo dân, không những xác nhận những tổ chức tông đồ giáo dân
sẵn có mà còn tạo nên những cơ cấu mới lắm lúc mang một sắc
thái khác và một sức bật phi thường. Ngoài ra, người giáo dân ý
thức về trách nhiệm của họ trong Giáo hội, đã tự nguyện dấn thân
cộng tác với các chủ chăn, với các đại diện các dòng tu, trong
khuôn khổ những hội đồng giáo phận hoặc những hội đồng mục
vụ của các giáo xứ và giáo phận.
17 Phaolô VI, EN : AAS 68, 1976, 5-76
Tôi phải nghĩ tới tất cả những điều ấy khi bắt đầu nhiệm kỳ
giáo hoàng của tôi để cảm tạ Thiên Chúa, để thiết tha khuyến
khích tất cả các anh em chị em tôi và cũng để nhắc lại với lòng
biết ơn sâu đậm công trình của Công đồng Vat.II và của các vị
tiền nhiệm của tôi đã tạo nên đà tiến mới cho đời sống Giáo hội,
một đà tiến mạnh mẽ hơn hẳn những triệu chứng ngờ vực, đổ vỡ,
khủng hoảng.
6. Đường đưa tới sự hiệp nhất các Kitô hữu.
Và phải nói thế nào về tất cả những sáng kiến do chiều hướng
đại kết mới đã dấy lên ? Đức Gioan XXIII, vị Giáo chủ không ai
quên được, một cách sáng sủa như Tin mừng, đã đặt vấn đề hiệp
nhất các Kitô hữu như một hậu quả tất nhiên của ý muốn của
chính Chúa Giêsu Kitô, vị thầy chúng ta, đã khẳng định nhiều lần
và diễn tả một cách đặc biệt trong lời cầu nguyện tại phòng tiệc ly,
trước ngày Người chịu chết: “Lạy Cha… con cầu xin … để tất cả
nên một” 18 . Công đồng Vat.II đáp lại đòi hỏi này dưới một hình
thức gọn ghẽ là sắc lệnh về Đại kết. Đức Giáo hoàng Phaolô VI
dựa vào sinh hoạt của văn phòng hiệp nhất Kitô hữu đã đi những
bước đầu khó khăn trên con đường thực hiện sự hiệp nhất ấy.
Chúng ta đã đi khá xa chưa trên con đường này ? Không dám đưa
ra một câu trả lời chi tiết, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đã có
những bước tiến thực sự và những bước tiến quan trọng. Và một
điều chắc chắn là chúng ta đã làm một cách kiên trì và mạch lạc,
và còn có những đại diện của các Giáo hội và các cộng đoàn Kitô
hữu khác cùng đi với chúng ta nữa. Chúng ta thành thật biết ơn họ.
Một điều chắc chắn nữa là trong hoàn cảnh lịch sử hiện nay của
Kitô giáo và của thế giới, không thấy có khả năng nào khác để
hoàn thành sứ mạng phổ quát của Giáo hội trong những gì liên
quan tới các vấn đề đại kết, ngoài khả năng tìm kiếm một cách
ngay thẳng, bền chí, khiêm tốn và can đảm nữa, những con đường
xích lại gần nhau và hiệp nhất, như Đức Phaolô VI đã đích thân
nêu gương cho chúng ta. Vậy chúng ta đã tìm kiếm sự hiệp nhất
mà không nản lòng trước những khó khăn có thể xẩy đến hoặc
18 Ga 17,21; x. Ga 17,11.22-23; Ga 10,16; Lc 9,49-50.54
chồng chất dọc theo con đường này; bằng không, chúng ta sẽ
không trung thành với Lời Đức Kitô, chúng ta sẽ không thi hành
lời di chúc của Người. Có được phép liều lĩnh như vậy không ?
Có những kẻ vì gặp phải những khó khăn hay vì đánh giá các
kết quả của những công việc đại kết đầu tiên là tiêu cực, có lẽ đã
muồn trở gót. Có người còn nói ra cả ý kiến là những nỗ lực kia có
hại cho sự nghiệp Tin mừng, dẫn tới một sự đổ vỡ mới trong Giáo
hội, tạo nên tình trạng lù mù tư tưởng trong các vấn đề đức tin và
đạo đức, cuối cùng đưa tới một chủ trương dửng dưng tiêu biểu.
Các phát ngôn viên của những ý kiến như thế có nói ra những lo
ngại âu cũng là điều hay, nhưng ở đây cũng thế, cần phải giữ
những giới hạn đúng đắn. Hiển nhiên là giai đoạn mới này trong
đời sống Giáo hội đòi hỏi chúng ta phải có một đức tin đặc biệt có
ý thức, sâu sắc và có tinh thần trách nhiệm. Sinh hoạt đại kết đích
thực có nghĩa là cởi mở, xích lại gần, sẵn sằng đối thoại, cùng
nhau tìm kiếm chân lý theo nghĩa hoàn toàn Phúc âm và Kitô giáo;
nhưng nó không hề có nghĩa và không thể có nghĩa là người ta từ
bỏ hoặc làm phương hại cách nào tới những kho tàng chân lý của
Thiên Chúa vẫn không ngừng được Giáo hội tuyên xưng và giảng
dạy. Với tất cả những ai, bất kỳ vì lý do nào, muốn khuyên can
Giáo hội đừng tìm đến một sự hiệp nhất tất cả mọi Kitô hữu, ta
cần phải nhắc lại một lần nữa: chúng ta có được phép không làm
việc đó chăng ? Mặc dù tất cả sự yếu đuối loài người, tất cả mọi
thiếu sót chồng chất trong các thế kỷ qua – chúng ta có được phép
không tin tưởng vào ơn sủng Chúa chúng ta, như thấy tỏ ra gần
đây bằng lời Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã nghe trong Công
đồng chăng ? Làm như thế, chúng ta sẽ chối bỏ chân lý liên quan
tới chính chúng ta và đã được Thánh Phaolô tông đồ diễn tả một
cách hùng hồn biết bao: “Hiện tôi có là gì, là bởi ơn Thiên Chúa,
và ơn Ngài ban cho tôi đã không ra vô ích” 19 .
Cho dù theo cách nào khác và với những dị biệt cần thiết cũng
cần áp dụng những suy nghĩ trên đây vào hoạt động nhằm xích lại
các đại diện của các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Hoạt động này diễn
ra trong các cuộc đối thoại, tiếp xúc, cầu nguyện chung, nghiên
19 1Cr 15,10
cứu các kho tàng linh đạo của loài người, vì chúng ta biết rõ là các
thành phần của những tôn giáo đó không thiếu những kho tàng
như thế. Phải chăng nhiều khi lòng tin vững chắc của các thành
phần những tôn giáo ngoài Kitô giáo – vốn cũng là hiệu quả của
Thánh Thần chân lý tác động xa hơn những biên giới hữu hình của
Thân mình mầu nhiệm – lòng tin ấy đáng làm cho các Kitô hữu hổ
thẹn vì quá nhiều khi họ đâm ra nghi ngờ những chân lý do Thiên
Chúa mạc khải và Giáo hội rao giảng, vì họ quá dễ dàng buông
lỏng các nguyên tắc luân lý và mở rộng cửa cho một thứ luân lý
tùy tiện ? Sẵn sàng hiểu từng người, phân tách từng hệ thống, nhìn
nhận những gì đúng, đều là thái độ cao quý, nhưng như thế không
hề có nghĩa là bỏ mất xác tín về đức tin của mình 20 hoặc làm suy
yếu các nguyên tắc luân lý. Nếu không có những nguyên tắc luân
lý này thì người ta sẽ chóng cảm thấy ảnh hưởng trong đời sống
của trọn cả nhiều xã hội vì những hậu quả tai hại do đó mà sinh ra,
chưa kể nhiều chuyện khác.
II. Mầu Nhiệm Cứu Độ.
7. Trong mầu nhiệm Đức Kitô .
Những con đường mà Công đồng thế kỷ chúng ta đã đưa Giáo
hội vào và Đức Cố Giáo hoàng Phaolô VI đã chỉ rõ cho chúng ta
trong Thông điệp đầu tiên của Người, sẽ vẫn còn là con đường mà
tất cả chúng ta đều phải theo. Nhưng đồng thời, trong chặng
đường mới này, chúng ta có thể tự hỏi một cách chính đáng: phải
tiến tới như thế nào, theo cách thức nào? Phải làm gì để cho Mùa
Vọng mới này của Giáo hội, mùa vọng liên hệ tới những năm cuối
thiên niên kỷ thứ hai, đưa chúng ta lại gần Đấng mà Kinh Thánh
gọi là Cha muôn thuở “Pater Futuri Saeculi” 21 . Đó là câu hỏi căn
bản mà vị tân Giáo hoàng phải đặt ra cho mình, khi lấy tinh thần
vâng phục trong đức tin mà nhận lệnh Đức Kitô đã nhiều lần
truyền trao cho Phêrô và nay trở nên tiếng gọi cho mình: “Hãy
chăn giữ chiên của ta” 22 , có nghĩa là: hãy làm kẻ chăn đàn chiên
20 x. Vat.I Dei Filius, ch.III De Fide, s.6: Conciliorum Oecumenicorum
Decreta, nxb Istituto per le Scienze Religiose, Bologna 1973. tr. 811.
21 Is 9,6
của ta, và sau nữa: ”…Phần anh, khi trở lại rồi, thì lo cho anh em
được vững mạnh” 23 .
Anh em và các con rất thân mến, chính ở đây đã sẵn một câu
trả lời căn bản và cốt yếu, tức là : định hướng duy nhất cho tinh
thần, hướng đi duy nhất cho trí tuệ, cho ý chí, cho lòng ta là Chúa
Kitô, Đấng cứu chuộc con người, Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc thế
giới. Chúng ta muốn đưa mắt hướng về Người, bởi vì chỉ nơi
Người, Con Thiên Chúa, mới có ơn cứu độ, và chúng ta lặp lại lời
tuyên xưng của Phêrô : “Lạy Thầy, chúng tôi sẽ đi đến cùng ai
nữa ! Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời” 24 .
Nhờ Công đồng, Giáo hội đã phát triển thật tốt ý thức về chính
mình. Nay ở mọi bình diện của ý thức ấy, trong mọi địa hạt sinh
hoạt là chỗ Giáo hội tự diễn tả mình, tự gặp lại mình, tự khẳng
định mình, chúng ta luôn luôn vươn tới Đấng “là đầu" 25 , Đấng mà
“mọi sự có tự Người, và chúng ta cũng có tự Người" 26 , Đấng vừa
“là đường, là sự thật” 27 , vừa là “sự sống lại và là sự sống” 28 , Đấng
mà hễ chúng ta thấy Người là thấy Cha 29 , Đấng phải lìa biệt chúng
ta mà đi 30 – ta hãy hiểu là : Người phải chết trên thập giá và sau đó
siêu thăng lên trời – để cho Đấng an ủi đến và tiếp tục đến mãi với
chúng ta như thần khí của sự thật 31 . Nơi Người có “hết thảy mọi
kho tàng khôn ngoan thông thái” 32 và Giáo hội là thân mình
Người 33 . Giáo hội trong Chúa Kitô, là như bí tích, tức là dấu chỉ và
phương thế cho sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và sự hiệp
nhất toàn thể nhân loại” 34 . Và Người là nguồn! Chính Người,
22 Ga 21,15
23 Lc 22,32
24 Ga 6,68; x Cv 4,8-12
25 x. Ep 1,10.22; 4,25; Cl 1,18
26 1Cr 8,6 ;x. Cl 1,17
27 Ga 14,6
28 Ga 11,25
29 x. Ga 14,9
30 x. Ga 16,7
31 x. Ga 16,7.13
32 Cl 2,3
33 x. Rm 12,5; 1Cr 6,15; 10,17; 12,12.27; Ep 1,23; 2,16; 4,4; Cl 1,24; 3,15
34 Vat.II LG 1; AAS 57, 1965,5
Người là Đấng cứu chuộc!
Giáo hội không ngừng lắng nghe, đọc đi đọc lại các lời của
Người, và hết lòng mộ mến tìm lại tất cả mọi chi tiết đời Người.
Những Lời ấy, cũng được cả những người ngoài Kitô giáo lắng
nghe. Cuộc đời Đức Kitô đồng thời nói với nhiều người hiện chưa
thể lặp lại như thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô , Con Thiên Chúa
hằng sống” 35 . Là Con Thiên Chúa hằng sống, Người còn nói với
người ta với tư cách là người nữa: chính cuộc đời của Người, nhân
tính của Người, sự trung thành của Người đối với chân lý, lòng
yêu thương của Người lan rộng tới mọi người tất cả đều nói. Sự
chết của Người trên thập giá tức là chiều sâu khôn dò của những
thống khổ và cảnh bị bỏ rơi của Người cũng nói. Giáo hội không
bao giờ thôi sống lại cái chết của Người trên thập giá và sự phục
sinh của Người: đó là nội dung sự sống hằng ngày của Giáo hội.
Quả thế, do sự uỷ thác của chính Đức Kitô, thầy của mình, Giáo
hội không ngừng cử hành nhiệm tích Thánh Thể, tìm thấy ở đó
“nguồn sống và nguồn thánh thiện” 36 , dấu chỉ kiến hiệu của ân
sủng và sự giao hòa với Thiên Chúa, bảo chứng cho sự sống đời
đời. Giáo hội sống mầu nhiệm Đức Kitô, hưởng dùng mầu nhiệm
ấy mà không hề mỏi mệt và liên tục tìm mọi cách để làm cho mầu
nhiệm Thầy và Chúa mình gần gũi với loài người, với các dân tộc,
các nước, các thế hệ nối tiếp nhau, với riêng từng người, như thế,
Giáo hội theo gương thánh Tông đồ mà cứ lặp lại mãi: “Ở nơi anh
em, tôi đã quyết chẳng muốn biết gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô,
và là Đức Giêsu Kitô đã bị đóng đinh” 37 . Giáo hội ở lại trong cõi
mầu nhiệm cứu chuộc, và đích thị mầu nhiệm ấy đã trở nên
nguyên lý căn bản cho sự sống và sứ mệnh của Giáo hội.
8. Cứu chuộc: tạo thành được đổi mới.
Đấng cứu chuộc thế gian ! nơi Ngài đã được mạc khải một
cách mới mẻ và kỳ diệu hơn chân lý căn bản về thế giới thụ tạo,
điều mà sách Sáng thế xác nhận khi lặp đi lặp lại nhiều lần: “Thiên
35 Mt 16,16
36 x. Kinh cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu.
37 1Cr 2,2
Chúa thấy như thế là tốt lành” 38 . Sự thiện bắt nguồn từ sự khôn
ngoan và từ tình thương yêu. Thế giới hữu hình Thiên Chúa đã
dựng nên cho con người 39 , thế giới đã phải lụy phục sự hư nát khi
tội lỗi lọt vào 40 , thế giới ấy nay tìm lại được trong Đức Giêsu Kitô
mối tương quan nguyên thủy với ngọn nguồn khôn ngoan và yêu
thương là Thiên Chúa. Thật thế, “Thiên Chúa đã yêu thương thế
gian đến nỗi đã ban Con Một mình” 41 . Mối tương quan kia đã bị
đứt mất nơi con người – Ađam thế nào thì nay nơi con người – Đức
Kitô đã được nối lại như thế 42 . Có lẽ chúng ta là người của thế kỷ
20, chúng ta không xác tín về những lời mà vị tông đồ của các dân
tộc đã nói ra một cách hùng hồn lôi cuốn về “tạo thành, cùng nhau
rên xiết, cùng nhau quằn quại như ở cữ cho đến bây giờ” 43 và đang
“ngong ngóng trông chờ việc mặc khải con cái Thiên Chúa” 44 , về
“cõi tạo thành “đã phải chịu lâm cảnh hư luống” ? Nhưng chính sự
tiến bộ bao la, trước đây không hề có, đã tỏ hiện đặc biệt vào thế
kỷ chúng ta trong địa hạt con người làm chủ thế giới, lại chẳng
cho thấy sự lâm vào cảnh “hư luống” đủ cách và tới mức độ chưa
từng biết đó sao ? Ở đây chỉ cần nhắc lại một vài sự kiện như là
nguy cơ ô nhiễm môi trường thiên nhiên ở những nơi được công
nghiệp hóa nhanh chóng, hoặc những cuộc xung đột vũ trang cứ
bùng nổ và tái diễn liên miên, hoặc là viễn tượng tự diệt bằng các
vũ khí nguyên tử, khinh khí và trung hòa tử và những loại khác
tương tự, sự thiếu tôn trọng đối với trẻ thơ còn trong lòng mẹ. Thế
giới của thời đại mới, thế giới của những chuyến bay vũ trụ, thế
giới của những chinh phục về khoa học và kỹ thuật chưa hề bao
giờ đạt được, phải chăng đồng thời cũng là thế giới “rên xiết và
quằn quại như ở cữ” 45 và “ngong ngóng mong chờ sự mặc khải con
cái Thiên Chúa”? 46
38 x. St 1, trong suốt chương 4 (passim)
39 x. St 1,26-30
40 x. Rm 8,20; hoặc 8,19-22; Vat.II GS 2.13
41 Ga 3,16
42 x. Rm 5,12-21
43 Rm 8,22
44 Rm 8,19
45 Rm 8,22
46 Rm 8,19
Công đồng Vat.II khi phân tích sâu sắc “thế giới hiện thời” đã
đạt tới điểm quan trọng hơn cả của thế giới hữu hình, tức là con
người, bằng cách như Đức Kitô đi vào tận chỗ thâm sâu nhất trong
ý thức con người cho thấu tới mầu nhiệm bên trong của con người
mà ngôn ngữ Kinh Thánh và cả Kinh Thánh diễn tả bằng chữ
“lòng dạ”. Đức Kitô, Đấng cứu chuộc thế giới, là Đấng đã đi vào
mầu nhiệm con người một cách độc nhất vô nhị và đã vào trong
“lòng dạ” con người. Cho nên Công đồng Vat.II dạy một cách
đích đáng rằng: “Thực vậy, mầu nhiệm con người chỉ thực sự sáng
tỏ là trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Bởi vì Ađam, con
người đầu tiên đã là hình bóng của Đấng sẽ đến (Rm 5,14), là
Chúa Kitô. Là Ađam mới, Chúa Kitô, trong chính mặc khải về
Chúa Cha và tình yêu thương của Ngài, đã tỏ cho con người biết
rõ chính mình và thấy được thiên chức cao cả của họ. Và còn dạy :
Là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), Người là con
người hoàn hảo đã phục hồi trong dòng dõi Ađam hình ảnh Thiên
Chúa đã lu mờ vì tội nguyên tổ. Bởi vì nơi Người, bản tính nhân
loại đã được đảm nhận chứ không bị nuốt mất, chính nhờ đó cả
nơi chúng ta nữa, bản tính ấy cũng được nâng lên một phẩm giá vô
song. Vì do mầu nhiệm Nhập thể, Con Thiên Chúa đã như tự kết
hiệp chính mình với mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con
người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí
con người, đã yêu thương với lòng dạ con người. Sinh bởi Đức
Trinh nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng
ta, “giống chúng ta về mọi mặt, ngoại trừ tội lỗi” 47 . Người là Đấng
cứu chuộc con người !
