Thông điệp
Đức tin và lý trí
(FIDES ET RATIO)
của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II
gởi (cho) các Giám Mục Giáo Hội Công giáo
về mối tương quan giữa đức tin và lý trí.
Đức tin và lý trí ví được như đôi cánh giúp cho trí khôn con người vươn lên
chiêm ngắm chân lý. Thiên Chúa đã đặt vào trái tim con người niềm khao khát được
biết chân lý, tựu trung là được biết chính Người, ngõ hầu một khi đã biết và yêu mến
Thiên Chúa, con người cũng có thể biết được sự thật trọn vẹn về chính mình (x. Xh 33,
18; Tv 27,8-9 ; 63, 2-3 ; Ga 14,8 ; 1Ga 3,2).
DẪN NHẬP
“ HÃY TỰ BIẾT MÌNH”
i. Ở Đông phương cũng như Tây phương, chúng ta có thể phác hoạ phạm vi một
lộ trình xuôi theo dòng các thế kỷ, đã dẫn đưa loài người gặp gỡ chân lý và liên quan tới
chân lý ngày càng sâu xa hơn. Hành trình ấy đã diễn ra- như nó phải diễn ra – bên trong
con người tự ý thức về bản thân mình : thật vậy, càng biết thực tại và thế giới, con
người càng biết mình là độc nhất vô song, và câu hỏi họ nêu lên về ý nghĩa của sự vật
và của chính cuộc đời mình càng trở nên khẩn thiết hơn. Chính vì thế mà tất cả những
gì làm đối tượng cho nhận thức của chúng ta đều trở thành một phần của đời ta. Lời
khuyên bảo Hãy tự biết mình khắc trên cổng đền Delphi là bằng chứng về một chân lý
nền tảng phải được chấp nhận như qui tắc tối thiểu bởi những ai muốn phân biệt mình
với các thọ tạo khác bằng cách minh định mình là “người”,
nghĩa là thọ tạo “tự biết mình”.
Ngoài ra, chỉ nhìn lướt qua lịch sử thời Cổ đại, chúng ta cũng thấy rõ tại nhiều
nơi trên thế giới, với những nền văn hoá khác nhau, đã đồng thời phát sinh ra những câu
hỏi căn bản về cuộc nhân sinh : Tôi là ai ? Tôi từ đâu đến và đang đi về đâu ? Tại sao có
sự ác ? Đó là những câu hỏi chúng ta tìm thấy trong các sách thánh của dân Ít-ra-en
cũng như trong sách Vệ-đà và sách Avesta ; chúng cũng có trong các sách của Khổng-tử
và Lão-tử, trong những lời giảng thuyết của Tirthankaras và của Phật tổ ; chúng xuất
hiện trong thi phẩm của Homer và các vở bi hài kịch của Euripides và Sophocles, cũng
như trong tác tác phẩm triết học của Plato và Aristotle. Chúng phát sinh từ một nguồn
gốc chung, đó là việc tìm kiếm ý nghĩa, vốn luôn luôn thôi thúc cõi lòng con người. Quả
thực, lời giải đáp cho những câu hỏi ấy quyết định những hướng đi mà người ta muốn
tìm cho cuộc đời mình.
2. Giáo Hội không xa lạ và cũng không thể xa lạ với cuộc hành trình khám phá
này. Kể từ lúc nhận được ơn nhận biết chân lý tối hậu về cuộc đời con người nhờ mầu
nhiệm Phục sinh, Giáo Hội đã sống cuộc lữ hành của mình dọc theo các nẻo đường trần
thế để loan báo rằng Đức Giêsu Kitô “là đường, là chân lý và là sự sống” (Ga 14,6).
Giáo Hội có bổn phận phải phục vụ nhân loại bằng nhiều cách, nhưng có một dịch vụ
Giáo Hội phải đặc biệt đảm trách : đó là phục vụ chân lý (1). Một đàng sứ vụ này làm
cho cộng đoàn tín hữu tham gia vào nỗ lực phấn đấu chung của loài người để đạt tới
chân lý (2), đàng khác, nó bó buộc cộng đoàn tín hữu phải công bố những điều chắc
chắn đã đạt được, dù vẫn biết rằng mỗi chân lý đạt được chỉ là một bước trên con đường
tiến đến chân lý toàn vẹn sẽ xuất hiện với sự mặc khải cuối cùng của Thiên Chúa :
“Hiện nay chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp
mặt. Hiện nay chỉ biết được có ngần có hạn, mai sau sẽ được biết hết” (1Cr 13,12)
3. Con người có thể sử dụng một loạt những nguồn lực để tiến tới trong nhận
thức chân lý hầu làm cho cuộc đời họ ngày một thêm nhân bản hơn. Triết học là một
trong những nguồn lực ấy, bởi nó trực tiếp liên quan tới việc nêu câu hỏi về ý nghĩa
cuộc đời và phác hoạ một giải đáp. Vì thế triết học xuất hiện như một trong những
nhiệm vụ cao quí nhất của con người. Thuật ngữ triết học, theo từ nguyên Hy-lạp, có
nghĩa là “lòng mộ mến Khôn ngoan”, Triết học phát sinh và được chăm sóc vào lúc con
người bắt đầu nêu câu hỏi về lý do và mục đích của vạn vật. Bằng nhiều phương cách
và dưới nhiều hình thức khác nhau, nó cho thấy niềm khát vọng chân lý nằm trong
chính bản tính con người. Đặc tính bẩm sinh của lý trí con người là tự hỏi tại sao có vạn
vật, mặc dù các câu trả lời mà ta thấy xuất hiện dần dần đều lệ thuộc vào một phối cảnh
nhất định, điều đó cho thấy rằng các nền văn hoá nhân loại là bổ túc cho nhau.
Anh hưởng lớn lao của triết học đối với sự hình thành và phát triển của các
nền văn hoá Tây phương không được làm cho người ta quên đi ảnh hưởng mà nó cũng
đã có đối với những cách quan niệm về cuộc nhân sinh bên phương Đông. Mỗi dân tộc
sở hữu một nền minh triết [sự khôn ngoan] bản địa riêng ; đó là một kho tàng văn hoá
và, như một hạt giống nó có khuynh hướng diễn đạt ra và phát triển thành những hình
thức mang tính triết học chân chính. Có thể lấy một ví dụ : Những giả định gợi hứng
cho việc thiết lập các hệ thống luật pháp quốc gia và quốc tế chi phối đời sống xã hội
đều chứa đựng hình thức cơ bản của nhận thức triết học vẫn hiển nhiên cho tới ngày
nay .
4. Tuy nhiên, cũng phải nhận định rằng một từ ngữ duy nhất ẩn chứa nhiều ý
nghĩa khác nhau. Vì thế cần phải có một sự giải thích mở đầu. Do được thúc đẩy bởi
khát vọng khám phá ra chân lý tối hậu của cuộc đời, con người tìm cách cho có được
những yếu tố nhận thức phổ quát khả dĩ giúp họ hiểu biết mình hơn và tiến tới trong
việc thể hiện mình. Những yếu tố nhận thức nền tảng ấy phát sinh từ sự ngạc nhiên khi
con người chiêm ngắm vạn vật. Họ ngạc nhiên thấy mình là một thành phần của thế
giới, có liên hệ với những kẻ khác cũng giống như mình, và cùng chia sẻ một số phận
chung. Từ đây bắt đầu cuộc hành trình sẽ dẫn họ tới chỗ khám phá ra những chân trời
nhận thức mới mẻ. Không biết ngạc nhiên, chắc hẳn con người sẽ rơi vào trơ lì vì thói
quen và dần dần mất khả năng sống một cuộc đời thực sự xứng với con người.
Nhờ hoạt động triết lý, khả năng suy luận vốn là đặc trưng của trí khôn con
người, tạo ra một hình thức tư tưởng chặt chẽ, và rồi nhờ tính mạch lạc về mặr luân lý
của những khẳng định và nhờ tính thống nhất hữu cơ của nội dung, khả năng ấy lại xây
dựng nên một khối tri thức có hệ thống. Trong những bối cảnh văn hoá khác nhau và
vào những thời đaị khác nhau, quá trình này mang lại những kết quả từ đó những hệ
thống tư tưởng đích thực đã được hình thành. Tuy nhiên, như đã thường xảy ra trong
lịch sử, điều đó kéo theo cám dỗ đồng nhất một luồng tư tưởng duy nhất với toàn bộ tư
tưởng triết học. Trong những trường hợp như thế, hiển nhiên là có một “niềm tự hào
triết học” tìm cách trình bày cái nhìn phiến diện và thiếu sót của mình như đã là quan
niệm đầy đủ bao trùm mọi thực tại. Quả thế, cho dù ta phải luôn luôn tôn trọng mỗi hệ
thống triết học như một toàn thể, chứ không biến nó thành một công cụ, nhưng nó vẫn
phải nhìn nhận quyền ưu tiên của công cuộc truy vấn triết học đã làm phát sinh ra nó và
nó phải trung thành phục vụ công cuộc ấy.
Mặc dù các thời đại thay đổi và tri thức luôn gia tăng, ta vẫn có thể nhận ra một
điểm cốt lõi trong kiến thức triết học qua lịch sử tư tưởng nói chung. Để lấy một thí dụ,
bạn hãy nghĩ tới các nguyên lý bất mâu thuẫn, cứu cánh và nhân quả, cũng như khái
niệm nhân vị hiểu như một chủ thể tự do và có trí thông minh, với khả năng nhận biết
Thiên Chúa là Chân lý và là sự Thiện. Cũng hãy nghĩ tới một số qui tắc đạo đức cơ bản
được mọi người chấp nhận. Những điều nói trên là những dấu hiệu, bên cạnh những dấu
hiệu khác, cho thấy rằng vẫn có một khối lượng tri thức có thể được coi là di sản tinh
thần của nhân loại, vượt qua giới hạn của các trường phái tư tưởng khác nhau. Như thể
là chúng ta đã tìm thấy ở đây một nền triết học hàm ẩn mà hậu quả là mọi người đều
cảm thấy mình sở hữu các nguyên lý ấy, dĩ nhiên là một cách chung và thiếu phản tỉnh.
Chính vì được mọi người chia sẻ đến mức nào đó mà tri thức này phải được dùng như
một thứ điểm qui chiếu cho những trường phái triết học khác nhau. Một khi lý trí đã
trực giác và diễn đạt được cách thành công các nguyên lý đệ nhất phổ quát của hữu thể
và đã rút ra từ đó một cách thích hợp những kết luận mạch lạc cả về mặt luận lý lẫn đạo
đức, bấy giờ nó có thể được gọi là lý trí ngay thẳng (right reason) – người xưa quen gọi
là orthòs logos, recta ratio.
5. Về phần mình, Giáo Hội chỉ có thể coi trọng nỗ lực của lý trí nhằm đạt tới
những mục tiêu làm cho đời sống người ta ngày càng xứng đáng hơn. Giáo Hội nhìn
thấy trong triết học con đường đưa tới nhận biết những chân lý cơ bản về đời sống con
người. Đồng thời Giáo Hội coi triết học như một sự trợ giúp không thể thiếu để hiểu
đức tin sâu xa hơn và để truyền đạt chân lý Tin Mừng cho những người chưa biết đến.
Bởi thế, tiếp nối những sáng kiến tương tự của các vị tiền nhiệm của tôi, nay tôi
cũng muốn suy nghĩ về loại hoạt động đặc biệt này của lý trí con người . Tôi nghĩ là
cần phải làm như thế, bởi vì việc xem ra người ta thường bê trễ việc tìm kiếm chân lý
tối hậu, nhất là trong thời hiện nay. Rõ ràng triết học hiện đại có công lớn vì đã tập
trung sự chú ý vào con người. Từ khởi điểm này, lý trí vốn hay thắc mắc đã phát triển
thêm lòng khao khát biết nhiều hơn và biết ngày càng sâu xa hơn.Và như thế, người ta
đã xây dựng những hệ thống tư tưởng phức tạp, mang lại những kết quả trong nhiều
lãnh vực tri thức và thúc đẩy sự phát triển văn hóa và lịch sử. Nhân loại học, luận lý
học, khoa học tự nhiên, lịch sử, ngôn ngữ học, v.v… – toàn bộ thế giới tri thức đã được
đề cập tới bằng cách này hay cách khác. Tuy nhiên những kết quả tích cực đạt được
không được làm cho ta quên mất rằng trong khi quan tâm nghiên cứu một cách phiến
diện chủ thể tính của con người, hình như lý trí đã quên mất rằng con người luôn được
mời gọi qui hướng về một chân lý vượt lên trên họ. Tách ra khỏi chân lý này, người ta
bị phó mặc cho sự tuỳ tiện, và rồi cuối cùng địa vị của họ xét như là những ngôi vị, bị
đánh giá theo những tiêu chuẩn thực dụng căn cứ chủ yếu trên những dữ kiện thực
nghiệm, với xác tín sai lầm rằng kỹ thuật phải chi phối mọi sự. Bởi đó đã xảy ra tình
trạng là lý trí, thay vì cho thấy con người qui hướng về chân lý, đã héo tàn dưới gánh
nặng của khối lượng tri thức đó và dần dà đã đánh mất khả năng hướng nhìn lên cao,
không dám vươn tới chân lý hữu thể. Triết học hiện đại đã từ bỏ việc nghiên cứu hữu
thể để tập trung nghiên cứu nhận thức của con người. Thay vì sử dụng khả năng của con
người để hiểu biết chân lý, triết học hiện đại lại thích nhấn vào những cách thức trong
đó khả năng ấy bị giới hạn và bị tương đối hóa.
Điều đó đã làm phát sinh nhiều dạng bất khả tri và chủ nghĩa tương đối khác
nhau, dẫn đưa việc nghiên cứu triết học đến chỗ lạc đường trên những bãi cát di động
của chủ nghĩa hoài nghi đang phổ biến khắp nơi. Thời gian gần đây, người ta thấy nổi
lên nhiều học thuyết có xu hướng hạ giá những chân lý xưa nay vẫn được coi là chắc
chắn. Một sự đa dạng chính đáng về các lập trường đã nhường chỗ cho một chủ nghĩa
đa nguyên bất phân định (indifferentiated) dựa trên khẳng định là mọi lập trường đều
có giá trị cả. Đây là một trong những triệu chứng phổ biến nhất hiện nay về sự thiếu tín
nhiệm vào chân lý. Một số nhân sinh quan đến từ phương Đông cũng chứng tỏ tình
trạng thiếu tín nhiệm này, không nhìn nhận chân lý có đặc tính độc chiếm 1 * và cho rằng
chân lý tự biểu lộ ra như nhau trong những học thuyết khác nhau ngay cả khi chúng
mâu thuẫn nhau. Với điều kiện này, mọi sự đều coi là ý kiến; và người ta có cảm giác
như bị trôi giạt không mục tiêu. Trong lúc, một đàng suy tư triết học đã tiến đến gần
hơn với thực tại của cuộc nhân sinh và những cách thức diễn tả của nó, thì đàng khác,
suy tư ấy cũng đã hướng tới việc khai triển những vấn đề hiện sinh, giải thích học hay
ngôn ngữ học, – những vấn đề vốn không biết tới câu hỏi cơ bản là chân lý về cuộc sống
cá nhân, về hữu thể và về Thiên Chúa. Do đó, chúng ta thấy nơi con người thời đại ta,
chứ không chỉ riêng nơi một vài triết gia, những thái độ ngờ vực phổ biến đối với khả
năng nhận thức to lớn của con người. Với một thái độ khiêm tốn sai lầm, người ta bằng
lòng với những chân lý phiến diện và tạm thời, không còn tìm cách đặt những câu hỏi
cơ bản về ý nghĩa và nền tảng cuối cùng của đời sống con người, cá nhân cũng như xã
hội. Tóm lại, người ta đã đánh mất hy vọng là triết học có khả năng mang lại những
giải đáp dứt khoát cho những câu hỏi trên.
6. Là người nắm giữ Mặc khải của Chúa Giêsu Kitô, Giáo Hội chắc chắn mình
có khả năng để tái khẳng định sự cần thiết phải suy tư về chân lý. Đó là lý do tại sao tôi
đã quyết định ngỏ lời với chư huynh trong hàng Giám mục, những người cùng tôi chia
sẻ sứ vụ “công bố chân lý cách công khai” (2Cr 4,2), cũng như với các nhà thần học và
triết học vốn có bổn phận khảo sát những khía cạnh khác nhau của chân lý, và sau cùng
với tất cả những ai đang tìm kiếm ; tôi muốn chia sẻ một vài suy tư về đường nẻo đưa
tới sự khôn ngoan đích thực, để những người yêu mến chân lý biết được con đường
chắc chắn dẫn tới đó và tìm thấy sự nghỉ ngơi sau những lao nhọc vất vả, và niềm vui
cho tâm trí mình.
Tôi cảm thấy bị thúc bách phải đảm nhận nhiệm vụ này tiên vàn vì công đồng
Vaticanô II đã nhấn mạnh rằng các Giám mục là“những người làm chứng cho chân lý
thần linh và công giáo” (3) Làm chứng cho chân lý là một nhiệm vụ được trao phó cho
các Giám mục chúng ta ; chúng ta không thể từ khước nhiệm vụ này mà không sai sót
trong thừa tác vụ đã nhận lãnh. Khi tái khẳng định chân lý đức tin, chúng ta có thể vừa
khôi phục lại cho người thời đại một lòng tín nhiệm chân chính vào khả năng nhận thức
của họ, vừa kích thích triết học tìm lại và phát huy đầy đủ phẩm giá của mình.
Tôi đưa ra những suy tư này còn vì một lý do khác nữa. Trong Thông điệp Chân
lý rạng ngời (Veritatis splendor), tôi đã lưu ý về “một số chân lý căn bản của giáo lý
công giáo mà trong những hoàn cảnh hiện nay đang có nguy cơ bị bóp méo hoặc phủ
nhận” (4). Với Thông điệp hôm nay, tôi muốn tiếp nối suy tư ấy, tập trung vào đề tài
chân lý và nền tảng của chân lý trong tương quan với đức tin. Bởi vì không thể chối cãi
được là thời đại của những thay đổi mau lẹ và phức tạp hiện nay có thể làm cho người
ta, đặc biệt là thế hệ trẻ – những người nắm giữ tương lai và làm nên tương lai – phải
cảm thấy chơi vơi không điểm tựa xác thực. Sự cần thiết phải có một nền tảng cho đời
sống cá nhân và cộng đồng càng trở nên cấp bách hơn khi mà chúng ta đang đối diện
với sự bất cập của những viễn tượng trong đó cái chóng qua lại được tôn lên thành một
giá trị, và khả năng khám phá ra ý nghĩa đích thực của cuộc đời bị nghi ngờ. Điều này
giải thích tại sao nhiều người bước đi choạng vạng qua cuộc đời, đến ngay bờ vực thẳm
mà không biết mình đang đi đâu. Xảy ra như thế, đôi khi là tại vì những người được kêu
gọi khoác cho tư tưởng mình một hình thức diễn tả văn hoá, không còn hướng tới chân
lý nữa, nhưng tìm kiếm thành công tức thời hơn là vất vả, nhẫn nại nghiên cứu điều gì
làm cho cuộc đời đáng sống.
* exclusive character , độc chiếm hoặc loại trừ, nghĩa là chân lý loại trừ sai lầm, không có
chân lý “vừa vừa”. Cái đúng là đúng, cái sai là sai, không có “thoả hiệp” (Chú thích của
người dịch.)
Với yêu cầu liên tục phải tìm kiếm chân lý, triết học có trách nhiệm lớn là rèn
luyện tư tưởng và văn hoá ; và ngày nay triết học phải cương quyết nỗ lực khám phá lại
ơn gọi nguyên thuỷ của mình. Bởi thế tôi cảm thấy vừa có nhu cầu vừa có bổn phận
phải đề cập đến đề tài này để trước thềm ngàn năm thứ ba của kỷ nguyên Kitô giáo,
nhân loại có một ý thức rõ ràng hơn về những nguồn lực lớn lao đã được cung cấp cho
họ, và dấn thân với một lòng can đảm mới mẻ vào việc thực hiện chương trình cứu độ,
mà lịch sử loài người là một bộ phận.
CHƯƠNG I
MẶC KHẢI VỀ SỰ KHÔN NGOAN CỦA THIÊN CHÚA
Đức Giêsu, Đấng mặc khải Chúa Cha.
7. Trong mọi suy tư của mình, Giáo Hội luôn ý thức rằng mình là người nắm
giữ một sứ điệp bắt nguồn từ chính Thiên Chúa (x. 2 Cr 4, 1-2). Nhận thức mà Giáo Hội
cống hiến cho con người không do từ suy luận riêng của mình, dù cao cả đến đâu,
nhưng từ nơi lời Thiên Chúa mà Giáo Hội đã nhận được trong đức tin (x. 1 Tx 2,13).
Ngay từ nguồn cội đời sống đức tin của chúng ta, có một cuộc gặp gỡ độc nhất vô nhị,
khai mở một mầu nhiệm đã được giấu kín từ ngàn xưa (x. 1Cr 2,7; Rm 16, 25-26)
nhưng nay đã được tỏ lộ : Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải
chính mình ra và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý của Người (x. Ep 1,9), nhờ
đó con người có thể đến với Chúa Cha qua Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa
Thánh Thần, và được thông phần bản tính Thiên Chúa” (5). Sáng kiến này là hoàn toàn
nhưng không, phát xuất từ Thiên Chúa đến với loài người để họ được cứu độ. Là nguồn
tình yêu, Thiên Chúa muốn tỏ mình ra cho con người biết ; và sự hiểu biết mà họ có về
Thiên Chúa kiện toàn tất cả những gì trí khôn loài người có thể biết về ý nghĩa cuộc đời.
8. Lấy lại hầu như từng chữ giáo huấn của Hiến chế Dei Filius của Công đồng
Vaticanô I, và lưu ý tới các nguyên tắc đã được đề ra bởi Công đồng Trentô, Hiến chế
Dei Verbum của Công đồng Vaticanô II đã tiếp nối cuộc hành trình lâu đời của sự hiểu
biết đức tin, bằng cách suy nghĩ về Mặc khải trong ánh sáng của giáo huấn Kinh Thánh
và của toàn bộ truyền thống Giáo phụ. Tại Vaticanô I, các nghị phụ nhấn mạnh trên đặc
tính siêu nhiên của Mặc khải của Thiên Chúa . Căn cứ trên những khẳng định sai lầm và
rất phổ biến, lối phê bình duy lý thời ấy đã công kích đức tin và phủ nhận tất cả mọi
nhận thức nào không phải là kết quả của những khả năng tự nhiên của lý trí. Điều đó
khiến Công đồng phải khẳng định lại một cách mạnh mẽ rằng có một nhận thức đặc biệt
của đức tin vượt quá nhận thức riêng của lý trí con người, tuy lý trí do bản tính tự nhiên
vẫn có thể nhận biết Đấng Tạo Hoá. Nhận thức này diễn tả một chân lý đặt nền tảng trên
chính việc Thiên Chúa tự mặc khải mình, một chân lý chắc chắn nhất, bởi vì Thiên
Chúa không bao giờ lừa dối và không muốn lừa dối ai. (6)
9. Vậy Công đông Vaticanô I dạy rằng chân lý đạt được do triết học và chân lý
mặc khải không bao giờ hoàn toàn giống nhau hoặc loại trừ nhau : “Có hai lãnh vực
nhận thức phân biệt nhau không những về nguồn gốc mà còn về đối tượng nữa. Về
nguồn gốc, bởi vì trong lãnh vực này chúng ta dùng lý trí tự nhiên mà biết , còn trong
lãnh vực kia chúng ta dùng đức tin. Về đối tượng, bởi vì ngoài những điều mà lý trí tự
nhiên có thể đạt tới, còn có những mầu nhiệm được đề nghị cho chúng ta tin, đó là
những mầu nhiệm vốn được giấu kín nơi Thiên Chúa mà nếu không được Người mặc
khải ra thì không thể biết được” (7)
Nhờ đặt nền tảng trên chứng tá của Thiên Chúa và hưởng nhờ sự trợ giúp siêu
nhiên của ân sủng, đức tin thuộc lãnh vực khác với nhận thức triết học. Thực vậy, nhận
thức triết học lệ thuộc vào nhận thức của giác quan và kinh nghiệm, và tiến triển nhờ
ánh sáng của một mình lý trí. Triết học và khoa học vận hành trong phạm vi lý trí tự
nhiên, còn đức tin được soi sáng và hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần thì nhìn nhận
trong sứ điệp cứu độ “ân sủng và chân lý sung mãn” (Ga 1,14) mà Thiên Chúa đã vui
lòng mặc khải trong lịch sử và mặc khải một cách dứt khoát qua Con của Người là Đức
Giêsu Kitô (x. 1Ga 5,9 ; Ga 5, 31-32).
10. Ngắm nhìn Đức Giêsu như Đấng mặc khải, các nghị phụ Công đồng
Vatica«ô II đã nhấn mạnh tính chất cứu độ của mặc khải của Thiên Chúa trong lịch sử
bằng những lời mô tả sau đây : “Trong việc mặc khải này, với tình thương chan chứa
của Người, Thiên Chúa vô hình (x. 1 Cl 1,15; 1 Tm 1,17) ngỏ lời với loài người như với
bạn hữu (x. Xh 33,11; Ga 15, 14-15), và sống giữa họ (x. Ba 3.38) để mời gọi và đón
nhận họ vào sống hiệp thông với Người. Kế hoạch mặc khải này được thực hiện bởi các
việc làm và lời nói liên kết mật thiết với nhau, bởi thế các việc Thiên Chúa làm trong
lịch sử cứu độ giãi bày và củng cố giáo huấn và những thực tại được biểu đạt trong lời
nói, còn lời nói thì công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm chứa đựng trong đó.
Nhờ mặc khải này, chân lý thâm sâu nhất về Thiên Chúa và về ơn cứu độ loài người
được nên sáng tỏ cho chúng ta trong Đức Kitô, Đấng vừa là trung gian vừa là sự sung
mãn của mọi Mặc khải”. (8)
11. Vậy Mặc khải của Thiên Chúa khắc sâu trong thời gian và lịch sử. Đức Giêsu
Kitô đã nhập thể khi “thời gian tới hồi viên mãn” (Gl 4,4); và hai ngàn năm sau, tôi cảm
thấy cần phải tái khẳng định một cách mạnh mẽ rằng “trong Kitô giáo, thời gian mang
một tầm quan trọng thiết yếu”. (9) Chính là trong thời gian mà toàn bộ công cuộc tạo
thành và cứu độ được biểu lộ ra ; và điều được tỏ lộ hơn cả là, nhờ việc nhập thể của
Con Thiên Chúa, chúng ta đã bắt đầu nếm cảm ngay trong cuộc sống hiện tại, điều sẽ
hoàn thành trong thời sau hết ( x. Dt 1,8)
Vì thế Chân lý mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho loài người về chính mình Người và
về cuộc sống của Người chìm sâu trong thời gian và lịch sử ; chân lý ấy được công bố
dứt khoát trong mầu nhiệm Đức Giêsu Nagiarét. Hiến chế và Mặc khải Dei Verbum
diễn tả cách hùng hồn như sau : “Sau khi phán dạy nhiều lần, nhiều cách qua các tiên
tri, ‘ nay là thời cuối cùng, Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua Chúa Con’ (Dt,1,1-2.).