9. Kích thước Thiên Chúa của mầu nhiệm cứu chuộc.
Khi suy nghĩ lại về bản văn đáng phục trên của Công đồng,
chúng ta không quên, cho dù trong khoảnh khắc, rằng Đức Giêsu
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, đã trở nên mối giao hòa chúng
ta với Chúa Cha 48 , Chính Người và duy một mình Người đã đáp
ứng đầy đủ lòng yêu mến đời đời của Chúa Cha, đáp ứng tình cha
mà Thiên Chúa đã tỏ ra từ thuở ban đầu khi tạo dựng thế giới, khi
47 GS 22
48 x. Rm 5,11; Cl 1,20
ban cho con người tất cả sự phong phú của giới thọ tạo, khi tác
thành con người “không thua kém các thiên thần bao nhiêu” 49 vì
được dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa” 50 Đức Kitô đã đáp ứng
đầy đủ tình cha và lòng yêu mến đó của Thiên Chúa, khi mà con
người đã từ chối lòng yêu mến đó bằng việc phá vỡ giao ước đầu
tiên 51 và tất cả những giao ước mà về sau Thiên Chúa đã nhiều lần
ban tặng cho loài người 52 . Việc cứu chuộc thế giới là mầu nhiệm
kinh hồn của lòng yêu mến đã canh tân giới thụ tạo 53 . Từ những
cội rễ sâu xa nhất, đó là sự đầy đủ công chính trong trái tim một
con người, trong trái tim người Con đầu lòng, để có thể trở nên sự
công chính trong lòng nhiều người, những ai từ đời đời đã được
tiền định trong lòng người Con đầu lòng ấy, để trở nên con cái
Thiên Chúa 54 và được kêu gọi đón nhận ân sủng và đến với lòng
yêu mến. Thập giá núi sọ, trên đó Đức Giêsu Kitô – là người, là
con Trinh nữ Maria, được coi là con của Giuse ở Nadaret – “lìa
khỏi” thế gian này, thập giá ấy đồng thời cũng là một biểu lộ mới
về tình Cha đời đời của Thiên Chúa là Đấng trong Đức Kitô lại trở
nên gần gũi với nhân loại, với mọi người, khi ban cho họ “Thần
khí sự thật” ba lần thánh 55 .
Việc mặc khải Chúa Cha và đổ tràn Thánh Thần như thế in dấu
khôn nhòa vào mầu nhiệm cứu chuộc, làm cho ta hiểu ý nghĩa của
thập giá và sự chết của Đức Kitô . Thiên Chúa tạo thành tự mặc
khải mình là Thiên Chúa cứu chuộc, Thiên Chúa “trung tín với
chính mình” 56 , trung tín với lòng Ngài thương yêu con người và
thế giới, như Ngài đã từng tự mặc khải trong ngày tạo dựng. Và
lòng yêu mến của Ngài là một lòng yêu mến không lùi bước trước
bất cứ điều gì mà sự công chính của Ngài đòi hỏi. Vì thế cho nên
Con của Ngài, “Đấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa đã làm cho
49 Tv 8,6
50 x. St 1,26
51 x. St 3,6-13
52 x. Kinh nguyện thánh thể IV.
53 x. GS 37; LG 48
54 x. Rm 8,29-30; Ep 1,8
55 x. Ga 16,13
56 x. 1Tx 5,24
thành sự tội vì ta” 57 . Nếu Ngài đã làm cho Đấng tuyệt đối vô tội
“thành sự tội” thì chính là để mặc khải lòng yêu mến bao giờ cũng
lớn lao hơn tất cả mọi thụ tạo, lòng yêu mến là chính mình Ngài,
“vì Thiên Chúa là lòng yêu mến” 58 và nhất là lòng yêu mến lớn
hơn tội lỗi, lớn hơn sự yếu đuối và sự hư luống của tạo vật 59 , mạnh
hơn sự chết; đó là một lòng yêu mến luôn luôn sẵn sàng đi đón
đứa con hoang đàng 60 , luôn luôn tìm kiếm “việc mặc khải con cái
Thiên Chúa” 61 , là những kẻ đã được gọi đến vinh quang 62 . Lòng
yêu mến được mặc khải đây cũng là lòng nhân từ 63 , và sự mặc khải
lòng yêu mến và lòng nhân từ này trong lịch sử con người có một
khuôn mặt và một tên gọi: đó là Đức Giêsu Kitô.
10. Kích thước con người của mầu nhiệm cứu chuộc.
Con người không thể sống mà không có tình yêu thương. Con
người vẫn là một cái gì không thể hiểu được đối với chính mình,
cuộc sống con người mất ý nghĩa nếu không nhận lấy mặc khải về
tình yêu thương, nếu không gặp tình yêu thương và không chiếm
tình yêu thương thành của mình, không dự phần vào đó cách mãnh
liệt. Cho nên, như đã nói, Đức Kitô cứu chuộc mặc khải đầy đủ về
con người cho chính con người. Có thể nói đó là kích thước con
người của mầu nhiệm cứu chuộc. Trong kích thước này, con người
tìm lại được sự cao cả, phẩm cách và giá trị đặc biệt của nhân tính
mình. Trong mầu nhiệm cứu chuộc, con người thấy mình được
“xác nhận” lại và kể như được tái tạo. Được tái tạo ! “Không còn
Do thái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ vì anh em hết thảy
chỉ là một trong Đức Giêsu Kitô” 64 . Con người muốn hiểu mình
đến nơi đến chốn thì không thể bằng lòng với những tiêu chuẩn và
kích thước trước mắt, thiên lệch, nhiều khi hời hợt và thậm chí chỉ
là bề ngoài, nhưng phải đến gần Đức Kitô với tất cả những xao
57 2Cr 5,21; x. Gl 3,13
58 1Ga 4,8.16
59 x. Rm 8,20
60 x. Lc 15,11-32
61 Rm 8,19
62 x. Rm 8,18
63 x. Tôma Summa théologique III, q.46, a. I, ad 3.
64 Gl 3,29
xuyến và bấp bênh, thậm chí với cả những yếu đuối và tội lỗi của
mình, với sự sống và sự chết của mình. Nói được là phải vào trong
Chúa Kitô với toàn thân của mình, phải thu nhận và đồng hóa tất
cả thực tại Nhập thể và cứu chuộc thì mới tìm lại được chính
mình. Con người phải có giá trị biết bao trước mắt Đấng tạo hóa
nếu đã “đáng được một Đấng cứu chuộc lớn lao dường ấy” 65 , nếu
“Thiên Chúa đã ban Con Ngài”, để cho mình, là người, “không
phải hư đi, nhưng được sự sống muôn đời”! 66
Quả thật, sự thán phục sâu xa ấy trước giá trị và phẩm giá con
người được diễn tả bằng chính hai chữ Tin Mừng. Nó cũng gắn
liền với đạo Kitô. Sự thán phục ấy biện minh cho sứ mạng của
Giáo hội trên thế giới, và có lẽ còn hơn nữa, “trong thế giới hiện
thời”. Sự thán phục ấy đồng thời cũng là xác tín và biết chắc, cái
biết chắc này trong cội rễ căn bản là cái biết chắc của đức tin
nhưng vẫn không ngừng tạo sinh khí một cách kín ẩn và huyền
nhiệm cho tất cả mọi mặt của nền nhân bản đích thực; sự thán
phục ấy gắn liền với Chúa Kitô. Chính nó cũng xác định vị trí Đức
Kitô và nói được là quyền có chỗ đứng của Người trong lịch sử
con người và nhân loại. Vốn không ngừng chiêm niệm toàn bộ
mầu nhiệm Đức Kitô, Giáo hội, với tất cả sự chắc chắn của lòng
tin, biết rằng ơn cứu chuộc thực hiện bằng thập giá đã dứt khoát
trả lại cho con người phẩm giá và ý nghĩa sự hiện hữu của con
người trong thế giới, khi mà con người đã đánh mất phần lớn ý
nghĩa ấy vì tội lỗi. Bởi vậy, ơn cứu chuộc đã được hoàn thành
trong mầu nhiệm vượt qua là mầu nhiệm dẫn qua thập giá và sự
chết đến Phục sinh.
Ở mọi thời đại, và đặc biệt hơn nữa, ở thời đại chúng ta, nhiệm
vụ căn bản của Giáo hội là đưa tầm mắt con người hướng ý thức
và kinh nghiệm của tất cả nhân loại về mầu nhiệm Chúa Kitô, giúp
mọi người làm quen với chiều sâu của ơn cứu chuộc thực hiện
trong Đức Giêsu Kitô. Làm như thế là đồng thời đạt tới cõi thâm
sâu nhất của con người, tức là lòng dạ, ý thức và sự sống con
người.
65 Bài Mừng Vui Lên trong đêm phục sinh
66 x. Ga 3,16
11. Mầu nhiệm Chúa Kitô ở nền tảng sứ mệnh của Giáo hội
và của Kitô giáo.
Công đồng Vat.II đã hoàn thành một công trình bao la để đào
tạo ý thức đầy đủ và phổ quát về Giáo hội mà Đức giáo hoàng
Phaolô VI đã bàn đến trong Thông điệp đầu tiên của Người. Ý
thức đó – hay đúng hơn là sự tự ý thức của Giáo hội – được đào
luyện trong “đối thoại”. Việc đối thoại này, trước khi thành đàm
thoại, phải làm ta hướng sự chú ý tới “người khác”, tới người ta
muốn nói chuyện. Công đồng chung đã tạo một đà cơ bản để đào
luyện sự tự ý thức của Giáo hội khi trình bày một cách đầy đủ và
quán xuyến cái nhìn về toàn bộ thế giới như một “bản đồ” các tôn
giáo khác nhau. Ngoài ra, trên bản đồ các tôn giáo của thế giới
này, Công đồng đã cho thấy còn chồng lên theo từng lớp như thế
nào – một điều chưa hề thấy trước kia mà lại là đặc điểm của thời
đại chúng ta – hiện tượng vô thần dưới nhiều dạng khác nhau, bắt
đầu từ chủ nghĩa vô thần có kế hoạch, có tổ chức và được cấu trúc
hóa thành hệ thống chính trị.
Còn về tôn giáo, thì trước tiên đây là tôn giáo như là một hiện
tượng phổ quát, thuộc lịch sử con người từ đầu; rồi đến các tôn
giáo khác nhau ngoài Kitô giáo và sau hết là chính Kitô giáo. Đặc
biệt văn kiện Công đồng dành cho các tôn giáo ngoài Kitô giáo thì
tràn đầy một niềm quý trọng sâu sắc đối với những giá trị thiêng
liêng trọng đại, và hơn nữa, đối với những quyền ưu tiên của
những gì là thiêng liêng và trong cuộc sống nhân loại đã được biểu
lộ nơi tôn giáo, rồi nơi đạo đức phản ảnh vào tất cả văn hóa. Các
giáo phụ thật có lý khi coi các tôn giáo khác nhau đều như những
phản ảnh của một chân lý duy nhất, đều như những “hạt giống
Lời” 67 . Như thế, các ngài làm chứng rằng khát vọng sâu xa nhất
của tinh thần con người, dầu cho đường lối có khác nhau, vẫn quy
về một hướng duy nhất, khi nó được biểu lộ trong việc tìm kiếm
Thiên Chúa, và đồng thời, qua nỗ lực tìm về Thiên Chúa này, cũng
được biểu lộ trong sự tìm kiếm kích thước toàn diện của nhân tính,
67 x. Th. Justinô, I Apologia, 46, 1-4; II Apologia 7(8), 1-4; 10,1-3;13,3-4;
Florilegium Patristicum II, Bonn 1911, tr.81,125,129,133; Clementê
Alexandria, Stromata I, 19,91,94: Ch,117-118; 119-120; Ad Gentes II; LG 17.
tức là ý nghĩa đầy đủ của cuộc sống con người. Công đồng đã chú
ý đặc biệt đến Do thái giáo, khi nhắc lại gia sản thiêng liêng quan
trọng chung cho các tín hữu Kitô giáo và Do thái giáo, và Công
đồng đã bày tỏ lòng quý trọng đối với các tín hữu đạo Hồi mà đức
tin cũng quy chiếu về Abraham 68 .
Nhờ Công đồng Vat.II mở lối, Giáo hội và tất cả các Kitô hữu
đã đạt được một ý thức đầy đủ hơn về mầu nhiệm Đức Kitô, “mầu
nhiệm được dấu kín từ muôn thuở” 69 nơi Thiên Chúa, để được mặc
khải trong thời gian – trong con người Giêsu Kitô – và để được
mặc khải ra liên tục, trong mọi thời. Trong Đức Kitô và nhờ Đức
Kitô, Thiên Chúa đã mặc khải mình cách đầy đủ cho loài người và
đã dứt khoát trở nên gần gũi loài người; đồng thời trong Đức Kitô
và nhờ Đức Kitô, con người đã có được một ý thức đầy đủ về
phẩm giá của mình, về sự vinh thăng của mình, về cả giá trị siêu
việt của loài người, về ý nghĩa của cuộc sống loài người.
Vậy tất cả chúng ta, đồ đệ của Đức Kitô, chúng ta phải gặp
nhau và hiệp nhất với nhau chung quanh Người. Sự hiệp nhất này,
trong các địa hạt của cuộc sống, của truyền thống, của các cơ cấu
và kỷ luật của mỗi Giáo hội và cộng đồng Giáo hội, không thể
thực hiện được nếu không có hành động nghiêm túc nhằm hiểu
biết lẫn nhau và hủy bỏ những trở ngại vẫn còn trên con đường đi
tới hiệp nhất hoàn toàn. Tuy vậy, ngay từ bây giờ chúng ta có thể
và phải đạt tới hiệp nhất và bày tỏ nó ra: bằng cách loan báo mầu
nhiệm Chúa Kitô, chỉ cho người ta thấy kích thước vừa thuộc
Thiên Chúa vừa thuộc con người của ơn cứu chuộc, đấu tranh một
cách bền bỉ không mệt mỏi cho phẩm giá mà mỗi người đã đạt tới
và có thể đạt tới mãi trong Chúa Kitô, đó là phẩm giá được ơn
Thiên Chúa nhận làm con và đồng thời cũng là phẩm giá của chân
lý bên trong nhân tính. Nếu phẩm giá này đã thành nổi bật một
cách thật căn bản trong ý thức chung của thế giới hiện thời, thì nó
lại càng hiển nhiên hơn nữa đối với chúng ta, trong ánh sáng của
thực tại kia là chính Đức Giêsu Kitô vậy.
68 Vat.II NA 3-4
69 Cl 1,26
Đức Giêsu Kitô là nguyên lý vững bền và trung tâm thường
xuyên của sứ mệnh mà chính Thiên Chúa đã trao cho con người.
Tất cả chúng ta đều phải tham gia vào sứ mệnh ấy, phải dồn tất cả
sức lực mình vào đó, bởi vì sứ mệnh ấy cần cho nhân loại ngày
nay hơn bao giờ hết.
Và nếu trong thời đại chúng ta sứ mệnh ấy có vẻ như gặp
những sự chống đối hơn ở bất kỳ thời nào khác, thì điều đó cho
thấy sứ mệnh ấy hiện nay lại còn cần thiết hơn nữa, và – mặc dù có
những chống đối – lại còn được mong đợi hơn bao giờ. Ở đây
chúng ta gián tiếp đụng tới mầu nhiệm của kế đồ Thiên Chúa đã
kết hợp sự cứu độ và ân sủng với thập giá. Lời của Chúa Kitô đâu
có phải là vô lối: “Nước trời chịu sự mạnh bạo, và những kẻ mạnh
bạo đang chiếm đoạt lấy” 70 , và cũng có lời: “Con cái thế gian này
khôn hơn con cái sự sáng” 71 . Chúng ta sẵn lòng nhận lấy lời trách
móc ấy để được giống như những người “mạnh bạo vì Thiên
Chúa” mà chúng ta đã thấy biết bao nhiêu lần trong lịch sử Giáo
hội và ngày nay vẫn còn đang thấy, để hiệp nhất với nhau một
cách có ý thức trong sứ mệnh lớn lao là mặc khải Đức Kitô cho
thế giới, là giúp mỗi người tìm lại chính mình nơi Người, là giúp
các thế hệ hiện thời của anh chị em chúng ta, các dân tộc, các quốc
gia, các chính phủ, nhân loại, các nước chưa phát triển và các
nước giàu có, tắt một lời, là giúp cho tất cả mọi người được biết
“sự phong phú khôn dò của Đức Kitô ” 72 bởi vì sự phong phú này
được dành cho mọi người và làm nên cơ nghiệp của mỗi người.
12. Sứ mệnh của Giáo hội và tự do của con người.
Trong sự hiệp nhất trên bình diện sứ vụ đó, mà cốt yếu là do
chính Chúa Kitô quyết định mọi Kitô hữu phải khám phá ra điều
gì đã hiệp nhất họ với nhau, ngay cả trước khi sự hiệp thông đầy
đủ được thực hiện. Đó là sự hiệp nhất tông đồ và truyền giáo,
truyền giáo và tông đồ. Nhờ sự hiệp nhất này, chúng ta có thể
cùng nhau tìm đến gần gia sản tuyệt diệu của tinh thần con người,
70 Mt 11,12
71 Lc 16,8
72 Ep 3,8
đã thể hiện trong mọi tôn giáo, như Công đồng Vat.II đã nói trong
tuyên ngôn Thời đại chúng ta 73 . Nhờ đó, chúng ta đồng thời đến
với mọi văn hóa, mọi ý thức hệ, mọi người thiện chí. Chúng ta đến
gần như thế với lòng quý chuộng, tôn trọng và biện biệt là những
đặc điểm của thái độ truyền giáo và của người truyền giáo từ thời
các tông đồ. Chỉ cần nhắc tới Thánh Phaolô và chẳng hạn bài
Người nói trên đồi Are ở Athena 74 . Thái độ truyền giáo luôn bắt
đầu bằng một tâm tình quý chuộng sâu sắc đối với những gì chính
họ vẫn ấp ủ tự đáy lòng 75 về những vấn đề sâu xa và quan trọng
nhất, đó là tôn trọng tất cả những gì Thần khí “muốn thổi đâu thì
thổi” 76 đã tác động nơi họ. Truyền giáo không bao giờ là phá hủy,
nhưng là đảm nhận những giá trị và xây dựng lại, cho dù trong
thực hành không phải bao giờ người ta cũng đã đáp ứng đầy đủ
một lý tưởng cao như thế. Còn sự trở lại vốn phải bắt rễ từ việc
truyền giáo thì chúng ta biết rõ đó là công trình của ân sủng khiến
con người tìm lại được đầy đủ chính mình.
Vì thế cho nên Giáo hội thời đại chúng ta đặt một tầm quan
trọng rất lớn vào tất cả những gì Công đồng Vat.II đã trình bày
trong tuyên ngôn về Tự do tôn giáo, cả trong phần thứ nhất lẫn
phần thứ hai của văn kiện này 77 . Chúng ta cảm thấy một cách sâu
sắc rằng chân lý do Thiên Chúa mặc khải đòi hỏi phải dấn thân.
Đặc biệt chúng ta mang một ý thức trách nhiệm rất nhậy bén đối
với chân lý ấy. Giáo hội được Đức Kitô thiết lập làm kẻ giữ gìn và
giảng dạy chân lý ấy, chính vì thế mà đã được ban cho một ơn phù
trợ đặc biệt của Thánh Thần, để có thể trung thành gìn giữ và
giảng dạy nguyên vẹn chân lý ấy 78 . Trong khi chu toàn sứ mệnh
này, chúng ta hãy nhìn chính Đức Kitô, Người là kẻ đầu tiên loan
báo tin mừng 79 , cũng hãy nhìn các Tông đồ, các vị tử đạo, các vị
Tuyên tín của Người. Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo có sức thuyết
73 Vat.II NA 1-2
74 Cv 17,22-31
75 Ga 2,25
76 Ga 3,8
77 x. AAS 58, 1966, 929-946
78 x. Ga 14,26
79 Phaolô VI, EN 6.
phục cho thấy rằng, trong khi loan báo chân lý không từ loài người
nhưng từ Thiên Chúa mà đến ("Đạo lý Ta dạy không phải là của
Ta, mà là của Đấng đã sai Ta” 80 , tức là của Chúa Cha), và tuy vẫn
hành động với tất cả sức mạnh tinh thần mình, Đức Kitô , và sau
đó các Tông đồ của Người, vẫn giữ sự quý chuộng sâu sắc đối với
con người, đối với trí tuệ, ý chí, ý thức và tự do của con người 81 .
Như thế, phẩm giá con người lại thuộc phần sự loan báo đó, dù
không dùng tới lời nói, mà chỉ duy bằng cung cách đối xử với
người ta. Thái độ đó xem ra tương ứng với những nhu cầu đặc biệt
của thời đại chúng ta. Tự do thực sự của con người không phải ở
tất cả những gì các hệ thống khác nhau và cả các cá nhân nữa coi
là tự do và phổ biến như là tự do; thế nghĩa là Giáo hội, do sứ
mệnh Thiên Chúa ban cho, lại càng trở nên người gìn giữ sự tự do
kia và là điều kiện và nền tảng cho phẩm giá thật của con người…
Đức Giêsu Kitô tìm gặp con người mọi thời đại, kể cả thời đại
chúng ta, trước sau cũng vẫn một lời: “Anh em sẽ được biết sự
thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em” 82 . Những lời này bao hàm
một đòi hỏi căn bản và đồng thời một lời nhắn nhủ: đòi hỏi lương
thiện trước sự thật là điều kiện để có tự do chân thực, và cũng
nhắn nhủ hãy tránh mọi thứ tự do bề ngoài, mọi thứ tự do hời hợt
và một chiều, mọi thứ tự do không đi cho tới cùng sự thật về con
người và thế giới. Ngày nay, sau hai ngàn năm, Đức Kitô vẫn còn
xuất hiện như Đấng đem đến cho con người sự tự do dựa trên chân
lý, như Đấng giải phóng con người khỏi những gì giới hạn, giảm
bớt và có thể nói là hủy diệt tận căn sự tự do đó trong tinh thần,
trong lòng, trong ý thức con người. Về điều ấy, có bằng chứng
tuyệt vời biết bao của những người, nhờ Đức Kitô và trong Đức
Kitô, đã đạt tới tự do thực sự, và đã làm chứng ngay cả trong hoàn
cảnh có cưỡng bức từ bên ngoài.
Và khi chính Đức Giêsu Kitô ra trước tòa Philatô như một
người tù và bị ông này xét hỏi về điều các đại diện Công hội tố
cáo Người, Người đã chẳng trả lời: “Tôi đã sinh ra và đã đến trong
80 Ga 7,16
81 x. AAS 58, 1966, 936-938
82 Ga 8,32
thế gian này để làm chứng cho sự thật” 83 đó sao ? Bằng những lời
như thế nói trước vị thẩm phán vào một giây phút quyết định,
Người như xác nhận thêm một lần nữa điều Người đã nói trước
kia: “Anh em sẽ được biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh
em”. Trải qua các thế kỷ và các thế hệ, bắt đầu từ thời các tông đồ,
há chẳng phải chính Đức Giêsu Kitô đã bao lần ra tòa bên cạnh
những người bị xét xử vì chân lý, và đã đi chịu chết với những
người bị lên án vì chân lý đó sao ? Có khi nào Người lại thôi làm
người phát ngôn và bào chữa cho con người sống “trong Thần Khí
và sự thật” 84 ? Không, Người không bao giờ thôi làm việc đó trước
tôn nhan Chúa Cha, và cũng không thôi làm việc đó trước lịch sử
con người. Đến lượt Giáo hội, mặc dù có những yếu đuối vốn
thuộc về lịch sử nhân thế của mình, cũng không ngừng đi theo
Đấng đã nói: “Giờ sẽ đến – và là ngay bây giờ – những kẻ thờ
phượng đích thực sẽ thờ phượng Cha trong Thần khí và sự thật, vì
Cha chỉ muốn gặp thấy những kẻ thờ phượng Ngài như thế. Thiên
Chúa là Thần khí, nên những kẻ thờ phượng cũng phải thờ phượng
trong Thần Khí và sự thật” 85 .
III. Con người được cứu chuộc
và hoàn cảnh con người trong thế giới ngày nay.
13. Chúa Kitô kết hợp với từng người.
Khi xuyên qua kinh nghiệm của gia đình nhân loại ngày càng
nhanh chóng gia tăng liên tục, chúng ta vào sâu trong mầu nhiệm
Đức Giêsu Kitô, chúng ta hiểu rõ hơn rằng, ở giữa tất cả những
con đường mà Giáo hội thời đại chúng ta phải đi để tiếp tục cuộc
hành trình của mình, đúng theo những hướng dẫn khôn ngoan của
Đức Phaolô VI 86 , có một con đường vô song: con đường đã được
thử nghiệm từ nhiều thế kỷ mà đồng thời cũng là con đường cho
tương lai. Chúa Kitô đã chỉ cho con đường ấy nhất là khi, như theo
lời lẽ của Công đồng “nhờ việc Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã kết
83 Ga 18,37
84 x. Ga 4,23
85 Ga 4,23-24
86 Tđ “GH Chúa Kitô” (ES).
hợp một cách nào đó với mọi người” 87 , Như vậy, Giáo hội nhìn
nhận nghĩa vụ căn bản của mình khi hành động sao cho sự kết hợp
kia không ngừng tiếp diễn trong hiện tại. Giáo hội muốn phục vụ
mục tiêu duy nhất này là mọi người có thể gặp lại Đức Kitô, ngõ
hầu Đức Kitô có thể đi con đường đời, bên cạnh mỗi người, với
sức mạnh của chân lý về con người và về thế giới chứa sẵn trong
mầu nhiệm Nhập thể và cứu chuộc và với sức mạnh của tình
thương yêu tỏa ra từ đó. Trong bối cảnh những phát triển vẫn ngày
càng lớn hơn theo dòng lịch sử và xem ra đang gia tăng đặc biệt ở
thời đại chúng ta trong phạm vi những hệ thống, những quan niệm
ý thức hệ về thế giới và những chế độ khác nhau. Đức Giêsu Kitô,
một cách nào đó, lại có mặt, mặc dù bề ngoài có vẻ như Người
vắng mặt, mặc dù sự có mặt và hoạt động thể chế của Giáo hội bị
đủ thứ hạn chế. Đức Giêsu Kitô trở nên hiện diện với sức mạnh
của chân lý và tình thương yêu đã được biểu lộ nơi Người một
cách đầy đủ, độc nhất vô nhị và vô tiền khoáng hậu, tuy cuộc đời
trần thế của Ngài đã thật ngắn ngủi và thời gian hoạt động công
khai của Ngài còn ngắn ngủi hơn.
Đức Giêsu Kitô là con đường chính của Giáo hội. Chính Người
là đường chúng ta đi về “nhà Cha” 88 và Người cũng là đường cho
mọi người. Trên đường đưa từ Đức Kitô đến con người đó, trên
con đường Đức Kitô kết hợp với từng người đó, Giáo hội không
thể bị ai ngăn chận. Lợi ích trần thế và lợi ích đời đời của con
người đòi hỏi như vậy. Vì lòng tôn trọng Đức Kitô và do bởi mầu
nhiệm làm thành sự sống của chính mình, Giáo hội không thể thờ
ơ đối với tất cả những gì phục vụ lợi ích thật của con người, cũng
như không thể vô tình đối với những gì đe dọa lợi ích này. Nhiều
chỗ trong các văn kiện Công đồng Vat.II đã nói lên mối quan tâm
căn bản ấy của Giáo hội, là làm sao cho cuộc sống trên thế giới
này “xứng hợp hơn với phẩm giá cao cả của con người” 89 về mọi
phương diện, để cuộc sống đó thành “nhân đạo hơn mãi” 90 . Mối
quan tâm đó cũng là mối quan tâm của chính Đức Kitô , Đấng
87 Vat.II GS 22
88 x. Ga 14,1tt
89 Vat.II GS 24
90 sđd số 38.
chăn chiên tốt lành của tất cả mọi người. Nhân danh mối quan tâm
đó, như chúng ta đọc được trong Hiến chế Mục vụ của Công đồng,
“Giáo hội do bởi trách nhiệm và thẩm quyền riêng của mình
không lẫn lộn được bất kỳ cách nào với cộng đồng chính trị và
không bị ràng buộc với một hệ thống chính trị nào hết, nhưng
Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là bảo đảm cho tính cách siêu việt của
bản vị con người” 91 .
Vậy đây là nói về con người trong tất cả sự thật, trong đầy đủ
kích thước của con người. Không phải là con người “trừu tượng”,
nhưng là con người hiện thực, “cụ thể”, “lịch sử”. Đây là từng
người một, bởi vì mỗi người đã được bao hàm trong mầu nhiệm
cứu chuộc, và Đức Giêsu Kitô đã kết hợp với từng người một, mãi
mãi, qua mầu nhiệm này. Người nào cũng vậy, đến với cuộc đời
khi thành thai trong lòng mẹ và từ lòng mẹ sinh ra, và chính do bởi
mầu nhiệm cứu độ mà được trao phó cho Giáo hội chăm lo. Mối
quan tâm này bao quát toàn diện con người và quy về con người
một cách đặc biệt. Đối tượng của sự chú ý sâu xa này là con người
trong thực tại làm người có một không hai, vô tiền khóng hậu, và
còn giữ nguyên vẹn hình ảnh của chính Thiên Chúa 92 . Đó chính là
điều Công đồng chỉ dẫn khi nói về hình ảnh Thiên Chúa mà nhắc
lại rằng “con người là thụ tạo duy nhất trên mặt đất đã được Thiên
Chúa tạo nên vì chính họ” 93 . Con người, như đã được Thiên Chúa
“muốn” đã được Ngài “chọn” từ đời đời, được gọi, được tiền định
để hưởng ân sủng và vinh quang: đó chính là “mọi” người, con
người “cụ thể hơn cả”, “hiện thực hơn cả”. Chính như thế đó là
con người trong tất cả sự đầy đủ của mầu nhiệm mà con người
được tham dự nơi Đức Giêsu Kitô và mỗi người trong bốn tỷ
người đang sống trên hành tinh chúng ta cũng được tham dự, ngay
từ giây phút thành thai gần bên trái tim mẹ mình.
14. Tất cả mọi con đường của Giáo hội
đều đưa tới con người.
91 Sđd số 76
92 x. St 1,27
93 Vat.II GS 24
Giáo hội không thể bỏ rơi con người khi mà “định mệnh” con
người tức là việc được chọn, được gọi, được sinh ra và được chết,
được cứu độ hay hư mất đều liên hệ một cách chặt chẽ và dứt
khoát với Đức Kitô . Và đây chính là mỗi con người sống trên
hành tinh này, trên trái đất này mà Tạo hóa đã ban cho con người
đầu tiên khi nói với người nam và người nữ: “Hãy khắc phục và
thống trị nó” 94 . Đây chính là mọi con người trong tất cả thực tại
tuyệt đối duy nhất của hữu thể và hành động, trí tuệ và ý chí, ý
thức và lòng dạ của họ. con người, trong thực tại độc nhất vô nhị
của mình (bởi vì là một “bản vị"), có một lịch sử riêng tư của linh
hồn mình. Con người đúng theo sự cởi mở bên trong tinh thần và
cũng theo biết bao nhiêu nhu cầu này nọ của thân xác và cuộc
sống tại thế, vẫn viết nên lịch sử riêng tư kia qua rất nhiều liên hệ,
tiếp xúc, hoàn cảnh, cơ cấu xã hội nối kết mình với những người
khác. Và con người làm điều ấy từ giây phút đầu tiên của hiện hữu
trên trái đất, từ giây phút thành thai và sinh ra. Con người, trong
chân lý đầy đủ của cuộc sống mình, của hữu thể riêng mình và
đồng thời của hữu thể cộng đồng và xã hội của mình – trong vòng
gia đình bên trong những xã hội và những khung cảnh rất khác
nhau, trong khuôn khổ quốc gia hay dân tộc mình ( và có lẽ còn
hơn nữa trong khuôn khổ bộ lạc hay sắc tộc của mình), ngay cả
trong khuôn khổ toàn thể nhân loại, con người đó là con đường
đầu tiên mà Giáo hội phải đi qua khi làm tròn sứ mệnh của mình:
con người đó là con đường đầu tiên và con đường căn bản của
Giáo hội, con đường do chính Đức Kitô vạch ra, con đường mãi
mãi đi xuyên qua mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu chuộc.
Chính con người đó, trong tất cả sự thật của đời sống mình,
trong ý thức mình, trong xu hướng luôn nghiêng theo tội lỗi và
đồng thời trong niềm khát vọng không ngừng hướng về sự thật,
điều tốt, cái đẹp, công lý, tình thương, chính con người đó là con
người Công đồng Vat.II đã có trước mắt khi mô tả hoàn cảnh của
họ trong thế giới ngày nay mà đã luôn luôn đi từ những yếu tố bề
ngoài của hoàn cảnh ấy để thấu đạt chân lý bên trong của nhân
tính: “Ngay chính trong con người có nhiều yếu tố xung khắc
94 St 1,28
nhau. Một đàng, vì là tạo vật, con người kinh nghiệm mình bị giới
hạn nhiều bề; đàng khác, lại cảm thấy mình có những khát vọng
vô biên và được mời gọi sống một cuộc sống cao cả hơn. Giữa đủ
thứ thôi thúc, con người không ngừng bị bắt buộc phải chọn lựa và
từ bỏ. Tệ hơn nữa, vì yếu đuối và tội lỗi, con người hay làm điều
mình không muốn và không làm được chút nào điều mình muốn.
Rốt cuộc, con người phải chịu sự chia rẽ ngay trong bản thân mình
và chính do đó mà sinh ra bao nhiêu bất hòa lớn lao giữa lòng xã
hội” 95 .
Con người như thế là con đường của Giáo hội, con đường mở
ra, một cách nào đó, từ nền tảng mọi con đường Giáo hội phải đi,
bởi vì con người – mọi người, không trừ một ai – đã được Đức Kitô
cứu chuộc, bởi vì Đức Kitô kết hợp cách nào đó với con người,
với từng người một không trừ ai, ngay cả khi họ không ý thức:
“Đức Kitô , chết và sống lại cho tất cả, ban cho con người” – cho
người nào cũng vậy và cho tất cả mọi người – “ánh sáng và sức lực
để họ có thể đáp ứng với ơn kêu gọi cao cả của mình” 96 .
Vì con người đó là con đường của Giáo hội, con đường cho
cuộc sống và những kinh nghiệm hằng ngày, cho sứ mệnh và lao
khổ của Giáo hội, nên Giáo hội thời đại chúng ta, phải ý thức và
luôn canh tân ý thức về hoàn cảnh con người. Giáo hội như vậy
phải ý thức về các khả năng của con người được biểu lộ qua việc
luôn đi vào một phương hướng mới; Giáo hội đồng thời phải ý
thức về các mối đe dọa xảy đến cho con người. Giáo hội cũng phải
ý thức về tất cả những gì xem ra trái ngược với cố gắng làm cho
“cuộc sống con người luôn nhân đạo hơn” 97 , ngõ hầu tất cả những
gì hợp thành cuộc sống đó tương ứng với phẩm giá thật của con
người. Tóm lại, Giáo hội phải ý thức về tất cả những gì trái ngược
với tiến trình đó.
15. Những gì con người ngày nay lo sợ.
95 GS 10.
96 Sđd số 10
97 Sđd số 38; Thông điệp Populorum Progressio 21
Trong khi vẫn ghi nhớ một các sống động hình ảnh đã được
Công đồng Vat.II vạch ra một cách sáng suốt và có thẩm quyền
như thế, chúng ta một lần nữa sẽ thử thích nghi với những đòi hỏi
của hoàn cảnh không ngừng thay đổi tuy vẫn diễn biến theo những
chiều hướng nhất định.
Con người ngày nay xem như luôn bị đe dọa bởi cái mình làm
ra, tức là kết quả của công lao bàn tay mình, và hơn nữa của lao
công trí óc mình, của các xu hướng ý chí mình. Một cách quá
nhanh chóng và thường bất ngờ, các kết quả của hoạt động đa
dạng kia của con người không chỉ và không hẳn là đối tượng cho
sự “tha hóa”, tức là đơn thuần bị cướp mất khỏi tay kẻ làm ra
chúng, nhưng các kết quả ấy còn quay ra chống lại chính con
người, ít nữa một phần nào và trong hiệu lực gián tiếp của chúng;
chúng bị vận dụng hay có thể bị vận dụng theo chiều hường chống
lại con người. Phần chính yếu trong bi kịch cuộc sống con người
ngày nay, trong kích thước rộng rãi hơn cả và phổ biến hơn cả
xem ra là ở chỗ đó. Bởi vậy, con người sống trong lo sợ hơn mãi.
Con người sợ những sản phẩm của mình, dĩ nhiên không phải là
tất cả, cũng không phải là phần lớn, nhưng một số nào đó, mà lại
là chính những sản phẩm chứa đựng một phần đặc biệt của thiên
tài và óc sáng tạo của mình, sợ những sản phẩm này có thể quay ra
chống hẳn lại chính mình. Sợ chúng có thể trở thành những
phương tiện và công cụ cho một họa tự diệt không tưởng tượng
nổi, vì so với họa tự diệt này, mọi tai ương thảm họa trong lịch sử
xem ra không đáng kể gì nữa. Như vậy, một câu hỏi phải được nêu
lên : Vì sao cái quyền lực được ban cho con người từ thuở đầu và
phải cho phép con người thống trị trái đất (98), thì quay ra chống
lại chính con người, gây nên một tình trạng lo âu rất dễ hiểu, một
tình trạng sợ hãi có ý thức hay vô ý thức và đầy đe dọa đang lan
rộng cách này hay cách khác đến toàn thể gia đình nhân loại hiện
thời và đang tỏ ra dưới mọi hình thức?
Tình trạng đầy đe dọa đối với con người xuất phát từ những
sản phẩm của con người, được tỏ lộ theo những hướng khác nhau
và gồm những cường độ khác nhau. Xem ra chúng ta ngày càng ý
thức hơn về sự kiện là việc khai thác trái đất, hành tinh trên đó
chúng ta sống, cần phải có kế hoạch hợp lý và đúng đắn. Đồng
thời, việc khai thác ấy khi nhằm những mục đích không phải chỉ là
kỹ nghệ mà còn là quân sự và việc phát triển kỹ thuật khi không
được kiểm soát và tổ chức trên bình diện toàn cầu và một cách thật
nhân bản, đều hay bao hàm một mối đe dọa cho môi trường tự
nhiên của con người, tha hóa con người trong những quan hệ đối
với thiên nhiên và khiến con người xa rời thiên nhiên. Con người
nhiều khi làm như không nhận ra môi trường tự nhiên của mình có
ý nghĩa nào khác ngoài những cái lợi cho việc sử dụng và tiêu thụ
trước mắt. Trái lại, ý Tạo hóa là con người thông hiệp với thiên
nhiên như người “làm chủ” và “bảo vệ” thiên nhiên một cách
thông minh và cao quý 98 , chứ không phải như kẻ khai thác và phá
hoại thiên nhiên không nương tay.