Thực vậy, Thiên Chúa đã sai Con của Người là Ngôi Lời vĩnh cửu , Đấng soi sáng mọi
người, đến sống giữa loài người và nói cho họ nghe những điều bí nhiệm nơi Thiên
Chúa ( x. Ga 1,1-18). Bởi vậy, Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể ‘ là người đã được
sai đến với loài ngườ’, ‘nói tiếng nói của Thiên Chúa’ (Ga 3,34) và hoàn thành công
trình cứu rỗi của Chúa Cha đã giao cho Ngài thực hiện (x. Ga 5, 36 ; 17,4). Vì thế, chính
Ngài, Đấng mà ai thấy là thấy Chúa Cha (x. Ga 14,9) đã đến bổ túc và hoàn tất mặc
khải, bằng tất cả sự hiện diện và tỏ mình qua lời nói cũng như việc làm, dấu chỉ và phép
lạ, nhất là qua cái chết và sự sống lại vinh quang từ kẻ chết, sau cùng bằng việc phái
Thần Chân Lý đến” (10)
Vậy đối với dân Thiên Chúa, lịch sử trở thành một con đường phải theo cho tới
cùng, để nhờ hoạt động liên lỉ của Chúa Thánh Thần (x. Ga 16,13), nội dung của chân
lý mặc khải được giãi bày đầy đủ. Hiến chế Dei Verbum dạy như thế khi khẳng định
rằng “qua bao thế kỷ Giáo Hội luôn hướng tới sự viên mãn của chân lý thần linh, cho
đến khi lời Chúa được hoàn tất nơi Giáo Hội ” (11)
12. Vậy lịch sử trở thành nơi chúng ta nhìn thấy những việc Thiên Chúa làm cho
nhân loại. Thiên Chúa đến với chúng ta qua những điều quen thuộc nhất và dễ kiểm
chứng nhất đối với chúng ta, những điều dệt nên cuộc sống thường ngày của ta, mà nếu
thiếu chúng, ta sẽ không thể hiểu được chính mình.
Trong cuộc nhập thể của Con Thiên Chúa, chúng ta thấy hình thành một tổng hợp
bền vững và dứt khoát mà trí khôn con người tự mình không thể tưởng tượng ra được,
đó là Đấng Vĩnh Cửu đi vào thời gian, Đấng là Toàn thể lại ẩn mình trong thành phần,
Thiên Chúa mang một khuôn mặt phàm nhân. Vì thế chân lý được thông ban trong mặc
khải của Chúa Kitô không còn bị giới hạn vào một nơi chốn hay nền văn hóa đặc thù
nào, nhưng được đề nghị với hết mọi người, nam cũng như nữ muốn đón nhận nó như
lời làm nguồn tuyệt đối hiệu lực mang lại ý nghĩa cho cuộc nhân sinh. Trong Đức Kitô,
mọi người đều đến được với Chúa Cha, bởi vì Đức Kitô dùng cái chết và sự phục sinh
của mình để ban sự sống thần linh mà Ađam thứ nhất đã từ chối (x. Rm 5,12-15). Qua
mặc khải này, loài người biết được chân lý tối hậu về cuộc đời mình và về cùng đích
của lịch sử. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng quả quyết “Chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời
nhập thể, mầu nhiệm về con người mới được sáng tỏ” (12), Nhìn theo bất cứ cách nào
khác, mầu nhiệm về cuộc đời con người vẫn là một bí ẩn không thể giải đáp. Thử hỏi
người ta tìm ở đâu được lời đáp cho những vấn nạn bi thảm như đau khổ, nỗi khổ của
người vô tội và sự chết, nếu không phải là trong ánh sáng chiếu giãi từ mầu nhiệm cuộc
thương khó, tử nạn và phục sinh của Đức Kitô ?
Lý trí đứng trước mầu nhiệm
13. Tuy nhiên, ta phải nhớ rằng Mặc khải vẫn được bao trùm trong mầu nhiệm.
Đành rằng bằng trọn cuộc đời mình, Đức Giêsu đã mặc khải dung nhan Chúa Cha, vì
Người đến dạy cho ta biết những điều sâu thẳm của Thiên Chúa.(13) Nhưng cái nhìn
của chúng ta về dung nhan Thiên Chúa bao giờ cũng chắp vá và bị suy giảm do các giới
hạn của trí khôn ta. Chỉ một mình đức tin mới đưa ta tiến vào trong mầu nhiệm để giúp
ta hiểu mầu nhiệm một cách mạch lạc.
Công đồng dạy rằng “phải lấy thái độ tuân phục của đức tin đáp lại Thiên Chúa
mặc khải”. (14) Lời khẳng định ngắn gọn nhưng súc tích này nêu lên một chân lý căn
bản của Kitô giáo. Đức tin được xác định tiên vàn như một lời đáp lại Thiên Chúa trong
tuân phục. Điều đó bao hàm việc nhìn nhận Thiên Chúa trong thiên tính, trong tính siêu
việt và sự tự do tuyệt đối của Người. Do bởi thế giá của mình là Đấng tuyệt đối siêu
việt, Thiên Chúa tỏ mình ra cho ta biết, thì chính Người cũng là lý do cho tính khả tín
của những gì Người mặc khải . Nhờ đức tin, con người bày tỏ sự ưng thuận của mình
đối với chứng tá của Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là họ chấp nhận trọn vẹn toàn bộ
chân lý của những điều được mặc khải vì chính Thiên Chúa bảo đảm cho chân lý ấy;
Chân lý này được ban cho họ, chứ họ không có quyền đòi hỏi. Và vì được đặt vào trong
khung cảnh một mối tương giao liên vị nên nó thúc đẩy lý trí mở ra với nó và đón nhận
ý nghĩa sâu xa của nó. Vì thế Giáo Hội luôn luôn coi hành vi con người dâng hiến mình
cho Thiên Chúa là một giây phút quyết định nền tảng ràng buộc toàn thể ngôi vị con
người . Trong hành vi ấy, cả trí khôn lẫn ý chí phô bày bản tính thiêng liêng của chúng
để giúp chủ thể hành động thế nào cho sự tự do của họ được thể hiện trọn vẹn. (15)
Điều đó không chỉ có nghĩa là hành vi đức tin bao gồm tự do, mà hơn nữa còn đòi hỏi
tuyệt đối phải có tự do . Quả thế, chính đức tin cho phép mỗi người diễn tả tự do của
mình cách hoàn hảo. Nói cách khác, người ta không thể hiện tự do khi quyết định những
điều nghịch với Thiên Chúa. Bởi vì làm sao có thể nói được là sử dụng tự do đích thực
khi từ chối đón nhận chính cái thực tại giúp ta thể hiện mình ? Người ta không thể thực
hiện một hành vi nào trong đời quan trọng hơn hành vi đức tin ; ở đây tự do đạt tới sự
chắc chắn của chân lý và quyết định sống trong chân lý ấy.
Trong cố gắng tìm hiểu mầu nhiệm, lý trí nhận được sự yểm trợ của những dấu
chỉ do chính Mặc khải trình bày. Các dấu chỉ này có công dụng hướng dẫn việc tìm
kiếm chân lý đến những chiều sâu mới, bằng cách giúp cho trí khôn tiến vào bên trong
mầu nhiệm trong khi vẫn khảo sát một cách độc lập với những phương pháp riêng của
lý trí mà nó ra sức bảo vệ một cách chính đáng. Tuy nhiên, những dấu hiệu ấy cũng thúc
đẩy lý trí biết nhìn xa hơn tính chất dấu hiệu của chúng để nắm bắt ý nghĩa sâu xa chứa
đựng trong đó. Chúng mang nơi mình một chân lý tiềm tàng lôi kéo trí khôn và trí khôn
không thể lờ đi mà không huỷ diệt chính các dấu chỉ đã được đề nghị cho nó.
Vậy, theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta quay lại với tính bí tích của Mặc khải và
đặc biệt với dấu chỉ của Thánh Thể, nơi đây sự liên kết không thể chia lìa giữa thực tại
và ý nghĩa của thực tại cho phép ta nắm bắt được chiều sâu của mầu nhiệm. Trong
Thánh Thể, Chúa Kitô thật sự hiện diện và sống động, Người hoạt động nhờ Thần Khí
của Người ; tuy nhiên, như thánh Tôma nói thật đúng, “điều bạn không thấy, không hiểu
thì đức tin chứng thực cho bạn bằng cách vượt xa cái tự nhiên ; một dấu chỉ xuất hiện,
che giấu trong mầu nhiệm những thực tại cao vời “ (16) Triết gia Pascal gợi lại lời thánh
Tôma khi viết : “ Như Chúa Giêsu Kitô xưa sống giữa loài người mà không ai nhận
biết, thì nay chân lý của Người cũng xuất hiện giữa những lối tư duy thông thường, bề
ngoài không có chi khác biệt. Và cũng thế, Thánh Thể giống như bánh ăn thường “. (17)
Tóm lại, nhận thức riêng của đức tin không xoá bỏ mầu nhiệm ; nó chỉ làm cho
mầu nhiệm rõ rệt hơn bằng cách cho thấy mầu nhiệm cần thiết biết bao cho cuộc đời
con người : Đức Kitô “khi mặc khải mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Người , đã
cho con người biết rõ về chính con người và làm sáng tỏ thiên chức rất cao cả của họ.”
(18) là được thông phần mầu nhiệm bản tính Thiên Chúa Ba Ngôi. (19)
14. Từ giáo huấn của hai Công đồng chung Vaticanô còn nổi lên một viễn tượng
thật mới mẻ cho nhận thức triết học. Mặc khải đã đưa vào trong lịch sử một điểm qui
chiếu mà người ta không thể bỏ qua nếu muốn hiểu rõ mầu nhiệm cuộc đời mình. Tuy
nhiên nhận thức ấy luôn luôn liên quan tới mầu nhiệm Thiên Chúa mà trí khôn con
người không thể thấu triệt được, nhưng chỉ có thể đón nhận trong đức tin. Giữa hai ranh
giới đó, lý trí có lãnh vực riêng trong đó nó có thể tìm kiếm và hiểu biết, chỉ bị giới hạn
bởi tính hữu hạn của mình đối diện với mầu nhiệm vô hạn của Thiên Chúa.
Vì thế Mặc khải đưa vào trong lịch sử một chân lý phổ quát và tối hậu, một chân
lý kích thích trí khôn con người nỗ lực không ngừng ; quả thực nó thúc đẩy lý trí liên
tục mở rộng phạm vi nhận thức cho đến khi cảm thấy mình đã làm tất cả những gì có
thể làm được, không bỏ sót điều nào.
Khi suy tư về điểm này, chúng ta có sự trợ giúp của một trong những khối óc
phong phú nhất và quan trọng nhất của lịch sử nhân loại, một điểm tham chiếu cho cả
triết học lẫn thần học : đó là thánh Anselmô. Trong tác phẩm Proslogion, vị Tổng Giám
mục thành Canturbury viết như sau : “ Thường xuyên và chăm chú suy nghĩ về vấn đề
này, đôi khi dường như tôi sắp nắm được điều mình tìm kiếm nhưng lúc khác, nó lại
vụt biến mất khỏi tâm trí tôi ; cuối cùng tôi ngã lòng, muốn bỏ cuộc, ngưng tìm kiếm
điều không thể tìm thấy được. Tôi muốn xua đuổi vấn đề này đi bởi vì nếu cứ để nó
xâm chiếm trí khôn tôi, nó làm cho tôi sao nhãng những vấn đề khác có thể mang lại ít
nhiều lợi ích cho mình ; thế nhưng lúc đó nó lại xuất hiện một cách dai dẳng hơn. Vô
phúc cho tôi, một trong những con cháu khốn khổ của bà Evà, xa Chúa tôi đã bắt tay
làm gì và đã hoàn thành được gì ? Tôi theo đuổi điều gì và đã tới đâu? Tôi ước muốn
điều gì và tôi khao khát điều gì ?… Lạy Chúa, Chúa không những là Đấng mà người ta
không thể quan niệm được điều gì lớn lao hơn (non solum es quo majus cogitari nequit)
, nhưng Chúa còn lớn lao hơn tất cả những gì người ta có thể quan niệm (quiddam
majus quam cogitari possit)… Nếu Chúa không phải là như thế thì người ta còn có thể
quan niệm điều gì đó lớn lao hơn Chúa, song điều này là không thể được”. (20)
15. Chân lý Mặc khải Kitô giáo mà ta tìm thấy nơi Đức Kitô Nagiarét cho phép
bất cứ ai cũng đón nhận được “mầu nhiệm” cuộc đời mình. Là chân lý tuyệt đối, nó bó
buộc con người phải cởi mở ra với siêu việt, trong khi vẫn tôn trọng tính độc lập của họ
trong tư cách là những thọ tạo, cũng như sự tự do của họ. Ở đây, tương quan giữa tự do
và chân lý là trọn vẹn, và chúng ta hiểu được ý nghĩa đầy đủ của Lời Chúa nói : “Anh
em sẽ biết chân lý, và chân lý sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32).
Mặc khải Kitô giáo là ngôi sao dẫn đường đích thực cho những con người đang ra
sức tiến bước giữa những áp lực của một não trạng duy nội tại (immanentiste) và những
gò bó của một luận lý duy kỹ thuật. Nó là khả năng cuối cùng mà Thiên Chúa ban cho
nhân loại để biết được một cách đầy đủ nhất chương trình yêu thương bắt đầu với công
trình tạo dựng. Đối với những ai muốn biết chân lý, nếu họ có thể nhìn xa hơn chính
mình và những mối bận tâm của mình, họ được ban cho khả năng làm chủ cuộc đời
mình trọn vẹn và hài hoà, bằng cách đi theo nẻo đường chân lý. Ở đây ta có thể áp dụng
lời của sách Đệ Nhị Luật một cách thích đáng : “Mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm
nay đây không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em. Mệnh lệnh đó không ở trên
trời, khiến anh em phải nói : ‘Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi và nói cho chúng
tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?’ Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển,
khiến anh em phải nói : ‘Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng
tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành ?’ Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong
miệng, trong lòng anh em để anh em đem ra thực hành.” ( 30, 11-14). Đoạn văn này
vang vọng lại trong câu nói nổi tiếng của thánh Au-tinh, triết gia và thần học gia :
“Đừng đi lang thang khắp nơi bên ngoài, nhưng hãy quay vào trong bạn. Chân lý nằm
sâu trong chính con người”. (21)
Những suy tư ấy gợi lên kết luận thứ nhất sau đây : Chân lý mà Mặc khải cho ta
biết không phải là kết quả hay là sự hoàn thành của một luận cứ do lý trí con người phát
minh ra. Trái lại, nó xuất hiện như một điều “nhưng không”, một điều khơi động tư
tưởng và tìm cách để được chấp nhận như một diễn tả của tình yêu. Chân lý mặc khải
này được gieo vào trong lịch sử loài người chúng ta như một “viễn ảnh” của ơn được
ngắm nhìn Thiên Chúa vĩnh viễn ở đời sau, dành cho những kẻ tin vào Người và chân
thành tìm kiếm Người. Vậy cứu cánh tối hậu của đời sống con người là một đề tài cả
cho triết học lẫn thần học . Dù khác nhau về phương pháp và nội dung, hai môn học này
đều nhắm tới “con đường sự sống” (Tv 16,11), – con đường, như đức tin nói với chúng
ta, sẽ đưa tới niềm vui trọn vẹn và bền vững trong sự chiêm ngưỡng Thiên Chúa Ba
Ngôi.
CHƯƠNG 2
Credout intelligam
Tôi tin để hiểu
Đức Khôn ngoan biết mọi sự và hiểu mọi sự (Kn 9,11)
16. Với những lời lẽ rõ ràng đáng kinh ngạc , Kinh Thánh đã đưa ra những
chỉ dẫn về mối liên hệ sâu xa giữa nhận thức do đức tin và nhận thức do lý trí. Vấn đề
được đề cập tới một cách rõ ràng nhất trong các sách giáo huấn. Nếu đọc những bản văn
Kinh Thánh này không thành kiến, người ta sẽ thấy điều nổi bật là chúng bao gồm
không những đức tin của Israel, mà cả kho tàng của các nền văn hoá và văn minh đã
biến mất từ lâu. Có thể nói, do một ý định đặc biệt, các tiếng nói của Ai Cập và của
Mesopotamia lại được vang lên, và một số nét văn hóa chung của vùng Cận Đông cổ
sống lại trong những trang sách đặc biệt phong phú về trực giác sâu sắc này.
Không phải tình cờ mà tác giả, khi muốn mô tả con người hiền triết đã phác hoạ
chân dung họ như một người mộ mến và kiếm tìm chân lý : “Phúc thay kẻ nghiền ngẫm
khôn ngoan và biết dùng trí khôn mà suy luận. Phúc thay kẻ để tâm suy nghĩ về đường
lối của khôn ngoan, và hiểu được các bí nhiệm của đức ấy. Như một thợ săn, người ấy
theo vết của khôn ngoan và trên đường của khôn ngoan, nó rình chờ. Nó nhìn vào cửa
sổ của khôn ngoan, và lắng nghe bên cửa ra vào. Nó ở sát nhà của khôn ngoan, và đóng
đinh vào tường. Nó dựng lều dưới cánh tay của khôn ngoan, và sẽ được ở nơi của hạnh
phúc. Nó sẽ đặt con cái dưới sự che chở của khôn ngoan. và dưới tàn lá của khôn ngoan,
nó sẽ trú ẩn. Dưới bóng của khôn ngoan, nó sẽ không bị nóng bức, và trong vinh quang
của khôn ngoan, nó sẽ cư ngụ”( Hc 14, 20-27).
Đối với tác giả được linh hứng, như ta thấy, ước vọng hiểu biết là một đặc điểm
chung của mọi dân tộc. Trí tuệ giúp cho mọi người, có tín ngưỡng hay vô tín ngưỡng,
kín múc được “nước sâu thăm thẳm” của nhận thức (x. Cn 20,5). Dĩ nhiên Israel cổ
không hiểu biết thế giới và các hiện tượng tự nhiên bằng phương pháp trừu tượng hóa
như triết gia Hy Lạp hoặc hiền nhân Ai Cập. Người Israel đạo đức lại càng không hiểu
tri thức theo cách của thế giới hiện đại thích phân biệt những loại tri thức khác nhau.
Tuy vậy, thế giới Kinh Thánh cũng đã góp phần riêng vào lý thuyết về nhận thức.
Đặc điểm của bản văn Kinh Thánh là xác tin rằng có một sự thống nhất sâu xa và
không thể phân chia giữa nhận thức lý tính và nhận thức đức tin. Thế giới và mọi sự xảy
ra trong thế giới, kể cả lịch sử và vận mệnh các dân tộc, là những thực tại cần phải được
quan sát, phân tích và đánh giá với tất cả mọi năng lực của lý trí, nhưng đức tin không
đứng ngoài tiến trình này. Đức tin can thiệp vào không phải để huỷ diệt sự độc lập của
lý trí hay để giới hạn phạm vi hoạt động của nó, nhưng chỉ cốt để đưa con người tới chỗ
hiểu rằng có Thiên Chúa hành động trong các biến cố ấy. Bởi thế không thể hiểu sâu sắc
thế giới và các biến cố lịch sử nếu không tuyên xưng lòng tin vào Thiên Chúa, Đấng
hoạt động trong đó. Đức tin làm cho con mắt nội tâm nên tinh tường bằng cách mở tâm
trí cho thấy hành động của Chúa Quan Phòng trong dòng chảy các biến cố . Ở đây lời
sách Châm Ngôn thật là thích hợp : “Tâm trí con người nghĩ ra đường lối, còn Đức
Chúa hướng dẫn bước đi” (Cn 16,9) Có nghĩa là nhờ ánh sáng của lý trí, con người có
thể biết phải chọn con đường nào, nhưng họ chỉ có thể đi theo con đường ấy cho tới
cùng một cách mau lẹ và không bị cản trở, nếu trí khôn họ được điều chỉnh cho đúng,
để tìm kiếm điều ấy bên trong viễn tượng đức tin. Bởi thế, người ta không thể phân chia
lý trí và đức tin mà không làm giảm bớt khả năng con người hiểu biết chính mình, hiểu
biết thế giới và Thiên Chúa một cách thích hợp.
17. Vậy không có lý do để lý trí và đức tin cạnh tranh nhau bằng bất cứ cách nào,
bởi vì cái này hoà nhập vào cái kia, và mỗi thứ đều có phạm vi hoạt động riêng. Một lần
nữa, sách Châm Ngôn hướng ta về phía đó khi nói : “Thiên Chúa được vinh quang khi
giấu kín sự việc , đức vua vinh quang khi tìm ra sự việc” (Cn 25,2). Thiên Chúa và con
người ở trong hai thế giới riêng nhưng lại được đặt trong một mối liên hệ duy nhất.
Nguồn gốc mọi sự ở nơi Thiên Chúa, sự viên mãn của mầu nhiệm được tìm thấy trong
Người, và đó là vinh quang của Người ; còn con người thì có nhiệm vụ dùng lý trí khảo
sát chân lý, và đó là vẻ cao quí của họ. Tác giả thánh vịnh gắn thêm một mảnh cuối
cùng vào bức tranh ghép này khi thốt lên trong lời ông cầu nguyện : “Lạy Chúa, con
thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao, tính chung lại, ôi nhiều vô kể ! Đếm sao nổi, vì
nhiều hơn cát ; dù có đếm xong, con vẫn ở với Ngài” (Tv 139, 17-18). Ước muốn hiểu
biết thật lớn lao và cách thức hoạt động của nó thật mạnh mẽ đến nỗi trái tim con người,
dù nghiệm thấy mình có giới hạn không thể vượt qua, song vẫn khao khát đạt tới những
của cải vô hạn nằm ở bên kia vì nó biết rằng phải tìm cho ra câu trả lời thích đáng cho
mọi câu hỏi chưa được giải đáp.
18. Vậy chúng ta có thể nói rằng nhờ suy tư, Israel đã có thể mở ra cho lý trí
con đường dẫn tới mầu nhiệm . Nhờ Mặc khải của Thiên Chúa, Israel thấu hiểu được tất
cả những gì họ đã tìm mà không đạt được bằng con đường lý trí. Dựa trên hình thức
hiểu biết sâu xa hơn này, Israel hiểu rằng nếu lý trí muốn thực sự trung thành với mình,
nó phải tôn trọng một số qui tắc căn bản. Qui tắc thứ nhất là phải ý thức rằng nhận thức
của con người là một cuộc hành trình không ngưng nghỉ ; qui tắc thứ hai phát sinh từ ý
thức là một con đường như thế không dành cho những kẻ kiêu căng nghĩ rằng tất cả đều
do cá nhân chinh phục được ; qui tắc thứ ba đặt cơ sở trong “lòng kính sợ Chúa”, Đấng
mà quyền tối cao siêu việt và tình thương quan phòng trong việc cai quản thế giới phải
được lý trí nhìn nhận. Lìa bỏ các qui tắc trên, con người có nguy cơ thất bại và kết thúc
trong tình trạng của “kẻ ngu si”. Đối với Kinh Thánh, có một mối đe doạ cho cuộc sống
trong sự điên rồ này. Người ngu si nghĩ rằng mình biết nhiều, nhưng thật ra hắn ta
không có khả năng chú tâm vào những điều thực sự quan trọng. Vì thế hắn không thể
sắp xếp tâm trí mình cho có trật tự (x. Cn 1,17), cũng như không thể lấy một thái độ
đúng đắn đối với bản thân hay với thế giới quanh mình. Và như thế khi quả quyết “làm
chi có Chúa Trời” (Tv 14,1), kẻ ngu si tỏ lộ một cách tuyệt đối rõ ràng tri thức của hắn
thật là thiếu sót và hắn còn cách xa biết bao với chân lý trọn vẹn của vạn vật, với nguồn
gốc và định mệnh của chúng.
19. Sách Khôn Ngoan chứa đựng nhiều đoạn văn quan trọng soi sáng thêm cho ta
trong đề tài này. Ở đó tác giả nói về Thiên Chúa là Đấng tỏ mình ra trong thiên nhiên.
Đối với cổ nhân, nghiên cứu các khoa học tự nhiên trùng hợp phần lớn với nghiên cứu
triết học. Kinh Thánh khẳng định con người nhờ trí khôn, có thể “biết cấu trúc của thế
giới và hoạt động của các nguyên tố(…), những chu kỳ của năm tháng và vị trí của các
tinh tú, bản tính của động vật và bản năng của các thú rừng” (Kn 7, 17. 19-20). Nói tóm
lại, Kinh Thánh khẳng định khả năng triết lý của con người . Kinh Thánh còn tiến thêm
một bước quan trọng nữa. Lấy lại tư tưởng triết học Hy Lạp mà có lẽ bản văn muốn
nhắc tới trong ngữ cảnh, tác giả quả quyết rằng khi lý luận về thiên nhiên, con người có
thể vươn lên tới Thiên Chúa : “Vì các thọ tạo càng lớn lao đẹp đẽ bao nhiêu, thì càng
giúp ta nhận ra Đấng Tạo thành” (Kn 13,5). “Cuốn sách thiên nhiên diệu kỳ phải được
coi như giai đoạn thứ nhất của Mặc khải của Thiên Chúa ; đọc cuốn sách ấy với những
công cụ thích hợp của lý trí có thể đưa tới chỗ nhận biết Đấng Tạo Hoá. Nếu có những
người với lý trí của họ vẫn thất bại trong việc nhận biết Chúa là Đấng tạo thành vạn vật,
thì không phải vì họ thiếu phương tiện, nhưng tại vì ý muốn tự do và tình trạng tội lỗi
của họ đặt một chướng ngại trên đường.
20. Nhìn dưới ánh sáng này, lý trí được coi trọng nhưng không quá mức. Quả
thực, kết quả của lý luận có thể là đúng, nhưng kết quả đó chỉ đạt được ý nghĩa đầy đủ
khi người ta đặt nó vào trong chân trời rộng lớn hơn của đức tin : “Đức Chúa dẫn dắt
từng bước chân con người, nẻo đời mình phàm nhân sao biết được” (Cn 20,24).
Đối với Cựu Ước, đức tin giải phóng lý trí bằng cách giúp nó đạt tới điều nó cố
gắng hiểu biết và đặt nó vào trong trật tự cao nhất , trong đó mọi sự có được ý nghĩa
đích thực. Tóm lại, con người đạt tới chân lý bằng con đường lý trí bởi vì, nhờ được đức
tin soi sáng, họ khám phá ra ý nghĩa sâu xa hơn của mọi sự và đặc biệt hơn cả là ý
nghĩa của cuộc đời mình. Do đó tác giả Sách Thánh thật có lý khi đặt ngang hàng lòng
kính sợ Thiên Chúa với khởi đầu của sự khôn ngoan đích thực : “Kính sợ Đức Chúa là
bước đầu của tri thức” (Cn 1,7; x. Hc 1,14).
“Hiểu biết và khôn ngoan, con hãy mua sắm” (Cn4,5)
21. Đối với Cựu Ước, nhận thức không phải chỉ là một vấn đề cẩn thận quan sát
con người, quan sát thế giới và lịch sử, nhưng còn giả định một mối liên hệ không thể
thiếu với đức tin và với những điều đã được mặc khải. Đó là những thách đố mà dân
riêng của Chúa đã phải đương đầu và đáp lại. Nghiền ngẫm điều này như tình cảnh của
mình, con người của Kinh Thánh đã khám phá ra rằng họ chỉ có thể hiểu mình như một
“hứu-thể-có-tương-quan” mà thôi : tương quan với mình, với kẻ khác, với thế giới và
với Thiên Chúa. Việc cởi mở đón nhận mầu nhiệm đến với mình qua Mặc khải như thế,
rút cuộc trở thành nguồn nhận thức đích thực cho họ. Chính điều này cho phép lý trí họ
bước vào địa hạt của cái vô hạn, ở đó họ có được một khả năng hiểu biết mà cho tới lúc
bấy giờ họ đã không dám hy vọng.