Nhờ làm chủ kỹ thuật mà có, sự phát triển kỹ thuật và văn
minh thời đại chúng ta đòi hỏi một sự phát triển tương xứng trong
đời sống đạo đức. Nhưng tiếc thay, sự phát triển đạo đức này xem
ra luôn ở lại phía sau. Đã đành tiến bộ kỹ thuật và văn minh kia là
tuyệt diệu và khó mà không thấy ở đó những dấu hiệu đích thực về
sự cao cả của con người với tính sáng tạo đã được mặc khải tiềm
tàng trong những trang Sách Sáng thế, kể từ trình thuật về tạo
dựng 99 . Tuy nhiên cũng chính tiến bộ đó không thể không sinh ra
rất nhiều nỗi lo âu. Nỗi lo âu trước tiên nhằm vào vấn đề cốt yếu
và căn bản: tiến bộ do con người làm ra và bảo vệ có khiến cho
đời sống con người trên trái đất trở nên “nhân đạo hơn” về mọi
phương diện chăng ? Không thể nghi ngờ là có như thế về một số
mặt nào đó. Tuy vậy, câu hỏi kia vẫn cứ trở lại ở điểm cốt yếu:
con người với tư cách là con người, trong khung cảnh tiến bộ, có
thực sự khá hơn không, nghĩa là chín chắn hơn về mặt tinh thần, ý
thức hơn về nhân phẩm mình, có trách nhiệm hơn, cởi mở hơn với
kẻ khác, đặc biệt với những kẻ thiếu thốn và yếu kém nhất, sẵn
sằng giúp đỡ mọi người hơn ?
Đó là câu hỏi mà các Kitô hữu phải tự nêu lên cho chính mình
vì Đức Kitô đã làm cho họ nhạy cảm đối với mọi mặt vấn đề con
người. Đó cũng là câu hỏi mà mọi người phải tự nêu lên cho mình,
98 St 1,28
99 St 1-2.
đặc biệt là những ai thuộc về những môi trường xã hội tích cực
dành công sức cho sự phát triển và tiến bộ ở thời đại chúng ta. Khi
theo dõi các tiến triển này và dự phần vào đó, chúng ta không thể
để mình rơi vào cơn sảng khoái, và càng không thể để mình bốc
lên theo niềm phấn khởi một chiều vì chinh phục của chúng ta:
nhưng tất cả chúng ta đều phải hết sức ngay thẳng, khách quan và
đem một ý thức về trách nhiệm tinh thần mà tự đặt cho mình
những câu hỏi cốt yếu liên quan đến hoàn cảnh con người ngày
nay và trong tương lai. Tất cả những chinh phục đã đạt được cho
tới nay và những chinh phục mà kỹ thuật dự trù sẽ thực hiện trong
tương lai, có đi đôi với tiến bộ đạo đức và tinh thần của con người
không ? Trong khung cảnh đó, phải chăng con người, với tư cách
là con người, được phát triển và tiến bộ, hay phải chăng con người
đang thoái hóa và sa sút trong nhân tính mình ? Phải chăng nơi
loài người, “trong thế giới con người” vốn tự nó là một thế giới
của cái tốt và cái xấu tinh thần, cái tốt đang hơn cái xấu ! Phải
chăng tình thương xã hội, lòng tôn trọng quyền lợi kẻ khác – mọi
người, mọi quốc gia, mọi dân tộc – đang tăng lên thực sự trong loài
người, giữa người với người, hay phải chăng ngược lại, chỉ có tăng
thêm các mối ích kỷ ở những bình diện này nọ, các chủ nghĩa quốc
gia quá đáng thay vì lòng yêu nước đích thực, chưa kể khuynh
hướng vượt quá những quyền hạn riêng và những công lao chính
đáng của mình mà thống trị kẻ khác, cũng như khuynh hướng khai
thác tiến bộ vật chất, kỹ thuật và sản xuất cho mục đích độc nhất là
thống trị kẻ khác hay làm lợi cho đế quốc này hay đế quốc nọ.
Đó là những câu hỏi cốt yếu mà Giáo hội không thể không tự
nêu lên cho mình, khi mà hàng tỷ người hiện sống trên thế giới
đang tự nêu lên cho họ những câu hỏi ấy một cách ít nhiều minh
nhiên. Đề tài phát triển và tiến bộ ở trên môi mọi người và xuất
hiện trên các cột báo chí và ấn phẩm, trong hầu hết mọi thứ tiếng
của thế giới ngày nay. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng, đề tài
ấy không phải chỉ bao hàm những quả quyết và những cái chắc
chắn, mà còn cả những câu hỏi và những lo âu ray rứt nữa. Những
câu hỏi và những lo âu này không kém phần quan trọng. Chúng
phù hợp với bản chất ý thức con người, và hơn nữa với nhu cầu
căn bản của con người là quan tâm đến con người, đến nhân tính,
đến tương lai loài người trên trái đất. Nhờ lòng tin hướng về cánh
chung, Giáo hội coi mối quan tâm đến con người, đến nhân tính,
đến tương lai loài người trên trái đất và vì vậy cũng là mối quan
tâm đến phương hướng của toàn bộ sự phát triển và tiến bộ kia,
như một yếu tố cốt yếu trong sứ mệnh của mình và không thể tách
rời ra được. Và Giáo hội tìm được nguyên lý của mối quan tâm đó
trong chính Đức Giêsu Kitô, như các Tin mừng làm chứng. Vì vậy
trong Người, Giáo hội muốn thường xuyên tăng thêm mối quan
tâm đó bằng cách nhìn lại hoàn cảnh con người trong thế giới ngày
nay dưới ánh sáng những dấu hiệu quan trọng hơn cả của thời
chúng ta.
16. Tiến bộ hay đe dọa ?
Như thế nếu thời chúng ta, thời thế hệ chúng ta, thời gần cuối
thiên niên kỷ thứ hai của kỷ nguyên Kitô giáo, tỏ ra trước mắt
chúng ta như một thời có những tiến bộ lớn thì nó cũng xuất hiện
như một thời mang đủ thứ đe dọa đối với con người: Giáo hội phải
nói và đối thoại với mọi người thiện chí về vấn đề này. Vì hoàn
cảnh con người trong thế giới ngày nay xem ra ở xa những đòi hỏi
khách quan của trật tự đạo đức, cũng như những đòi hỏi của công
bình và, còn hơn nữa, của tình thương xã hội. Đây chỉ là những gì
được bày tỏ trong sứ điệp đầu tiên mà Tạo hóa đã truyền cho con
người, khi giao phó trái đất cho con người “khuất phục” 100 . Sứ điệp
đầu tiên đó đã được Đức Kitô xác nhận trong mầu nhiệm cứu
chuộc. Công đồng Vat.II nói lên điều này trong những chương thật
hay về “Vương quyền” của con người, nghĩa là về việc con người
được mời gọi dự phần vào việc phục vụ hoàng vương – munus
regale – của chính Đức Kitô 101 . Ý nghĩa căn bản của “vương
quyền” này và của việc trị vì trên thế giới hữu hình mà Tạo hóa đã
giao cho con người như một nghĩa vụ, ý nghĩa đó là đạo đức có
quyền ưu tiên đối với kỹ thuật, con người ở trên các đồ vật, và tinh
thần cao quý hơn vật chất.
100 St 1,28; Vat.II sắc lệnh IM 6; GS 74.78
101 Vat.II LG 10. 36
Chính vì thế cần phải chú ý theo dõi tất cả các giai đoạn của
tiến bộ ngày nay: phải làm như thể “rọi điện” từ quan điểm kia vào
từng giai đoạn một. Vấn đề là phát triển những con người chứ
không phải chỉ là tăng số lượng những đồ vật mà con người có thể
sử dụng. Như một triết gia hiện đại đã nói và như Công đồng cũng
từng quả quyết, vấn đề không phải ở chỗ “có nhiều hơn” cho bằng
ở chỗ “là gì hơn” 102 . Quả thế, đã có một nguy cơ thực sự và nhận ra
được: trong khi sự thống trị của con người trên thế giới các đồ vật
đang tiến bộ lớn lao, thì con người lại có thể đánh mất những mối
dây chỉ đạo cho sự thống trị này. Có thể thấy nhân tính mình chịu
khuất phục cách này cách nọ trước thế giới đồ vật và chính mình
trở thành đồ vật cho người ta mặc tình sử dụng đủ kiểu – không
phải luôn trực tiếp thấy rõ được – qua toàn thể tổ chức đời sống
cộng đồng, qua hệ thống sản xuất, bằng áp lực của các phương
tiện truyền thông xã hội. Con người không thể từ bỏ chính mình
hay chỗ đứng đặc biệt của mình, không thể trở thành nô lệ cho các
đồ vật, nô lệ cho các hệ thống kinh tế, cho việc sản xuất, cho chính
các sản phẩm của mình. Một nền văn minh có dạng thuần vật chất
bắt buộc con người phải nô lệ như thế, ngay cả khi, dĩ nhiên, điều
ấy xảy ra trái ngược với các ý hướng và nguyên tắc của các kẻ đi
đầu. Chắc hẳn vấn đề đó nằm ở nền tảng nỗi lo lắng hiện đại về
con người. Ở đây không phải chỉ có việc đem lại một giải đáp trừu
tượng cho câu hỏi : con người là ai ? nhưng đây là vấn đề liên
quan đến tất cả động lực của đời sống và nền văn minh. Đây là
vấn đề ý nghĩa của các khởi xướng này nọ trong cuộc sống hằng
ngày, và đồng thời, của các khởi điểm cho nhiều chương trình văn
minh, chương trình chính trị, kinh tế, xã hội, nhà nước và nhiều
chương trình khác nữa.
Sở dĩ chúng ta dám đánh giá hoàn cảnh con người trong thế
giới ngày nay là đang xa cách những đòi hòi khách quan của trật
tự đạo đức, xa cách những đòi hỏi của công bằng và còn xa cách
hơn nữa những đòi hỏi của tình yêu thương xã hội, chính vì đó là
điều đã từng được xác nhận bằng những sự kiện và những ví dụ rất
102 Vat.II GS 35; Phaolô VI diễn văn cho ngoại giao đoàn 7.1.1965 và th6ng
điệp PP 14.
quen thuộc và đã nhiều lần có tiếng vang trong các văn kiện của
các Đức Giáo hoàng, của Công đồng hay của Thượng hội đồng
giám mục 103 . Hoàn cảnh con người trong thời đại chúng ta, chắc
chắn không phải là đồng nhất nhưng trở nên khác biệt bằng nhiều
cách. Những khác biệt này cũng có những nguyên nhân lịch sử của
chúng, nhưng chúng cũng có âm hưởng luân lý mạnh mẽ, quả vậy,
người ta thừa biết cái khung cảnh văn minh tiêu thụ là nhiều xã hội
– thường là những xã hội giầu và rất phát triển – dư thừa những của
cải cần cho con người, khi mà các xã hội khác, hay ít nữa là nhiều
tầng lớp đông đảo trong các xã hội này, lại phải đói khổ và nhiều
người vẫn chết hằng ngày vì không có ăn và thiếu dinh dưỡng.
Song song với tình hình trên là việc có những kẻ lạm dụng sự tự
do cách nào đó, chính vì ham mê tiêu thụ mà không chịu sự kiểm
soát của đạo đức, và việc lạm dụng này lại giới hạn sự tự do của
những kẻ khác, tức là của những kẻ đang chịu những thiếu thốn
trầm trọng và bị đưa đẩy tới những tình cảnh cơ cực và túng thiếu
còn nguy kịch hơn nữa.
Cái ví dụ ở đâu cũng thấy được đó là cảnh tương phản mà các
giáo hoàng thế kỷ chúng ta, như gần đây Đức Gioan XXIII và
Phaolô VI, đã chiếu theo trong các văn kiện của các ngài 104 đều
như đang tiếp diễn bằng những kích thước khổng lồ câu chuyện dụ
ngôn Kinh thánh về người nhà giàu tối ngày yến tiệc linh đình và
người kẻ khó Ladarô 105 .
103 x. Đức Piô XII, thông điệp truyền thanh kỷ niệm 50 năm thông điệp Rerum
Novarum (1.6.1941); thông điệp truyền thanh đêm giáng sinh (24.12.1942),
thông điệp truyền thanh đêm giáng sinh (24.12.1943); thông điệp truyền thanh
đêm giáng sinh (24.12.1944); diễn từ gửi các hồng Y (24.12.1945); diễn từ gửi
các hồng Y (24.12.1946); diễn từ gửi các hồng Y (24.12.1947); thông điệp
truyền thanh đêm giáng sinh (24.12.1947); Đức Gioan XXIII Pacem in Teris;
Phaolô VI ES; diễn văn đọc trước Hội nghị Liên Hiệp Quốc (4.10.1965);
Populorum progressio; Diễn từ gửi các nông dân ở Colombia (23.8.1968); Diễn
văn đọc trước hội nghị của Tổ Chức Lương Nông quốc tế FAO (16.11.1970);
Tông thư Octogesima adviens; Diễn từ gửi các hồng Y (23.6.1972) ; J-P.II
Diễn văn đọc tại hội nghị các Giám Mục Mỹ Châu La Tinh kỳ III (28.1.1979);
Diễn từ gửi các người Da Đỏ ở Cuilapan (29.1.1979); Diễn văn gửi các thợ
thuyền ở Monterrey (21.1.1979) ; Vat.II DH; GS; HỘi nghị các Giám mục thế
giới , De iustitia sin mundo.
104 Gioan XXIII MM; PI; Phaolô VI PP
Tầm rộng lớn của hiện tượng khiến phải thắc mắc về các cơ
cấu và guồng máy tài chánh, tiền tệ, sản xuất và buôn bán đang
dựa vào những áp lực chính trị này nọ mà chi phối nền kinh tế thế
giới: chúng tỏ ra bất lực không thể tiêu trừ những bất công do quá
khứ để lại và không thể đương đầu với những thách thức khẩn cấp
và những đòi hỏi đạo đức trong hiện tại. Trong khi vẫn khiến con
người phải chịu khuất phục trước những căng thẳng do chính mình
tạo ra, vẫn phá tán theo một nhịp độ ngày càng nhanh chóng các
tài nguyên vật chất và năng lượng, vẫn làm nguy hại cho môi
trường địa – vật lý, các cơ cấu kia còn làm cho những vùng nghèo
khổ không ngừng mở rộng và các nỗi khốn cùng, thất vọng, đắng
cay cũng lan rộng theo 106 .
Ở đây chúng ta đứng trước một thảm kịch có tầm rộng lớn
không để ai có thể dửng dưng được. Đó là kẻ một đàng đang cố
thu lợi tối đa, và kẻ đàng khác phải lãnh chịu những thiệt thòi và
bất công, vẫn đều là con người, thảm kịch còn bi đát hơn vì lại xảy
ra bên cạnh những tầng lớp xã hội được ưu đãi, những nước giàu
có cứ chồng chất thêm của cải một cách quá đáng và chính vì quá
đáng mà sự giàu có của họ rất thường trở thành nguyên nhân nhiều
rối loạn. Thêm vào đó cơn sốt lạm phát và bệnh thất nghiệp dai
dẳng là những triệu chứng khác của tình trạng hỗn loạn tinh thần
thấy được trong hoàn cảnh thế giới và đòi hỏi những đổi mới bạo
dạn và sáng tạo, phù hợp với phẩm giá đích thực của con người 107 .
Công việc này không phải là không thể làm được. Nguyên tắc
liên đới theo nghĩa rộng phải thúc đẩy việc tìm cho ra những cơ
chế và guồng máy thích đáng. Đây vừa là trong phạm vi những
trao đổi hàng hóa cần tuân theo những quy luật của sự thi đua lành
mạnh, vừa là vấn đề phân phối lại của cải một cách rộng rãi và
trực tiếp hơn và kiểm soát những của cải này, ngõ hầu các dân tộc
105 Lc 16,19-31
106 J-P.II Bài giảng tại Saint Domingue (25.1.1979), s.3; Diễn văn gửi các
người Da Đỏ và các nông dân ở Oaxaca (30.1.1979), s.2; Diễn văn gửi các thợ
thuyền tại Monterrey (31.1.1979) , s.4.
107 x. Phaolô VI OA, s.42
trên đường phát triển kinh tế có thể không những thỏa mãn các
nhu cầu cốt yếu của mình mà còn phát triển dần dần và hữu hiệu.
Người ta chỉ tiến tới trên con đường khó khăn đó, trên con
đường cần thiết phải hoán cải các cơ cấu đời sống kinh tế, là nhờ
trí tuệ, ý chí và lòng dạ có hối cải thực sự. Công việc đòi hỏi sự
dấn thân quyết liệt của những con người và những dân tộc tự do và
liên đới. Quá nhiều khi người ta nhầm lẫn sự tự do với bản năng
bảo vệ lợi ích cá nhân hay tập thể, hay với cả bản năng tranh chấp
và thống trị nữa. Dầu cho người ta có sơn phết các bản năng này
bằng những mầu sắc ý thức hệ gì đi nữa. Điều chắc chắn là các
bản năng này có thật và tác động, nhưng sẽ chỉ có thể có một nền
kinh tế thật xứng với con người nếu những sức lực sâu xa nhất
trong con người và có ảnh hưởng quyết định đối với văn hóa đích
thực của các dân tộc lại cũng đảm nhận, định hướng và làm chủ
các bản năng kia. Chính từ những nguồn đó phải nảy sinh nỗ lực
nói lên sự tự do đích thực của con người và sẽ có sức bảo đảm cho
sự tự do này cả trong lãnh vực kinh tế nữa. Sự phát triển kinh tế,
cùng với tất cả những gì chỉ thuộc về cách thức hoạt động riêng và
thích hợp của nó, phải thường xuyên được kế hoạch hóa và thực
hiện bên trong một viễn cảnh phát triển toàn diện và liên đới giữa
người với người và các dân tộc với nhau, như Đức Phaolô VI, vị
tiền nhiệm của tôi đã từng mạnh mẽ nhắc lại trong Thông điệp
Populorum Progressio (Phát triển các dân tộc), bằng không, chỉ
riêng phạm trù “tiến bộ kinh tế” lại trở thành một phạm trù tối
thượng khiến tất cả cuộc sống con người phải lệ thuộc vào những
đòi hỏi thiên lệch của nó, bóp nghẹt con người, làm tan rã các xã
hội và cuối cùng tự sa lầy trong những mâu thuẫn và thái quá của
nó.
Nghĩa vụ trên có thể chu toàn được: bằng chứng là những sự
kiện đã được xác nhận và những kết quả khó kể ra hết ở đây một
cách phân tích hơn. Dẫu sao có một điều chắc chắn: ở nền tảng nỗ
lực lớn lao đó phải đặt, phải nhận và đào sâu ý thức về trách nhiệm
đạo đức mà con người cần đảm nhận. Lại vẫn con người. Một lần
nữa chúng ta được đưa trở lại với vấn đề trách nhiệm đạo đức mà
chủ thể không phải là ai khác ngoài con người. Đối với chúng ta là
những người Kitô hữu, một trách nhiệm như thế trở thành đặc biệt
hiển nhiên, khi chúng ta gợi lên – và vẫn phải luôn nhắc lại – cảnh
tượng phán xét cuối cùng, như lời Đức Kitô trong Tin mừng theo
Thánh Mt 108 .
Cảnh tượng cánh chung đó phải luôn được áp dụng vào lịch sử
con người, phải luôn được lấy làm một lược đồ cốt yếu cho mỗi
người và mọi người tự vấn lương tâm” : “Xưa Ta đói mà các
người không cho ta ăn… Ta mình trần mà các ngươi không cho
mặc… Ta ở tù mà các ngươi đã không thăm viếng” 109 . Những lời
như thế càng thêm giá trị cảnh cáo nếu chúng ta nghĩ tới tình trạng
là thay vì đem cơm bánh và sự trợ giúp văn hóa đến cho các chính
phủ và các nước mới độc lập, nhiều khi người ta lại chỉ cung cấp
dồi dào những vũ khí hiện đại và những phương tiện phá hoại để
phục vụ cho những xung đột vũ trang và những cuộc chiến tranh.