Đối với tác giả Kinh Thánh, nhiệm vụ tìm kiếm chân lý không tránh khỏi nỗi
căng thẳng xảy ra một khi đã đi tới tận cùng các giới hạn của lý trí. Chúng ta thấy như
thế chẳng hạn khi sách Châm Ngôn nói tới nỗi mệt nhọc do nỗ lực tìm hiểu các ý định
nhiệm mầu của Thiên Chúa (x. 30, 1-6). Tuy nhiên, dù phải vất vả, người tín hữu vẫn
không bỏ cuộc. Họ có thể tiếp tục cuộc hành trình tới chân lý vì đinh ninh rằng Chúa đã
dựng nên họ làm “nhà thám hiểm” (x. Gv 1,13), có sứ mạng dùng đủ mọi cách để khảo
sát, cho dù cám dỗ nghi ngờ vẫn luôn luôn có mặt . Dựa vào Thiên Chúa, họ tiếp tục
mọi lúc mọi nơi vươn tới tất cả những gì là chân thiện mỹ.
22. Trong chương thứ 1 của thư gởi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô giúp chúng ta
đánh giá đúng mức hơn cái nhìn sâu sắc trong suy tư của các sách Giáo huấn. Thánh
Tông đồ khai triển một luận chứng triết lý bằng ngôn ngữ bình dân, trong đó ngài công
bố một chân lý sâu xa : đó là qua thọ tạo, “con mắt trí khôn” có thể nhận biết Thiên
Chúa. Qua trung gian của các thọ tạo, Thiên Chúa khơi dậy trong lý trí ta một trực giác
về “quyền năng” và “thần tính” của Người (x. Rm 1,20). Như thế là để ban cho lý trí
loài người một khả năng hầu như vượt qua các giới hạn tự nhiên của nó. Chẳng những
nó không bị giới hạn vào nhận thức khả giác, kể từ lúc nó suy tư một cách có phê phán
trên những dữ kiện của giác quan, nhưng nhờ lý luận trên những chất liệu do giác quan
cung cấp, lý trí còn có thể nắm bắt nguyên nhân nơi cội nguồn của mọi thực tại có thể
quan sát được. Theo ngôn ngữ triết học, chúng ta có thể nói rằng bản văn quan trọng
này của thánh Phaolô khẳng định khả năng khảo cứu siêu hình của con người.
Theo thánh Tông đồ, chương trình tạo dựng nguyên thuỷ bao gồm việc lý trí con
người có thể dễ dàng vượt quá các dữ kiện khả giác để đến tận nguồn cội của vạn vật là
Đấng tạo thành. Song vì bất tuân phục, con người đã quyết định sống độc lập hoàn toàn
và tuyệt đối với Đấng đã dựng nên họ, nên con đường dễ dàng đến với Chúa Tạo Hoá
đã nên khó khăn hơn.
Đó là thân phận con người được sách Sáng Thế mô tả cách sống động khi tường
thuật việc Thiên Chúa đặt con người vào vườn Eđen, giữa vườn có “cây biết lành biết
dữ” (2,17). Biểu tượng thật rõ ràng : con người không ở trong tình thế có thể nhận ra và
quyết định cho mình điều gì là tốt, điều gì là xấu, nhưng bó buộc phải nại tới một thẩm
quyền cao hơn. Sự mù quáng do tính kiêu ngạo đã lừa gạt nguyên tổ của chúng ta khiến
cho mình là cao nhất và độc lập, và nghĩ rằng họ có thể bỏ qua nhận thức đến từ Thiên
Chúa.
Mọi người đã bị lôi kéo vào trong sự bất tuân đầu tiên này, làm cho lý trí bị tổn
thương đến độ kể từ đó, con đường nó đi tới chân lý vẹn toàn trải đầy những trở ngại.
Từ đây khả năng nhận biết chân lý của con người bị suy giảm vì thù nghịch với Đấng là
nguồn mạch và cội rễ của chân lý. Một lần nữa thánh Tông đồ chỉ cho thấy tư tưởng của
con người đã nên “rỗng tuếch” do tội lỗi, và lý luận của họ bị lệch lạc và hướng chiều
về sự dối trá (x. Rm 1,21-22). Con mắt trí khôn không còn khả năng nhìn xem cách tỏ
tường nữa, bởi vì lý trí càng ngày càng bị giam hãm trong chính mình. Chúa Giêsu đến,
đó là biến cố cứu rỗi đã làm cho lý trí thoát khỏi sự yếu nhược khi bẻ gãy xiềng xích mà
nó tự trói buộc mình.
23. Chính vì thế mà liên hệ của người Kitô hữu với triết học dòi hỏi một sự biện
phân triệt để. Trong Tân Ước, đặc biệt trong các Thư của thánh Phaolô, có một điểm nổi
lên thật rõ ràng, đó là sự đối nghịch giữa “sự khôn ngoan của thế gian này” và sự khôn
ngoan của Thiên Chúa được mặc khải trong Đức Giêsu Kitô. Chiều sâu của sự khôn
ngoan mặc khải phá vỡ vòng luẩn quẩn của những mô hình tư tưởng quen thuộc, vốn
không thể nào diễn tả nổi sự khôn ngoan Thiên Chúa cho trọn vẹn.
Đoạn đầu Thư thứ nhất gởi giáo đoàn Corintô nêu lên song luận trên một cách
triệt để. Con Thiên Chúa bị đóng đinh là biến cố lịch sử, trên đó mọi cố gắng của trí
khôn nhằm thiết lập một lời giải thích thoả đáng về ý nghĩa cuộc sống trên cơ sở một lối
biện luận thuần tuý nhân loại, đều phải kết thúc thất bại. Điểm then chốt đích thực
thách thức mọi triết lý, đó là cái chết của Đức Giêsu Kitô trên thập giá. Ở đây mọi nỗ
lực để thu gồm chương trình cứu độ của Chúa Cha vào một lô-gích hoàn toàn nhân loại
tất phải thất bại. Một cách cường điệu, thánh Tông đồ bảo : “Người khôn ngoan đâu ?
Người học thức đâu ? Người lý sự của thời này đâu ? Thiên Chúa lại đã không để cho
sự khôn ngoan của thế gian này ra điên rồ đó sao ?” (1Cr 1,20). Cái khôn của kẻ khôn
ngoan không còn đủ để hiểu điều Thiên Chúa muốn thực hiện ; điều cần thiết là một
bước quyết định tiến tới đón nhận một cái gì hoàn toàn mới : “Nhưng những gì thế gian
cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan [ …], những
gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ
diệt những gì hiện có” (1Cr 1,27-28). Sự khôn ngoan nhân loại từ chối nhìn thấy trong
sự yếu đuối của mình một khả năng làm cho mình nên mạnh mẽ ; nhưng thánh Phaolô
lại mau mắn quả quyết : “ Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10). Con người
không thể hiểu làm sao sự chết có thể là nguồn mạch phát sinh sự sống và tình yêu ; vậy
mà để mặc khải mầu nhiệm của chương trình cứu độ của Người, Thiên Chúa đã chọn
chính điều lý trí coi là “điên rồ” và “cớ vấp phạm”. Thánh Phaolô sử dụng ngôn ngữ của
các triết gia thời đại mình để đưa giáo huấn của ngài tới tột đỉnh khi nêu bật cái nghịch
lý : “Thiên Chúa đã chọn cái không không trong thế gian[…] để huỷ diệt những gì hiện
có (x. 1Cr 1,28). Để diễn tả tính chất nhưng không của tình yêu được mặc khải trong
thập giá Đức Kitô, thánh Tông đồ không ngại dùng thứ ngôn ngữ triệt để nhất của các
triết gia khi họ suy tư về Thiên Chúa. Lý trí không thể loại trừ mầu nhiệm tình yêu biểu
thị bởi thập giá, trong lúc thập giá lại có thể mang tới cho lý trí câu trả lời tối hậu mà lý
trí tìm hiểu. Thánh Phaolô không lấy sự khôn ngoan của lời lẽ, nhưng lấy Lời của sự
Khôn ngoan làm tiêu chuẩn, vừa cho chân lý vừa cho ơn cứu độ.
Vậy sự khôn ngoan của thập giá phá vỡ mọi giới hạn văn hoá muốn bao vây nó
lại và nhấn mạnh trên thái độ cởi mở đón nhận chân lý phổ quát mà nó mang theo. Đó
thật là một thách đố to lớn biết bao cho lý trí chúng ta, nhưng nếu chịu khuất phục sự
khôn ngoan ấy thì lý trí sẽ được một mối lợi lớn lao dường nào ! Tự sức mình, triết học
có thể nhận ra khuynh hướng của con người không ngừng vượt qua chính mình để tiến
tới chân lý, và khi được đức tin trợ lực nó có khả năng chấp nhận “sự điên rồ” của thập
giá như lời phê phán chân thực đối với những ai tự lừa dối mình là đã nắm giữ được
chân lý, trong khi thực ra họ lái nó đi trên những bãi cát ngầm nguy hiểm lẩn khuất của
một hệ thống do họ sáng chế ra. Lời rao giảng của Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại
là hòn đá ngầm trên đó sợi dây nối kết đức tin và lý trí có thể tan vỡ. Nhưng nếu vượt
qua được nó, cả hai sẽ có thể tiếp tục tiến ra đại dương mênh mông của chân lý. Ở đây
ta thấy không những ranh giới giữa lý trí và đức tin, mà cả lãnh vực nơi đôi bên có thể
gặp nhau nữa.
CHƯƠNG III
INTELLIGO UT CREDAM
TÔI HIỂU ĐỂ TÔI TIN
Hành trình đi tìm chân lý.
24. Trong sách Tông đồ Công vụ, tác giả Luca tường thuật việc thánh Phaolô
đến Athêna nhân một trong những chuyến hành trình truyền giáo của ngài. Thành phố
của các triết gia đặt đầy những tượng thần. Một cái bàn thờ đập vào con mắt ngài cách
đặc biệt, và ngài lấy đó làm một khởi điểm thích hợp để thiết lập một cơ sở chung cho
việc loan báo Tin Mừng. Ngài nói : “Thưa quí vị người Athêna, tôi thấy về mọi mặt, quí
vị là người sùng đạo hơn ai hết. Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nhìn lên những nơi
thờ phượng của quí vị, tôi đã thấy có cả một bàn thờ; trên đó khắc chữ ‘Kính thần Vô
danh’. Vậy, Đấng quí vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quí vị” (Cv
17, 22-23). Từ khởi điểm này, thánh Phaolô nói về Thiên Chúa như là Đấng Tạo Hoá,
như Đấng vượt lên trên hết mọi sự và ban sự sống cho mọi loài. Rồi ngài tiếp tục bài
giảng với lời lẽ như sau : “Từ một người duy nhất, Thiên Chúa tạo thành toàn thể nhân
loại, để họ ở trên mặt đất ; Người đã vạch ra những thời kỳ nhất định và những ranh giới
cho nơi ở của họ. Và như vậy để họ tìm kiếm Thiên Chúa, may ra họ dò dẫm mà tìm
thấy Người, tuy rằng thực sự Người không ở xa mỗi người chúng ta” (Cv 17, 26-27).
Thánh Tông đồ nhấn vào một chân lý mà Giáo Hội quí chuộng : trong nơi sâu
thẳm của cõi lòng con người, có một hạt giống đã được gieo vào, đó là niềm khát vọng
và nỗi nhớ nhung Thiên Chúa. Phụng vụ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nhắc lại điều này
thật mạnh mẽ, khi chúng ta cầu nguyện cho những người không tin : “Lạy Thiên Chúa
toàn năng và vĩnh cửu, Chúa đã dựng nên con người để họ thực tình tìm kiếm Chúa, và
tâm hồn họ được an nghỉ khi tìm thấy Chúa” (22). Như vậy, có một con đường mà con
người có thể chọn theo, một con đường khởi đầu với khả năng của lý trí nhấc mình lên
khỏi những cái bất tất và tiến tới cái vô hạn.
Bằng nhiều cách và vào nhiều thời khác nhau, con người đã tỏ cho thấy rằng họ
có khả năng diễn tả niềm khát vọng sâu kín này của mình. Qua văn chương, âm nhạc,
hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc và những công trình khác của trí khôn sáng tạo họ đã nói
lên tính khẩn trương của công cuộc tìm kiếm của họ. Một cách đặc biệt, triết học lấy
cuộc tìm kiếm đó làm của chính mình và, với những công cụ và những phương pháp
học thuật riêng, triết học đã giãi bày niềm khát vọng phổ quát này của loài người.
25. “Mọi người đều khát vọng hiểu biết” (23), và chân lý là đối tượng đích
thực của niềm khát vọng đó. Cuộc sống thường ngày cho thấy rằng ngoài những gì chỉ
là ý kiến chủ quan, mỗi người chúng ta đều quan tâm khám phá ra cho mình mọi việc
thực sự là như thế nào. Trong các thọ tạo hữu hình, con người là vật duy nhất không
những có khả năng hiểu biết mà còn biết rằng mình biết, và vì thế nó quan tâm tới chân
lý đích thực của những gì nó tri giác. Người ta không thể thật sự dửng dưng với câu hỏi
về điều họ biết là đúng hay sai. Nếu họ nhận ra điều đó là sai, họ liền loại bỏ ; nhưng
nếu họ có thể xác minh là đúng, họ cảm thấy hài lòng. Đó là điều thánh Âu Tinh dạy khi
ngài viết : “ Tôi đã gặp nhiều người muốn đánh lừa, nhưng chẳng thấy ai muốn bị
lừa”(24). Người ta có lý mà quả quyết rằng kẻ đến tuổi trưởng thành là kẻ tự mình có
thể phân biệt chân với giả, tự mình phán đoán về thực tại khách quan của các sự vật.
Đây là điều đã đưa tới rất nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt trong phạm vi khoa học
; trong những thế kỷ gần đây, các công trình này mang lại những kết quả quan trọng góp
phần vào tiến bộ đích thực của toàn thể nhân loại.
Việc nghiên cứu trong phạm vi thực hành không kém phần quan trọng so với việc
nghiên cứu trong phạm vi lý thuyết. Tôi muốn nói tới vấn đề tìm kiếm chân lý liên quan
tới điều thiện phải làm. Khi hành động một cách đạo đức, theo ý chí tự do và ngay
thẳng, con người đặt chân trên con đường hạnh phúc và tiến tới sự hoàn thiện. Ở đây
cũng vẫn là một vấn đề chân lý. Tôi đã nhấn mạnh xác tín này trong Thông điệp Chân lý
rạng ngời của tôi : “Không có luân lý nếu không có tự do … Cho dù mỗi cá nhân có
quyền được kính trọng trong hành trình riêng để tìm kiếm chân lý, nhưng có một bổn
phận ưu tiên và hệ trọng là tìm kiếm chân lý và thuận theo chân lý một khi đã nhận ra”.
(25)
Vậy điều thiết yếu là các giá trị chọn lựa và theo đuổi trong đời mình phải chân
thật, bởi vì chỉ có những giá trị chân thật mới đưa người ta đến chỗ tự thể hiện mình đầy
đủ bằng cách giúp họ sống thật với bản tính mình. Người ta tìm được chân lý của các
giá trị này không phải bằng cách cởi mở ra đón nhận nó ngay ở những cấp độ vượt quá
con người. Đây là một điều kiện thiết yếu để chúng ta trở thành chính mình và tăng
trưởng như những ngôi vị chín chắn, trưởng thành.
26. Khởi đầu, chân lý đến với con người dưới dạng một câu hỏi : cuộc đời có ý
nghĩa không ? Nó đi về đâu ? Thoạt nhìn, dường như đời sống cá nhân có thể bị coi
như hoàn toàn vô nghĩa. Khỏi cần quay về với các triết gia chủ trương sự phi lý hay với
những câu hỏi khiêu khích trong sách ông Gióp để nảy sinh những mối hoài nghi về ý
nghĩa cuộc sống. Kinh nghiệm hằng ngày về đau khổ trong đời sống bản thân mỗi người
và trong đời sống kẻ khác, cũng như việc mục kích biết bao sự kiện xem ra không thể
giải thích nổi đối với lý trí đã đủ cho ta chắc chắn rằng một câu hỏi bi hùng như câu hỏi
về ý nghĩa là không thể lẩn tránh được (26). Hơn nữa, ngoài việc chúng ta hiện hữu,
chân lý thứ nhất tuyệt đối chắc chắn về cuộc đời chúng ta, đó là không ai tránh khỏi cái
chết. Tìm một câu trả lời là đầy đủ cho sự kiện gây băn khoăn lo lắng này cũng là điều
không thể tránh né. Mỗi người chúng ta vừa có khát vọng vừa có bổn phận biết chân lý
về số phận riêng mình. Chúng ta muốn biết có phải sự chết sẽ chấm dứt hoàn toàn cuộc
sống chúng ta hay còn có cái gì sau đó ; chúng ta có được hy vọng một cuộc sống đời
sau hay không. Không phải là chuyện vô nghĩa khi cái chết của Socrate đã mang tới cho
triết học một trong những định hướng quyết định của nó ; đến ngày nay, tính quyết định
ấy vẫn y nguyên như trên hai ngàn năm trước. Vậy không phải tình cờ mà đối diện với
sự kiện cái chết, các triết gia không ngừng đặt đi đặt lại câu hỏi trên, đồng thời với câu
hỏi về ý nghĩa cuộc sống và sự bất tử.
27. Dù là triết gia hay người bình dân, không ai có thể tránh đăt những câu hỏi
như thế. Câu trả lời chúng ta chọn lựa sẽ ảnh hưởng quyết định tới việc chúng ta nghĩ là
có thể hay không thể đạt tới chân lý phổ quát và tuyệt đối ; và đó là một thời điểm
quyết định của công cuộc tìm kiếm. Mỗi chân lý nếu là chân lý đích thực – đều là phổ
quát, ngay cả khi nó không phải là chân lý toàn diện. Cái gì là thật, thì phải thật cho mọi
người và mọi thời. Tuy nhiên, xa hơn tính phổ quát này, người ta còn tìm kiếm một
chân lý tuyệt đối khả dĩ đem lại cho tất cả công cuộc kiếm tìm của họ một ý nghĩa và
một câu trả lời,- một cái gì đó tối hậu có thể dùng làm nền tảng cho mọi sự – Nói cách
khác, họ tìm kiếm một lời giải thích cuối cùng, một giá trị tối cao không còn qui chiếu
về cái gì khác nữa và chấm dứt cho mọi sự truy vấn. Các giả thuyết có thể lôi cuốn
nhưng không làm cho người ta mãn nguyện. Đối với mỗi người, dù có thừa nhận điều
đó hay không, rồi cũng đến lúc phải neo cuộc đời mình vào một chân lý được coi như là
cuối cùng, một chân lý mang lại một niềm chắc chắn không còn phải hoài nghi nữa.
Qua các thế kỷ, các triết gia đã tìm cách khám phá và trình bày một chân lý như
thế, từ đó xây dựng nên nhiều hệ thống và trường phái tư tưởng khác nhau. Nhưng bên
ngoài các hệ thống triết học, người ta còn tìm cách hình thành một thứ “triết lý”của
riêng mình bằng những hình thức khác nhau, như những xác tín và kinh nghiệm cá
nhân, những truyền thống gia đình và văn hoá, hay những hành trình tìm kiếm ý nghĩa
cuộc đời dưới sự hướng dẫn của một vị thầy. Động lực thúc đẩy tất cả những thứ đó là
niềm khao khát đạt tới sự chắc chắn về chân lý và về giá trị tuyệt đối của chân lý.
Những bộ mặt khác nhau của chân lý nhân loại.
28. Dĩ nhiên, việc tìm kiếm chân lý không phải luôn luôn trong suốt như thế,
cũng không phải bao giờ cũng đưa lại những kết quả trong suốt . Giới hạn tự nhiên của
lý trí và tính hay thay đổi của trái tim thường làm lu mờ và sai lệch cuộc kiếm tìm của
một con người. Chân lý cũng có thể chết ngạt dưới những mối bận tâm khác. Thậm chí
người ta có thể chạy trốn chân lý vừa khi thoáng thấy nó bởi vì họ sợ đòi hỏi của nó đối
với bản thân. Tuy nhiên, cho dù người ta có thể lẩn tránh nó, chân lý vẫn tác động trên
cuộc sống. Quả thực, không bao giờ có thể xây dựng cuộc đời trên sự hoài nghi, sự bất
xác hay sự giả dối ; một cuộc đời như thế sẽ thường xuyên bị đe doạ bởi sợ hãi và lo âu.
Vì thế, ta có thể định nghĩa con người là kẻ đi tìm chân lý.
29. Không thể tưởng tượng được rằng một cuộc tìm kiếm bén rễ sâu trong bản
tính con người như thế lại hoàn toàn là phù phiếm và vô ích. Chính khả năng tìm kiếm
chân lý và nêu câu hỏi đã bao hàm những yếu tố khởi đầu cho một câu trả lời. Người ta
không thể ngay cả bắt đầu tìm kiếm một điều mà họ hoàn toàn không biết gì về nó, hoặc
một điều mà họ nghĩ là hoàn toàn vượt quá sức họ. Chỉ khi nào nghĩ mình có thể đi tới
một câu trả lời, người ta mới bắt đầu cất bước. Đây là điều thông thường xảy ra trong
nghiên cứu khoa học. Khi nhà khoa học dựa trên trực giác của mình khởi sự tìm kiếm
lời giải thích hợp lý và có thể kiểm chứng được cho một hiện tượng, họ tin tưởng ngay
từ đầu sẽ tìm ra một câu trả lời, và họ không bỏ cuộc khi đối diện với những thất bại.
Họ không coi trực giác nguyên thuỷ của mình là vô ích chỉ vì họ không đạt tới đích ; họ
sẽ nói khá đúng rằng họ chưa tìm ra câu trả lời thoả đáng thôi.
Điều này cũng phải đúng với cuộc tìm kiếm chân lý trong lãnh vực những vấn đề
tối hậu. Niềm khao khát chân lý bén rễ sâu trong lòng con người đến nỗi nếu bị bó buộc
bỏ qua nó, đời sống chúng ta sẽ lâm nguy. Cuộc sống hằng ngày cho thấy khá rõ là mỗi
người chúng ta đều bận tâm vì áp lực của một vài câu hỏi căn bản và trong tâm hồn mỗi
người chúng ta có ít ra là một phác thảo cho những câu trả lời. Một lý do giải thích tại
sao chân lý của những giải đáp này có tính thuyết phục, đó là tự bản chất chúng không
khác với những giải đáp mà nhiều người khác cũng đã đạt được. Dĩ nhiên, không phải
mọi chân lý chúng ta đạt được đều có giá trị như nhau. Nhưng toàn bộ những kết quả đã
giành được xác nhận rằng theo nguyên tắc con người có thể đạt tới chân lý.
30. Vậy, thiết tưởng sẽ là điều hữu ích nếu chúng ta nhắc tới ở đây một cách
vắn tắt những hình thức khác nhau của chân lý. Nhiều hơn cả là những chân lý dựa trên
tính hiển nhiên trực tiếp hoặc được thí nghiệm xác nhận. Đó là loại chân lý riêng của
đời sống thường nhật và của nghiên cứu khoa học. Ở một trình độ khác, chúng ta gặp
thấy loại chân lý triết học, nhờ các năng lực tư biện của trí khôn con người mà đạt được.
Cuối cùng là những chân lý tôn giáo; chúng có gốc rễ trong triết học tới mức nào đó và
chúng ta gặp thấy chúng trong các câu trả lời của các truyền thống tôn giáo cho những
vấn đề tối hậu.(27)
Cần phải nói rằng các chân lý triết học không chỉ giới hạn vào trong lời giảng
dạy đôi khi chóng qua của các triết gia chuyên nghiệp mà thôi. Như tôi đã nói, mọi
người đều là triết gia theo nghĩa nào đó, họ có những quan niệm triết lý riêng để hướng
dẫn đời mình. Bằng cách này hay cách khác, họ hình thành một cái nhìn bao quát và
một giải đáp cho câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời ; rồi dưới ánh sáng này, họ giải thích tiến
trình cuộc đời họ và điều chỉnh cách cư xử của mình. Đến đây, chúng ta đã có thể nêu
câu hỏi về mối liên quan giữa, một bên là các chân lý triết học và tôn giáo, và bên kia là
chân lý được mặc khải trong Đức Kitô. Nhưng trước khi đề cập tới vấn đề này, còn một
dữ kiện cuối cùng của triết học cần phải được xem xét.
31. Con người không được dựng nên để sống một mình. Họ được sinh ra trong
một gia đình, lớn lên trong một gia đình, để về sau bước vào xã hội nhờ hoạt động của
mình. Vậy kể từ khi sinh ra, họ được dìm sâu vào trong những truyền thống cung cấp
cho họ không những một ngôn ngữ và một nền giáo dục văn hoá nhưng còn là một loạt
những chân lý mà họ tin nhận một cách hầu như do bản năng. Tuy nhiên sự tăng trưởng
và chín chắn cá nhân bao hàm rằng những chân lý này có thể bị hoài nghi và được đánh
giá thông qua một quá trình khảo sát có phê phán. Có thể xảy ra là, sau giai đoạn
chuyển tiếp này, các chân lý nói trên được “tái khám phá” ra như kết quả của kinh
nghiệm sống hoặc nhờ suy tư thêm của mỗi người. Dù sao, trong đời sống một con
người, số chân lý được đơn thuần tin nhận vẫn nhiều hơn số chân lý đạt được do kiểm
chứng cá nhân. Chẳng hạn, thử hỏi ai có thể đánh giá một cách có phê phán vô số những
khám phá khoa học làm nền tảng cho cuộc sống hiện đại ? Ai có thể tự mình xem xét
nguồn thông tin từ khắp nơi trên thế giới tuôn đến ngày này qua ngày khác và nói chung
được thiên hạ coi là thật ? Cuối cùng, ai có thể tạo dựng lại từ đầu những nẻo đường
kinh nghiệm và tư tưởng đã làm phát sinh các kho tàng khôn ngoan và tôn giáo của loài
người ? Điều đó có nghĩa là con người, kẻ đi tìm chân lý, cũng là người sống bởi lòng
tin.
32. Khi tin tưởng, chúng ta đặt tín nhiệm vào nhận thức do người khác đạt
được. Ta có thể nghĩ ở đây có một sự căng thẳng quan trọng. Một đàng, nhận thức đạt
được do niềm tin có vẻ như một hình thức nhận thức bất toàn, cần được hoàn thiện dần
dần qua sự hiển nhiên mà cá nhân tích luỹ được ; đàng khác, về mặt nhân bản niềm tin
thường phong phú hơn sự hiển nhiên đơn thuần, bởi vì nó bao hàm mối tương quan liên
vị và vận dụng chẳng những khả năng hiểu biết mà cả một khả năng thâm sâu hơn, đó là
khả năng tín thác vào tha nhân, đi vào một mối liên hệ thân tình và bền vững với họ.
Cần nhấn mạnh rằng các chân lý người ta tìm kiếm trong mối quan hệ liên vị
này chủ yếu không mang tính chất kinh nghiệm hay triết lý. Đúng ra, điều người ta tìm
kiếm là chân lý và ngôi vị con người : ngôi vị ấy là gì và điều ngôi vị ấy bộc lộ ra từ
trong thẳm sâu của họ là gì. Vây, sự hoàn thiện nhân bản không chỉ cốt ở chỗ có được
một nhận thức trừu tượng về chân lý, nhưng còn ở trong mối quan hệ sống động làm
bằng sự hiến thân cho kẻ khác. Chính trong sự hiến thân trung tín này mà một con
người tìm thấy sự chắc chắn và an toàn trọn vẹn. Nhưng đồng thời nhận thức nhờ lòng
tin, vì được đặt cơ sở trên niềm tín thác giữa người với người, nên được nối kết với chân
lý : khi tin nhau, người ta đặt tín nhiệm vào chân lý mà người kia tỏ bày với họ.
Có thể tìm ra nhiều ví dụ chứng minh điều này ; nhưng tôi nghĩ ngay tới các vị
tử đạo, là những chứng nhân chân chính nhất cho chân lý về cuộc đời. Các ngài biết
rằng mình đã tìm thấy chân lý cuộc đời khi gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, và không bao giờ có
gì hay có ai có thể lấy đi niềm xác quyết đó. Dù là đau khổ hay cái chết dữ dội không
bao giờ khiến các ngài từ bỏ chân lý mà các ngài đã khám phá ra khi gặp gỡ Đức Kitô.
Bởi thế mà cho tới ngày nay, chứng tá của các đấng tử đạo vẫn gây được mối quan tâm,
lôi kéo sự tán đồng, chinh phục được bao người nghe theo và khích động sự noi gương.
Đó cũng là lý do tại sao lời các ngài tạo được sự tin tưởng đến thế : kể từ lúc các ngài
nói cho ta biết về chính điều mà chúng ta đã nhận thấy trong sâu thẳm lòng mình như là
chân lý mà chúng ta đã tìm kiếm từ lâu, các vị tử đạo cống hiến cho ta tính hiển nhiên
của một tình yêu không cần dài dòng biện luận mà vẫn có sức thuyết phục. Các vị tử
đạo khơi dậy nơi ta một niềm tín nhiệm sâu xa bởi vì các ngài nói lên điều chúng ta đã
cảm thấy và các ngài tuyên bố công khai điều chúng ta cũng muốn có đủ sức để giãi
bày.
33. Như thế, từng bước một, chúng ta đã gom lại các yếu tố của vấn đề. Bản
tính con người là tìm kiếm chân lý. Việc tìm kiếm này không chỉ nhằm đạt tới những
chân lý phiến diện, thực nghiệm hay khoa học mà thôi ; cũng không phải chỉ trong
những hành vi quyết định lẻ tẻ mà người ta tìm kiếm sự thiện đích thực. Cuộc tìm kiếm
của họ nhắm tới một chân lý cao xa hơn khả dĩ giải thích được ý nghĩa cuộc đời. Và vì
thế, đó là một cuộc kiếm tìm chỉ có thể đạt tới đích khi đạt được cái tuyệt đối. (28). Nhờ
những khả năng vốn có của tư tưởng, con người có thể gặp thấy và nhận ra một chân lý
như thế. Người ta đạt tới thứ chân lý cốt tử và cần thiết cho cuộc đời ấy không những
nhờ lý trí nhưng còn bằng sự ưng thuận đầy tin tưởng đối với những người khác có thể
bảo đảm tính xác thực và vững chắc của chính chân lý. Không nghi ngờ gì nữa, khả
năng tín thác chính mình và cuộc đời mình vào một người khác, và quyết định làm như
thế, đó là một trong những hành vi nhân linh có ý nghĩa và ý vị nhất.
Không được quên rằng lý trí cũng cần được nâng đỡ trong suốt cuộc kiếm tìm
của nó bằng sự đối thoại đầy tin tưởng và tình bạn chân thành. Một bầu khí ngờ vực và
thiếu tín nhiệm có thể đe doạ công cuộc nghiên cứu suy tư. Bầu khí đó quên mất lời
giảng dạy của các triết gia xưa đã đề nghị lấy tình bạn làm một trong những khung cảnh
tốt cho việc khảo cứu triết học.
Từ những điều nói trên đây, ta thấy rõ rằng con người đang trên một hành trình
tìm kiếm không thể ngăn chặn lại được xét về mặt con người , – tìm kiếm chân lý và
tìm kiếm một con người mà họ có thể tín thác. Đức tin Kitô giáo đến gặp họ, cống hiến
cho họ một khả năng cụ thể để đạt tới mục đích họ tìm kiếm. Bằng cách vượt qua giai
đoạn tin đơn thuần, đức tin Kitô giáo đưa con người vào lãnh vực ân sủng, nhờ đó họ có
thể tham dự vào mầu nhiệm Đức Kitô ; đến lượt mầu nhiệm này lại ban cho họ một
nhận thức đích thực và mạch lạc về Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong Đức Giêsu Kitô là
Chân lý, đức tin nhận ra lời mời gọi tối hậu gởi đến nhân loại, để điều chúng ta cảm
nghiệm như một khát vọng và nhớ nhung có thể được thực hiện.
34. Chân lý này do Thiên Chúa mặc khải cho ta trong Đức Giêsu Kitô nhưng
không ngược với những chân lý được triết học nhận biết. Trái lại, hai cách nhận thức
đều dẫn tới chân lý sung mãn. Tính duy nhất của chân lý là một tiền đề cơ bản cho con
người lý luận, như ta thấy rõ trong nguyên lý bất mâu thuẫn. Mặc khải làm cho tính duy
nhất này nên vững chắc, khi chỉ rõ rằng Thiên Chúa tạo thành cũng là Thiên Chúa của
Lịch sử cứu độ. Thiên Chúa, Đấng thiết lập và bảo đảm cho tính khả tri và tính hợp lý
của trật tự tự nhiên của các sự vật, mà nhà khoa học cậy dựa vào với lòng tin tưởng
vững vàng (29), – và Thiên Chúa, Đấng mặc khải mình ra nơi Chúa Giêsu Kitô, cũng
chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Tính duy nhất này của chân lý – chân lý tự nhiên và
chân lý mặc khải – đã được mặc hình trong một ngôi vị sống động là Đức Kitô, như
thánh Tông đồ nhắc nhở cho chúng ta : “Chân lý ở trong Đức Giêsu” (x. Ep 4,21; Cl
1,15-20). Người là Lời vĩnh cửu trong đó mọi sự đã được dựng nên , và Người là Lời
nhập thể, Đấng mặc khải Chúa Cha (x. Ga 1,14, 18) qua trọn vẹn con người của mình
(30). Điều mà lý trí con người tìm kiếm “mà không biết”(x. Cv 17,23) chỉ có thể gặp
thấy nhờ Đức Kitô, bởi vì điều được mặc khải trong Người chính là “chân lý sung mãn”
(x. Ga 1,14-16) của tất cả những gì đã được tạo dựng trong Người và nhờ Người, và bởi
đó chúng tìm thấy nơi Người sự kiện toàn (x. Cl 1,17).
35. Trên cơ sở những suy tư chung nói trên, bây giờ chúng ta phải trực tiếp bàn
tới mối liên hệ giữa chân lý mặc khải và triết học. Tương quan này đòi hỏi một sự xem
xét hai mặt, bởi vì chân lý do Mặc khải mang tới là một chân lý phải được hiểu trong
ánh sáng của lý trí. Chỉ nhờ tính lưỡng diện này, chúng ta mới xác định được một cách
đúng đắn mối liên hệ giữa chân lý mặc khải và tri thức triết học. Vậy, trước hết chúng ta
hãy xem xét đức tin và triết học đã liên hệ với nhau như thế nào trong dòng lịch sử . Từ
đó sẽ nổi rõ lên một số nguyên tắc làm điểm qui chiếu khi ta muốn thiết lập mối liên lạc
đúng đắn giữa hai trật tự nhận thức.
CHƯƠNG IV
TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ
Những thời điểm quan trọng trong cuộc gặp gỡ giữa đức tin và lý trí.
36. Theo lời chứng minh của sách Công vụ Tông đồ, việc loan báo Tin Mừng
ngay từ đầu đã phải đối mặt với những trào lưu triết học đương thời. Tại Athêna, Thánh
Phaolô có cuộc tranh luận với “mấy triết gia thuộc phái Khoái lạc và phái Khắc kỷ” (17,
18); và qua sự phân tích chú giải bài thuyết trình của ngài tại hội đồng Arêopagô, người
ta thấy những lời ám chỉ thường xuyên về những niềm tin bình dân phần lớn có nguồn
gốc khắc kỷ. Đây hoàn toàn không phải là chuyện tình cờ. Để cho dân ngoại hiểu mình,
các Kitô hữu tiên khởi không thể chỉ nại tới “Môsê và các ngôn sứ” khi họ đàm thoại.
Họ còn phải nhấn vào nhận thức tự nhiên về Thiên Chúa và vào tiếng nói của lương tâm
trong mỗi người (x. Rm 1,19-21; 2, 14-15; Cv 14,16-17). Vì trong tôn giáo dân ngoại,
nhận thức tự nhiên này đã rơi vào việc thờ ngẫu tượng (x. Rm 1,21-32) nên thánh Tông
đồ cho rằng nối kết với tư tưởng các triết gia trong bài thuyết giảng của mình thì khôn
ngoan hơn, bởi lẽ các triết gia đã luôn luôn dùng những khái niệm tôn trọng tính siêu
việt của thần linh hơn để đối lại các thần thoại và nghi thức tôn giáo huyền bí.
Một trong những mối quan tâm lớn của triết học cổ điển là thanh lọc các quan
niệm của con người về Thiên Chúa khỏi những yếu tố thần thoại. Như chúng ta biết, tôn
giáo của Hy Lạp cũng giống như hầu hết các tôn giáo thờ tinh tú, là đa thần, ngay cả
đến độ thần hoá những sự vật và hiện tượng tự nhiên. Hình thức sớm nhất diễn tả nỗ lực
con người để hiểu nguồn gốc các thần linh và nguồn gốc của vũ trụ, đó là thi ca ; và các
bản thần hệ 2 * vẫn còn là bằng chứng đầu tiên về việc tìm kiếm đó. Nhưng chính những
người khai sinh ra triết học có nhiệm vụ làm sáng tỏ mối liên hệ giữa lý trí và tôn giáo.
Vì mở rộng tầm nhìn để bao quát các nguyên lý phổ quát, họ không còn hài lòng với
những thần thoại cổ xưa, nhưng muốn tìm một nền tảng hữu lý cho niềm tin của họ vào
thần linh. Họ mở ra một con đường bắt nguồn từ những truyền thống cổ nhưng lại dẫn
đến một sự phát triển đáp ứng được những đòi hỏi của lý trí phổ quát. Sự phát triển đó
nhằm đạt tới một ý thức có phê phán về những điều họ tin. Được hưởng lợi đầu tiên từ
bước tiến này chính là khái niệm về thần linh. Những điều mê tín được nhận rõ là mê tín
và tôn giáo, ít ra là một phần, được thanh luyện nhờ phân tích thuần lý. Trên cơ sở này,
các Giáo phụ đã mở cuộc đối thoại có hiệu quả với triết học cổ đại, – nền triết học đã
cung cấp những cách thức mới cho việc loan báo và hiểu biết Vị Thiên Chúa của Đức
Giêsu Kitô.
37. Khi nhắc tới việc Kitô giáo tiếp nhận triết học, người ta không nên quên thái
độ thận trọng của người Kitô hữu đối với những yếu tố khác trong thế giới văn hoá
ngoại giáo, chẳng hạn thuyết ngộ đạo. Triết học, hiểu như sự khôn ngoan thực hành và
trường dạy cho cuộc sống, có thể dễ dàng bị lẫn lộn với một thứ nhận thức cao hơn và
bí truyền dành riêng cho thiểu số những người hoàn thiện. Chắc chắn thánh Phaolô nghĩ
tới loại suy luận bí truyền này khi ngài cảnh giác các tín hữu Côlosê. Những lời của
thánh Tông đồ xem ra vẫn hoàn toàn thích đáng nếu được áp dụng cho những loại mê
tín bí truyền đang phổ biến ngày nay, ngay cả nơi một số Kitô hữu thiếu óc phê phán.
Theo gương thánh Phaolô, những văn sĩ khác của các thế kỷ đầu, đặc biệt là thánh Irênê
và ông Téctulianô, đã gióng tiếng báo động khi đối diện với một viễn ảnh văn hoá tìm
cách bắt chân lý mặc khải lệ thuộc vào sự giải thích của các triết gia.
* bản thần hệ : câu chuyện về nguồn gốc của thần linh (chú thích của người dịch)
38. Vậy sự gặp gỡ của Kitô giáo với triết học không xảy ra trơn tru hay tức
khắc. Những Kitô hữu tiên khởi coi việc thực hành triết học và theo học tại các trường
triết học là một sự xáo trộn hơn là một cơ may. Đối với họ, nhiệm vụ đầu tiên và cấp
bách nhất là loan báo Đức Kitô phục sinh, bằng cách gặp gỡ cá nhân để mong đem
người nghe tới hoán cải tâm hồn và xin lãnh bí tích Thánh tẩy. Nhưng điều đó không có
nghĩa là họ lơ là nhiệm vụ đào sâu sự hiểu biết đức tin và những lý do để tin. Hoàn toàn
ngược lại. Lời phê bình của Celsius cho rằng người Kitô hữu là những kẻ “ vô học và
thô lỗ” (31) là vô căn cứ và sai. Thái độ thờ ơ lúc đầu của họ phải được giải thích trên
những cơ sở khác. Việc gặp gỡ với Tin Mừng cung cấp cho họ một giải đáp thoả đáng
cho câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời mà cho tới lúc đó chưa được trả lời, khiến cho họ coi
việc nghiên cứu các triết gia là chuyện cổ xưa và cách nào đó là lỗi thời.
Dường như ngày nay điều đó còn hiển nhiên hơn nếu chúng ta nghĩ tới đóng góp
của Kitô giáo trong việc khẳng định mọi người có quyền biết chân lý. Bằng cách phá đổ
những hàng rào chủng tộc, vị trí xã hội và phái tính, Kitô giáo ngay từ đầu đã công bố
mọi người đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa . Điều này có liên quan tới nhiều điều
nhưng trước tiên là tới chủ đề chân lý.
Chủ nghĩa “phát triển tinh hoa” 3 * vốn là đặc điểm của việc tìm kiếm chân lý của
người xưa đã bị Kitô giáo dứt khoát từ bỏ. Vì đường đưa tới chân lý giúp người ta đến
được với Thiên Chúa, nên không được từ chối nó với bất cứ ai. Có nhiều đường nẻo dẫn
đến chân lý, nhưng bởi vì chân lý Kitô giáo có một giá trị cứu độ, người ta có thể theo
bất cứ đường nẻo nào miễn là nó dẫn tới cùng đích cuối cùng, tức là Mặc khải của Chúa
Giêsu Kitô.
Thánh Justinô là một người đi tiên phong trong sự gặp gỡ tích cực với tư tưởng
triết học, mặc dù với sự biện phân thận trọng. Sau khi trở lại, ngài vẫn quí chuộng triết
học, nhưng ngài khẳng định thật rõ ràng và mạnh mẽ rằng ngài đã tìm thấy trong Kitô
giáo “nền triết học duy nhất chắc chắn và bổ ích” (32). Tương tự như thế, thánh
Clêmentê thành Alêxanria gọi Phúc Âm là “triết lý đích thực” (33) và ngài hiểu triết học
cũng giống như lề luật Môsê, là giáo huấn chuẩn bị cho đức tin Kitô giáo (34) và dọn
đường cho Tin Mừng (35). Vì “triết học mong ước sự khôn ngoan, mà khôn ngoan cốt ở
nơi sự chính trực của tâm hồn với lời nói cũng như sự trong sáng của cuộc sống, nên nó
được chuẩn bị sẵn sàng cho sự khôn ngoan [ đích thực ] và làm mọi cách để đạt tới khôn
ngoan. Chúng tôi gọi triết gia là người yêu mến sự Khôn ngoan sáng tạo và làm chủ
vạn vật, tức là yêu mến sự hiểu biết Con Thiên Chúa”(36). Đối với thánh Clêmentê,
triết học Hy Lạp không nhằm trước tiên nâng đỡ hay bổ khuyết cho chân lý Kitô Giáo.
Nhiệm vụ của nó là bảo vệ đức tin: “ Giáo huấn của Chúa Cứu Thế tự nó đã hoàn hảo
và không cần phải được trợ giúp, bởi vì đó là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên
Chúa. Triết học Hy Lạp dù có đóng góp nào cũng không làm cho chân lý thêm mạnh
mẽ; song bằng cách vô hiệu hoá sức tấn công của ngụy biện và tước đoạt vũ khí của
những kẻ phản bội chân lý và mưu tính diệt trừ chân lý, triết học Hy Lạp được gọi rất
đúng là hàng rào và bức tường bảo vệ chung quanh vườn nho”. (37)
39. Vậy lịch sử cho thấy rõ là các nhà tư tưởng Kitô giáo đã tiếp nhận triết học
một cách có phê phán. Trong số những thí dụ đầu tiên về thái độ này, Origênô chắc
chắn là người nổi bật. Để đối phó với những công kích của triết gia Celsius, ông đã vận
dụng triết học Plato để hình thành lập luận của mình và tổ chức cuộc đối đáp. Với nhiều
yếu tố của tư tưởng Plato, ông bắt đầu xây dựng một hình thức đầu tiên của thần học
* elitism : chủ trương một nền giáo dục hay một sự phát triển dành cho một số người
được coi là tinh hoa của xã hội (Chú thích của người dịch)
Kitô giáo. Ngay tên gọi “thần học” cùng với quan niệm thần học như một diễn từ hợp lý
về Thiên Chúa, về mặt này đã gắn liền với nguồn gốc Hy Lạp rồi. Trong triết học
Aristote, chẳng hạn, từ thần học chỉ về phần cao quí nhất và chóp đỉnh đích thực của lý
luận triết học. Nhưng dưới ánh sáng mặc khải Kitô giáo, điều trước kia có nghĩa là một
học thuyết chung về các thần minh, nay mang một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ, nói về sự
suy tư của người tín đồ nhằm diễn tả đạo lý chân chính về Thiên Chúa. Trong quá trình
phát triển, tư tưởng Kitô giáo mới này đã sử dụng triết học, nhưng đồng thời vẫn quan
tâm phân biệt rõ ràng mình với triết học. Lịch sử cho thấy rằng tư tưởng Plato, một khi
đã được thần học tiếp nhận, đã trải qua những thay đổi sâu sắc, đặc biệt trong những gì
liên quan tới những khái niệm như linh hồn bất tử, sự thần hoá của con người và nguồn
gốc sự ác.
40. Trong công trình Kitô giáo hoá tư tưởng Plato và Tân Plato, cần nói tới tầm
quan trọng của các giáo phụ Cappadoce, ông Dionysius Areopagite và nhất là thánh Au
Tinh. Vị đại tiến sĩ của phương Tây này đã tiếp xúc với nhiều trường phái triết học,
nhưng tất cả đều làm cho ngài thất vọng. Chỉ khi gặp được chân lý của đức tin Kitô
giáo, ngài mới tìm được sức mạnh để thực hiện cuộc hoán cải trọn vẹn, mà những triết
gia ngài đã biết đều không thể dẫn ngài tới. Chính ngài cho biết lý do : “Kể từ đó, tôi ưa
thích đức tin công giáo hơn. Tôi nghĩ rằng một cách khiêm tốn hơn và không hề có ý
lừa dối, Giáo Hội dạy người ta phải tin điều không thể chứng minh – hoặc vì đã có
chứng minh nhưng không phải mọi người đều hiểu cả, hoặc vì nội dung vấn đề không
thích hợp với một chứng cớ thuần lý – còn nơi phái Manikê, họ hấp tấp hứa hẹn cho
người ta tri thức và chế nhạo sự cả tin, nhưng sau đó lại buộc người ta phải tin nhiều
chuyện huyền hoặc và vô lý không thể chứng minh” (38). Mặc dù dành cho các triết gia
phái Plato một vị trí ưu tiên, thánh Au Tinh vẫn phê bình họ bởi họ biết mục đích phải
tìm kiếm nhưng lại bỏ qua con đường dẫn tới đích, đó là Ngôi Lời nhập thể. (39). Vị
giám mục thành Hippone đã thực hiện được tổng hợp triết học và thần học vĩ đại đầu
tiên, bao gồm những luồng tư tưởng cả Hy Lạp lẫn La-tinh. Nơi ngài, toàn bộ tri thức
đặt nền tảng trong tư tưởng Kinh Thánh cũng được xác nhận và nâng đỡ bởi một tư duy
tư biện sâu sắc. Tổng hợp do thánh nhân thực hiện là hình thức suy tư triết học và thần
học được đề cao nhất ở phương Tây trong nhiều thế kỷ. Dựa vào tiểu sử đời mình và
cuộc sống đáng khâm phục, ngài còn có thể đưa vào trong các tác phẩm mình một loạt
những yếu tố căn cứ trên kinh nghiệm, và khai mào cho những phát triển về sau trong
một số trào lưu triết học.
41. Vậy những cách thức các giáo phụ phương Đông và phương Tây liên hệ với
các trường phái triết học là rất khác nhau. Như thế không có nghĩa là các ngài đồng hoá
nội dung sứ điệp các ngài với các hệ thống mà các ngài tham chiếu. Lấy thí dụ câu hỏi
của Têtulianô : “Athêna có gì chung với Giêrusalem ? Trường Hàn Lâm có gì chung với
Hội Thánh ?” (40) Câu hỏi cho thấy rõ các nhà tư tưởng Kitô giáo ngay từ đầu đã đương
đầu với vấn đề tương quan giữa đức tin và lý trí với ý thức phê bình, bằng cách nhìn vấn
đề một cách bao quát gồm cả những mặt tích cực lẫn các giới hạn của nó. Các ngài
không phải là những nhà tư tưởng ngây thơ. Chính vì mãnh liệt trong đời sống đức tin
mà các ngài có thể đạt tới những hình thức sâu xa nhất của suy tư. Vì thế thật là quá
giản lược và sai lầm khi coi công việc của các ngài chỉ đơn giản là đưa các chân lý đức
tin vào trong những phạm trù triết học. Các ngài đã làm nhiều hơn thế. Quả vậy, các
ngài đã thành công trong việc làm rõ ra một cách trọn vẹn tất cả những gì là hàm ẩn và
mới chỉ là phôi thai trong tư tưởng của các triết gia lớn của thời cổ đại. (41) Như tôi đã
nói, nhiệm vụ của các ngài là chỉ cho thấy rằng lý trí, sau khi đã được giải phóng khỏi
những bó buộc bên ngoài, có thể tìm thấy đường thoát ra khỏi ngõ cụt của thần thoại và
mở ra với cái siêu việt một cách thích hợp hơn. Vậy nhờ được thanh luyện và điều chỉnh
đúng cách, lý trí có thể vươn tới những cấp độ tư tưởng cao hơn, cung cấp một nền tảng
vững chắc để nhận thức hữu thể, nhận thức cái siêu việt và cái tuyệt đối.
Ở đây chúng ta thấy tính độc đáo của những gì các giáo phụ đã hoàn thành. Các
ngài đã đón nhận hoàn toàn lý trí nay được mở ra với cái tuyệt đối, và truyền cho nó sự
phong phú đến từ Mặc khải. Đây còn hơn là một cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hoá,
trong đó nền văn hoá này có lẽ đã ngả theo sự quyến rũ của nền văn hoá kia. Đúng hơn,
cuộc gặp gỡ xảy ra trong sâu thẳm của tâm hồn con người, và đó là một cuộc gặp gỡ
giữa thọ tạo và Đấng Tạo Hoá. Khi vượt qua mục tiêu mà nó hướng tới một cách vô ý
thức do bản tính tự nhiên của mình, lý trí đạt tới sự thiện tối cao và chân lý tối hậu trong
Ngôi Lời nhập thể. Đối diện với các nền triết học. các giáo phụ không sợ nhìn nhận
những yếu tố nào trong đó ăn khớp với Mặc khải cũng như những yếu tố không phù
hợp. Nhìn nhận những điểm đồng nhất không làm cho các ngài mù quáng đối với những
điểm khác nhau.
42.. Trong thần học Kinh viện, lý trí được rèn luyện bởi triết học còn đóng một
vai trò dễ thấy hơn nữa dưới sự thúc đẩy của thánh Anselmô giải thích sự lĩnh ngộ đức
tin (intellectus fidei). Đối với vị thánh Tổng giám mục Canterbury, quyền ưu tiên của
đức tin không cạnh tranh với việc tìm kiếm riêng của lý trí. Thật ra, lý trí không có phận
sự phán đoán các nội dung đức tin ; nó không thể làm điều đó, bởi lẽ đấy không phải là
chức năng của nó. Chức năng ấy đúng ra là tìm ra ý nghĩa, khám phá ra những lý lẽ khả
dĩ giúp mọi người hiểu biết phần nào nội dung đức tin. Thánh Anselmô nhấn mạnh sự
kiện là trí khôn phải tìm kiếm điều nó yêu thích : càng yêu thích, nó càng muốn hiểu
biết. Ai sống cho chân lý thì hướng tới một hình thái nhận thức được nung nấu ngày
càng mãnh liệt hơn bởi lòng yêu mến đối với điều họ biết, đồng thời vẫn phải nhìn nhận
rằng nhận thức ấy chưa đạt được điều nó khát khao : “Con được dựng nên để nhìn thấy
Ngài ; và con chưa làm điều mà con được dựng nên [ để làm ] (Ad Te videndum factus
sum ; et nondum feci propter quod factus sum” (42). Vậy lòng khao khát chân lý luôn
luôn thôi thúc lý trí tiến xa hơn ; nhưng lý trí có vẻ như bị bó buộc phải nhận ra rằng
bao giờ nó cũng có thể vượt xa hơn những gì đã đạt được. Tuy nhiên, chính ở điểm này
mà lý trí có thể học biết con đường của nó cuối cùng sẽ dẫn tới đâu : “Tôi thiết nghĩ bất
cứ ai nghiên cứu điều gì không thể hiểu được, sẽ lấy làm thoả mãn nếu, bằng cách lý
luận, họ biết chắc chắn rằng điều ấy có thực, cho dù trí khôn họ không thể thấu hiểu
cách thức nó tồn tại… Nhưng có gì là khôn thấu và khôn tả bằng điều vượt lên trên hết
mọi sự không ? Vì thế, nếu những điểm được bàn luận cho tới nay liên quan đến yếu
tính siêu việt nhất lại được xác lập dựa trên cơ sở một lý luận thích đáng, thì nền tảng
của sự xác tín của ta vẫn không bị lung lay chút nào cho dù trí khôn không thể thấu hiểu
những điều ấy hoặc diễn tả ra một cách rõ ràng. Nếu một suy tư trước đã kết luận hợp
lý rằng người ta không thể hiểu (rationabiliter comprehendit incomprehensibile esse)
bằng cách nào sự khôn ngoan siêu việt biết được điều nó làm…., thì ai sẽ giải thích
được cách thức sự khôn ngoan ấy phải được biết đến và diễn tả, – sự khôn ngoan mà con
người vốn không thể biết gì hoặc gần như không biết gì ?” (43).
Một lần nữa, sự hoà hợp căn bản giữa nhận thức đức tin và nhận thức triết học
được xác nhận : đức tin đòi hỏi đối tượng của nó phải được lý trí hiểu ; còn lý trí khi
khảo cứu tới cùng, nhìn nhận rằng nó không thể bỏ qua được điều mà đức tin trình bày.
Tính độc đáo bền vững của tư tưởng thánh Tôma Aquinô.
43. Trên con đường dài này, thánh Tôma chiếm một vị trí rất đặc biệt , không
những vì nội dung học thuyết của ngài mà còn vì cuộc đối thoại ngài đã thực hiện với tư
tưởng Ả-rập và Do-thái vào thời đại của ngài. Trong một thời mà các nhà tư tưởng Kitô
giáo tái khám phá ra những kho tàng triết học cổ, và còn đặc biệt hơn nữa là triết học
Aristốt, thánh Tôma đã có công lớn là đặt lên hàng đầu sự hoà hợp giữa đức tin và lý trí.