Những xung đột và chiến tranh này lại không phải do nhu cầu bảo
vệ các quyền lợi chính đáng và chủ quyền của các nước đó cho
bằng là một hình thức chủ nghĩa Sô – vanh, chủ nghĩa đế quốc, chủ
nghĩa thực dân mới đủ loại. Ai cũng thừa rõ là các khu vực nghèo
đói trên trái đất chúng ta có thể được “cải tạo thành phì nhiêu”
trong một thời gian ngắn, nếu các khoản đầu tư khổng lồ vẫn được
dồn vào việc trang bị vũ khí phục vụ chiến tranh và hủy diệt lại
được biến thành những khoản đầu tư vào việc sản xuất lương thực
phục vụ sự sống.
Có lẽ nhận định trên đây vẫn còn là “trừu tượng” phần nào, có
lẽ nó sẽ đem lại cơ hội cho “phe này” hay “phe kia” tố cáo lẫn
nhau mà quên đi những lỗi lầm riêng của mình. Có lẽ nó sẽ còn
gây nên những lời tố cáo mới nhằm vào Giáo hội. Tuy vậy, vì
không sẵn khí cụ nào khác ngoài những khí cụ của tinh thần, lời
nói và tình thương, Giáo hội không thể từ bỏ việc rao giảng “lời…
lúc thuận cũng như lúc nghịch” 110 . Vì vậy, Giáo hội không ngừng
nhân danh Chúa và nhân danh con người yêu cầu mỗi phe và yêu
cầu mọi người: chớ giết người ! Xin đừng sửa soạn tàn phá và tiêu
diệt loài người. Xin nghĩ đến những anh em của quý vị đang khốn
108 x. Mt 25,31-46.
109 Mt 25,42.43
110 2Tm 4,2
khổ vì nghèo đói ! Xin hãy tôn trọng phẩm giá và sự tự do của mỗi
người !.
17. Quyền lợi con người : “Chủ nghĩa” hay “tinh thần” ?
Thế kỷ chúng ta cho tới nay đã là một thế kỷ đầy những tai họa
lớn cho con người, những tàn phá, không phải chỉ về mặt vật chất
mà còn về mặt tinh thần, và có lẽ nhất là về mặt tinh thần. Đã hẳn
là về mặt này không dễ gì so sánh các thời đại và các thế kỷ với
nhau, bởi vì cũng tùy những tiêu chuẩn lịch sử vẫn thay đổi. Tuy
nhiên, dẫu không so sánh như thế thì cũng phải nhận thấy rằng,
cho đến nay, thế kỷ này đã là một thế kỷ mà loài người tự bày ra
cho chính mình rất nhiều bất công, đau khổ. Diễn tiến đó phải
chăng đã được hãm lại thực sự ? Dẫu sao đối với những tình cảm
trọng vọng đối với quá khứ và hy vọng sâu sắc đối với tương lai,
không thể không nhắc lại ở đây nỗ lực tuyệt vời đã được thực hiện
để đem lại sự sống cho tổ chức Liên Hiệp Quốc, nỗ lực nhằm xác
định và thiết lập các quyền khách quan và bất khả xâm phạm của
con người, bắt buộc các nước thành viên tôn trọng nghiêm nhặt
các quyền đó một cách có qua có lại. Sự cam kết này đã được hầu
hết các nước ngày nay chấp nhận và phê chuẩn và điều đó đáng lý
phải thành một bảo đảm để trên khắp thế giới các quyền con người
trở nên một nguyên tắc căn bản cho các cố gắng được thực hiện vì
lợi ích con người.
Giáo hội không cần khẳng định lại là vấn đề trên nối liền chặt
chẽ đến đâu với sứ mệnh của mình trong thế giới ngày nay. Quả
thế, nó nằm ngay không nền tảng hòa bình xã hội và quốc tế, như
Đức Gioan XXIII, Công đồng Vat.II, rồi Đức Phaolô VI đã tuyên
bố trong các văn kiện bàn đến nó một cách chi tiết. Rốt cuộc, hòa
bình chỉ là sự tôn trọng các quyền bất khả xâm phạm của con
người – opus iustitiae pax, trong khi chiến tranh lại sinh ra từ sự vi
phạm các quyền đó và kéo theo những vi phạm còn trầm trọng hơn
nữa. Nếu các quyền con người bị vi phạm trong thời bình thì thành
ra đặc biệt đau xót, xét theo quan điểm của tiến bộ, đó là một hiện
tượng chống lại con người không sao hiểu nổi, và sự kiện này
không cách gì có thể phù hợp với bất cứ chương trình nào tự cho
là “nhân bản”. Thế mà có chương trình xã hội, kinh tế, chính trị,
văn hóa nào có thể không tự nhận là nhân bản ? Chúng ta vốn giữ
một niềm xác tín sâu sắc là ngày nay trên thế giới không có một
chương trình nào, kể cả khi kèm theo những ý thức hệ đối chọi
nhau về vũ trụ quan, mà lại không đặt con người lên hàng đầu.
Thế mà, mặc dù có những tiền đề như trên, nếu các quyền của
con người bị vi phạm cách này cách khác, nếu, trong thực tế,
chúng ta chứng kiến những trại tập trung, sự bạo hành, tra tấn,
khủng bố và nhiều thứ kỳ thị, thì đó phải là hậu quả của những
tiền đề khác đang ăn mòn hay nhiều khi còn như đang tiêu hủy
hiệu năng của những tiền đề nhân bản trong các chương trình và
hệ thống hiện đại kia. Khi đó nghĩa vụ cần thiết là phải thường
xuyên dựa vào những quyền khách quan và bất khả xâm phạm của
con người mà duyệt lại các chương trình kia.
Việc tuyên bố các quyền con người và cả việc thành lập tổ
chức Liên hiệp quốc chắc chắn không tự giới hạn vào ý muốn
đoạn tuyệt với những kinh nghiệm khủng khiếp của cuộc chiến
tranh thế giới thứ hai, nhưng còn nhằm tạo nền tảng cho việc duyệt
xét lại thường xuyên các chương trình, hệ thống, chế độ kia, chính
từ quan điểm duy nhất và căn bản là lợi ích của con người – hãy
nói là của bản vị trong cộng đồng – và quan điểm này, như một
yếu tố căn bản cho công ích, phải làm thành tiêu chuẩn cốt yếu
cho mọi chương trình, hệ thống và chế độ. Trong trường hợp
ngược lại, cuộc sống con người, ngay cả trong thời bình, không
sao tránh khỏi nhiều thứ khốn khổ, và đồng thời, kèm theo những
nỗi khốn khổ này là sự phát triển đủ hình thức thống trị, độc tài và
thực dân mới cũng đe dọa những quan hệ giữa các nước. Thật vậy,
một sự kiện có ý nghĩa và đã nhiều lần được các kinh nghiệm lịch
sử xác nhận, đó là việc xâm phạm các quyền con người vẫn đi đôi
với việc xâm phạm các quyền của quốc gia vì con người được nối
kết bằng những quan hệ hữu cơ với quốc gia như với một gia đình
mở rộng.
Ngay từ nửa đầu thế kỷ này, trong thời kỳ nhiều quốc gia độc
tài đã phát triển và, như người ta biết quá rõ, đã đưa tới tai họa
khủng khiếp là chiến tranh, Giáo hội đã từng minh định rõ ràng lập
trường của mình đối với các chế độ ấy. Bề ngoài, chúng xem ra
hoạt động cho một lợi ích cao hơn, tức là lợi ích quốc gia, thế mà
lịch sử về sau chứng minh ngược lại đó chỉ là lợi ích của một phe
phái đã tự đồng hóa mình với quốc gia 111 . Thực ra, các chế độ ấy
đã thu hẹp các quyền của người công dân bằng cách chối từ không
chịu nhìn nhận cho họ những quyền bất khả xâm phạm của con
người đã được minh định vào giữa thế kỷ này trên bình diện quốc
tế. Chia sẻ niềm vui vì thành công ấy với tất cả những người thiện
chí, với tất cả những người thực sự yêu chuộng công lý và hòa
bình, nhưng vì ý thức rằng chữ nghĩa suông thì có thể giết chết,
chỉ “tinh thần mới làm cho sống” 112 , Giáo hội phải kết hợp với
những người thiện chí kia để không ngừng hỏi xem Tuyên ngôn
nhân quyền và việc chấp nhận nó về mặt “chữ nghĩa” phải chăng ở
đâu cũng đồng thời có nghĩa là thực hiện “tinh thần” của nó. Thật
vậy, đang nổi lên mối lo sợ có căn cứ rằng rất nhiều khi chúng ta
còn ở xa việc thực hiện kia và đôi khi tinh thần đời sống xã hội và
công cộng đang đối nghịch đau xót với “chữ nghĩa” các quyền con
người như thấy được trong Tuyên ngôn. Tình trạng đó đầy hậu quả
nghiêm trọng đối với nhiều xã hội khác nhau, hẳn còn đặc biệt
khiến những kẻ góp phần gây ra nó phải chịu trách nhiệm nặng nề
hơn đối với các xã hội này và lịch sử loài người.
Ý nghĩa căn bản của nhà nước với tư cách là cộng đồng chính
trị, là ở chỗ xã hội làm nên nhà nước, tức là nhân dân làm chủ vận
mệnh mình. Ý nghĩa đó không được thực hiện nếu, thay vì một
quyền bính được thi hành với sự tham dự tinh thần của xã hội hay
nhân dân, chúng ta lại chứng kiến một quyền lực do một nhóm
nhất định áp đặt cho tất cả các thành phần khác của xã hội. Đó là
những điều cốt yếu trong thời đại chúng ta khi mà ý thức xã hội
của người ta tăng lên rất nhiều và đồng thời với ý thức đó là việc
các công dân có nhu cầu được tham dự đúng đắn vào đời sống của
cộng đồng chính trị, một khi đã xét tới hoàn cảnh thực tế của mỗi
dân tộc và sự cần thiết có một công quyền đủ mạnh 113 . Đó là những
111 Piô XI, QA; Tđ Non abbiamo bisogno; T9d Divini Redemtoris; Tđ Mit
brennender Sorge; Piô XII Tđ Summi pontificatus.
112 x. 2Cr 3,6
113 Vat.II GS, 31
vấn đề quan trọng hàng đầu trong những gì liên quan đến sự tiến
bộ của chính con người và sự phát triển chung của nhân tính.
Giáo hội đã luôn dạy phải hành động cho lợi ích chung và làm
như vậy cũng là đã giáo dục được những công dân tốt cho mỗi
nước. Ngoài ra, Giáo hội đã luôn dạy rằng nghĩa vụ căn bản về
phía quyền bính là quan tâm đến những lợi ích chung của xã hội:
vì do đó mà có cơ sở cho những quyền căn bản của quyền bính.
Nhân danh những tiền đề liên quan đến trật tự đạo đức khách
quan, các quyền của quyền bính chỉ có thể được hiểu trên nền tảng
tôn trọng các quyền khách quan và bất khả xâm phạm của con
người. Lợi ích chung kia mà quyền hành nhà nước phải phục vụ,
chỉ được thực hiện đầy đủ khi nào tất cả mọi công dân được bảo
đảm về các quyền của họ. Bằng không là đi tới tình trạng xã hội
tan rã, các công dân chống lại nhà cầm quyền, hay còn đi tới một
hoàn cành đàn áp, đe dọa, bạo hành, khủng bố như các nền độc tài
thế kỷ này đã cho chúng ta nhiều ví dụ. Chính như thế mà nguyên
tắc các quyền con người liên hệ sâu sa tới lãnh vực công bình xã
hội và thành mực thước để kiểm nghiệm một cách căn bản về công
bình xã hội trong đời sống các cơ chế chính trị.
Trong số các quyền nói trên người ta kể tới một cách chính
đáng quyền tự do tôn giáo bên cạnh quyền tự do lương tâm. Công
đồng Vat.II đã cho là đặc biệt cần thiết phải soạn thảo một tuyên
ngôn có tầm cỡ hơn về đề tài này. Đó là văn kiện mang tựa đề
Dignitatis humanae (Phẩm giá con người) 114 : Văn kiện trình bày
không những quan niệm thần học về vấn đề này mà còn là quan
niệm xuất phát từ luật tự nhiên, tức là từ một góc nhìn “thuần túy
con người”, trên căn bản những tiền đề do chính kinh nghiệm con
người, lý trí con người và ý thức con người về phẩm giá của mình
nói lên. Đã hẳn, sự giới hạn tự do tôn giáo của các cá nhân và cộng
đồng không những là một kinh nghiệm đau xót cho họ, mà còn
đụng chạm trước tiên đến chính phẩm giá con người, bất kỳ đạo
mà các cá nhân và cộng đồng ấy tuyên xưng hay quan niệm về thế
giới của họ là gì. Giới hạn và vi phạm tư do tôn giáo đều mâu
thuẫn với phẩm giá và các quyền khách quan của con người. Văn
114 x. AAS 58, 1966, 929-946
kiện Công đồng nêu trên nói khá rõ thế nào là giới hạn và vi phạm
tự do tôn giáo như vậy. Chắc chắn là trong trường hợp ấy chúng ta
đứng trước một bất công triệt để phạm tới cái đặc biệt sâu xa trong
con người, cái đích thật là người. Thực ra, ngay cả hiện tượng vô
tín ngưỡng, có thái độ vô tôn giáo và vô thần, như là hiện tượng
thuộc về con người, chỉ có thể hiểu được trong quan hệ với hiện
tượng tôn giáo và đức tin. Bởi vậy, ngay cả từ một quan điểm
“thuần túy con người”, khó mà chấp nhận được một lập trường
chủ trương chỉ riêng thuyết vô thần là có quyền tồn tại trong đời
sống công cộng và xã hội, còn những kẻ có tín ngưỡng, như thể là
cứ theo nguyên tắc, chỉ được tạm dung mà thôi, hay còn bị đối xử
như công dân “hạng dưới”, và cuối cùng bị mất hết các quyền
công dân như đã từng xảy ra.
Phải bàn tới đề tài đó, dù chỉ vắn tắt, vì nó cũng nằm trong
toàn bộ phức tạp những hoàn cảnh con người trong thế giới ngày
nay, và nó cũng làm chứng là hoàn cảnh này mắc míu đủ thứ thành
kiến và bất công đến đâu. Nếu chúng ta tránh đi vào chi tiết trong
lãnh vực này – và chúng ta hẳn có quyền và nghĩa vụ đặc biệt để đi
vào như thế – thì trước hết là do bởi vốn kết hợp với tất cả những
ai phải chịu kỳ thị và bách hại vì danh Thiên Chúa, chúng ta được
lòng tin vào sức mạnh cứu chuộc của thánh giá Đức Kitô hướng
dẫn. Tuy nhiên, vì chức vụ của tôi, tôi muốn nhân danh tất cả mọi
tín hữu trên toàn thế giới, ngỏ lời với những vị cách này hay cách
khác có quyền định đoạt việc tổ chức đời sống xã hội và công
cộng, để khẩn thiết yêu cầu họ tôn trọng các quyền của tôn giáo và
của sinh hoạt Giáo hội. Đây không phải là yêu cầu một đặc ân nào
cả mà là yêu cầu sự tôn trọng một quyền sơ đẳng. Việc thực hiện
quyền này là một trong những trắc nghiệm căn bản để kiểm
nghiệm xem con người có được tiến bộ đích thực hay không ở mọi
chế độ, trong mọi xã hội, hệ thống hay môi trường.
IV. Sứ mệnh Giáo hội và vận mệnh con người.
18. Giáo hội quan tâm đến ơn gọi của con người
trong Đức Kitô .
Cái nhìn tất nhiên sơ sài về hoàn cảnh của con người trong thế
giới ngày nay khiến chúng ta càng hướng tâm trí mình về Đức
Giêsu Kitô, về mầu nhiệm cứu độ là nơi vấn đề con người được
ghi với một sức chân lý và tình thương đặc biệt. Nếu Đức Kitô
“một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người” 115 , thì Giáo hội,
khi đi vào bề thâm sâu của mầu nhiệm này, trong ngôn ngữ phong
phú và phổ quát của nó, lại cũng sống sâu sắc hơn bản tính và sứ
mệnh của mình. Không phải uổng công mà Tông đồ nói tới Thân
mình Đức Kitô là Giáo hội 116 . Nếu nhiệm thể Đức Kitô là Dân
Thiên Chúa – như Công đồng Vat.II sau này sẽ nói, căn cứ vào tất
cả truyền thống Thánh Kinh và giáo phụ – điều đó có nghĩa là mọi
người trong thân mình ấy được luồng sinh khí từ Đức Kitô tới
thâm nhập. Cũng theo nghĩa này thì quay về con người, về những
vấn đề đích thực, về những hy vọng và những đau khổ, về những
chinh phục và những sa ngã của con người, đều làm cho chính
Giáo hội trong tư cách là thân mình, là cơ chế, là đơn vị xã hội,
nhận ra những thúc đẩy từ Thiên Chúa, những ánh sáng và sức lực
của Thánh Thần phát xuất từ Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại
– và đó chính là lý do sống còn của Giáo hội. Giáo hội không có sự
sống nào khác ngoài sự sống mà phu quân và Chúa mình ban cho
mình. Thật vậy, bởi vì Đức Kitô đã kết hợp với Giáo hội trong sứ
vụ cứu độ của Người, nên Giáo hội cũng phải kết hợp chặt chẽ với
từng người.
Đức Kitô kết hợp với con người như thế vốn là một mầu nhiệm
, từ đó sinh ra “người mới”, được gọi tham dự đời sống Thiên
Chúa 117 , được tái tạo trong Đức Kitô và được nâng lên tới sung
mãn ân sủng và chân lý 118 . Sự kết hợp với Đức Kitô là sức mạnh
của con người, và là nguồn sức mạnh đó, theo cách nói sắc bén
của thánh Gioan trong lời tựa Tin mừng Ngài soạn: “Lời đã ban
cho quyền làm con Thiên Chúa” 119 . Đó là sức thay đổi bên trong
115 GS, 22
116 x. 1Cr 6,15; 11,3; 12,12-13; Ep 1,22-23; 2,15-16; 4,4-5; 5,30; Cl 1,18; 3,15;
Rm 12,4-5.30; Gl 3,28
117 2Pr 1,4
118 x. Ep 2,10; Ga 1,14-16
119 Ga 1,12
con người, như nguyên lý một đời sống mới không biến mất cũng
chẳng qua đi, nhưng tồn tại cho cuộc sống vĩnh cửu 120 . đời sống đó
đã được Chúa Cha hứa và ban cho mỗi người trong Đức Giêsu
Kitô là Con Một đời đời, đã thành xác phàm và sinh bởi Trinh nữ
Maria, “khi thời viên mãn đến” 121 , đời sống đó là sự thành tựu cuối
cùng của sứ mệnh con người. Đó như là sự hoàn thành “vận
mệnh” mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho con người từ muôn muôn
thuở. “Vận mệnh thần linh” này diễn tiến ở bên kia mọi bí ẩn, bất
ngờ, khúc khuỷu, quanh co của “vận mệnh nhân sinh” trong trần
thế. Thật vậy, vì một tất yếu không thể tránh được, và tuy đời sống
trần gian quả là phong phú nếu tất cả rồi cũng đưa tới biên giới sự
chết và sự tiêu hủy thân xác con người, thì Đức Kitô lại xuất hiện
với chúng ta ở bên kia biên giới ấy, “Ta là sự phục sinh và sự
sống; ai tin vào Ta… sẽ không phải chết bao giờ” 122 . Nơi Đức
Giêsu Kitô chịu đóng đinh, an táng trong mồ và sau đó sống lại đã
“bừng lên cho chúng ta một niềm hy vọng vững chắc là được sống
lại hiển vinh… một lời hứa được phúc trường sinh bất diệt” 123 :
hướng về đích đó con người tiến bước, xuyên qua cái chết của
thân xác, chia sẻ với mọi tạo vật hữu hình cái điều tất yếu mà vật
chất phải tuân theo. Chúng ta tìm cách đào sâu thêm mãi lời lẽ của
chân lý mà Đấng Cứu chuộc con người đã đặt vào câu này: “Thần
khí mới tác sinh, xác thịt thì không ích gì” 124 . Những lời này, tuy
không có vẻ, lại nói lên khẳng định cao nhất về con người: đó là
khẳng định về thân xác mà Thần Khí làm cho sống !