Ngài giải thích : cả ánh sáng lý trí lẫn ánh sáng đức tin đều phát xuất từ Thiên Chúa ;
do đó, chúng không thể mâu thuẫn nhau. (44)
Triệt để hơn nữa, thánh Tôma nhìn nhận rằng thiên nhiên, đối tượng riêng của triết
học, có thể góp phần giúp ta hiểu Mặc khải của Thiên Chúa. Vậy, đức tin không sợ lý
trí, nhưng tìm kiếm lý trí và đặt tin tưởng vào lý trí. Cũng như ân sủng xây dựng trên tự
nhiên và kiện toàn tự nhiên, (45) đức tin xây dựng trên lý trí và kiện toàn lý trí. Được
đức tin soi sáng, lý trí được giải thoát khỏi sự yếu đuối và những giới hạn do sự bất tuân
của tội lỗi và tìm được sức mạnh cần thiết để vươn tới sự hiểu biết Thiên Chúa Ba Ngôi.
Tuy nhấn mạnh tính chất siêu nhiên của đức tin, nhưng vị Tiến sĩ Thiên thần không
quên tầm quan trọng của tính hợp lý của nó ; trái lại ngài đã biết đào sâu và giải thích ý
nghĩa của tính hợp lý ấy.Theo một nghĩa nào đó, đức tin là một sự “luyện tập cho tư
tưởng” ; và lý trí con người không bị tiêu diệt hay bị hạ nhục khi tán đồng nội dung đức
tin ; dù sao chăng nữa người ta đạt tới nội dung ấy bằng một sự chon lựa tự do và có ý
thức. (46)
Chính vì thế mà một cách chính đáng, Giáo Hội đã luôn luôn đề nghị thánh Tôma
làm một bậc thầy tư tưởng và một mẫu mực về cách thức thich hợp để làm thần học.
Nhân đây, tôi muốn nhắc lại điều vị Tiền nhiệm của tôi, Đức Phaolô VI, người tôi tớ
Thiên Chúa đã viết trong dịp kỷ niệm bảy trăm năm ngày qua đời của vị thánh Tiến sĩ :
“Không thể nghi ngờ rằng thánh Tôma đã có được ở mức cao nhất lòng nhiệt tình đối
với chân lý, sự tự do tinh thần khi đương đầu với những vấn đề mới, tính trung thực trí
thức của những kẻ không chấp nhận cho Kitô giáo phải bị tiêm nhiệm bởi triết học
phàm tục dù không tiên thiên loại bỏ nó. Vì thế trong lịch sử tư tưởng Kitô giáo, ngài
được xem như là một nhà tiên phong trên con đường mới của triết học và của nền văn
hoá phổ quát. Điểm then chốt, gần như là cái lõi của giải đáp mà với trực giác tiên tri
thiên tài của mình, ngài đưa ra cho cuộc gặp gỡ mới mẻ giữa đức tin và lý trí, đó là hoà
hợp tính phàm tục của thế giới với tính triệt để của Tin Mừng. Như vậy là tránh khuynh
hướng trái tự nhiên chối bỏ thế giới và các giá trị của nó, đồng thời vẫn duy trì những
đòi hỏi tối cao và thúc ép của trật tự siêu nhiên của đức tin”. (47)
44. Một trong những trực giác lớn của thánh Tôma là nhận thức về vai trò của
Chúa Thánh Thần trong quá trình làm cho tri thức trở thành sự khôn ngoan. Ngay từ
những trang đầu tác phẩm Tổng Luận thần học (Summa Theologiae) (48), ngài đã muốn
minh chứng tính ưu việt của sự khôn ngoan là một ân huệ của Chúa Thánh Thần, dẫn
tới nhận thức về các thực tại thần linh. Thần học của ngài cho ta hiểu được nét đặc trưng
của sự khôn ngoan trong mối liên quan mật thiết của nó với đức tin và với nhận thức
thần linh. Sự khôn ngoan này hiểu biết nhờ thiên phú [ connaturality] ; nó đòi hỏi phải
có đức tin như điều kiện tiên quyết và trình bày phán đoán ngay thẳng của mình trên cơ
sở của chính chân lý đức tin : “Đức khôn ngoan được liệt vào số các ơn Chúa Thánh
Thần thì khác với sự khôn ngoan tìm thấy trong các đức tính thuộc trí khôn. Sự khôn
ngoan sau là thứ người ta đạt được nhờ học tập, còn loại thứ nhất “từ trên mà đến”, theo
cách nói của thánh Giacôbê. Nó cũng phân biệt với đức tin đón nhận chân lý thần linh
nguyên vẹn, trong lúc ơn khôn ngoan giúp ta biết phán đoán theo chân lý thần linh”
(49).
Tuy nhiên, tính ưu việt dành cho sự khôn ngoan này không làm cho vị Tiến sĩ
Thiên thần quên mất hai hình thức bổ sung khác của khôn ngoan : sự khôn ngoan triết lý
dựa trên khả năng của trí tuệ để nghiên cứu thực tại, mặc dù nó có những giới hạn tự
nhiên ; và sự khôn ngoan thần học căn cứ trên Mặc khải và tìm hiểu nội dung đức tin,
đạt tới chính mầu nhiệm Thiên Chúa.
Vì thâm tín rằng “mọi chân lý, bất kể do ai phát biểu ra, đều do Chúa Thánh Thần
mà đến” (omne verum a quocumque dicatur a Spiritu Sancto est) (50), thánh Tôma
không thiên vị trong lòng yêu mến đối với chân lý. Ngài tìm kiếm chân lý bất cứ nơi
đâu có thể tìm thấy và làm hết sức chứng minh tính phổ quát của chân lý. Nơi ngài,
Huấn quyền của Hội Thánh đã nhìn thấy và thừa nhận lòng say mê chân lý ; và chính
bởi vì tư tưởng của ngài luôn luôn nằm trong viễn tượng của chân lý phổ quát, khách
quan và siêu việt, nên nó đạt tới “những đỉnh cao mà trí khôn con người không bao giờ
có thể nghĩ tới”. (51) Vì thế người ta có thể gọi ngài rất đúng là một “vị tông đồ của
chân lý”. (52) Bởi ngài tìm kiếm chân lý không e dè, nên thuyết hiện thực 4 của Thánh
Tôma biết nhìn nhận tính khách quan của chân lý. Triết học của ngài không phải là một
nền triết học về “hiện tượng”nhưng là về “thực hữu”.
Thảm kịch của sự phân chia giữa đức tin và lý trí.
45. Với sự ra đời của những đại học đầu tiên, thần học tiếp xúc trực tiếp hơn với
những hình thức tri thức và nghiên cứu khoa học khác. Tuy nhấn mạnh vào mối dây hữu
cơ liên kết thần học và khoa học, nhưng thánh Anbêtô và thánh Tôma là những người
đầu tiên nhìn nhận tính tự lập cần thiết cho triết học và khoa học để hoạt động hữu hiệu
trong các lãnh vực nghiên cứu riêng của chúng. Nhưng kể từ cuối thời Trung cổ về sau,
sự phân biệt chính đáng giữa hai loại tri thức đã dần dần trở thành phân chia tai hại. Do
chủ trương duy lý quá khích của một số nhà tư tưởng, các lập trường ngày càng trở nên
triệt để hơn, và trong thực tế, đã đưa tới một nền triết học tách biệt và hoàn toàn độc lập
với nội dung đức tin. Một trong nhiều hậu quả khác của tình trạng phân chia này là sự
bất tín nhiệm ngày càng sâu hơn đối với chính lý trí. Trong tinh thần hoài nghi và bất
khả tri, có những người bắt đầu đề xướng thái độ ngờ vực chung, khiến cho một số
người tập trung hơn vào đức tin và một số khác thì phủ nhận hoàn toàn tính hợp lý
[rationality] của đức tin.
Tóm lại, điều mà tư tưởng giáo phụ và Trung cổ đã liên kết lại trong lý thuyết
cũng như trong thực hành, thành một khối thống nhất sâu xa, từ đó phát sinh một nhận
thức có khả năng đạt tới những hình thức suy luận cao nhất, thì nay lại bị phá huỷ bởi
những hệ thống chủ trương một nhận thức thuần lý chia cắt khỏi đức tin và nhằm thay
thế đức tin.
46. Những lập trường ảnh hưởng nhất trong số các lập trường cực đoan nầy được
nhiều người biết đến và dễ thấy, nhất là trong lịch sử Tây phương. Không có gì là phóng
đại khi cho rằng một phần lớn triết học hiện đại trong quá trình phát triển, đã xa lìa dần
Mặc khải Kitô giáo, đến độ tự đặt mình vào thế đối nghịch rõ ràng. Quá trình này đạt tới
đỉnh cao vào thế kỷ trước. Một số đại diện của chủ nghĩa duy tâm đã tìm nhiều cách để
biến đức tin và nội dung đức tin, kể cả mầu nhiệm sự chết và Phục sinh của Chúa Giêsu,
thành những cơ cấu biện chứng mà lý trí có thể lânh hội được. Đối lại với loại tư duy
này là chủ nghĩa nhân bản vô thần dưới nhiều hình thức được diễn tả bằng ngôn ngữ
triết học ; chủ nghĩa này coi đức tin là tha hoá và có hại cho sự phát triển một lý tính
trọn vẹn. Các nền nhân bản vô thần không ngần ngại tự coi như những tôn giáo mới
dùng làm nền tảng cho những dự phóng mà, trên bình diện chính trị và xã hội, đã đẻ ra
những hệ thống độc tài từng gây thảm hoạ cho loài người .
Trong phạm vi nghiên cứu khoa học, não trạng thực chứng không những từ bỏ vũ
trụ quan Kitô giáo, mà đặc biệt còn loại trừ mọi qui chiếu về một quan niệm siêu hình
realism : thuyết hiện thực hay thuyết duy thực chủ trương trong nhận thức, trí khôn ta
đạt tới chính thực tại khách quan (Chú thích của người dịch)
hay luân lý. Do đó, nhà khoa học, vì thiếu hẳn mọi điểm qui chiếu đạo đức, nên có nguy
cơ không còn tập trung mối quan tâm vào con người và tính toàn vẹn của đời sống con
người nữa. Hơn nữa, có những người trong họ ý thức được những tiềm năng của tiến
bộ kỹ thuật, dường như đã không cưỡng nổi cái lô-gích của thị trường và hơn nữa còn
chịu thua chước cám dỗ muốn toàn quyền thống trị như thần thánh trên thiên nhiên và
trên chính con người.
Rồi chủ nghĩa hư vô xuất hiện như một hậu quả của cuộc khủng hoảng của chủ
nghĩa duy lý. Là một nền triết lý về cái hư vô, nó có một sức thu hút đối với con người
thời đại chúng ta. Các đồ đệ của nó chủ trương lấy công cuộc tìm kiếm làm cứu cánh,
không chút hy vọng hay khả năng nào đạt tới chân lý. Theo giải thích của chủ nghĩa hư
vô, cuộc sống chỉ là một cơ hội để trải qua những cảm giác và những kinh nghiệm trong
đó cái phù du chiếm hàng đầu. Chủ nghĩa hư vô là cội rễ phát sinh ra não trạng phổ biến
cho rằng người ta không nên cam kết một cách dứt khoát nữa, bởi vì mọi sự đều chóng
qua và tạm thời.
47. Đàng khác, cũng nên nhớ rằng chính vai trò của triết học đã thay đổi trong văn
hoá hiện đại. Từ chỗ là sự khôn ngoan và tri thức phổ quát, nó đã bị thu hẹp dần dần
thành một trong những lãnh vực tri thức của loài người, thậm chí về một số mặt, nó
được giao cho một vai trò hoàn toàn bên lề. Những hình thức lý tính khác đã dành được
vị trí ngày càng cao, làm cho tri thức triết học càng rõ ràng là một tri thức ngoại biên.
Những hình thức lý tính này không trực tiếp hướng về việc chiêm ngưỡng chân lý và
tìm kiếm cùng đích và ý nghĩa cuối cùng của cuộc đời, thay vào đó, chúng đã trở thành
“một lý trí công cụ” [instrumental reason] phục vụ cho những mục đích vụ lợi, cho sự
hưởng thụ hay quyền lực.
Trong Thông điệp đầu tiên của tôi, tôi đã lưu ý rằng tuyệt đối hoá cách tiếp cận
này thật là nguy hiểm. Tôi viết : “Hình như con người ngày nay luôn bị đe doạ bởi cái
mình làm ra, tức là bởi thành quả do công lao đôi bàn tay mình, nhất là của trí óc và các
khuynh hướng của ý chí mình, một cách quá nhanh chóng và nhiều khi bất ngờ. Các
thành quả của hoạt động đa dạng của con người không những là đối tượng cho sự “tha
hoá”, nghĩa là đơn thuần bị cướp mất khỏi tay kẻ đã làm ra chúng mà thôi, nhưng hơn
nữa còn quay lại chống chính con người, ít ra một phần nào đó, một cách gián tiếp qua
những tác động của chúng trên con người. Chúng được vận dụng hay có thể được vận
dụng chống lại con người. Đó hẳn là chỗ chính yếu của thảm kịch nhân sinh ngày nay,
trong kích thước rộng nhất và phổ quát nhất. Vì thế, con người luôn sống mà thêm sợ
hãi. Họ sợ rằng những sản phẩm mình làm ra, dĩ nhiên không phải là tất cả, cũng không
phải là phần lớn, nhưng một số nào đó, mà lại là chính những sản phẩm chứa đựng một
phần đặc biệt của thiên tài và óc sáng tạo của mình , – có thể bị tận dụng để chống lại
mình”. (53).
Tiếp theo những thay đổi văn hoá này, một số triết gia đã từ bỏ việc tìm kiếm chân
lý vì chân lý để nhằm mục đích duy nhất là đạt tới một sự xác thực chủ quan hay một
lợi ích thực tiễn. Hậu quả là phẩm tước đích thực của lý trí bị lu mờ, nó không còn được
trang bị để biết chân lý và tìm kiếm cái tuyệt đối.
48. Cái nhìn khái quát về lịch sử triết học trên đây cho thấy một sự phân ly ngày
càng lớn hơn giữa đức tin và lý trí triết học. Tuy nhiên nếu xem xét tỉ mỉ hơn, người ta
sẽ thấy ngay trong suy tư của những người đã góp phần nới rộng thêm hố ngăn cách
giữa đức tin và lý trí đôi khi vẫn có những mầm mống tư tưởng quí báu khả dĩ đưa tới
việc khám phá ra con đường chân lý, nếu được tiếp tục và phát triển với một tâm trí
ngay thẳng. Ta tìm thấy những mầm mống tư tưởng này , chẳng hạn trong những phân
tích sâu sắc về tri giác và kinh nghiệm, về tưởng tượng và vô thức, về nhân vị tính và
liên chủ thể tính, tự do và các giá trị, về thời gian và lịch sử. Cả đề tài sự chết cũng có
thể trở thành mời gọi thúc bách cho tất cả mọi nhà tư tưởng tìm kiếm ngay trong mình ý
nghĩa đích thực của cuộc đời mình. Nhưng điều đó không có nghĩa là mối tương quan
giữa đức tin và lý trí như hiện nay không cần được xem xét một cách cẩn thận, bởi vì
đức tin và lý trí mà thiếu nhau đều bị làm nghèo đi và bị suy yếu. Bị tước mất những gì
Mặc khải cống hiến, lý trí đã đi theo những con đường ngang khiến nó có nguy cơ sao
lãng mục đích cuối cùng của mình. Còn đức tin thiếu lý trí, đã nhấn mạnh vào tình cảm
và cảm nghiệm, và như thế nó liều mình không còn là một lời đề nghị phổ quát nữa.
Thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng đức tin gắn vào một lý luận yếu kém sẽ có thể sâu sắc
hơn ; trái lại, nó sẽ có nguy cơ lớn biến thành huyền thoại hoặc mê tín. Cùng một cách
đó, lý trí không liên hệ với một đức tin trưởng thành sẽ không được thôi thúc để quan
tâm tới tính mới mẻ và triệt để của hữu thể.
Đó là lý do giải thích tại sao tôi lên tiếng kêu gọi mạnh mẽ, tha thiết và không phải
là không đúng lúc – rằng đức tin và triết học phải tìm lại sự hiệp nhất sâu xa cho phép
chúng hoà hợp với bản chất của mình mà vẫn tôn trọng tính tự lập của nhau. Đối lại với
sự tuân phục [“parrhêsia”] của đức tin phải có sự táo bạo của lý trí.
CHƯƠNG V
NHỮNG CAN THIỆP CỦA HUẤN QUYỀN
TRONG LÃNH VỰC TRIẾT HỌC
Sự biện phân của Huấn quyền trong nhiệm vụ phục vụ Chân lý.
49. Giáo Hội không có một triết học riêng cũng không coi trọng một nền triết học
nào hơn các nền triết học khác.(54) Sở dĩ có sự dè dặt này là vì triết học, ngay cả khi có
liên quan tới thần học, vẫn phải trung thành với những nguyên tắc và phương pháp riêng
; nếu không, sẽ không bảo đảm được rằng nó vẫn còn hướng về chân lý và tiến tới chân
lý theo một tiến trình được chi phối bởi lý trí. Một nền triết học không tiến hành dưới
ánh sáng của lý trí theo những nguyên tắc và phương pháp riêng, sẽ chẳng lợi ích bao
nhiêu. Xét cho cùng, sự tự lập của triết học phát sinh từ sự kiện này là lý trí thiết yếu
hướng về chân lý và hơn nữa còn được trang bị các phương thế cần thiết để đạt tới chân
lý. Một triết học ý thức được “cơ cấu” tạo nên mình là như thế thì không thể không tôn
trọng những đòi hỏi và những dữ liệu (data) của chân lý mặc khải.
Tuy nhiên lịch sử cho thấy rằng triết học, đặc biệt là triết học hiện đại đã có những
bước đi chệch hướng và rơi vào sai lầm. Huấn quyền của Hội Thánh không có phận sự
hay thẩm quyền can thiệp để bổ khuyết cho một diễn từ triết học thiếu sót. Trái lại, bổn
phận của Huấn quyền là phản ứng lại một cách rõ ràng và mạnh mẽ khi có những ý kiến
triết học gây tranh luận đang đe doạ việc hiểu đúng nội dung mặc khải, và khi người ta
bắt đầu phổ biến rộng rãi những học thuyết sai lầm và thiên lệch gieo rắc lầm lạc
nghiêm trọng, gây hoang mang cho đức tin tinh tuyền và đơn sơ của Dân Chúa.
50. Vậy trong ánh sáng đức tin, Huấn quyền của Giáo Hội có thể và phải chính
thức đưa ra một sự biện phân có phê phán đối với những ý kiến và những nền triết học
đi ngược lại giáo lý Kitô giáo. (55) Nhiệm vụ của Huấn quyền trước hết là chỉ rõ những
tiền đề và kết luận triết học nào xung khắc với chân lý mặc khải, bằng cách nêu lên
những yêu cầu mà quan điểm đức tin đặt ra cho triết học. Ngoài ra, theo đà phát triển
của tri thức triết học, nhiều trường phái tư tưởng đã xuất hiện. Tính đa dạng này cũng
đặt Huấn quyền trước trách nhiệm phải xét xem những quan niệm căn bản của các
trường phái ấy là phù hợp hay không phù hợp với các đòi hỏi của Lời Chúa và của suy
tư thần học.
Giáo Hội có bổn phận phải chỉ rõ những yếu tố nào trong một hệ thống triết học
không đi đôi được với đức tin của mình. Quả thực, nhiều chủ đề triết học, như chủ đề về
Thiên Chúa, về con người, về tự do và hành vi đạo đức, có liên can trực tiếp tới Giáo
Hội, vì đụng chạm tới chân lý mặc khải mà Giáo Hội phải bảo vệ. Khi biện phân như
thế, các Giám mục chúng ta phải làm “chứng nhân cho chân lý”, đó là một việc phục vụ
khiêm tốn nhưng kiên quyết mà mọi triết gia nên trân trọng, một dịch vụ có lợi cho lý trí
ngay thẳng ( recta ratio ) tức là lý trí suy tư đúng đắn về điều thật.
51. Tuy nhiên, không nên hiểu việc biện phân này chủ yếu theo nghĩa tiêu cực,
như thể chủ ý của Huấn quyền là loại trừ hay hạn chế mọi trung gian có thể có. Trái
lại, các can thiệp của Huấn quyền trước tiên là để thúc đẩy, cổ vũ và khuyến khích tư
duy triết học. Ngoài ra, các triết gia là những người đầu tiên hiểu rõ nhu cầu phải tự phê
và sửa chữa những sai lầm cũng như nới rộng những giới hạn quá hẹp hòi trong đó suy
tư của họ đã bị đóng khung. Đặc biệt, cần phải nhớ rằng chân lý là duy nhất, cho dù
những cách thức diễn tả của nó mang dấu ấn của lịch sử và là sản phẩm của lý trí con
người vốn đã bị tổn thương và suy yếu do tội lỗi. Vì lý do đó, không một hình thức lịch
sử nào của triết học có thể tuyên bố một cách chính đáng mình nắm giữ toàn bộ chân lý,
hoặc mình là lời giải thích trọn vẹn về con người, về thế giới và mối liên hệ của con
người với Thiên Chúa.
Vậy ngày nay, với sự sinh sôi nẩy nở của các hệ thống, phương pháp, khái niệm
và luận đề triết học thường thường hết sức phức tạp, thì nhu cầu về một sự biện phân
mang tính phê phán trong ánh sáng đức tin đang trở nên khẩn thiết dù đó không phải là
nhiệm vụ dễ dàng. Nhận ra các khả năng bất khả nhượng riêng của lý trí đã là việc khó
do bởi tất cả những giới hạn gắn liền với bản thân nó cũng như những giới hạn mà lịch
sử để lại cho nó ; thì đôi khi lại càng khó hơn để phân biệt xem trong các mệnh đề triết
học điều nào có giá trị và phong phú theo quan điểm đức tin và điều nào là sai lầm hay
nguy hiểm. Dù vậy Giáo Hội biết rằng trong Đức Kitô có cất giấu “mọi kho tàng khôn
ngoan và hiểu biết” ( Cl 2,3 ), vì thế Giáo Hội can thiệp để kích thích suy tư triết học, để
nó khỏi lạc xa con đường dẫn tới sự nhìn nhận huyền nhiệm.
52. Không phải chỉ trong thời gian gần đây Huấn quyền của Giáo Hội mới can
thiệp để bày tỏ tư tưởng của mình liên quan tới những học thuyết triết lý nhất định. Chỉ
cần nhắc lại đây làm thí dụ, những tuyên bố được đưa ra qua các thế kỷ về những lý
thuyết chủ trương sự tiền hữu của linh hồn, (56) hoặc về những hình thức thờ ngẫu
tượng và mê tín mang tính bí truyền chứa đựng trong những suy đoán chiêm tinh, (57)
ấy là chưa nói tới những tuyên bố có hệ thống hơn bài bác một số luận đề của học
thuyết Averroès la-tinh không phù hợp với đức tin Kitô giáo.(58)
Sở dĩ từ giữa thế kỷ trước tới nay Huấn quyền lên tiếng thường xuyên hơn, là vì
trong thời gian này không ít người công giáo thấy mình có bổn phận phải xây dựng một
triết học riêng đối lại với nhiều luồng tư tưởng hiện đại. Trong trường hợp này, Huấn
quyền buộc phải canh chừng sợ rằng đến lượt các nền triết học này cũng phát triển trệch
hướng theo những hình thức sai lạc và tiêu cực. Lời phê phán của Giáo Hội được đưa ra
không thiên vị : một đàng, thuyết Duy tín (59) và thuyết Duy Truyền thống cực
đoan,(60) bị chỉ trích vì thiếu tín nhiệm vào các khả năng tự nhiên của lý trí, và đàng
khác, thuyết Duy lý (61) và thuyết Duy hữu thể bị lên án vì gán cho lý trí tự nhiên một
nhận thức mà chỉ ánh sáng đức tin mới mang lại được. Những yếu tố tích cực của cuộc
tranh luận này được gom lại trong Hiến chế tín lý Dei Filius ( Con Thiên Chúa ), trong
đó lần đầu tiên một Công đồng chung, Công đồng Vatican«ô I, long trọng tuyên bố về
mối quan hệ giữa lý trí và đức tin. Giáo huấn của văn kiện này đã tác động mạnh mẽ và
tích cực trên nghiên cứu triết học của nhiều tín hữu và ngày nay vẫn còn là một điểm
qui chiếu và một chuẩn mực cho một suy tư đúng đắn và mạch lạc trong lãnh vực đặc
thù đó.
53. Các tuyên bố của Huấn quyền đã không quan tâm tới những luận đề triết học
riêng biệt cho bằng tới sự cần thiết phải có nhận thức lý tính và xét cùng là nhận thức
triết học để hiểu đức tin. Khi tổng hợp và long trọng tái khẳng định các giáo huấn mà
Huấn quyền Giáo hoàng, theo cách thông thường và liên tục, đã đưa ra cho các tín hữu,
Công đồng Vaticanô I cho thấy rằng đức tin và lý trí, Mặc khải siêu nhiên và nhận thức
tự nhiên về Thiên Chúa là không thể phân chia, nhưng đồng thời cũng không thể giản
lược vào nhau. Công đồng khởi đi từ tiêu chuẩn cơ bản, vốn được bao hàm trong chính
Mặc khải, là con người có khả năng tự nhiên biết Thiên Chúa hiện hữu, Đấng là khởi
điểm và cùng đích của vạn vật, (63) rồi Công đồng kết luận với khẳng định long trọng
đã được trích dẫn trên đây : “ Có hai trật tự nhận thức phân biệt nhau không những về
nguyên lý mà cả về đối tượng nữa”. (64) Vậy, ngược lại mọi hình thức duy lý, cần phải
khẳng định sự phân biệt giữa các mầu nhiệm đức tin và những khám phá triết học, cũng
như tính siêu việt và tính ưu tiên của các mầu nhiệm đức tin với các khám phá khoa học.
Nhưng đàng khác, đối lại các quyến rũ của thuyết duy tín, cần phải nhấn mạnh trên tính
duy nhất của chân lý và do đó trên đóng góp tích cực mà nhận thức lý tính có thể và
phải mang tới cho nhận thức đức tin : “Dù đức tin vượt trên lý trí nhưng không bao giờ
có thể có một sự xung khắc thật sự giữa đức tin và lý trí, bởi vì Thiên Chúa Đấng mặc
khải các mầu nhiệm và ban hồng ân đức tin cũng chính là Đấng đã đặt ánh sáng lý trí
vào trong trí khôn con người. Thiên Chúa không thể chối bỏ chính mình, cũng như chân
lý không bao giờ mâu thuẫn với chân lý”.(65)
54. Trong thế kỷ chúng ta, Huấn quyền cũng đã trở lại với đề tài này trong nhiều
dịp để lưu ý về sức quyến rũ của thuyết duy lý. Ở đây, những can thiệp của Đức thánh
Giáo hoàng Piô X thật là thích đáng. Ngài nhấn mạnh rằng nằm tận nền tảng của thuyết
Duy tân là những khẳng định triết học theo thuyết Duy hiện tượng, Bất khả tri và Duy
nội tại (immanentism). (66) Cũng không thể quên tầm quan trọng của việc Giáo Hội
công giáo bác bỏ triết học mác-xít và chủ nghĩa cộng sản vô thần. (67)
Về sau, trong thông điệp Humani Generis ( Nhân loại ), Đức Giáo hoàng Piô XII
cảnh giác người ta đề phòng những giải thích sai lầm gắn liền với những luận đề của
thuyết Tiến hoá, thuyết Hiện sinh và thuyết Duy lịch sử. Ngài nói rõ rằng những lý
thuyết ấy không phải do các nhà thần học đề ra và khai triển, nhưng bắt nguồn từ “bên
ngoài đoàn chiên Chúa Kitô”. (68) Tuy nhiên, ngài nói thêm rằng không nên đơn giản
loại bỏ những sai lầm như thế mà cần phải nghiên cứu một cách có phê phán : “Vì các
nhà thần học và triết học công giáo có bổn phận nặng nề phải bảo vệ chân lý tự nhiên và
siêu nhiên và làm cho nó thấm sâu vào tâm trí con người, nên họ không thể bỏ qua
những chủ trương ít nhiều sai lầm này được. Trái lại họ phải hiểu chúng cho rõ, không
những vì bệnh tật chỉ được chữa trị tốt nếu được chẩn đoán đúng và vì ngay cả những lý
thuyết sai lầm này đôi khi cũng chứa đựng một vài yếu tố chân lý, mà còn bởi vì rút
cuộc các lý thuyết đó thúc đẩy người ta thảo luận và đánh giá chân lý triết học và thần
học một cách kỹ càng hơn.” (69).
Mới đây, Bộ Giáo lý Đức tin trong khi chu toàn nhiệm vụ riêng của mình là
phục vụ Huấn quyền phổ quát của Đức Giáo Hoàng, (70) đã phải can thiệp để nhắc lại
mối nguy hiểm khi một số nhà thần học giải phóng chấp nhận không phê phán những ý
kiến và phương pháp rút ra từ chủ nghĩa Mác. (71)
Vậy, trong quá khứ Huấn quyền đã nhiều dịp và nhiều cách làm nhiệm vụ biện
phân của mình trong những vấn đề triết học. Và đóng góp của các vị Tiền nhiệm đáng
kính của tôi là rất quí báu, không được lãng quên.
55. Nhìn vào hoàn cảnh hiện nay, chúng ta thấy các vấn đề thời trước đã trở lại,
nhưng dưới những hình thức mới. Bây giờ không còn là những vấn đề chỉ được những
cá nhân hay những người nào đó quan tâm, mà là những xác tín phổ biến rộng rãi đến
độ một cách nào đó đã trở thành một não trạng chung. Lấy thí dụ thái độ nghi ngờ thâm
căn cố đế đối với lý trí xuất hiện trong những phát triển mới nhất của nhiều công trình
nghiên cứu triết học. Người ta đi xa tới mức bảo rằng : “Siêu hình học đã đoạn chung”.
Người ta muốn triết học phải bằng lòng với những nhiệm vụ khiêm tốn hơn, chẳng hạn
chỉ giải thích các sự kiện hoặc nghiên cứu trong những lãnh vực giới hạn của nhận thức
hay các cơ cấu nhận thức.
Ngay trong thần học cũng vậy, những cám dỗ của quá khứ lại xuất đầu lộ diện.
Trong một số luồng thần học hiện đại chẳng hạn, một thứ thuyết duy lý đang phát triển,
nhất là khi những ý kiến được cho là chắc chắn về mặt triết học được lấy làm chuẩn
mực cho nghiên cứu thần học. Điều đó xảy ra trước hết khi nhà thần học, vì thiếu
chuyên môn triết học, để cho mình bị lung lay một cách không phê phán bởi những
khẳng định đã trở thành quen thuộc trong ngôn ngữ và văn hoá thông thường nhưng
thiếu nền tảng lý tính thoả đáng. (72)
Cũng có những dấu hiệu cho thấy thuyết duy tín tái xuất hiện. Nó không nhìn nhận
tầm quan trọng của nhận thức lý tính và diễn từ triết học đối với việc hiểu biết đức tin,
hơn nữa đối với chính khả năng tin vào Thiên Chúa. Một biểu hiện phổ biến nhất hiện
nay của khuynh hướng duy tín này là một “thuyết duy Kinh Thánh”, muốn lấy việc đọc
và chú giải Kinh Thánh làm tiêu chuẩn duy nhất cho chân lý. Do đó, Lời Chúa được
đồng nhất với một mình Kinh Thánh mà thôi, như thế là loại bỏ đạo lý của Hội Thánh
mà Công đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh một cách rất đặc biệt. Sau khi nhắc lại rằng
Lời Chúa hiện diện cả trong Thánh Kinh lẫn Thánh Truyền,(73) , hiến chế Verbum Dei
mạnh mẽ khẳng định : “Thánh Truyền và Thánh Kinh làm thành một kho tàng thánh
thiêng duy nhất lưu trữ Lời Chúa, đã được ký thác cho Giáo Hội. Khi gắn bó với kho
tàng ấy, toàn thể dân thánh quy tụ chung quanh các vị chủ chăn, không ngừng trung
thành với giáo huấn các Tông đồ”. (74). Vậy đối với Giáo Hội, Kinh Thánh không phải
là nguồn qui chiếu duy nhất. “Qui tắc tối thượng của đức tin Giáo Hội” (75) phát xuất từ
sự hiệp nhất mà Chúa Thánh Thần đã thực hiện giữa Thánh Truyền,Thánh Kinh và
Huấn quyền của Giáo Hội, trong một sự hỗ tương chặt chẽ đến độ không thành phần
nào có thể tồn tại mà không có hai thành phần kia.(76)
Ngoài ra, không được coi thường mối nguy cơ gắn liền với nỗ lực rút chân lý
Thánh Kinh từ việc sử dụng duy nhất một phương pháp mà bỏ quên mất sự cần thiết
phải có một lối chú giải bao quát hơn, cho phép nhà chú giải, cùng với toàn thể Giáo
Hội, đạt tới ý nghĩa trọn vẹn của các bản văn. Những ai chuyên tâm nghiên cứu Thánh
Kinh phải luôn luôn nhớ rằng chính các phương pháp chú giải cũng dựa trên những
quan niệm triết học làm nền tảng riêng, cần được đánh giá cẩn thận trước khi đưa vào áp
dụng cho các bản văn Thánh Kinh.
Ta còn nhận ra những hình thức duy tín ngấm ngầm nữa trong việc ít quan tâm tới
thần học tư biện và trong thái độ khinh thị đối với triết học cổ điển ; nên biết rằng các
thuật ngữ diễn tả sự hiểu biết đức tin và các công thức tín lý đã được rút ra từ triết học
này. Đức Thánh Cha Piô XII đáng kính đã lưu ý không được coi thường truyền thống
triết học và bỏ quên hệ thống thuật ngữ truyền thống. (77)
56 . Tóm lại có những dấu hiệu cho thấy một thái độ ngờ vực phổ biến đối
với những khẳng định tổng quát và tuyệt đối, đặc biệt nơi những người cho rằng chân lý
là kết quả của sự đồng tình chứ không phải sự tương hợp giữa trí khôn và thực tại khách
quan. Trong một thế giới được chia nhỏ ra thành biết bao lãnh vực chuyên môn, thật
là khó để nhìn nhận ý nghĩa đầy đủ và tối hậu của cuộc đời, vốn là mục đích truyền
thống của triết học. Tuy nhiên, trong ánh sáng đức tin giúp ta nhận ra nơi Đức Giêsu
Kitô ý nghĩa tối hậu ấy, tôi không thể không khuyến khích các nhà triết học – dù họ là
Kitô hữu hay không – hãy tín nhiệm vào khả năng của lý trí con người và đừng đặt ra
cho mình những mục tiêu quá khiêm tốn khi suy tư triết lý. Bài học lịch sử trong thiên
niên kỷ đang kết thúc này cho thấy rằng đó là con đường phải theo : không được đánh
mất niềm say mê chân lý tối hậu và lòng nhiệt thành tìm kiếm nó kết hợp với sự mạnh
dạn vạch ra những con đường mới trong việc tìm kiếm. Chính đức tin kích thích lý trí
thoát ra khỏi tình trạng cô lập và sẵn sàng chấp nhận rủi ro nguy hiểm nhằm đạt tới tất
cả những gì là chân, thiện, mỹ. Như vậy đức tin trở thành người ủng hộ kiên định và có
sức thuyết phục đối với lý trí.
Giáo Hội quan tâm tới triết học.
57. Dù sao, Huấn quyền không tự giới hạn vào việc vạch rõ những lệch lạc và sai
lầm của các học thuyết triết học mà thôi. Cùng với một mối quan tâm tương tự, Huấn
quyền đã muốn nhấn mạnh các nguyên lý nền tảng cho một sự canh tân chân chính tư
tưởng triết học, đồng thời chỉ rõ những con đường cụ thể phải theo. Về mặt này, với
thông điệp Aeterni Patris, Đức Lêô XIII đã đi một bước có tầm quan trọng lịch sử đối
với đời sống Giáo Hội. Cho tới nay, đó là văn kiện giáo hoàng duy nhất thuộc loại cao
như thế được hoàn toàn dành cho triết học. Vị Giáo Hoàng vĩ đại này đã lấy lại và khai
triển giáo huấn của Công đồng Vaticanô I về tương quan giữa đức tin và lý trí, bằng
cách chỉ ra rằng tư tưởng triết học là một đóng góp căn bản cho đức tin và khoa thần
học. (78) Hơn một thế kỷ sau, nhiều ý tưởng của bức thông điệp của ngài vẫn không
mất đi chút nào giá trị về mặt thực hành lẫn sư phạm, – đặc biệt nhất là việc ngài nhấn
mạnh giá trị vô song của triết học thánh Tôma. Đức Thánh Cha Lêô XIII đề nghị lấy lại
tư tưởng thánh Tiến sĩ Thiên thần như con đường tốt nhất để khôi phục lại một cách làm
triết lý phù hợp với những đòi hỏi của đức tin. Ngài viết : “Ngay khi phân biệt hoàn
toàn lý trí và đức tin, thánh Tôma liên kết chúng lại bằng những mối giây thân thiện hỗ
tương, và thừa nhận những quyền lợi và phẩm giá riêng của mỗi phía”. (79)
58. Lời kêu gọi của Đức Thánh Cha đã đem lại những kết quả tốt đẹp. Việc học
hỏi tư tưởng của thánh Tôma và của những tác giả kinh viện khác nhận được một sức
đẩy mới. Nhiều công trình nghiên cứu lịch sử ra đời, dẫn đến việc khám phá lại những
kho tàng của tư tưởng Trung Cổ mà cho tới lúc bấy giờ không được biết tới cách rộng
rãi ; đồng thời có những trường mới nghiên cứu về thánh Tôma được thành lập. Nhờ sử
dụng phương pháp sử học, người ta hiểu biết các tác phẩm của Thánh Tiến sĩ hơn rất
nhiều, và nhiều nhà nghiên cứu đã mạnh dạn đưa truyền thống Tôma vào trong những
tranh luận triết học và thần học lúc bấy giờ. Những nhà thần học công giáo có ảnh
hưởng nhất của thế kỷ chúng ta, mà tư tưởng và nghiên cứu đã đóng góp nhiều cho
Công đồng Vaticanô II, họ đều xuất thân từ công cuộc canh tân triết học Tôma này.
Suốt thế kỷ 20, Giáo Hội đã được phục vụ bởi một lực lượng hùng hậu các nhà tư tưởng
được huấn luyện từ trường học Thánh Tiến sĩ Thiên thần.
59. Nhưng cuộc canh tân Tôma và Tân-Tôma không phải là dấu hiệu duy nhất cho
thấy sự hồi sinh của tư tưởng triết học trong nền văn hoá theo tinh thần Kitô giáo. Trước
đó và song song với lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng Lêô XIII, đã xuất hiện nhiều triết
gia công giáo ; sử dụng những trào lưu tư tưởng mới mẻ hơn và theo một phương pháp
luận riêng, họ đã biên soạn những tác phẩm triết học có ảnh hưởng lớn và có giá trị lâu
dài. Một số đã thực hiện được những tổng hợp xuất sắc đến nỗi có thể so sánh với
những hệ thống duy tâm lớn. Một số khác đặt nền tảng tri thức luận cho một cách tiếp
cận đức tin mới dựa vào một lối hiểu đổi mới về ý thức luân lý. Cũng có những người
phác thảo một nền triết học khởi đi từ một cuộc phân tích tính nội tại để mở đường tiến
tới tính siêu việt. Sau cùng một số nữa thì tìm cách phối hợp các yêu sách của đức tin
với viễn tượng do phương pháp hiện tượng học mở ra. Như thế từ nhiều phía, những
kiểu suy tư triết học khác nhau đã tiếp tục xuất hiện và tìm cách duy trì sống động
truyền thống lớn của tư tưởng Kitô giáo trong sự kết hợp đức tin và lý trí.
60. Về phần mình, Công đồng Vaticanô II cung cấp một giáo huấn súc tích và
phong phú liên quan tới triết học. Tôi không thể, – nhất là trong bối cảnh Thông điệp
này – không lưu ý rằng trong hiến chế Vui mừng và Hy vọng có một chương có thể được
xem như một bản tóm lược thực sự về khoa nhân học Kinh Thánh, mà triết học có thể
tìm nguồn cảm hứng từ đó. Chương ấy bàn về giá trị của nhân vị được dựng nên theo
hình ảnh Thiên Chúa, giải thích phẩm giá và sự trổi vượt của con người trên các thọ tạo
khác, và tuyên bố rõ ràng khả năng siêu việt của lý trí con người. (80) Vấn đề vô thần
cũng được đề cập đến trong hiến chế và những sai lầm của quan niệm triết học nầy
được nhận diện, đặc biệt trong quan hệ với phẩm giá và tự do của con người .(81) Chắc
chắn rằng đoạn kết thúc chương chúng ta đang nói tới mang một ý nghĩa sâu sắc đối với
triết học; đó là đoạn tôi đã lấy lại trong Thông điệp đầu tiên của tôi, Đấng cứu chuộc
con người và là một trong những điểm qui chiếu thướng xuyên trong giáo huấn của tôi :
“Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi
Lời nhập thể. Bởi vì Ađam, con người đầu tiên đã là hình bóng của Ađam sẽ đến, là
Chúa Kitô. Chúa Kitô, Ađam mới, trong khi mặc khải về Chúa Cha và tình yêu của
Người, đã cho con người biết về chính mình và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của
họ”.(82).
Công đồng cũng nói tới việc giảng dạy triết học, một môn bắt buộc đối với các
ứng viên làm linh mục, nhưng khuyến cáo này cũng có thể nới rộng ra cho nền giáo dục
Kitô giáo nói chung. Công đồng tuyên bố : “Phải dạy các bộ môn triết học thế nào để
trước hết họ có thể dẫn dắt các chủng sinh thâu thập được một kiến thức chắc chắn và
có hệ thống về con người, về thế giới và về Thiên Chúa ; hãy lấy di sản triết học luôn
luôn có giá trị làm điểm tựa, đồng thời hãy sử dụng những công trình nghiên cứu triết
học hiện đại” (83) Những chỉ thị trên đã được nhắc lại và khai triển trong nhiều văn kiện
khác của Huấn quyền nhằm đảm bảo một nền huấn luyện triết học vững chắc, đặc biệt
là cho những người chuẩn bị học thần học. Phần tôi đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan
trọng của việc huấn luyện này đối với những ai, một ngày nào đó trong đời sống mục vụ
của mình, sẽ phải đối diện với những khát vọng của thế giới đương thời và phải hiểu
những nguyên nhân đưa tới một loại thái độ nào đó để phản ứng lại một cách thích hợp.
(84)
61. Sở dĩ thỉnh thoảng cần phải can thiệp vào đề tài này, phải nhắc lại giá trị của
các trực giác của Thánh Tiến sĩ Thiên thần và nhấn mạnh việc nghiên cứu tư tưởng của
ngài, đó là vì các chỉ thị của Huấn quyền đã không luôn luôn được nghe theo với thái độ
sẵn sàng như mong muốn. Trong những năm sau Công đồng Vaticanô II, chất lượng của
nhiều phân khoa công giáo một cách nào đó đã bị suy giảm vì người ta không còn coi
trọng chẳng những là triết học kinh viện, mà cả việc học triết học nói chung. Tôi phải
ngạc nhiên và không hài lòng mà ghi nhận rằng không ít nhà thần học cũng thiếu quan
tâm tới việc nghiên cứu triết học như thế.
Có nhiều lý do giải thích sự bất trung này. Trước hết là thiếu tín nhiệm đối với lý
trí trong phần lớn triết học ngày nay. Người ta đã bỏ nghiên cứu siêu hình về những vấn
đề tối hậu của con người để tập trung vào những vấn đề chi tiết hơn và giới hạn hơn, đôi
khi thậm chí là hoàn toàn hình thức. Một lý do khác là sự ngộ nhận liên quan đặc biệt
tới các “khoa học nhân văn”. Công đồng Vaticanô II đã nhiều lần nhấn mạnh giá trị tích
cực của việc nghiên cứu khoa học nhằm hiểu biết mầu nhiệm con người sâu xa hơn.
(85) Nhưng không được giải thích lời mời gọi các nhà thần học hãy nghiên cứu khoa
học nhân văn và ứng dụng vào các khảo cứu của mình cách thích hợp, như một sự mặc
nhiên cho phép loại trừ triết học hoặc lấy cái gì khác thay thế cho triết học trong việc
huấn luyện mục vụ và việc chuẩn bị đức tin (praeparatio fidei). Cuối cùng còn phải nói
đến mối quan tâm mới đối với việc hội nhập đức tin. Cách riêng, đời sống của các giáo
hội trẻ đã cho ta khám phá ra không những những hình thức tư tưởng tinh vi mà còn
một loạt những kiểu diễn tả sự khôn ngoan bình dân . Đó là một tài sản đích thực về
văn hoá và truyền thống. Tuy nhiên học hỏi các đường lối truyền thống phải đi song
song với nghiên cứu triết học, một sự nghiên cứu sẽ làm nổi rõ lên những nét tích cực
của sự khôn ngoan bình dân và tạo nên mối liên hệ cần thiết với việc loan báo Tin
Mừng. (86)
62. Tôi muốn nhắc lại một cách rõ ràng rằng việc học hỏi triết học là căn bản và
không thể thiếu cho cấu trúc của các môn thần học và cho việc đào tạo các ứng viên linh
mục. Không phải tình cờ mà người ta dành một thời gian riêng cho triết học trước khi
học thần học. Quyết định này đã được Công đồng Latêranô V (87) phê chuẩn. Nó bén
rễ trong kinh nghiệm đã chín muồi trong suốt thời Trung Cổ, đó là thời gian làm nổi lên
tầm quan trọng của một sự hài hoà mang tính xây dựng giữa tri thức triết học và tri thức
thần học. Cách thức sắp xếp các môn học như thế đã tác động, thúc đẩy và tạo điều
kiện cho sự phát triển của một phần lớn triết học hiện đại, cho dù là một cách gián tiếp.
Về điểm này, có một ví dụ tiêu biểu là ảnh hưởng của cuốn “Những tranh luận siêu
hình” ( Disputationes metaphysicae ) của Francisco Suarez, tác phẩm này đã sử dụng
ngay trong các đại học Lutherô ở Đức. Ngược lại, việc loại bỏ cách tổ chức các môn
học này đã tạo ra những thiếu sót trầm trọng trong việc đào tạo linh mục cũng như việc
nghiên cứu thần học. Chỉ cần nghĩ đến, chẳng hạn, thái độ thiếu quan tâm đối với tư
tưởng và văn hoá hiện đại đã dẫn tới chỗ từ khước mọi cuộc đối thoại hoặc chấp nhận
thiếu suy xét bất kể loại triết học nào.
Tôi thành thực hy vọng rằng những khó khăn này sẽ được khắc phục nhờ một nền
huấn luyện triết học và thần học thông minh, là điều không bao giờ được thiếu trong
Giáo Hội.
63. Vì những lý do đã nêu trên, tôi thấy là cấp bách phải nhắc lại qua Thông điệp
này, mối quan tâm lớn của Giáo Hội đối với triết học, và dĩ nhiên nhắc lại sợi dây mật
thiết liên kết công việc thần học với việc tìm kiếm chân lý của triết học. Từ đây phát
sinh bổn phận của Huấn quyền phải chỉ rõ và khuyến khích một lối suy tư triết học
không trái nghịch với đức tin. Tôi có nhiệm vụ đề nghị một số những nguyên lý và tiêu
chuẩn mà tôi cho là cần thiết để tái lập một mối quan hệ hài hoà và sáng tạo giữa thần
học và triết học. Dưới ánh sáng của những nguyên lý và tiêu chuẩn này, người ta sẽ có
thể nhận ra một cách rõ ràng hơn mối liên hệ mà thần học phải duy trì với những chủ
thuyết hay những hệ thống triết học khác nhau đang được giới thiệu trong thế giới ngày
nay, và đó là loại liên hệ nào.
CHƯƠNG VI
SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA TRIẾT HỌC VÀ THẦN HỌC
Tri thức đức tin và những đòi hỏi của lý tính triết học
64. Lời Thiên Chúa được gởi tới mọi người, trong mọi thời và khắp mọi nơi trên
thế giới ; và con người tự bản tính là một triết gia. Về phần mình, thần học xét như là
một phác thảo mang tính suy tư và khoa học về sự hiểu biết Lời Thiên Chúa trong ánh
sáng đức tin, phải bắt liên lạc với những nền triết học đã phát triển qua các thời đại,
trong một số những tiến trình cũng như trong việc thực hiện những phận vụ riêng của
nó. Tôi không muốn hướng dẫn các nhà thần học phải sử dụng những phương pháp đặc
thù nào, điều đó không thuộc thẩm quyền của Huấn quyền, song tôi muốn nhắc lại một
vài nhiệm vụ riêng của thần học mà do tự chính bản tính của lời mặc khải, đòi hỏi phải
dùng tới tư tưởng triết học.
65. Thần học được tổ chức như là khoa học về đức tin, dưới ánh sáng của hai
nguyên tắc phương pháp luận : auditus fidei ( lắng nghe đức tin ) và intellectus fidei
(hiểu biết đức tin ). Theo nguyên tắc thứ nhất, thần học lấy làm của mình nội dung Mặc
khải như được trình bày dần dần trong Thánh Truyền, Kinh Thánh và Huấn quyền sống
động của Giáo Hội. (88). Theo nguyên tắc thứ hai, thần học muốn đáp ứng những đòi
hỏi riêng của tư tưởng bằng tư duy suy lý.
Triết học góp phần đặc thù cho thần học khi chuẩn bị cho một sự hiểu biết đúng
đắn về đức tin bằng việc nghiên cứu cơ cấu nhận thức và mối liên lạc giữa người với
người, đặc biệt là nghiên cứu những hình thức và chức năng đa dạng của ngôn ngữ. Sự
đóng góp của triết học cũng không kém phần quan trọng để hiểu biết cách mạch lạc hơn
Truyền thống của Hội Thánh, những tuyên bố của Huấn quyền và giảng huấn của các vị
thầy thần học lớn, các ngài thường sử dụng những khái niệm và những hình thái tư
tưởng rút ra từ một truyền thống nhất định. Trong trường hợp này, nhà thần học không
những phải giải thích các khái niệm và từ ngữ được Giáo Hội sử dụng khi suy tư và
khai triển giáo huấn của mình, mà còn phải biết cách sâu sắc các hệ thống triết học đã
có thể ảnh hưởng trên những khái niệm và từ ngữ ấy, hầu đạt tới những lối giải thích
đúng đắn và mạch lạc về chúng.
66. Liên quan tới việc hiểu biết đức tin ( intellectus fidei ), trước hết cần phải suy
xét rằng chân lý thần linh, “được đề nghị cho chúng ta trong Kinh Thánh và được giải
thích cách lành mạnh bởi giáo huấn của Giáo Hội” (89), có được một tính khả tri bẩm
sinh rất mạch lạc về mặt luận lý đến độ nó làm thành một khối tri thức chân chính. Sự
hiểu biết đức tin ( intellectus fidei ) trình bày chân lý này, không những bằng cách nắm
bắt các cơ cấu luận lý và lý niệm của những mệnh đề trong đó Giáo Hội diễn tả giáo
huấn của mình, mà còn là và nhất là bằng cách làm nổi bật ý nghĩa cứu độ của các mệnh
đề ấy cho các cá nhân và cho cả nhân loại. Từ toàn bộ những mệnh đề ấy, người tín hữu
sẽ biết được lịch sử cứu độ, một lịch sử đạt tới đỉnh cao nơi bản thân Đức Giêsu Kitô và
trong mầu nhiệm vượt qua của Người. Và họ tham dự vào mầu nhiệm này bằng sự ưng
thuận của lòng tin.
Về phần mình, thần học tín lý phải có khả năng giãi bày ý nghĩa phổ quát của mầu
nhiệm “Một Thiên Chúa Ba Ngôi” và của nhiệm cuộc cứu độ như một trình thuật và
nhất là dưới hình thức một biện luận. Nói cách khác, nó phải làm việc đó nhờ những
khái niệm được triển khai một cách có phê phán và có thể truyền đạt được cho mọi
người. Quả thực, không có đóng góp của triết học, người ta sẽ không thể biện luận về
những đề tài như việc dùng ngôn ngữ để nói về Thiên Chúa, những tương quan ngôi vị
trong Thiên Chúa Ba Ngôi, hành động sáng tạo của Thiên Chúa trong thế giới, mối liên
hệ giữa Thiên Chúa và con người hoặc là căn tính của Đức Kitô vừa là Thiên Chúa thật
và vừa là người thật. Những suy tư này cũng đúng cho nhiều đề tài thần học luân lý có
sử dụng những khái niệm như lề luật luân lý, lương tâm, tự do, trách nhiệm cá nhân và
tội, những khái niệm này được định nghĩa một phần trong môn triết học đạo đức.
Vì thế điều cần thiết là người tín hữu phải có được một nhận thức tự nhiên, mạch
lạc và đúng đắn về các thực tại thọ tạo, tức là thế giới và con người, vốn cũng là đối
tượng của mặc khải của Thiên Chúa. Hơn nữa, lý trí phải có khả năng giãi bày nhận
thức này bằng khái niệm và biện luận. Như thế, thần học tín lý tư biện giả định và bao
hàm một nền triết học về con người, về thế giới và, triệt để hơn nữa, về hữu thể đặt nền
tảng trên chân lý khách quan.
67. Với đặc tính riêng của nó là một môn có nhiệm vụ phải biện lý cho đức tin (x.
1Pr 3,15), thần học căn bản phải biện bạch và giãi bày mối liên hệ giữa đức tin và tư
tưởng triết học. Nhắc lại giáo huấn của thánh Phaolô (x. Rm1,19-20), Công đồng
Vaticanô I lưu ý người ta về sự tồn tại của những chân lý có thể biết được cách tự nhiên,
và do đó bằng con đường triết học ; để đón nhận Mặc khải của Thiên Chúa, cần phải
biết các chân lý ấy trước đã. Khi nghiên cứu Mặc khải và tính khả tín của nó cũng như
hành vi đức tin tương ứng, thần học căn bản phải cho thấy bằng cách nào trong ánh
sáng của nhận thức do đức tin mang lại, một số chân lý xuất hiện ,- những chân lý mà lý
trí đã nắm bắt được rồi qua tiến trình nghiên cứu độc lập của nó. Mặc khải đem tới cho
các chân lý đó một ý nghĩa sung mãn, bằng cách hướng chúng về sự phong phú của mầu
nhiệm được mặc khải, trong đó chúng tìm thấy cứu cánh tối hậu. Lấy thí dụ nhận thức
tự nhiên về Thiên Chúa, khả năng phân biệt Mặc khải của Thiên Chúa với những hiện
tượng khác hay là việc nhìn nhận tính khả tín của nó, khả năng của ngôn ngữ loài người
để nói một cách chân thật và có ý nghĩavề cả những điều vượt lên trên mọi kinh nghiệm
của con người. Từ tất cả những chân lý trên, trí khôn được dẫn dắt tới chỗ nhìn nhận sự
tồn tại của một con đường thực sự là dẫn nhập vào đức tin. Con đường ấy có thể đưa ta
đến việc đón nhận Mặc khải mà không hề làm hại tới những nguyên lý và tính độc lập
của chính trí khôn.(90)
Cũng vậy, thần học căn bản phải chứng minh sự ăn khớp sâu xa giữa đức tin và
nhu cầu của đức tin được diễn đạt bằng lý trí con người, một lý trí vẫn hoàn toàn tự do
để thuận theo. Như vậy đức tin có khả năng “chỉ đường đầy đủ cho một lý trí chân thành
tìm kiếm chân lý. Cho dù đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa nên không đặt nền
tảng trên lý trí, nhưng chắc chắn nó không thể phớt lờ lý trí. Đồng thời, ta thấy rõ rằng
lý trí cần được đức tin củng cố để khám phá ra những chân trời mà nó không thể tự
mình đạt tới.” (91)
68. Thần học luân lý có lẽ còn cần tới sự trợ giúp của triết học nơn nữa. Trong Tân
Ước, đời sống con người ít được chi phối bởi những qui tắc hơn trong Cựu Ước rất
nhiều. Đời sống trong Thánh Thần dẫn người tín hữu tới một sự tự do và trách nhiệm
vượt quá lề luật. Tuy nhiên, Tin Mừng và các tác phẩm của các Tông đồ vẫn nêu lên
những nguyên tắc chung của đời sống Kitô hữu và những giáo huấn và huấn thị cụ thể.