Giáo hội sống thực tại ấy, sống bằng chân lý ấy về con người:
nhờ nó, Giáo hội vượt được biên giới của thời-gian-tính và đồng
thời lại có thể đem lòng ân cần và yêu thương đặc biệt mà nghĩ tời
tất cả những gì – bên trong những kích thước của thời-gian-tính-đó
– có ảnh hưởng trên đời sống con người, trên đời sống của tinh
thần con người vẫn biểu lộ niềm khắc khoải như thánh Âu Tinh đã
nói tới: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa và
120 x. Ga 4,14
121 Gl 4,4
122 Ga 11,25-26
123 Kinh tiền tụng I lễ cầu hồn.
124 Ga 6,63
lòng chúng con còn khắc khoải mãi cho tới khi được an nghỉ trong
Chúa” 125 . Tất cả những gì là bề sâu của con người đều phập phồng
trong niềm khắc khoải sáng tạo ấy: tìm kiếm chân lý, khát khao sự
thiện, thèm muốn tự do, hoài mộ cái đẹp, tiếng nói lương tâm.
Giáo hội khi tìm cách nhìn con người như “với đôi mắt của chính
Đức Kitô ” thì luôn ý thức hơn là mình đang giữ gìn một kho tàng
lớn lao mà mình không được quyền phung phí, nhưng phải luôn
làm tăng thêm. Quả vậy, Chúa Giêsu đã nói: “Ai không cùng Ta
thu hợp, tức là làm phân tán” 126 . Kho tàng ấy của nhân loại thêm
dồi dào nhờ mầu nhiệm khôn tả làm con Thiên Chúa 127 , nhờ ơn
thành “nghĩa tử” 128 trong Con Một Thiên Chúa khiến chúng ta
được thưa với Thiên Chúa là Abba, Cha” 129 . Kho tàng ấy đồng thời
lại là một sức mạnh lớn lao thống nhất Giáo hội nhất là từ bên
trong, và làm cho tất cả sinh hoạt của Giáo hội có ý nghĩa. Nhờ
sức mạnh này, Giáo hội kết hợp với Thần Khí Đức Kitô, với
Thánh Thần mà Đấng Cứu Chuộc đã hứa, và luôn thông ban. Việc
Thánh Thần đến, được tỏ ra trong ngày Ngũ Tuần, vẫn còn đó mãi
mãi. Như thế, các sức lực của Thần Khí 130 , các ân huệ Thần Khí 131 ,
các hoa quả Thần Khí 132 tự mạc khải nơi loài người. Và Giáo hội
thời đại chúng ta như lặp lại một cách ngày càng sốt sắng và tha
thiết hơn: “Lạy Thánh Thần khấn xin ngự đến” Xin ngự đến ! Xin
ngự đến ! “Hết những gì nhơ bẩn, xin rửa cho sạch trong, tưới gội
nơi khô cạn, chữa lành mọi vết thương. Cứng cỏi uốn cho mềm,
lạnh lùng xin sưởi cho ấm, những nẻo đường sai lầm, sửa sang cho
ngay thẳng !” 133 .
Lời khấn nài Thánh Thần như trên để được Thần khí, lại là câu
trả lời cho mọi “chủ nghĩa duy vật” thời đại chúng ta. Chính
những chủ nghĩa này làm nẩy sinh bao hình thức khao khát khôn
125 Confessio I,I
126 Mt 12,30
127 x. Ga 1,12
128 Gl 4,5
129 Gl 4,6; Rm 8,15
130 x. Rm 15,13; 1Cr 1,24
131 x. Is 11,2tt; Cv 2,38
132 x. Gl 5,22-23
133 Ca tiếp liên lễ Hiện Xuống
nguôi của lòng người. Lời khấn nài trên được cảm thấy từ nhiều
phía, và xem ra đem lại kết quả bằng rất nhiều cách. Có thể nói
được chăng là Giáo hội không khẩn nài như vậy một mình ? Vâng,
có thể nói được như thế, vì “nhu cầu” về thiêng liêng lại cũng
được những người ở ngoài biên cương hữu hình của Giáo hội nói
lên 134 . Điều ấy há chẳng được xác nhận bởi chân lý sau đây về
Giáo hội, chân lý mà Công đồng vừa rồi đã làm rõ ra một cách sắc
bén biết bao trong hiến chế tín lý “Ánh sáng muôn dân” sao ?
Trong hiến chế này Công đồng dạy rằng Giáo hội là “bí tích, tức
vừa là dấu hiệu vừa là phương thế kết hợp mật thiết với Thiên
Chúa và hiệp nhất toàn thể nhân loại” 135 . Lời kêu cầu với Thần khí
và nhờ Thần khí chẳng qua chỉ là một cách kiên trì đi vào kích
thước đầy đủ của mầu nhiệm cứu chuộc. Theo mầu nhiệm này,
Đức Kitô, kết hợp cùng Cha và với mọi người, thông truyền liên lỉ
cho chúng ta Thần Khí đó là Đấng đặt vào trong chúng ta những
tâm tình của Chúa Con và hướng ta về Chúa Cha 136 . Chính vì lẽ đó
mà Giáo hội thời đại chúng ta – một thời đại đặc biệt khát khao
Thần khí bởi vì khát khao công lý, hòa bình, tình thương, nhân từ,
sức lực, trách nhiệm, nhân phẩm – cần tập trung và họp lại chung
quanh mầu nhiệm ấy, để tìm lại được ở đó ánh sáng và sức lực cần
thiết cho chính sứ mệnh mình. Thật vậy, nếu như đã nói trước đây,
con người là con đường đời sống thường ngày của Giáo hội thì
chính Giáo hội cần phải luôn luôn ý thức về phẩm giá con người
được nhìn nhận làm con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhờ ân
sủng Thánh Thần 137 , và ý thức rằng con người được hướng về ân
sủng và vinh quang 138 . Nhờ luôn suy nghĩ lại về tất cả những điều
đó và đón nhận với một niềm tin ý thức hơn mãi và một lòng yêu
thương vững vàng hơn mãi, Giáo hội càng được thêm khả năng
phục vụ con người như Chúa Kitô đã kêu gọi Giáo hội làm việc ấy
khi Người nói: “Con Người không đến để được hầu hạ, mà là để
hầu hạ” 139 . Giáo hội thi hành sứ vụ ấy bằng cách tham gia vào “ba
134 LG, 16
135 Sđd, số 1.
136 x. Rm 8,15; Gl 4,6
137 x. Rm 8,15
138 x. Rm 8,30
139 Mt 20,28
chức năng ” đặc biệt của Thầy và Đấng cứu chuộc mình. Giáo lý
này căn cứ vào Thánh Kinh đã được Công đồng Vat.II làm sáng tỏ
mà mưu ích nhiều cho đời sống Giáo hội. Là vì khi chúng ta ý
thức về sự tham gia vào ba sứ mệnh Đức Kitô, vào ba chức năng
của Người – tư tế, ngôn sứ và vương giả 140 – thì chúng ta đồng thời
cũng ý thức hơn toàn thể Giáo hội, với tư cách xã hội và cộng
đồng dân Thiên Chúa trên trần gian, là để làm gì, và chúng ta lại
cũng hiểu mỗi người chúng ta phải tham gia thế nào vào sứ mệnh
và việc phục vụ kia.
19. Giáo hội có trách nhiệm về chân lý.
Như thế, dưới ánh sáng giáo lý công đồng Vat.II, Giáo hội xuất
hiện trước mắt chúng ta như chủ thể chịu trách nhiệm xã hội về
chân lý của Thiên Chúa. Chúng ta rất xúc động khi nghe chính
Đức Kitô tuyên bố: “Lời anh em nghe đây không phải là của tôi,
mà là của Cha, Đấng đã sai tôi” 141 . Trong quả quyết này của Thầy
chúng ta, há không phải thấy trách nhiệm kia về chân lý mặc khải
là “sở hữu” của một mình Thiên Chúa, vì ngay cả Người là “Con
Một”, sống “trong cung lòng Cha” 142 , thế mà khi thông truyền chân
lý đó với tư cách ngôn sứ và thầy, cũng cảm thấy cần nhấn mạnh
là mình hành động hoàn toàn trung thành với nguồn chân lý là
Thiên Chúa ? Cũng lòng trung thành ấy phải là một tính cách làm
nên đức tin của Giáo hội, khi giảng dạy hoặc khi tuyên xưng đức
tin này. Đức tin, vì là đức tính siêu nhiên đặc biệt được ban cho trí
tuệ con người, làm cho ta được tham dự vào sự thông hiểu Thiên
Chúa, đáp lại lời Ngài mặc khải. Cho nên, Giáo hội khi tuyên
xưng và giảng dạy đức tin, cần bám chặt vào chân lý của Thiên
Chúa 143 và điều đó phải được tỏ ra bằng một thái độ sống phục
tùng hợp với lý trí 144 . Ngay Đức Kitô, để bảo đảm lòng trung thành
với chân lý của Thiên Chúa cũng đã hứa cho Giáo hội được Thánh
Thần chân lý giúp đỡ đặc biệt. Người đã ban ơn vô ngộ 145 cho
140 LG, 31-36
141 Ga 14,24
142 Ga 1,18
143 DV, 5.10.21
144 Vat.II Dei Filius, ch.3
những ai được Người trao nhiệm vụ thông truyền và giảng dạy
chân lý đó 146 – như Công đồng Vat.I đã xác nhận rõ ràng 147 và như
Công đồng Vat.II đã tái quả quyết theo 148 – và Người còn ban cho
toàn thể dân Thiên Chúa một cảm quan đặc biệt về đức tin 149 .
Hậu quả là chúng ta được tham dự vào sứ mệnh của Đức Kitô
ngôn sứ và nhân danh chính sứ mệnh ấy, chúng ta cùng với Người
phục vụ chân lý của Thiên Chúa trong Giáo hội. Trách nhiệm về
chân lý này cũng có nghĩa là chúng ta phải yêu mến nó, tìm hiểu
nó cho đúng. Làm sao cho chính mình và kẻ khác tới được với nó
hơn trong tất cả sức cứu độ của nó, trong cái huy hoàng, cái sâu
sắc và đồng thời trong cái đơn giản của nó. Lòng mộ mến và khát
vọng tìm hiểu chân lý như thế phải đồng tiến, như lịch sử các
thánh trong Giáo hội cho thấy. Các thánh được soi sáng hơn ai hết
bởi ánh sáng đích thực phản chiếu chân lý của Thiên Chúa và gần
với thực tại Thiên Chúa; vì họ đã đến gần chân lý với lòng kính
trọng yêu mến: yêu mến trước hết Đức Kitô , Lời Hằng sống của
Thiên Chúa, đồng thời yêu mến lối diễn tả chân lý ấy bằng ngôn
ngữ loài người trong Tin mừng, trong truyền thống, trong thần
học. Ngày nay cũng vậy, trước hết cần phải hiểu và giải thích Lời
Chúa như thế, cần phải có một nền thần học như thế. Thần học bao
giờ cũng đã có và vẫn tiếp tục có một tầm quan trọng lớn lao để
Giáo hội, dân Thiên Chúa, có thể tham gia một cách sáng tạo và
phong phú vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô. Cho nên các nhà
thần học với tư cách là kẻ phục vụ chân lý của Thiên Chúa, dành
công việc nghiên cứu và biên soạn của họ để tìm hiểu thấu đáo
hơn nữa chân lý ấy và không bao giờ có thể quên ý nghĩa việc họ
phục vụ Giáo hội, ý nghĩa được bao hàm trong khái
niệm"intellectus fidei”. Khái niệm này hầu như có một chức năng
hai chiều, đúng theo thành ngữ “intellege ut credas – crede ut
intellegas” (hiểu để tin, tin để hiểu) 150 và nó được dùng đứng đắn
145 Vat.II PA; LG, 25
146 x. Mt 28,19
147 Vat.II PA
148 LG, 18-27
149 Sđd, 12,35
150 Th. Augustino, Sermo 43,7-9; PL 38, 257-258
khi mà nhà thần học tìm cách phục vụ Huấn quyền là quyền trong
Giáo hội được trao cho các giám mục kết hợp bằng mối giây hiệp
thông phẩm trật với Người kế vị Phêrô, và cả khi họ ra công phục
vụ nỗi lo lắng giảng dạy và làm mục vụ của các giám mục cũng
như những nỗ lực dấn thân Tông đồ của toàn thể dân Thiên Chúa.
Như các thời trước và có lẽ ngày nay còn hơn nữa, các nhà
thần học và mọi nhà khoa học của Giáo hội đều được mời gọi kết
hợp đức tin với khoa học và với hiền minh để góp phần giúp
những thực tại đó thấu suốt lẫn nhau, như ta đọc trong lời cầu
nguyện phụng vụ ngày lễ thánh Alberto, Tiến sĩ Giáo hội. Việc
dấn thân này ngày nay phát triển rất mạnh vì mức tiến bộ trong tri
thức loài người, trong các phương pháp và các chinh phục của tri
thức để hiểu biết vũ trụ và con người. Điều này liên quan đến các
khoa học chính xác cũng như các khoa học nhân văn, và cả đến
triết học đã từng được Công đồng Vat.II nhắc lại 151 .
Trong lãnh vực hiểu biết kia của loài người là lãnh vực không
ngừng mở rộng và thêm chuyên biệt, đức tin cũng phải luôn đào
sâu, bằng cách làm sáng tỏ tầm rộng của mầu nhiệm mặc khải và
cố hướng tới sự am hiểu chân lý bắt nguồn duy nhất và tối cao từ
nơi Thiên Chúa. Tuy công cuộc lớn lao phải thực hiện trong chiều
hướng đó được phép chú trọng – và còn phải mong nó chú trọng
nữa – tới một thứ đa dạng nào đó về mặt phương pháp luận, nhưng
một công cuộc như thế vẫn không thể xa rời sự nhất trí căn bản
trong việc giảng dạy đức tin và đạo đức, là cứu cánh riêng biệt của
nó. Do đó một sự hợp tác chặt chẽ giữa thần học và Quyền giáo
huấn là thiết yếu. Nhà thần học nào cũng phải đặc biệt ý thức điều
chính Đức Kitô đã bày tỏ khi Người nói: “Lời anh em nghe đây
không phải là của Thầy mà là của Cha, Đấng đã sai Thầy” 152 . Thế
thì, chẳng một ai được làm thần học như thể thần học chỉ là để
trình bầy những ý kiến tư riêng của mình, nhưng mỗi người phải ý
thức mình kết hợp chặt chẽ với sứ mệnh giảng dạy chân lý mà
Giáo hội có trách nhiệm.
151 GS, 47,57,59,62; OT, 15
152 Ga 14,24
Có tham dự vào chức năng ngôn sứ của Đức Kitô toàn thể
Giáo hội mới sống đúng theo kích thước căn bản của mình. Sự
tham dự đặc biệt vào chức năng này là phần các chủ chăn trong
Giáo hội, để giảng dạy và luôn bằng cách này hay cách khác loan
báo, thông truyền giáo lý, đức tin và đạo đức Kitô giáo. Việc giảng
dạy này, dưới hình thức truyền giáo hoặc dưới hình thức thông
thường, đều giúp vào việc hợp nhất dân Thiên Chúa chung quanh
Đức Kitô , sửa soạn cho việc tham dự vào nhiệm tích Thánh Thể,
vạch đường cho đời sống bí tích. Thượng hội đồng giám mục năm
1977 đã đặc biệt quan tâm đến công cuộc huấn giáo trong thế giới
ngày nay, và kết quả của những thảo luận, những kinh nghiệm, và
những gợi ý sẽ sớm được nói lên trong một văn kiện tòa thánh, thể
theo đề nghị của các thành viên Thượng hội đồng. Điều chắc chắn
là ngành huấn giáo là một hình thức sinh hoạt Giáo hội vừa
thường xuyên vừa căn bản và tỏ rõ đoàn sủng ngôn sứ của Giáo
hội: làm chứng và giảng dạy đi đôi với nhau. Tuy ở đây trước tiên
nói đến linh mục, nhưng cũng không thể không nhắc tới đông đảo
các tu sĩ nam nữ chuyên lo công việc huấn giáo vì lòng yêu mến
Thầy Chí Thánh. Và cũng khó mà không nói đến bao giáo dân vẫn
làm công việc này để biểu lộ niềm tin và trách nhiệm tông đồ của
mình.
Ngoài ra, bao giờ cũng phải nhằm sao cho các hình thức huấn
giáo trong những lãnh vực khác nhau – bắt đầu từ hình thức căn
bản, là “gia huấn”, tức là cha mẹ huấn giáo cho chính con cái mình
– đều biểu lộ việc toàn dân Thiên Chúa cùng tham dự cả vào chức
năng ngôn sứ của chính Đức Kitô . Muốn thế, thì trách nhiệm của
Giáo hội đối với chân lý của Thiên Chúa phải được mọi người
chia sẻ ngày càng nhiều hơn, và bằng rất nhiều cách. Và phải nói
gì đây về các chuyên ga các nghành khác nhau, về các nhà khoa
học, các nhà văn, các y sĩ, luật gia, nghệ sĩ và kỹ thuật viên, các
nhà giáo dục mọi cấp và mọi môn ? Tất cả, với tư cách thành phần
dân Thiên Chúa, đều có vai trò của mình trong sứ mệnh ngôn sứ
của Đức Kitô, trong việc Người phục vụ chân lý của Thiên Chúa,
kể cả khi họ chân thành tìm kiếm chân lý trong mọi lãnh vực, theo
mức độ họ đào luyện tha nhân đến với chân lý, dạy dỗ tha nhân
lớn lên trong yêu thương và công bình. Như vậy, ý thức trách
nhiệm đối với chân lý là một trong những điểm căn bản để Giáo
hội gặp gỡ mỗi người, và cũng là một trong những đòi hỏi căn bản
ấn định sứ mệnh con người trong cộng đồng Giáo hội. Giáo hội
thời chúng ta, nhờ ý thức trách nhiệm về chân lý hướng dẫn, phải
bền lòng trung thành với bản chất riêng của mình vốn gồm cả sứ
mệnh ngôn sứ đã được Đức Kitô giao cho: “Cũng như Cha đã sai
Thầy, Thầy cũng sai anh em đi… Hãy nhận lấy Thánh Linh” 153 .