Để áp dụng những điều đó vào những hoàn cảnh đặc thù của đời sống cá nhân và cộng
đồng, người Kitô hữu phải biết vận dụng hết cả lương tâm và năng lực của lý trí mình.
Nói cách khác, thần học luân lý đòi hỏi một quan niện triết học lành mạnh về bản tính
con người và xã hội, cũng như về những nguyên tắc tổng quát chi phối một quyết định
đạo đức.
69. Người ta có thể bác bẻ rằng nhà thần học ngày nay không cần nhờ tới triết học
cho bằng cần sự giúp đỡ của những loại nhận thức khác, như lịch sử và nhất là khoa học
mà những tiến bộ vượt bậc trong thời gian gần đây khiến cho mọi người phải thán phục.
Những người khác, do nhạy cảm hơn với sợi dây liên kết đức tin và văn hoá, lại chủ
trương rằng thần học phải quan tâm tới sự khôn ngoan chứa đựng trong truyền thống
các dân tộc hơn là tới một nền triết học có nguồn gốc Hy Lạp và châu Au. Cũng có
những người quan niệm sai lầm về tính đa nguyên văn hoá nên phủ nhận giá trị phổ
quát của di sản triết học của Giáo Hội.
Có một phần chân lý trong những khẳng định trên đây mà Công đồng Vaticanô II
đã thừa nhận trong giáo huấn của mình.(92) Tham khảo các ngành khoa học thường là
một điều hữu ích vì nó giúp ta có một nhận thức thấu đáo hơn về đề tài nghiên cứu ;
nhưng không được hiểu điều đó như việc loại bỏ một tư duy triết học điển hình, mang
tính phê phán và nhắm đến cái phổ quát. Quả thực, loại tư duy này là cần thiết để có
một cuộc trao đổi thành công giữa các nền văn hoá. Điều tôi nhấn mạnh là bổn phận
phải vượt quá cái đặc thù và cụ thể, nếu không người ta sẽ bỏ mất nhiệm vụ tiên quyết
là chứng minh tính phổ quát của nội dung đức tin, cũng không được quên rằng phần
đóng góp đặc thù của triết học cho phép chúng ta phân định được trong các vũ trụ quan
và văn hoá khác nhau “không phải người ta nghĩ gì nhưng chân lý khách quan là
gì.”(93) Chỉ có chân lý, chứ không phải một loạt những ý kiến của nhân loại, mới có thể
giúp ích cho thần học.
70. Vì những hệ lụy của nó đối với cả triết học lẫn thần học, vấn đề tương quan
giữa các nền văn hoá đòi hỏi một sự suy nghĩ riêng, cho dù không thể thấu đáo được.
Ngay từ buổi đầu khi Phúc Âm được loan báo, Giáo Hội đã trải qua quá trình gặp gỡ và
trao đổi với các nền văn hoá. Mệnh lệnh của Đức Kitô truyền cho các môn đệ phải ra đi
khắp mọi nơi “cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8) để thông truyền chân lý mà Người
đã mặc khải, đã dẫn đưa cộng đoàn Kitô hữu tới chỗ nhận ra ngay từ đầu tính phổ quát
của sứ điệp mình rao giảng và những khó khăn phát sinh từ những sự khác biệt văn
hoá. Một đoạn trong thư thánh Phaolô gởi tín hữu Ephêsô giúp ta hiểu cộng đoàn tiên
khởi đã đối phó với vấn đề như thế nào. Thánh Tông đồ viết : “Xưa anh em là những
người ở xa, nay trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên những người ở gần. Thật vậy,
chính Người là bình an của chúng ta : Người liên kết chúng ta thành một, và đã phá đổ
bức tường ngăn cách.” (2,13-14)
Dưới ánh sáng của đoạn thư này, chúng ta suy tư thêm để thấy những người
lương dân đã được biến đổi như thế nào một khi họ đã đón nhận đức tin. Trước sự
phong phú của ơn cứu độ do Đức Kitô thực hiện, những bức tường ngăn cách các nền
văn hoá đã sụp đổ. Bây giờ lời hứa của Thiên Chúa trong Đức Kitô trở thành một hồng
ân phổ quát : nó không còn giới hạn vào một dân tộc riêng nào, ngôn ngữ của nó và
phong tục của nó, nhưng được mở rộng cho mọi người như một gia sản mỗi người có
thể tự do sử dụng.Từ khắp nơi và từ mọi truyền thống, ai cũng được mời gọi trong Đức
Kitô để hiệp nhất trong gia đình con cái Thiên Chúa. Chính nhờ Đức Kitô mà hai dân
tộc trở nên “một”. Những kẻ “ở xa” đã trở nên “gần gũi” nhờ sự mới mẻ do mầu nhiệm
Vượt Qua mang lại. Đức Giêsu huỷ diệt những bức tường chia rẽ và thực hiện sự thống
nhất một cách mới mẻ và trổi vượt khi cho ta tham dự vào mầu nhiệm của Người. Tính
duy nhất này sâu xa đến độ Giáo Hội có thể cùng với thánh Phaolô nói : “Anh em
không còn là người xa lạ hay tạm trú, nhưng là người đồng hương với các thánh, và là
người nhà của Thiên Chúa.” (Ep 2,19)
Câu nói đơn sơ này chứa đựng một chân lý lớn : cuộc gặp gỡ của đức tin với các
nền văn hoá tạo nên một cái gì đó mới mẻ. Khi văn hoá bắt rễ sâu trong kinh nghiệm, nó
chứng tỏ nét đặc trưng của con người là cởi mở ra với cái phổ quát và cái siêu việt. Do
đó các nền văn hoá trình bày những con đường khác nhau dẫn tới chân lý. Không thể
nghi ngờ những con đường ấy phục vụ lợi ích thật của con người khi họ biết những giá
trị có khả năng làm cho cuộc sống họ ngày càng nhân bản hơn. (94). Vì các nền văn hoá
nại tới những giá trị của những truyền thống kỳ cựu hơn nên – một cách mặc nhiên
nhưng chân chính – chúng nhắm vào Thiên Chúa tỏ mình ra trong thiên nhiên, như
chúng ta đã thấy trên kia khi bàn về các sách Khôn Ngoan và giáo huấn của thánh
Phaolô.
71. Vì không tách lìa khỏi con người và lịch sử của họ nên các nền văn hoá cũng
chia sẻ chính tính năng động mà kinh nghiệm nhân sinh bộc lộ. Chúng thay đổi và tiến
tới bởi vì người ta gặp gỡ nhau theo những cách mới mẻ và chia sẻ với nhau các lối
sống của mình. Các nền văn hoá được nuôi dưỡng nhờ việc trao đổi các giá trị ; chúng
tồn tại và phát triển bao lâu chúng vẫn cởi mở đón nhận những kinh nghiệm mới.
Chúng ta phải giải thích tính năng động ấy như thế nào ? Mọi người đều gắn liền vào
một nền văn hoá, lệ thuộc vào nó và tác động lên nó. Con người vừa là sản phẩm vừa là
tác nhân của nền văn hoá trong đó họ bị dìm vào. Trong mọi điều họ làm, họ đều mang
tới một nét gì đó tách biệt họ với mọi vật khác : đó là sự cởi mở liên lỉ đón nhận huyền
nhiệm và nỗi khao khát vô biên được hiểu biết. Nền văn hoá nào cũng che dấu nơi mình
và để lộ ra bên ngoài sự thôi thúc tiến đến một sự hoàn thành. Vậy, ta có thể nói rằng
chính văn hoá có một khả năng nội tại để đón nhận Mặc Khải của Thiên Chúa.
Bối cảnh văn hoá thấm vào cách thức người Kitô hữu sống đức tin mình, và cách
sống này lại góp phần dần dần nhào nặn nên bối cảnh ấy. Đối với mọi nền văn hoá,
người Kitô hữu đem tới chân lý bất di bất dịch của Thiên Chúa, được chính Người mặc
khải trong lịch sử và trong nền văn hoá của một dân tộc. Như thế, trong suốt giòng thời
gian vẫn tái diễn không ngừng biến cố mà khách hành hương tại Giêrusalem đã chứng
kiến trong ngày lễ Ngũ Tuần. Khi nghe các Tông Đồ rao giảng, họ tự hỏi : “Những
người đang nói đó không phải là người xứ Galilê cả ư ? Thế sao mỗi người chúng ta lại
nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta ? Chúng ta đây có người là dân Pác-thi-a, Mê-đi-
a, Ê-lem, Mê-xê-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Ca-pa-đô-ki-a, Pon-tô và A-xi-a, có người là dân
Phy-gi-a, Ai-cập, và những vùng Li-by-a giáp giới Ky-rê-nê ; nào là những người từ
Roma đến đây, nào là người Do Thái cũng như người đạo theo ; nào là người đảo Kê-ta
hay người Ai-cập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan
báo những kỳ công của Thiên Chúa !” (Cv 2,7-11). Tuy lời công bố Tin Mừng trong
những nền văn hoá khác nhau đòi hỏi mọi người nghe phải lấy đức tin mà đón nhận,
nhưng nó không ngăn cản người ta duy trì căn tính văn hoá riêng của mình. Điều đó
không hề gây nên chia rẽ bởi vì cộng đoàn những người đã chịu phép thánh tẩy có đặc
điểm là một tính phổ quát khả dĩ ôm ấp hết mọi nền văn hoá và giúp thúc đẩy những gì
còn tiềm ẩn trong đó tiến tới chỗ được trở thành hoàn toàn minh nhiên trong ánh sáng
chân lý.
Điều này có nghĩa là không bao giờ một nền văn hoá có thể trở thành tiêu chuẩn
của phán đoán, lại càng không phải là tiêu chuẩn cuối cùng của chân lý trong những gì
liên quan tới Mặc khải của Thiên Chúa. Tin Mừng không đối nghịch với nền văn hoá
nào như thể là khi gặp gỡ với nó, Tin Mừng sẽ tìm cách tước mất sự phong phú bản địa
của nó và ép buộc nó nhận lấy những hình thức ngoại lai xa lạ với nó. Trái lại, sứ điệp
người tín hữu mang đến cho thế giới và cho các nền văn hoá là một cuộc giải phóng
chân chính đối với mọi xáo trộn do tội lỗi gây nên và đồng thời là một lời mời gọi tiến
đến chân lý vẹn toàn. Các nền văn hoá không bị suy giảm vì cuộc gặp gỡ này, lại còn
được khuyến khích để mở ra đón nhận tính mới mẻ của chân lý Tin Mừng và để cho
chân lý này thúc đẩy phát triển theo những cách thức mới.
72. Khi rao giảng Tin Mừng, Kitô giáo đã gặp gỡ trước tiên triết học Hy Lạp, song
điều này không có nghĩa là những cuộc tiếp cận khác bị loại trừ. Ngày nay, vì Tin Mừng
dần dần tiếp xúc với những thế giới văn hoá một thời nằm ngoài vòng ảnh hưởng của
Kitô giáo, nên có những nhiệm vụ hội nhập văn hoá mới được đặt ra. Thế hệ chúng ta
đang đối diện với những vấn đề tương tự như những vấn đề đặt ra cho Giáo Hội trong
các thế kỷ đầu.
Tâm trí tôi hướng ngay tới những miền đất phương Đông thật giàu truyền thống
tôn giáo và triết học rất kỳ cựu. Trong các môn này, An Độ chiếm một vị trí đặc biệt .
Một thôi thúc tinh thần mãnh liệt đưa tư tưởng An Độ đi tìm một kinh nghiệm có thể
giải thoát trí tuệ khỏi những điều kiện thời gian và không gian và do đó có thể mang giá
trị tuyệt đối. Tính năng động của cuộc tìm kiếm giải thoát này cung cấp khung cảnh cho
những hệ thống siêu hình vĩ đại.
Người Kitô hữu ngày nay, đặc biệt ở An Độ có nhiệm vụ phải rút tỉa ra từ di sản
lớn lao này những yếu tố tương hợp với đức tin của mình để làm cho tư tưởng Kitô giáo
thêm phong phú. Trong việc biện phân này được gợi hứng bởi Sắc lệnh Nostra Aetate
của Công đồng, người tín hữu phải lưu ý đến một số tiêu chuẩn :Tiêu chuẩn thứ nhất là
tính phổ quát của trí khôn con người, các nhu cầu căn bản của nó vẫn giống nhau trong
những nền văn hoá khác biệt nhất. Tiêu chuẩn thứ hai, phát sinh từ tiêu chuẩn trên, hệ
tại ở điều sau đây : khi Giáo Hội tiếp xúc với những nền văn hoá lớn mà trước đó Giáo
Hội chưa từng gặp, Giáo Hội không thể từ bỏ những gì Giáo Hội đã nhận được từ cuộc
hội nhập văn hoá trong thế giới tư tưởng Hy Lạp và La Mã. Loại bỏ di sản ấy sẽ là phủ
nhận kế hoạch của Thiên Chúa Quan phòng, Đấng hướng dẫn Giáo Hội của Người qua
các nẻo thời gian va lịch sử. Tiêu chuẩn này có giá trị cho Giáo Hội mọi thời đại, kể cả
cho Giáo Hội trong tương lai ; lúc bấy giờ Giáo Hội sẽ cảm thấy mình được nên giàu có
nhờ tất cả những gì phát sinh từ cuộc gặp gỡ với các nền văn hoá Đông phương hiện
nay, và sẽ tìm thấy trong sự thừa kế này những yếu tố mới để đối thoại thành công với
những nền văn hoá sẽ xuất hiện theo nhịp bước nhân loại tiến về tương lai. Tiêu chuẩn
thứ ba là cần phải đề phòng kẻo lẫn lộn sự bảo vệ hợp pháp tính duy nhất và độc đáo
của tư tưởng An Độ với ý tưởng cho rằng một truyền thống văn hoá đặc thù nào đó cần
phải đóng kín lại trong tính khác biệt của mình và tự khẳng định mình bằng cách đối
chọi với những truyền thống khác, nhưng làm như thế là trái ngược với bản tính của trí
khôn con người .
Điều vừa nói ở đây về An Độ cũng áp dụng cho di sản các nền văn hoá lớn của
Trung Quốc, Nhật Bản và những nước Châu Á khác, cũng như cho những sự giàu có
của các truyền thống Châu Phi mà phần lớn là được truyền khẩu.
73. Dưới ánh sáng của những suy tư này, mối liên hệ giữa thần học và triết học
phải được hiểu đúng nhất như một vòng tròn. Nguồn suối và khởi điểm của thần họchải
luôn luôn là lời Thiên Chúa được mặc khải trong lịch sử, còn mục tiêu cuối cùng của nó
là hiểu biết lời ấy, một sự hiểu biết luôn gia tăng qua các thế hệ. Tuy nhiên, vì Lời Chúa
là Chân lý (x, Ga 17,17), nên để giúp hiểu lời ấy hơn, công cuộc tìm kiếm chân lý trong
triết học theo những qui tắc riêng, chỉ có thể là hữu ích mà thôi. Điều đó không có nghĩa
đơn giản là suy luận thần học sử dụng ý niệm này hay ý niệm kia, hay yếu tố nào đó của
một công trình triết học ; điều quan trọng nhất là lý trí người tín hữu vận dụng những
khả năng suy tư vào việc tìm kiếm chân lý bên trong một tiến trình khởi đi từ Lời Chúa
nhằm đạt tới một sự hiểu biết lời ấy hoàn hảo hơn.
Khi di chuyển giữa hai cực ấy – tức Lời Chúa và sự hiểu biết Lời ấy – lý trí như
được hướng dẫn và được báo trước cho biết để tránh những con đường có thể đưa nó đi
chệch xa khỏi chân lý mặc khải và rút cuộc, ra ngoài chân lý không hơn không kém.
Không những thế, lý trí còn được thúc đẩy để thăm dò những con đường mà tự nó
không ngờ mình có thể bước theo. Mối liên hệ vòng tròn này với lời Chúa làm cho triết
học thêm phong phú, bởi vì lý trí khám phá ra những chân trời mởi mẻ và không ngờ.
74. Sự phong phú của mối liên hệ đó được xác nhận bởi kinh nghiệm của những
nhà thần học Kitô giáo lớn đồng thời cũng là những triết gia lỗi lạc ; họ đã để lại cho
chúng ta những tác phẩm có giá trị suy luận cao đến độ người ta có lý mà so sánh họ
với những bậc thầy của triết học cổ đại. Điều này đúng với các Giáo phụ, trong số đó ít
nhất phải kể đến thánh Ghêgôriô Nadiên và thánh Au-tinh ; điều này cũng đúng với các
vị Tiến sĩ thời Trung cổ mà nổi bật là bộ ba thánh Anxenmô, thánh Bônaventura và
thánh Tôma Aquinô. Chúng ta cũng thấy một mối liên hệ phong phú như thế giữa triết
học và Lời Chúa trong công cuộc khảo cứu dũng cảm của những nhà tư tưởng mới hơn,
trong số đó tôi muốn nhắc tới – ở phương Tây – những khuôn mặt như John Henry
Newman, Antonio Rosmini, Jacques Maritain, Etienne Gilson và Edith Stein và –
phương Đông – những nhà tư tưởng lỗi lạc như Vladimir S. Soloviev, Pavel A.
Florensky, Petr Chaadaev và Vladimir N. Lossky.
Dĩ nhiên còn có thể kể thêm những tên tuổi khác nữa. Và khi nhắc tới các vị trên,
tôi không có ý bảo lãnh cho hết mọi mặt tư tưởng của họ, nhưng đơn giản là cung cấp
những ví dụ có ý nghĩa về một quá trình nghiên cứu triết học được nên phong phú nhờ
tiếp xúc với những dữ kiện của đức tin. Có điều chắc chắn là : quan tâm tới lộ trình tinh
thần của các bậc thầy ấy chỉ có thể thúc đẩy mạnh hơn việc tìm kiếm chân lý cũng như
việc đưa các kết quả của sự tìm kiếm ấy vào phục vụ nhân loại. Phải hy vọng rằng hiện
nay và trong tương lai sẽ có những người tiếp tục vun trồng truyền thống triết học và
thần học lớn nói trên vì lợi ích của Giáo Hội và loài người.
75. Từ lịch sử về mối tương quan giữa đức tin và lý trí như vừa được phác vẽ ngắn
gọn ở đây, người ta có thể phân biệt những vị thế khác nhau của triết học trong liên
quan với đức tin Kitô giáo. Trước hết, có một nền triết học hoàn toàn độc lập với Mặc
Khải của Tin Mừng : đây là tình trạng của nền triết học đã hình thành trong lịch sử
trước khi Chúa Cứu Thế ra đời và về sau trong những miền chưa biết đến Tin Mừng.
Chúng ta thấy trong tình trạng này triết học biểu lộ một khát vọng chính đáng được làm
một công trình độc lập, nghĩa là chỉ tuân theo những qui luật riêng và sử dụng các năng
lực của lý trí mà thôi. Dù khát vọng này vị giới hạn nghiêm trọng bởi tính yếu đuối cố
hữu của lý trí con người, song nó cần được ủng hộ và củng cố. Quả thế, triết học hiểu
nhất là một sự tìm kiếm chân lý trong trật tự tự nhiên, bao giờ cũng mở ra cho cái siêu
nhiên, ít nhất là một cách mặc nhiên.
Hơn nữa, ngay cả khi suy luận thần học sử dụng những khái niệm và luận cứ triết
học, người ta vẫn phải tôn trọng đòi hỏi về một sự tự lập chính đáng của tư tưởng. Thật
vậy, chính lý luận theo những tiêu chuẩn lý tính chặt chẽ là một bảo đảm để đạt tới
những kết quả có giá trị phổ quát. Điều này cũng xác nhận nguyên tắc nói rằng ân sủng
không hủy diệt tự nhiên nhưng kiện toàn tự nhiên : sự ưng thuận của đức tin tuy ràng
buộc trí khôn và ý chí vẫn không hủy hoại, nhưng hoàn thiện ý chí tự do của mọi tín
hữu đón nhận sâu vào mình cứ liệu mặc khải.
Hiển nhiên lý thuyết mệnh danh là triết học “tách biệt”[separated] được một số
triết gia hiện đại chủ trương, không chấp nhận cách tiếp cận đúng đắn này. Lý thuyết ấy
đòi hỏi cho triết học không những một sự tự lập chính đáng, mà còn một sự tự túc của
tư tưởng rõ ràng là không hợp lý. Khi từ chối chân lý do Thiên Chúa mặc khải, triết học
làm thiệt hại cho chính mình bởi lẽ như thế là chận đường tiến tới một nhận thức sâu
hơn về chân lý.
76. Một vị thế thứ hai mà triết học đã chọn lựa thường được gọi là triết học Kitô
giáo. Tự nó, cách gọi đó là chính đáng, song không được hiểu sai : nó hoàn toàn không
muốn gợi ý rằng có một triết học chính thức của Giáo Hội, bởi vì bản thân đức tin
không phải là một triết lý. Với tên gọi trên, người ta muốn nói tới một cách thức Kitô
giáo để làm triết học, một suy tư triết học được quan niệm trong mối liên hệ năng động
với đức tin.
Vậy nó không chỉ liên quan tới một nền triết học được xây dựng bởi những triết
gia Kitô giáo đã nỗ lực để không đi ngược lại với đức tin trong khi nghiên cứu. Thuật
ngữ triết học Kitô giáo bao gồm những phát triển quan trọng của tư tưởng triết học mà
nếu thiếu phần đóng góp trực tiếp hay gián tiếp của đức tin Kitô giáo, chúng đã chẳng
thể có được.
Bởi thế triết học Kitô giáo có hai khía cạnh. Một là khía cạnh chủ thể [người làm
triết học], nghĩa là đức tin thanh luyện lý trí [ của họ]. Là một nhân đức đối thần, đức tin
giải thoát lý trí khỏi tính tự phụ vốn là chước cám dỗ tiêu biểu của triết gia. Thánh
Phaolô, các Giáo phụ và, gần với chúng ta hơn, những triết gia như Pascal và
Kierkegaard đã từng lên án thứ kiêu căng đó. Nhờ khiêm tốn, triết gia cũng sẽ có can
đảm đề cập tới những vấn đề khó giải quyết nếu không biết đến những dữ kiện của Mặc
khải, chẳng hạn vấn đề sự ác và đau khổ, bản tính Thiên Chúa và vấn đề ý nghĩa cuộc
đời hoặc, trực tiếp hơn, vấn đề siêu hình học căn bản : “Tại sao có cái gì mà không phải
là hư vô ?”
Khía cạnh thứ hai của triết học Kitô giáo là khía cạnh khách thể liên quan tới nội
dung. Mặc khải trình bày rõ ràng một số chân lý, tuy không phải là không thể hiểu được
đối với lý trí, nhưng nếu không được trợ giúp, một mình lý trí có lẽ chẳng bao giờ khám
phá ra. Trong số các chân lý này có khái niệm về một Thiên Chúa có ngôi vị và tự do,
Đấng tạo thành thế giới, – một chân lý rất quan trọng cho sự phát triển của tư duy triết
học, đặc biệt là triết học hữu thể. Ngoài ra, thực tại tội lỗi như nó xuất hiện trong ánh
sáng đức tin cũng giúp ta nêu vấn đề sự ác một cách đầy đủ về phương diện triết học.
Khái niệm nhân vị hiểu như một hữu thể thiêng liêng là một trong những đóng góp đặc
thù của đức tin. Thật vậy, việc Kitô giáo công bố phẩm giá, sự bình đẳng và tự do của
con người chắc chắn đã ảnh hưởng trên tư tưởng triết học hiện đại. Gần chúng ta hơn,
người ta đã khám phá ra rằng lịch sử xét như biến cố, vốn rất trọng yếu đối với Mặc
Khải Kitô giáo, cũng có tầm quan trọng cho triết học 5 * [coi chú thích của người dịch
cuối trang này)
Trong các yếu tố khách quan của nền triết học Kitô giáo, chúng ta còn có thể đặt
nhu cầu phải khảo sát tính hợp lý của một số chân lý được trình bày trong Kinh Thánh,
ví dụ tính khả dĩ [ khả hữu ] của ơn gọi siêu nhiên của con người và của chính tội
nguyên tổ. Đó là những nhiệm vụ thúc bách lý trí phải nhìn nhận rằng có cái chân thật
và hữu lý vượt xa những giới hạn nghiêm ngặt trong đó cứ sự thường lý trí bị đóng
khung. Những đề tài này trong thực tế đã nới rộng phạm vi hoạt động của lý trí.
Khi suy luận về những vấn đề trên, các triết gia không trở thành thần học gia, bởi
lẽ họ đã không tìm cách hiểu và trình bày các chân lý đức tin từ nền tảng Mặc khải. Họ
vẫn tiếp tục làm việc trong địa hạt của mình và với phương pháp thuần lý riêng, tuy
rằng họ nới rộng việc nghiên cứu tới những khía cạnh mới của chân lý. Có thể nói rằng
một phần lớn triết học hiện đại và đương đại đã không có được nếu thiếu lời Chúa làm
tác nhân kích thích. Kết luận này vẫn giữ được tất cả sự thích đáng của nó, bất kể sự
kiện đáng thất vọng là nhiều nhà tư tưởng trong những thế kỷ gần đây đã lìa bỏ tính
chính thống Kitô giáo.
77. Chúng ta thấy một vị thế khác đáng chú ý của triết học khi chính thần học nhờ
cậy đến nó. Thật ra, thần học đã luôn luôn cần tới và vẫn còn cần tới đóng góp của triết
học. Vì là một công trình của lý trí phê bình dưới ánh sáng đức tin, thần học trong tất cả
mọi nghiên cứu đều giả định và đòi hỏi một lý trí được đào tạo và rèn luyện trên bình
diện các khái niệm và biện luận.
Ngoài ra, thần học cần tới triết học như người đối thoại để kiểm chứng tính khả
niệm và chân lý phổ quát của những điều nó khẳng định. Không phải tình cờ mà các
Giáo phụ và các nhà thần học Trung cổ đã vận dụng những nền triết học ngoài Kitô
giáo. Sự kiện lịch sử này xác nhận giá trị của tính độc lập của triết học vẫn không suy
giảm khi thần học cậy nhờ tới nó, nhưng đồng thời cũng cho thấy những biến đổi sâu xa
mà triết học phải trải qua.
Chính vì sự đóng góp cao quí và cần thiết của nó mà kể từ thời các Giáo phụ, triết
học đã được gọi là nữ tì của thần học ( ancilla theologiae ). Danh hiệu này không có ý
chỉ sự phục tùng nô lệ hay vai trò thuần tuý chức năng của triết học đối với thần học.
Trái lại, nó được sử dụng theo nghĩa mà Aristote hiểu khi ông nói tới các khoa học thực
nghiệm như là những “nữ tì” phục vụ “triết học đệ nhất” ( prima philosophia ). Ngày
nay vì nguyên tắc tự lập của triết học mà chúng ta đã nói tới trên đây, diễn từ này khó có
thể được sử dụng, nhưng qua giòng lịch sử nó đã dùng để chỉ sợi dây liên kết cần thiết
giữa hai ngành khoa học và tính bất khả chia lìa của chúng.