20. Thánh thể và sám hối.
Trong mầu nhiệm cứu chuộc, nghĩa là trong công trình cứu độ
do Đức Kitô hoàn thành, Giáo hội chẳng những tham dự vào Tin
mừng của Thầy mình nhờ trung thành với Lời Người và phục vụ
chân lý, mà còn nhờ lòng tuân phục đầy hy vọng và yêu thương,
tham dự vào sức tác động cứu chuộc Người đã biểu lộ và đặt trong
các nhiệm tích, nhất là trong Thánh Thể 154 . Thánh Thể là trung tâm
và tuyệt đỉnh của toàn thể đời sống nhiệm tích vẫn đem sức cứu độ
của ơn cứu chuộc đến cho mỗi Kitô hữu, bắt đầu từ mầu nhiệm
Thánh tẩy, là nhiệm tích dìm chúng ta vào trong sự chết của Đức
Kitô để chúng ta được dự phần vào sự Phục sinh của Người 155 như
lời Thánh Phaolô dạy. Nhờ giáo lý này soi sáng, người ta còn thấy
rõ hơn lý do tại sao tất cả đời sống nhiệm tích của Giáo hội và của
mỗi Kitô hữu đạt tới tuyệt đỉnh và viên mãn trong nhiệm tích
Thánh Thể. Quả vậy, trong nhiệm tích này, mầu nhiệm Đức Kitô
dâng mình tế hiến cho Chúa Cha trên cây thập giá không ngừng là
hiện tại cho chúng ta như ý Người muốn. Chúa Cha đã nhận cuộc
tế hiến này: Ngài đáp lại việc Con Ngài tận hiến vì đã “vâng phục
cho đến chết” 156 , bằng việc chính Ngài ban ơn nặng tình Cha là ban
cho sự sống mới và bất diệt trong phục sinh, bởi vì Chúa Cha là
nguồn sống đầu tiên và là Đấng ban sự sống từ nguyên thủy. Sự
sống mới ấy đã bao hàm việc tôn vinh thân xác Đức Kitô chịu
đóng đinh, đã trở thành dấu chỉ hữu hiệu của ân huệ mới mẻ được
ban cho loài người. Ân huệ này là Thánh Thần làm cho sự sống
153 Ga 20,21-22
154 SC, 10
155 x. Rm 6,3-5
156 Pl 2,8
Thiên Chúa mà Chúa Cha vốn có nơi Ngài và ban cho Con Ngài 157
lại cùng được truyền tới tất cả những người kết hợp với Đức Kitô .
Thánh Thể là nhiệm tích hoàn hảo nhất của sự kết hợp này.
Khi cử hành và tham dự Thánh Thể, chúng ta được kết hợp với
Đức Kitô dưới đất và trên trời là Đấng can thiệp cho ta bên cạnh
Cha 158 , nhưng chúng ta chỉ được kết hợp với Người qua hành động
cứu chuộc là việc Người đã tự hiến tế để chuộc lại chúng ta, mà
“chuộc lại với giá cao” 159 . Cái “giá cao” để cứu chuộc chúng ta vừa
cho thấy giá trị con người đối với chính Thiên Chúa, vừa cho thấy
phẩm giá chúng ta trong Đức Kitô . Khi trở nên “con Thiên
Chúa" 160 , “nghĩa tử” 161 , thì chúng ta đồng thời giống như Người, trở
nên một “vương quốc tư tế” và lãnh nhận “chức tư tế hoàng
vương” 162 , nghĩa là chúng ta tham dự vào công trình hoàn lại con
người và vũ trụ cho Chúa Cha, một công trình độc nhất và không
thể xoay ngược lại do chính Người, vừa là Con vĩnh cửu 163 vừa là
người thực sự, đã hoàn thành một lần dứt khoát. Thánh thể là
nhiệm tích diễn tả đầy đủ nhất thực thể mới của chúng ta, và cũng
là chỗ chính Đức Kitô một cách liên tiếp và luôn luôn mới mẻ,
“làm chứng” trong Thánh thần với thần hồn chúng ta 164 rằng mỗi
người chúng ta, vì tham dự vào mầu nhiệm cứu chuộc, nên được
hưởng hiệu quả ơn hòa giải con cái với Thiên Chúa 165 do chính
Người đã thực hiện và còn thực hiện luôn mãi giữa chúng ta bằng
sứ vụ của Giáo hội.
Có một chân lý cốt yếu không những về mặt giáo lý mà còn về
mặt hiện hữu, đó là nhiệm tích Thánh Thể xây dựng Giáo hội 166 , và
157 x. Ga 5,26; 1Ga 5,11
158 Dt 9,24; 1Ga 2,1
159 1Cr 6,20
160 Ga 1,12
161 x. Rm 8,23
162 Kh 5,10; 1Pr 2,9
163 x. Ga 1,1-4.18; Mt 3,17; 11,27; 17,5; Mc 1,11; Lc 1,32-35; 3,22; Rm 1,4;
2Cr 1,19; 1Ga 5,5.20; 2Pr 1,17; Dt 1,2
164 x. 1Ga 5,5-11
165 x. Rm 5,10.11; 2Cr 5,18-19; Cl 1,20.22
166 LG, 11; Phaolô VI, Diễn văn trong cuộc tiếp kiến chung ngày 15.9.1965
xây dựng thành cộng đồng đích thực của dân Thiên Chúa, thành
cộng đoàn tín hữu mang dấu ấn tín hợp nhất đã có giữa các tông
đồ và các môn đệ đầu tiên của Chúa. Thánh Thể luôn xây dựng lại
cộng đồng và tính hợp nhất đó, xây dựng và phục hồi luôn mãi từ
cuộc tế hiến của Đức Kitô, vì là nhiệm tích kính nhớ việc Người
chết trên thập giá 167 làm giá cứu chuộc chúng ta. Bởi vậy nói được
là trong nhiệm tích Thánh Thể chúng ta tiếp xúc với chính mầu
nhiệm Mình và Máu Chúa, đúng như những lời đã được Chúa
dùng để thiết lập nhiệm tích và đã vì sự thiết lập ấy mà trở nên
những lời cử hành vĩnh viễn Thánh Thể cho những ai được gọi
làm sứ vụ đó.
Giáo hội sống nhờ nhiệm tích Thánh Thể, nhờ sự viên mãn của
bí tích này mà ý nghĩa và nội dung đáng khâm phục đã nhiều lần
được Quyền giáo huấn của Giáo hội nói lên từ những thời xa xưa
nhất cho đến ngày nay 168 . Dù vậy chúng ta có thể nói chắc chắn
rằng giáo lý đó tuy được làm nổi bật giá trị bởi các nhà thần học,
bởi những người tin sâu nguyện thành, bởi các bậc khổ hạnh và
thần bí hoàn toàn trung thành với mầu nhiệm Thánh Thể, nhưng
vẫn đáng kể như còn ở ngưỡng cửa mầu nhiệm, bởi vì nó không
thể nào thấu hiểu được và nói ra được nên lời thế nào là nhiệm tích
Thánh Thể cho thật đầy đủ, những gì nhiệm tích này biểu lộ và
thực hiện. Thánh Thể đúng là bí tích khôn tả ! Sự dấn thân chính
thân chính yếu, và trên tất cả, ân sủng hữu hình và vọt tràn của sức
siêu nhiên của Giáo hội với tư cách là dân Thiên Chúa, cốt ở chỗ
kiên trì và luôn tiến tới trong đời sống Thánh Thể, trong lòng tôn
sùng Thánh Thể, lớn lên về mặt thiêng liêng trong bầu khí Thánh
Thể. Đã vậy thì trong cách chúng ta suy nghĩ, sống và hành động,
càng không được phép làm cho nhiệm tích thật chí thánh này mất
đi kích thước toàn diện và ý nghĩa thiết yếu của nó. Thánh Thể
đồng thời là nhiệm tích và tế lễ, nhiệm tích và hiệp thông, nhiệm
tích và hiện diện. Và tuy thực sự nhiệm tích Thánh thể đã luôn
luôn và còn phải là cách mặc khải sâu sắc nhất, cách cử hành tốt
đẹp nhất tình anh em giữa các môn đệ Đức Kitô và những ai làm
167 SC, 47
168 Phaolô VI, Mysterium fidei
chứng cho Người, nhưng không được coi nhiệm tích ấy như chỉ là
một “cơ hội” để bày tỏ tình huynh đệ mà thôi. Trong việc cử hành
nhiệm tích Mình và Máu Chúa, phải tôn trọng kích thước đầy đủ
của mầu nhiệm Thiên Chúa, ý nghĩa trọn vẹn của dấu nhiệm tích
này nơi chúng ta được rước Đức Kitô hiện diện thực sự, linh hồn
được tràn trề ân sủng và chúng ta được nhận lãnh bảo đảm cho
vinh quang sau này 169 . Do đó mà có nghĩa vụ phải tuân giữ nghiêm
túc các quy tắc phụng vụ và tất cả những gì làm chứng cho việc
tôn thờ cộng đồng dâng lên Thiên Chúa, nhất là vì trong dấu chỉ
nhiệm tích nói đây, Chúa phú thác mình cho chúng ta với một lòng
tín cẩn vô hạn, làm như Người không kể gì tới tình cảnh yếu đuối,
bất xứng của chúng ta, tới thói quen nhờn, chiếu lệ hay ngay cả
khả năng lăng nhục nữa. Mọi người trong Giáo hội, nhưng nhất là
các giám mục, linh mục, phải lo sao cho nhiệm tích yêu thương
này được ở trung tâm đời sống dân Thiên Chúa, ngõ hầu qua tất cả
những biểu lộ sự tôn thờ phải dành cho nhiệm tích ấy, người ta
làm thế nào để đem lòng yêu mến đáp lại lòng yêu mến của Đức
Kitô , và Người thực sự trở nên “sự sống linh hồn chúng ta” 170 . Và
mặt khác chúng ta sẽ không bao giờ quên được lời Thánh Phaolô:
“Mỗi người hãy tự hạch xét chính mình, rồi sau đó mới ăn bánh và
uống chén ấy” 171 .
Khuyến cáo này của thánh tông đồ cho thấy ít nữa một cách
gián tiếp là có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Thánh Thể và sám
hối. Và quả nhiên, nếu lời giảng dạy đầu tiên của Đức Kitô , nếu
câu đầu tiên của Tin mừng là hãy hối cải và tin vào tin mừng
(metanoia) 172 , thì nhiệm tích của thụ nạn, của thập giá và của phục
sinh xem như tăng cường và củng cố một cách rất đặc biệt lời kêu
gọi đó trong tâm hồn chúng ta. Như vậy Thánh Thể và Sám hối trở
nên, trong một nghĩa nào đó,hai kích thước liên quan chặt chẽ với
nhau của đời sống đích thực theo tinh thần Tin mừng, của đời sống
thật sự Kitô giáo. Đức Kitô, Đấng mời dự tiệc Thánh thể vẫn là
Đức Kitô kêu gọi sám hối và nhắc bảo: “Hãy hối cải” 173 . Không có
169 SC, 47
170 x. Ga 6, 52-58; 14,6; Gl 2,20
171 1Cr 11,28
172 Mc 1,15
cố gắng bền bỉ và luôn luôn bắt đầu lại để hối cải, thì sự tham dự
tiệc Thánh Thể hẳn sẽ thiếu đi hiệu năng cứu độ đầy đủ. Vì như
thế trong nhiệm tích Thánh thể sẽ thiếu mất hay ít ra sẽ suy giảm
sự đặc biệt sẵn sằng dâng lên Thiên Chúa lễ tế thiêng liêng 174 nhờ
đó ta biểu lộ một cách thiết yếu và phổ quát việc ta tham dự vào
chức vụ tư tế của Đức Kitô. Thật vậy, trong Đức Kitô, chức vụ tư
tế kết hợp với chính lễ tế của Người cùng việc Người hiến chính
mình cho Chúa Cha. Việc hiến dâng này chính là vì vô hạn – lại
làm nảy ra nơi chúng ta, những kẻ lệ thuộc nhiều giới hạn, nhu cầu
quay về với Thiên Chúa một cách chín chắn hơn mãi, nhờ một sự
hối cải liên tục và sâu xa hơn mãi.
Trong những năm gần đây, người ta đã làm rất nhiều để làm
nổi bật khía cạnh cộng đồng của sám hối, và nhất là của bí tích
sám hối trong cách thực hành của Giáo hội, đó cũng chỉ là điều
phù hợp với truyền thống cổ kính nhất của Giáo hội. Những sáng
kiến này có ích và hẳn sẽ giúp cho việc thực hành sám hối của
Giáo hội thời nay thêm phong phú. Tuy nhiên chúng ta không thể
quên rằng hối cải là một việc trong lòng có bề sâu đặc biệt nên con
người không thể để kẻ khác làm bù cho mình, không thể để cộng
đồng “thay thế” mình. Đành rằng cộng đồng anh em tín hữu tham
dự vào việc cử hành sám hối giúp nhiều cho việc hối cải của từng
người, nhưng rốt cuộc thì việc đó vẫn phải là hành động của chính
cá nhân, trong bề sâu nhất của lương tâm mình, với cảm thức trọn
vẹn về tội trạng của mình và về lòng mình tin cậy vào Thiên Chúa,
khi đến trước thánh nhan Ngài để thú nhận như trong Thánh vịnh:
“Con đắc tội với Chúa” 175 . Cho nên Giáo hội trung thành giữ cách
thực hành nhiệm tích sám hối đã có từ nhiều thế kỷ – tức là việc
xưng tội cá nhân kết hợp với việc đích thân ăn năn, dốc lòng chừa
cải và đền tội, vẫn bảo vệ quyền riêng của tâm hồn con người. Đó
là quyền mỗi người được đích thân gặp gỡ Đức Kitô chịu đóng
đinh mà tha thứ, gặp gỡ Đức Kitô là Đấng đã nói qua trung gian
thừa tác viên nhiệm tích hòa giải: “Tội lỗi con được tha” 176 ; “Đi đi
173 Sđd.
174 x. 1Pr 2,5
175 Tv 50 (51),6
176 Mc 2,5
và từ nay đừng phạm tội nữa” 177 . Rõ ràng đây đồng thời cũng là
quyền của chính Đức Kitô đối với từng người đã được Chúa cứu
chuộc. Đó là quyền gặp gỡ mỗi người chúng ta vào lúc quan trọng
nhất này đời sống linh hồn tức là lúc hối cải và lúc được tha thứ.
Khi bảo toàn nhiệm tích sám hối, Giáo hội minh nhiên khẳng định
niềm tin của mình vào mầu nhiệm cứu chuộc như thực tại sống
động và làm cho sống, tương ứng với chân lý bên trong của con
người, với tình trạng đắc tội của con người và với những ước
mong của lương tâm con người nữa. “Phúc cho kẻ đói khát sự
công chính, vì họ sẽ được no nê” 178 . Nhiệm tích sám hối là phương
thế làm cho con người được no nê sự công chính phát xuất từ
Đấng cứu chuộc.
Giáo hội, nhất là ở thời chúng ta, quen sum họp đặc biệt quanh
Thánh Thể và mong muốn cộng đồng Thánh Thể đích thực trở nên
dấu hiệu hợp nhất của mọi Kitô hữu, một sự hợp nhất dần dần chín
muồi hơn. Trong hoàn cảnh như thế, người ta phải cảm thấy thấm
thía nhu cầu sám hối, cả dưới khía cạnh nhiệm tích 179 lẫn dưới khía
cạnh nhân đức. Khía cạnh thứ hai này đã được Đức Phaolô VI nói
lên trong Hiến chế tông vụ Paenitemini 180 . Một trong những nghĩa
vụ của Giáo hội là đem ra thực hiện lời Ngài chỉ dạy: đây là một
chủ đề mà chắc chắn chúng ta sẽ phải đào sâu hơn trong một suy
nghĩ chung, và sẽ là đối tượng của nhiều quyết định sau này, theo
tinh thần tập đoàn trong mục vụ và vẫn phải chú ý đến những
truyền thống khác nhau về vấn đề, chú ý đến cả những hoàn cảnh
khác biệt của đời sống loài người thời chúng ta. Tuy nhiên chắc
chắn là Giáo hội của Mùa vọng mới, Giáo hội đang luôn luôn
chuẩn bị đón Chúa lại đến phải là Giáo hội của Thánh Thể và sám
hối. Chỉ từ góc độ thiêng liêng này của sức sống và hoạt động của
mình Giáo hội mới là Giáo hội của sứ mệnh Thiên Chúa ban cho,
177 Ga 8,11
178 Mt 5,6
179 Thánh bộ giáo lý đức tin, Normae pastorales circa absolutionem
sacramentalem generali modo impertiendam; Phaolô VI, bài nói chuyện với
phái đoàn giám mục Hoa Kỳ đến viếng “ad limina” (20.4.1978); JP.II , bài nói
chuyện với phái đoàn giám mục Gianãđại đến viếng “ad limina” (17.11.1978)
180 x. AAS 58, 1966, 177-198
Giáo hội trong tư cách được sai đi – imastatu missionis – như Công
đồng Vat.II đã tỏ cho thấy khuôn mặt của Giáo hội như thế.
21. Ơn gọi Kitô hữu: phục vụ và làm chủ.
Khi Công đồng Vat.II dựa vào các nền tảng của Giáo hội mà
họa hình ảnh Giáo hội như Dân Thiên Chúa, bằng cách làm nổi rõ
ba sứ mệnh của Đức Kitô và sự kiện chúng ta thực sự thành Dân
Thiên Chúa nhờ được tham dự vào ba sứ mệnh của Người, Công
đồng cũng đã làm nổi rõ đặc điểm này trong ơn gọi Kitô hữu là
đặc điểm “hoàng vương”. Để trình bày tất cả giáo lý phong phú
của Công đồng, có lẽ phải nhắc tới nhiều chương nhiều đoạn trong
hiến chế LG và nhiều văn kiện khác nữa của Công đồng. Tuy
nhiên, giữa tất cả sự phong phú ấy, một điểm có vẻ nổi bật, đó là
việc tham dự vào sứ mệnh hoàng vương của Đức Kitô, nghĩa là
việc khám phá lại nơi mình và nơi người khác phẩm tước đặc biệt
của ơn gọi chúng ta, phẩm tước có thể được xác định trong thái độ
sẵn sàng phục vụ theo gương Đức Kitô , Đấng “không đến để
được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ” 181 . Như vậy, nếu chỉ có thể “làm
vua” thực sự là bằng cách “hầu hạ” như trong thái độ Đức Kitô đã
chứng tỏ, thì việc “hầu hạ” đồng thời lại đòi hỏi một sự chín chắn
tinh thần tới mức nó thật đáng được xác định là một vương quyền.
Để có thể phục vụ kẻ khác một cách xứng đáng và hữu hiệu, cần
phải biết làm chủ chính mình, phải có những đức tính cần thiết để
tự chủ được. Như thế, việc chúng ta tham dự vào sứ mệnh “hoàng
vương”, và chính xác hơn vào “chức năng làm vua” (munus
regale) của Đức Kitô gắn liền chặt chẽ với toàn thể lãnh vực đạo
đức Kitô giáo và cả lãnh vực đạo đức nhân bản nữa.
Khi trình bày một cái nhìn đầy đủ về dân Thiên Chúa và khi
nhắc lại vị trí không những của các linh mục mà còn của các giáo
dân, không những của các vị đại diện cho giáo phẩm mà còn của
các đại diện các dòng tu nam nữ, Công đồng Vat.II đã không chỉ
rút hình ảnh đó ra từ những tiền đề xã hội học mà thôi. Xét như
một xã hội loài người, hẳn Giáo hội cũng có thể được nghiên cứu
và định nghĩa theo những tiêu chuẩn mà khoa học thường dùng đối
181 Mt 20,28
với mọi xã hội loài người. Nhưng những phạm trù đó không đủ.
Đối với toàn thể cộng đồng Dân Thiên Chúa và đối với mỗi phần
tử trong cộng đồng này, vấn đề không phải chỉ là “thuộc về một xã
hội” nhất định nào đó, nhưng điều cốt yếu đối với mỗi người và
mọi người lại là một “ơn gọi” đặc biệt. Thậy vậy, Giáo hội, với tư
cách là Dân Thiên Chúa, cũng là “nhiệm thể của Chúa Kitô”, theo
lời dạy của Thánh Phaolô mà tôi đã trích dẫn và đã được Đức Piô
XII nhắc lại một cách đáng khâm phục 182 . Việc thuộc về Giáo hội
bắt nguồn từ một lời mời gọi đặc biệt nối liền với tác động cứu độ
của ân sủng. Như vậy, nếu chúng ta muốn xét cộng đồng Dân
Thiên Chúa, một cộng đồng rộng lớn và đa dạng biết bao, thì trước
hết chúng ta phải nhìn lên Đức Kitô , Đấng một cách này hay cách
khác đã kêu gọi mỗi phần tử trong cộng đồng đó: “Hãy theo Ta” 183 .
Cộng đồng các môn đệ là thế đó, một cộng đồng mà mỗi thành
phần theo Đức Kitô một cách, có khi rất ý thức và mạch lạc,
nhưng cũng có khi không mấy ý thức và thiếu mạch lạc. Điểm này
cũng cho thấy khía cạnh tôn trọng sâu xa bản vị mỗi người và cho
thấy kích thước thật của cộng đồng Giáo hội : dù có tất cả những
thiếu xót trên bình diện đời sống cộng đồng theo nghĩa loài người
của chữ này, Giáo hội vẫn là một cộng đồng chính nhờ sự kiện là
tất cả làm thành cộng đồng ấy cùng với Đức Kitô, ít nữa cũng bởi
vì họ đều mang trong linh hồn mình dấu ấn không thể xóa bỏ được
của người Kitô hữu.
Công đồng Vat.II đã đặc biệt chú trọng đến việc làm cho mọi
người thấy cộng đồng có tính cách “hữu thể” là cộng đồng các
môn đệ và chứng nhân của Đức Kitô phải ngày càng trở nên, cả
trên bình diện “con người”, một cộng đồng ý thức hơn như thế nào
về đời sống và những hoạt động riêng của mình. Những gì Công
đồng đã khởi xướng trong lãnh vực này được tiếp tục trong nhiều
khởi xướng về sau của Thượng hội đồng giám mục, của Tông tòa
hay từ cơ sở. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ chân lý này là một
khởi xướng chỉ giúp canh tân Giáo hội cách đích thực và góp phần
đem lại ánh sáng thật là Đức Kitô 184 trong mức độ khởi xướng ấy
182 Piô XII, MS
183 Ga 1,43
184 LG, 1
dựa trên một ý thức đúng đắn về ơn gọi và về trách nhiệm đối với
ân sủng đặc biệt, có một không hai và không tiền khoáng hậu, ân
sủng làm cho mỗi Kitô hữu thuộc cộng đồng Dân Thiên Chúa xây
dựng thân mình Đức Kitô . Là nguyên tắc then chốt của tất cả mọi
hoạt động Kitô giáo – hoạt động tông đồ, mục vụ, các thực hành
đời sống nội tâm và đời sống xã hội – nguyên tắc ấy phải được áp
dụng cách đúng mức cho mọi người và cho mỗi người. Ngay cả
Giáo hoàng, cũng như mỗi giám mục, cũng phải áp dụng nguyên
tắc ấy cho chính mình. Các linh mục, các tu sĩ nam nữ đều phải
trung thành với nguyên tắc tắc đó. Chính trên nền tảng ấy mà mọi
người, vợ chồng, cha mẹ, nam nữ thuộc mọi thành phần xã hội và
mọi nghề nghiệp, từ những người giữ trọng trách cao trọng nhất
trong xã hội cho đến những người làm những công việc tầm
thường nhất đều phải xây dựng đời sống mình. Đó đúng là nguyên
tắc của “việc phục vụ hoàng vương”, nguyên tắc buộc mỗi người
chúng ta, theo gương Đức Kitô , có bổn phận đòi hỏi chính mình
phải làm đúng những gì chúng ta được kêu gọi để làm, những gì
mỗi người chúng ta đích thân phải làm, nhờ ơn Thiên Chúa, để
đáp ứng với ơn kêu gọi mình. Trung thành như thế với ơn kêu gọi,
nhờ ơn Thiên Chúa qua trung gian Đức Kitô , cũng là dự phần vào
trách nhiệm tập thể đối với Giáo hội, điều mà Công đồng Vat.II
muốn dạy cho mọi Kitô hữu. Thật vậy, trong Giáo hội cũng như
trong cộng đồng Dân Thiên Chúa do Thánh Thần hướng dẫn, mỗi
người có “đặc sủng riêng”, như lời Thánh Phaolô 185 . Đặc sủng này,
tuy vẫn là ơn gọi riêng của mỗi người vì là một cách tham dự vào
công cuộc cứu độ của Giáo hội, nhưng cũng hữu ích cho kẻ khác,
cũng góp phần xây dựng Giáo hội và các cộng đồng huynh đệ
trong những lãnh vực này nọ của đời sống con người trên trái đất
này.
Sự trung thành với ơn gọi, tức là bền chí sẵn sàng làm “công
việc phục vụ hoàng vương”, có một ý nghĩa đặc biệt đối với việc
xây dựng phức tạp kia, nhất là trong những gì liên quan tới những
cam kết trọng đại có ảnh hưởng lớn trên đời sống của đồng loại và
của toàn thể xã hội. Vợ chồng phải nổi bật bằng sự trung tín với
185 1Cr 7,7; x. 12,7.27; Rm 12,6; Ep 4,7
ơn gọi riêng của mình, như bản tính bất khả phân ly của nhiệm
tích hôn phối đòi hỏi. Các linh mục phải nổi bật bằng lòng trung
tín tương tự đối với ơn gọi riêng của mình, vì nhiệm tích truyền
chức đã in sâu vào linh hồn họ một dấu ấn không thể xóa được,
khi lãnh nhận nhiệm tích này, chúng ta cam kết một cách ý thức và
tự do, trong Giáo hội Latinh, là sẽ sống độc thân, và vì vậy mỗi
người chúng ta phải làm hết sức mình với ơn Chúa, để tỏ lòng biết
ơn về hồng ân ấy và để trung tín với lời cam kết vĩnh viễn ấy. Vợ
chồng cũng thế, họ phải hết sức cố gắng sống thủy chung trong
hôn nhân, lấy việc làm chứng bằng tình yêu như vậy mà xây dựng
cộng đồng gia đình và giáo dục các thế hệ mới cho đủ khả năng
hiến trọn cuộc đời mình cho ơn gọi riêng của họ, nghĩa là cho
“việc phục vụ hoàng vương” mà Đức Kitô đã là gương mẫu đẹp đẽ
nhất cho chúng ta. Giáo hội của Người, làm bằng tất cả chúng ta,
là Giáo hội “cho con người” theo nghĩa này; nhờ dựa vào gương
mẫu Đức Kitô 186 và cộng tác với ân sủng Người đã nhận được cho
chúng ta, chúng ta có thể đạt tới “vương quyền” đó, nghĩa là thực
hiện được trong mọi người chúng ta một nhân tính hoàn toàn nẩy
nở có nghĩa là chúng ta tận dụng được quyền tự do mà tạo hóa đã
ban cho chúng ta khi Ngài tạo thành con người “theo hình ảnh của
Thiên Chúa”. Hồng ân tự do này được thực hiện đầy đủ khi con
người hiến toàn thân mình không bớt xén, trong một tinh thần yêu
thương như tình nghĩa trăm năm đối với Đức Kitô và, cùng với
Đức Kitô, đối với mọi người. Đức Kitô vẫn phái đến với họ những
tu sĩ nam nữ đã tận hiến cho Người theo các lời khuyên của Tin
mừng. Đó là lý tưởng đời sống tu trì vẫn được các dòng cổ kính
cũng như các dòng mới lập và các thế viện đảm nhận.
Trong thời đại chúng ta đang sống nhiều khi người ta quan
niệm một cách lệch lạc rằng tự do là để tự do chứ chẳng có cứu
cánh nào khác, rằng con người được tự do là khi được sử dụng tự
do tùy thích và cần phải hướng tới mục tiêu ấy trong đời sống cá
nhân cũng như trong đời sống các xã hội. Nhưng trái lại tự do chỉ
là ơn huệ lớn lao khi chúng ta biết khôn ngoan dùng tự do để làm
tất cả những gì thật tốt lành. Đức Kitô dạy chúng ta rằng cách sử
186 LG, 36
dụng tự do tốt nhất là bác ái, mà bác ái thì được thực hiện bằng
hiến tặng và phục vụ. “Đức Kitô đã giải phóng chúng ta chính là
để chúng ta được tự do” như thế 187 và Người mãi mãi giải phóng
chúng ta. Ở đây Giáo hội tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận, lời
mời gọi và đà để thi hành sứ mệnh và công việc phục vụ của mình
giữa mọi người. Chân lý đầy đủ về tự do của con người được ghi
sâu trong mầu nhiệm cứu chuộc. Giáo hội phục vụ nhân loại thực
sự khi bảo toàn chân lý ấy với một mối quan tâm không biết mệt
mỏi, với một lòng yêu thương nồng nhiệt, với một thế dấn thân
chín chắn, và khi truyền lại và thực hiện chân lý ấy trong đời sống
con người, giữa toàn thể cộng đồng Giáo hội và nhờ mỗi Kitô hữu
biết trung thành với ơn gọi của mình.
22. Đức Maria, người mẹ làm cho chúng ta hy vọng.
Ở đầu nhiệm kỳ Giáo hoàng này, khi tôi hướng lòng trí tôi về
Đấng Cứu thế là tôi muốn nhờ đó đi vào sâu trong nhịp sống sâu
xa nhất của Giáo hội. Thật vậy, nếu Giáo hội sống sự sống đặc biệt
của mình, thì đó là nhờ Giáo hội lấy sức sống này nơi Đức Kitô,
Đấng lúc nào cũng chỉ có một ý nguyện là : chúng ta được sống và
sống dồi dào 188 . Sự sống viên mãn ở nơi Người cũng được dành
cho con người. Chính vì thế, nhờ chia sẻ tất cả sự phong phú của
mầu nhiệm cứu chuộc, Giáo hội trở thành một Giáo hội những
người sống, sống vì được “Thánh Thần chân lý” 189 làm cho sống
bên trong, vì được thăm viếng bởi tình thương mà Thánh Thần
tuôn vào lòng dạ chúng ta 190 . Mục đích của mọi phục vụ trong
Giáo hội, dù là phục vụ trong tư cách tông đồ, chủ chăn, linh mục
hay giám mục đều là duy trì tương quan sống động giữa mầu
nhiệm cứu chuộc và mọi người.
Nếu chúng ta ý thức được nhiệm vụ đó, chúng ta có thể hiểu rõ
hơn theo nghĩa nào Giáo hội là mẹ 191 và cả theo nghĩa nào Giáo hội
187 Gl 5,1; x. 5,13
188 x. Ga 10,10
189 Ga 16,13
190 x. Rm 5,5
191 LG, 63-64
luôn luôn cần một người Mẹ, nhất là trong thời chúng ta. Chúng ta
phải đặc biệt nhớ ơn các nghị phụ trong Công đồng Vat.II đã diễn
tả chân lý ấy trong hiến chế LG và trong giáo lý phong phú về
Đức Maria 192 . Vì Đức Phaolô VI đã dựa vào giáo lý ấy mà tuyên
bố Thánh mẫu của Đức Kitô là “Mẹ của Giáo hội” 193 và vì tước
hiệu này đã được hưởng ứng rộng rãi, cho nên, kẻ kế vị bất xứng
này của Đức Phaolô VI cũng xin hướng về Đức Maria, Mẹ của
Giáo hội, để kết thúc những nhận định đã đáng được khai triển ở
đầu nhiệm kỳ giáo hoàng này. Đức Maria là mẹ của Giáo hội vì
theo sự tuyển chọn khôn tả của chính Chúa Cha vĩnh cửu 194 và nhờ
tác động đặc biệt của Thánh thần yêu thương 195 , Đức Mẹ đã đem
lại sự sống con người cho Con Thiên Chúa là Đấng “có vạn vật vì
Người và do bởi Người” 196 , Đấng ban cho toàn thể Dân Thiên
Chúa ân sủng và phẩm cách làm dân được tuyển chọn. Chính Con
của Đức Maria đã rõ ràng muốn mở rộng tình nghĩa mẫu tử của
Đức Mẹ – và mở rộng một cách dễ hiểu cho mọi tâm hồn – khi trên
thập giá Người đã trối môn đệ yêu quý của mình làm con Đức
Mẹ 197 . Sau khi Chúa chúng ta lên trời, Thánh Thần đã dun dủi Đức
Maria ở lại giữa các tông đồ để tĩnh tâm cầu nguyện và chờ đợi
cùng với họ cho đến ngày Hiện xuống là ngày Giáo hội phải ra
khỏi bóng tối mà phát sinh một cách hữu hình 198 . Rồi từ đó, mọi
thế hệ môn đồ và tất cả những ai yêu thương Đức Kitô và làm
chứng cho Người, đều như tông đồ Gioan, đón rước Đức Mẹ một
cách thiêng liêng vào nhà mình 199 . Như vậy là từ khởi đầu, nghĩa là
từ lúc được thiên sứ truyền tin, Đức Mẹ vẫn luôn có chỗ trong lịch
sử cứu độ và trong sứ mệnh của Giáo hội. Vì thế tất cả chúng ta là
thế hệ các đồ đệ hiện nay của Đức Kitô, chúng ta mong muốn kết
hợp với Đức Mẹ một cách đặc biệt. Chúng ta làm như vậy với trọn
niềm khăng khít đối với cổ truyền mà đồng thời vẫn rất mực kính
192 x. Sđd, 52-69
193 Phaolô VI, Diễn văn bế mạc khóa III, Công Đồng Vat.II (21.11.1964)
194 LG, 56
195 Sđd.
196 Dt 2,10
197 x. Ga 19,26
198 x. Cv 1,14; 2.
199 x. Ga 19,27
trọng và yêu thương các thành phần thuộc mọi cộng đồng Kitô
giáo.
Chúng ta làm như vậy là do nhu cầu sâu xa của đức tin, đức
cậy và đức mến thúc đẩy. Thật vậy, nếu trong giai đoạn khó khăn
và trọng yếu này của lịch sử Giáo hội và loài người, chúng ta cảm
thấy cần phải đặc biệt hướng về Đức Kitô là Chúa của Giáo hội và
Chúa của lịch sử loài người thể theo mầu nhiệm cứu chuộc, thì
chúng ta tin rằng không ai như Đức Maria có thể đưa chúng ta vào
kích thước Thiên Chúa và con người của mầu nhiệm này. Không
ai đã được chính Thiên Chúa đưa vào đó như Đức Maria. Tính
cách phi thường của ơn được là Mẹ Thiên Chúa chính là ở chỗ ấy.
Không những phẩm giá tước vị Mẹ Thiên Chúa là có một không
hai và tuyệt đối đặc thù trong lịch sử loài người, mà điều cũng độc
nhất vô nhị do bởi có ảnh hưởng sâu rộng chính là Đức Maria, vì
là Mẹ Thiên Chúa, được tham dự vào ý định của Thiên Chúa
muốn cứu độ loài người, qua mầu nhiệm cứu chuộc.
Tình yêu thương muôn đời của Chúa Cha đã được tỏ ra trong
lịch sử nhân loại nơi Chúa Con, Đấng mà Chúa Cha đã ban cho
“ngõ hầu ai tin vào Người thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự
sống đời đời” 200 . Tình thương yêu ấy nhờ Đức Mẹ lại được nên gần
gũi mỗi người chúng ta và như vậy được tỏ bày một cách dễ hiểu
và vừa tầm hơn cho mỗi người. Vì thế, Đức Maria phải có mặt
trên mọi nẻo đường của đời sống thường ngày của Giáo hội. Nhờ
Người hiện diện như một người Mẹ, Giáo hội biết chắc được rằng
mình đang sống thực sự đời sống của Thầy và Chúa mình, và mình
sống mầu nhiệm cứu chuộc trong tất cả chiều sâu và sức tác sinh
đầy đủ của mầu nhiệm đó. Và khi ăn rễ vào nhiều lãnh vực khác
nhau của đời sống nhân loại ngày nay, cũng chính Giáo hội còn
được biết chắc và kể như được cả kinh nghiệm là mình gần gũi với
con người, với mỗi người, mình là Giáo hội của họ, Giáo hội của
dân Thiên Chúa.
Trước những nhiệm vụ xuất hiện dọc theo những con đường
Giáo hội đi, dọc theo các con đường Đức Phaolô VI đã chỉ cho
200 Ga 3,16
chúng ta trong bức Thông điệp đầu tiên của Người, chính chúng ta
vì ý thức cả sự cần thiết tuyệt đối của các con đường ấy lẫn các
khó khăn đang dồn dập trên đó, chúng ta càng cảm thấy cần phải
gắn bó sâu xa với Đức Kitô. Lời của Người vang lên trong chúng
ta: “Ngoài Ta, anh em không thể làm được gì” 201 . Chúng ta cảm
thấy toàn thể Giáo hội không những cần mà còn có bổn phận cấp
bách phải cầu nguyện rộng rãi hơn, sốt sắng và nhiều hơn. Chỉ có
cầu nguyện mới có thể làm cho tất cả các nhiệm vụ lớn lao trên và
những khó khăn gắn liền với chúng không trở thành những nguồn
khủng hoảng, mà lại thành cơ hội hay là những khởi điểm cho /dân
Thiên Chúa luôn tiến sâu hơn trên con đường đưa về đất hứa,
trong giai đoạn lịch sử đang dẫn chúng ta đến cuối thiên niên kỷ
thứ hai này. Tuy vậy, khi tôi kết thúc cuộc suy niệm này bằng lời
nguyện khiêm tốn và nhiệt thành kêu gọi Giáo Hội cầu nguyện, tôi
cũng mong muốn mọi người bền lòng cầu nguyện như thế trong sự
kết hợp với Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu 202 , như xưa kia các tông đồ
và các môn đệ của Chúa đã bền lòng cầu nguyện tại nhà Tiệc ly ở
Giêrusalem, sau khi Chúa lên trời 203 . Tôi khẩn cầu đặc biệt Đức
Maria, Mẹ trên trời của Giáo hội, xin Người luôn cùng với chúng
ta cầu nguyện như thế trong Mùa Vọng mới của nhân loại, để
chúng ta làm thành Giáo hội, Thân Mình huyền nhiệm của Con
Một của Người. Tôi trông cậy rằng, nhờ lời cầu nguyện đó, chúng
ta sẽ có thể lãnh nhận Thánh Thần xuống trên chúng ta 204 và nhờ
thế, trở nên những chứng nhân của Đức Kitô “đến tận cùng trái
đất” 205 như những người xưa kia đã ra khỏi nhà Tiệc ly tại
Giêrusalem trong ngày hiện xuống.
Với phép lành Tòa Thánh của tôi.
Làm tại Rôma, gần đền thờ Thánh Phêrô, ngày
4.3.1979.
201 Ga 15,5
202 x. Cv 1,14
203 x.Cv 1,13
204 x. Cv 1,8
205 Sđd.
Chủ nhật thứ nhất Mùa Chay, năm đầu tiên tôi làm
Giáo Hoàng
Gioan – Phaolô II.