Nếu nhà thần học từ khước sự trợ giúp của triết học, họ sẽ liều mình làm triết học
mà không hay, và tự đóng khung mình lại trong những cơ cấu tư tưởng ít phù hợp với
sự hiểu biết đức tin. Về phần mình, nếu các triết gia hoàn toàn xa lánh thần học , họ sẽ
có thể bị bó buộc tự ý chiếm đoạt cho mình các nội dung đức tin Kitô giáo, như đã xảy
ra nơi một số triết gia hiện đại. Trong cả hai trường hợp, những nguyên tắc căn bản về
tính độc lập mà mỗi ngành khoa học muốn được bảo vệ một cách chính đáng có thể bị
đe doạ trầm trọng.
Khi đứng trong vị thế này, triết học được đặt cách trực tiếp hơn, giống như thần
học, dưới quyền hành và sự suy xét của Huấn quyền vì những liên quan của nó đối với
* Bản tiếng Pháp hiểu câu này khác : “Gần chúng ta hơn, người ta có thể nhắc tới việc
khám phá ra tầm quan trọng mà biến cố lịch sử trọng tâm của Mặc khải Kitô giáo cũng
mang đến cho triết học”. Chúng tôi theo cách hiểu của bản tiếng Anh (Chú thích của
người dịch)
sự hiểu biết Mặc khải, như tôi đã trình bày. Các chân lý đức tin đưa ra một số đòi hỏi
mà triết học phải tôn trọng khi nó giao tiếp với thần học.
78. Hẳn là những suy tư trên đây đã cho thấy rõ tại sao Huấn quyền đã nhiều lần
ca ngợi công trạng của tư tưởng thánh Tôma và lấy ngài làm người hướng dẫn và
gương mẫu cho việc nghiên cứu thần học. Làm như thế không phải là để chọn một lập
trường trước những vấn đề triết học đúng nghĩa hay để bó buộc ai phải chấp nhận những
luận đề riêng nào. Chủ ý của Huấn quyền bao giờ cũng là cho thấy Thánh Tôma là một
mẫu mực chân chính cho mọi người tìm kiếm chân lý. Trong tư tưởng của ngài, đòi hỏi
của lý trí và sức mạnh của đức tin tìm được sự tổng hợp cao nhất mà tư tưởng loài
người từng đạt tới, bởi vì ngài biết bảo vệ tính mới mẻ triệt để do Mặc khải đem lại mà
không hề hạ thấp công trình riêng của lý trí.
79. Khi khai triển thêm những điều Huấn quyền trước tôi đã dạy, tôi muốn lưu ý
trong phần cuối này tới một vài yêu sách mà thần học – và một cách còn căn bản hơn
nữa, chính Lời Chúa đặt ra cho suy tư triết học và các nền triết học đương thời. Như tôi
đã nhấn mạnh, triết học phải tuân theo những qui tắc riêng và phải đặt cơ sở trên các
nguyên lý riêng của nó, nhưng chỉ có thể có một chân lý mà thôi. Nội dung của Mặc
Khải không bao giờ được hạ giá những khám phá và sự tự lập của lý trí. Tuy nhiên, về
phần mình, lý trí không bao giờ được đánh mất khả năng chất vấn và bị chất vấn, vì ý
thức rằng mình không thể tự tôn mình lên thành giá trị tuyệt đối và duy nhất. Nhờ có
ánh sáng rạng ngời phát sinh từ chính Hữu thể tự tồn, chân lý mặc khải cung cấp nguồn
ánh sáng sung mãn và do đó sẽ soi đường cho khảo cứu triết học. Tóm lại, Mặc Khải
Kitô giáo trở thành điểm gặp gỡ và nối kết đích thực giữa tư duy triết học và thần học
trong mối quan hệ hỗ tương. Vậy hy vọng rằng các thần học gia và triết gia sẽ chỉ để
cho uy quyền của chân lý hướng dẫn mình mà thôi hầu xây dựng một nền triết học ăn
khớp với Lời của Chúa . Một triết học như thế sẽ là nơi cho đức tin Kitô giáo và các nền
văn hoá gặp gỡ, là điểm hiểu biết lẫn nhau giữa người tin và người không tin. Nó sẽ
giúp người Kitô hữu xác tín hơn rằng đức tin trở nên sâu sắc và chân thực hơn khi được
liên kết với tư tưởng và không loại bỏ nó. Một lần nữa, chính các Giáo phụ dạy chúng ta
điều đó : “Tin không là gì khác hơn tư duy với sự ưng thuận (…) Người tin cũng là
người suy tư : khi tin người ấy tư duy và khi tư duy người ấy tin (…). Nếu đức tin
không suy tư, đức tin không là gì hết” (95). Và còn nữa : “Không có ưng thuận, thì
không có đức tin bởi vì thiếu sự ưng thuận người ta không thực sự tin” (96)
CHƯƠNG VII
NHỮNG ĐÒI HỎI VÀ NHIỆM VỤ HIỆN NAY
Những dòi hỏi khẩn thiết của Lời Chúa
80. Người ta tìm thấy trong Kinh Thánh những yếu tố mặc nhiên và minh nhiên
cho phép xây dựng một nhân sinh quan và vũ trụ quan mang tính chất triết học hiếm có.
Người Kitô hữu ngày càng có nhận thức sâu sắc hơn về sự phong phú của bản văn Kinh
Thánh. Ở đấy chúng ta học biết rằng điều mình cảm nghiệm không phải là thực tại tuyệt
đối : nó không phải là vô tạo hay tự sinh thành. Một mình Thiên Chúa là Đấng Tuyệt
đối. Từ Kinh Thánh cũng phát sinh một quan niệm về con người như là hình ảnh của
Thiên Chúa ( imago Dei ). Quan niệm này bao gồm những chỉ dẫn liên quan tới đời
sống con người, tới tự do và tính bất tử của tinh thần con người. Vì thế giới thọ tạo
không “tự đủ cho mình” [ self-sufficient ] nên mọi ảo tưởng về một tính tự lập chối bỏ
sự lệ thuộc thiết yếu của mọi thọ tạo – kể cả của con người – đối với Thiên Chúa sẽ dẫn
tới những tình trạng bi thảm huỷ hoại nỗ lực của trí khôn tìm kiếm sự hài hoà và ý
nghĩa của đời người.
Vấn đề sự ác luân lý – hình thức bi đát nhất của sự ác – cũng được đề cập đến
trong Kinh Thánh. Theo giáo lý Kinh Thánh, sự ác đó không phát xuất từ một khuyết
điểm vật chất nào nhưng là một vết thương gây nên bởi việc sử dụng tự do cách vô trật
tự. Cuối cùng, Lời Chúa nêu vấn đề về ý nghĩa cuộc đời và đề nghị một câu trả lời
bằng cách hướng con người về với Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể,
Đấng đã sống kiếp người một cách hoàn hảo. Đọc bản văn Kinh Thánh sẽ cho ta thấy
những khía cạnh khác của vấn đề này. Nhưng điều rõ ràng là Kinh Thánh từ chối thuyết
tương đối dưới mọi hình thức, duy vật hay phiếm thần.
Xác tín nền tảng của thứ “triết học” chứa đựng trong Kinh Thánh là thế giới và
đời sống con người có một ý nghĩa và hướng về sự hoàn thành trong Đức Giêsu Kitô.
Mầu nhiệm Nhập thể sẽ mãi mãi là điểm qui chiếu để hiểu bí ẩn của cuộc sống con
người của thế giới và chính Thiên Chúa. Thách đố của mầu nhiệm này thúc đẩy triết học
đi đến tận cùng giới hạn của nó, bởi vì lý trí được mời gọi tuân theo một thứ luận lý xô
ngã những bức tường trong đó nó có nguy cơ tự giam hãm mình. Thế nhưng chỉ nơi
điểm này mà ý nghĩa cuộc đời đạt tới đỉnh cao của nó. Quả thực, yếu tính thâm sâu của
Thiên Chúa và của con người trở nên khả niệm : trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể,
bản tính con người và bản tính Thiên Chúa được bảo vệ trong tất cả sự tự lập của chúng,
và đồng thời sợi dây duy nhất nối kết hai bản tính lại trong một mối hỗ tương không lẫn
lộn cũng được tỏ lộ ra. (97)
81. Cần phải ghi nhận rằng một trong những khía cạnh nổi bật nhất của hoàn
cảnh chúng ta ngày nay là “cuộc khủng hoảng về ý nghĩa”. Các quan điểm về cuộc sống
và về thế giới, mà thường là có tính khoa học, đã sinh sôi nảy nở đến độ trong thực tế,
chúng ta đang đối diện với tình trạng xé nhỏ tri thức ngày càng gia tăng. Điều đó làm
cho việc tìm kiếm ý nghĩa trở nên khó khăn và nhiều khi vô hiệu. Dĩ nhiên, điều bi thảm
hơn nữa, là giữa những dữ kiện và sự kiện rối bời trong đó chúng ta đang sống và xem
ra là chính cái nền của cuộc sống, nhiều người tự hỏi còn có ý nghĩa gì không khi nêu
câu hỏi về ý nghĩa. Tình trạng hàng loạt lý thuyết thi nhau đem lại một câu trả lời cũng
như có nhiều cách khác nhau để quan niệm và giải thích thế giới và đời sống con người,
chỉ làm trầm trọng thêm nỗi nghi ngờ căn bản ấy, nó có thể dễ dàng đưa người ta đến
thuyết hoài nghi, thái độ dửng dưng hay những loại hư vô chủ nghĩa khác nhau.
Hậu quả là trí khôn con người thường bị xâm chiếm bởi một thứ tư duy mơ hồ
khiến nó ngày càng quay về mình hơn, tự khép mình lại trong những giới hạn của tính
nội tại riêng, không mảy may qui chiếu về cái siêu việt. Một nền triết học mà không
còn nêu câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống nữa sẽ rơi vào nguy cơ giản lược lý trí vào những
chức năng hoàn toàn phụ thuộc, không còn thực sự say mê tìm kiếm chân lý.
Để thích hợp với Lời Thiên Chúa, điều triết học cần trước nhất là tìm lại chiều
kích khôn ngoan của nó [ sapiential dimension ], tức là tìm kiếm ý nghĩa cuối cùng và
toàn diện của cuộc đời. Thật ra đòi hỏi đầu tiên này là một sự kích thích hữu ích nhất
giúp triết học trung thành với bản tính của mình. Làm như thế, triết học không những
sẽ là yếu tố phê phán quyết định để xác định các nền tảng và giới hạn của các lãnh vực
của tri thức khoa học, mà còn là khuôn khổ cho tính thống nhất của nhận thức và hành
động của con người, đưa chúng qui về một cùng đích và ý nghĩa chung cuộc. Ngày nay
chiều kích khôn ngoan này lại càng cần thiết hơn, bởi vì sự gia tăng hết sức rộng lớn
của khả năng kỹ thuật của nhân loại đòi hỏi một ý thức mới mẻ và bén nhạy về các giá
trị tối hậu. Nếu kỹ thuật không được qui hướng về cái gì cao qui hơn là một mục đích
thuần tuý vụ lợi,thì nó sẽ sớm chứng tỏ là bất nhân và thậm chí có thể trở thành một
tiềm năng huỷ diệt loài người (98).
Lời Chúa mặc khải vận mệnh cuối cùng của con người và cung cấp một lời giải
thích thống nhất về tất cả mọi hoạt động của họ trên thế giới. Vì thế lời ấy mời gọi triết
học hãy dấn thân tìm kiếm nền tảng tự nhiên của ý nghĩa đó, vốn là khát vọng tôn giáo
bẩm sinh nơi một con người. Một nền triết học cho rằng không thể có một ý nghĩa tối
hậu và toàn diện, chẳng những sẽ không phù hợp với nhiệm vụ của mình, mà còn là sai.
82. Tuy nhiên, chức năng khôn ngoan này sẽ không thể hoàn thành được bởi
nền triết học nào không phải là một tri thức xác thực và chân chính, nghĩa là nền triết
học tự giới hạn vào những khía cạnh riêng lẻ và phụ thuộc của thực tại – như khía cạnh
chức năng, hình thức hay vụ lợi – mà không đề cập tới chân lý toàn diện và cuối cùng
của thực tại, nói cách khác, không bàn tới chính hữu thể của đối tượng nhận thức. Điều
này gợi lên một đòi hỏi thứ hai. Triết học phải xác nhận rằng con người có khả năng
biết chân lý, đạt tới một nhận thức về chân lý khách quan theo qui tắc [ chân lý là ] sự
tương hợp giữa sự vật và trí khôn (adaequatio rei et intellectus) mà các bậc thầy Kinh
viện đã tham chiếu .(99) Đòi hỏi này vốn là đòi hỏi riêng của đức tin, đã được Công
đồng Vaticanô II khẳng định lại rõ ràng : “Quả thực, trí khôn không bị giới hạn lại
trong các hiện tượng, nhưng còn có thể thấu triệt thực tại siêu hình một cách thực sự
chắc chắn, cho dù trí tuệ phần nào đã bị mờ tối và suy nhược do hậu quả của tội lỗi“
(100)
Một nền triết học duy hiện tượng hay duy tương đối triệt để sẽ không phù hợp
để giúp khảo sát sâu hơn sự phong phú chứa đựng trong Lời Chúa. Kinh Thánh luôn
luôn thừa nhận rằng con người dù đắc tội tráo trở, dối trá vẫn có thể biết và hiểu chân lý
minh bạch và đơn thuần. Kinh Thánh nói chung và Tân Ước nói riêng chứa đựng
những đoạn văn và những khẳng định mang một nội dung hữu thể luận chân chính. Các
tác giả thánh muốn đưa ra những mệnh đề có khả năng diễn tả thựctại khách quan.
Không thể nói rằng truyền thống công giáo đã sai lầm khi hiểu một vài bản văn của
thánh Gioan và thánh Phaolô như những tuyên bố về chính thực hữu [being] của Đức
Kitô. Vậy thần học, khi nỗ lực hiểu và giải thích các khẳng định đó, cần tới sự trợ giúp
của một nền triết học không phủ nhận khả năng về một nhận thức xác thực khách quan,
cho dù là không hoàn hảo. Điều này cũng có giá trị đối với những phán đoán của lương
tâm đạo đức, mà Kinh Thánh xem là có khả năng đúng một cách khách quan. (101)
83. Hai đòi hỏi vừa được nêu lên bao hàm một đòi hỏi thứ ba. Đó là cần phải
có một triết học mang tầm siêu hình học đích thực, nghĩa là có khả năng vượt lên trên
những dữ kiện thực nghiệm để đạt tới điều tuyệt đối, tối hậu và nền tảng trong khi tìm
kiếm chân lý. Đòi hỏi này hàm ẩn cả trong nhận thức mang tính “khôn ngoan” lẫn
trong nhận thức phân tích ; và đặc biệt đó là đòi hỏi của nhận thức về điều thiện luân lý
mà nền tảng cuối cùng là chính Thiên Chúa, sự Thiện Tối Cao. Ở đây tôi không có ý nói
về siêu hình học như về một trường phái nhất định hay như một trào lưu tư tưởng riêng
biệt nào trong lịch sử. Tôi chỉ muốn xác định rằng thực tại và chân lý vượt lên trên cái
mang tính sự kiện và thực nghiệm , và tôi muốn khẳng định con người có khả năng biết
được chiều kích siêu việt và siêu hình này một cách chân thật và chắc chắn, cho dù là
bất toàn và loại suy. Theo nghĩa đó, không nên coi siêu hình học như một môn để chọn
thay thế cho nhân học, bởi vì chính nhờ siêu hình học mà người ta mới có thể đặt nền
tảng cho khái niệm nhân phẩm căn cứ vào tính thiêng liêng của con người. Cách riêng,
nhân vị là nơi ưu việt cho sự gặp gỡ với hữu thể, và do đó với việc nghiên cứu siêu
hình.
Ở đâu con người nhận ra một lời mời gọi đến với cái tuyệt đối và siêu việt, ở
đó chiều kích siêu hình của thực tại mở ra trước mặt họ : trong chân lý, trong cái đẹp,
trong các giá trị luân lý, trong ngôi vị của tha nhân, trong chính hữu thể, trong Thiên
Chúa. Chúng ta đang đứng trước một thách đố lớn vào cuối thiên niên kỷ này, là hoàn
thành quá trình đi từ hiện tượng đến nền tảng, một bước đi vừa cần thiết vừa cấp bách.
Chúng ta không thể dừng lại nửa chừng nơi kinh nghiệm mà thôi ; cho dù kinh nghiệm
biểu lộ tính nội tâm và tính thiêng liêng của con người, nhưng tư duy tư biện vẫn phải
đi cho đến tận cái cốt lõi thiêng liêng và cái nền tảng từ đó nó phát xuất. Vì thế một triết
học xa lánh siêu hình học sẽ hoàn toàn không thích hợp và nhiệm vụ làm trung gian
trong sự hiểu biết Mặc Khải.
Lời Chúa thường xuyên liên quan tới những điều vượt lên trên kinh nghiệm
con người và ngay cả tư tưởng con người ; nhưng ”mầu nhiệm” này không thể được
mặc khải ra, và thần học không thể giúp ta hiểu biết gì về nó (102) nếu nhận thức của
con người bị giới hạn triệt để vào thế giới kinh nghiệm giác quan. Vậy siêu hình học
đóng một vai trò thiết yếu làm trung gian trong nghiên cứu thần học . Một nền thần học
thiếu một viễn tượng siêu hình sẽ không thể đi xa hơn một sự phân tích kinh nghiệm tôn
giáo, nó cũng sẽ không giúp cho sự hiểu biết đức tin (intellectus fidei) diễn tả cách mạch
lạc giá trị phổ quát và siêu việt của chân lý mặc khải. Sở dĩ tôi nhấn mạnh yếu tố siêu
hình là vì tôi xác tín rằng đó là con đường phải theo để vượt qua cuộc khủng hoảng
đang lan rộng trong nhiều ngành triết học hiện nay, và như vậy để sửa chữa một số
những cách cư xử sai lệch phổ biến trong xã hội chúng ta.
84. Tầm quan trọng của siêu hình học trở nên hiển nhiên hơn nếu chúng ta nhìn
vào những phát triển hiện nay trong khoa giải thích học và phân tích ngôn ngữ . Những
kết quả đạt được trong các ngành đó có thể rất hữu ích cho việc hiểu biết đức tin, bởi vì
chúng làm sáng tỏ cơ cấu của tư tưởng và lời nói chúng ta cũng như ý nghĩa mà ngôn
ngữ chuyển tải. Tuy nhiên, một số chuyên viên làm việc trong các lãnh vực này có
khuynh hướng dừng lại nơi cách thức người ta hiểu và diễn tả thực tại, mà không đi xa
hơn để xem lý trí có khả năng khám phá ra yếu tính của thực tại hay không. Làm sao
không nhìn thấy trong thái độ đó một bằng chứng xác nhận cuộc khủng hoảng hiện nay
về sự tín nhiệm vào các khả năng của lý trí ? Và khi, vì dựa trên những giả định tiên
thiên, các lập trường ấy có chiều hướng làm lu mờ nội dung đức tin hoặc chối bỏ giá trị
phổ quát của nó, thì chẳng những chúng hạ giá lý trí mà còn tự loại chính mình ra ngoài
cuộc 6 * . Đức tin giả định rõ ràng rằng ngôn ngữ loài người có khả năng diễn tả thực tại
thần linh và siêu việt một cách phổ quát tuy là bằng lời lẽ loại suy, nhưng không vì thế
mà không có ý nghĩa. (103) Nếu không phải như vậy thì Lời Thiên Chúa, vốn là một lời
thần linh trong ngôn ngữ loài người, sẽ không thể nói lên bất cứ điều gì về Thiên Chúa
cả. Việc giải thích lời Chúa không thể chỉ cứ dẫn chúng ta từ giải thích này đến một
giải thích khác mà không bao giờ đưa ta đến một khẳng dịnh đúng nào ; nếu không thì
chẳng có Mặc khải của Thiên Chúa nhưng chỉ có sự diễn đạt những ý niệm của con
người về Thiên Chúa và về những điều mà người ta cho là Thiên Chúa nghĩ về chúng ta.
85. Tôi biết rõ là những đòi hỏi trên đây do Lời Chúa đặt ra cho triết học có thể
làm nản lòng nhiều người dấn thân vào việc nghiên cứu triết học ngày nay. Chính vì thế
mà, trong khi lấy lại những điều các Đức Giáo hoàng đã không ngừng giảng dạy từ
nhiều thế hệ qua và chính Công đồng Vaticanô II tái khẳng định, tôi muốn mạnh mẽ
tuyên bố một lần nữa niềm xác tín rằng con người có thể đạt tới một quan niệm nhận
thức thống nhất và hữu cơ . Đó là một trong những nhiệm vụ mà tư tưởng Kitô giáo sẽ
phải đảm nhận trong thiên niên kỷ sắp tới của kỷ nguyên Kitô giáo. Sự phân mảnh tri
thức cản trở con người ngày nay đi tới thống nhất nội tâm, bởi vì nó kéo theo một cách
tiếp cận chân lý từng phần và do đó, cũng bẻ vụn ý nghĩa. Làm sao mà Giáo Hội không
lo ngại được ? Chính Phúc Âm trực tiếp bó buộc các vị Chủ chăn phải làm nhiệm vụ
thuộc lãnh vực khôn ngoan này, và các ngài không thể trốn tránh bổn phận chu toàn nó.
* “Tự loại mình ra ngoài cuộc” vì không tín nhiệm vào khả năng của lý trí mà chính mình
đang sử dụng để lập luận (chú thích của người dịch)
Tôi cho rằng những triết gia ngày nay muốn đáp ứng lại những đòi hỏi mà Lời
Thiên Chúa đặt ra cho tư tưởng con người phải xây dựng lý luận của mình trên cơ sở
những định đề này và trong tính liên tục hữu cơ với truyền thống vĩ đại bắt đầu với các
cổ nhân, xuyên qua các Giáo phụ và các bậc thầy Kinh viện, để bao gồm những thành
tựu căn bản của tư tưởng cận đại và hiện đại. Nếu biết đặt mình vào trong truyền thống
này và tìm cảm hứng từ đó, các triết gia chắc chắn sẽ không quên tôn trọng yêu sách
đòi tự lập cho tư tưởng triết học.
Vậy trong hoàn cảnh hiện nay, thật là đầy ý nghĩa khi một số triết gia đang xúc
tiến việc khám phá lại vai trò quyết định của truyền thống này cho một cách tiếp cận
đúng đắn vấn đề nhận thức. Việc nại tới truyền thống không phải đơn giản là hồi tưởng
quá khứ. trái lại nó bao gồm việc nhìn nhận một di sản văn hoá thuộc về toàn thể nhân
loại. Quả thực, có thể nói rằng chính chúng ta thuộc về truyền thống và không thể tuỳ ý
định liệu về nó ra sao cũng được . Chính nhờ bén rễ trong một truyền thống, chúng ta
mới có thể phát triển cho tương lai một lề lối tư tưởng độc đáo, mới mẻ và mang tính
xây dựng. Lời nhắc nhở này càng có giá trị hơn đối với thần học. Không những vì thần
học có Truyền thống sống động của Hội Thánh làm nguồn cội,(104) nhưng còn vì đó
mà nó phải có khả năng tìm lại truyền thống thần học sâu xa của các thời xa xưa cũng
như truyền thống liên tục của thứ triết học biết vượt qua các giới hạn không gian và thời
gian nhờ sự khôn ngoan chân thực của nó.
86. Nhấn mạnh như thế trên sự cần thiết phải có mối quan hệ gắn bó về tính
liên tục giữa triết học hiện đại và nền triết học đã được xây dựng trong truyền thống
Kitô giáo, là để đề phòng nguy cơ tiềm ẩn trong một số luồng tư tưởng đang đặc biệt
thịnh hành ngày nay. Tôi nghĩ nên điểm lại, dù là cách sơ lược, mấy khuynh hướng nầy
để chỉ rõ những sai lầm của chúng và những mối nguy hiểm kèm theo đối với sinh hoạt
triết học.
Luồng tư tưởng thứ nhất gọi là chủ nghĩa chiết trung. Tên gọi này chỉ thái độ
của những người, trong khi nghiên cứu, giảng dạy và biện luận, ngay cả trong thần học,
có khuynh hướng sử dụng những ý tưởng cá nhân rút ra từ những nền triết học khác
nhau mà không quan tâm tới tính cố kết nội tại của chúng, tới vị trí của chúng trong một
hệ thống hay tới một bối cảnh lịch sử của chúng. Vì thế họ có nguy cơ không phân biệt
được phần đúng của một học thuyết với những yếu tố sai lầm hoặc không thích hợp với
nhiệm vụ trước mắt, mà nó có thể chứa đựng. Chúng ta cũng thấy một hình thức cực
đoan của thuyết chiết trung trong việc lạm dụng khoa trương những từ triết học mà một
số nhà thần học đôi khi rơi vào. Lối vận dụng đó không giúp gì cho việc tìm kiếm chân
lý và không rèn luyện lý trí – dù là thần học hay triết học – để lập luận một cách nghiêm
túc và khoa học. Việc nghiên cứu chặt chẽ và sâu sắc các học thuyết triết học, các thuật
ngữ riêng và bối cảnh xuất xứ của chúng, sẽ giúp vượt qua mối nguy cơ của chủ nghĩa
chiết trung, và cho phép kết nạp chúng vào trong lý luận thần học một cách thích hợp
với nhiệm vụ.
87. Thuyết chiết trung là một sai lầm về phương pháp, nhưng nó cũng có thể
tàng trữ những luận đề của thuyết duy lịch sử. Để hiểu một học thuyết của quá khứ cách
đúng đắn, cần phải đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử và văn hoá riêng của nó, song luận
đề căn bản của thuyết duy lịch sử lại chủ trương rằng chân lý của một nền triết học được
xác định căn cứ trên sự phù hợp của nó với một thời đại nhất định và một mục đích lịch
sử nhất định. Vậy, giá trị bền vững của chân lý bị phủ nhận, ít ra là một cách mặc nhiên.
Theo chủ trương của các nhà duy lịch sử, điều đúng trong một thời đại có thể không
đúng cho một thời đại khác. Như thế, đối với họ, lịch sử tư tưởng trở thành không hơn
gì một nguồn khảo cổ dùng để minh hoạ những lập trường người ta đã chủ trương,
nhưng nay phần lớn đã lỗi thời và vô nghĩa. Trái lại, không nên quên rằng, cho dù một
công thức trình bày có lệ thuộc cách nào đó vào thời gian và văn hoá, nhưng chân lý hay
sai lầm mà nó diễn tả thì luôn luôn có thể được nhận ra và đánh giá như chúng có thực,
bất kể khoảng cách không gian và thời gian.
Trong suy tư thần học, thuyết duy lịch sử thường xuất hiện phần nhiều dưới
hình thức của chủ nghĩa “duy tân”. Với mối bận tâm hợp lý muốn làm cho lý luận thần
học được thích đáng và dễ hiểu đối với thời đại chúng ta, một số nhà thần học chỉ sử
dụng những ý kiến và ngôn ngữ triết học mới mẻ nhất, mà bỏ qua việc đánh giá phê
bình đáng lẽ phải làm dưới ánh sáng của truyền thống. Vì lẫn lộn tính thích đáng
[relevance] với chân lý, hình thức duy tân này tự chứng tỏ là không thể thoả mãn những
đòi hỏi của chân lý mà thần học được mời gọi đáp ứng.
88. Thuyết duy khoa học là một mối đe doạ khác cần phải xem xét. Đó là quan
niệm triết học từ chối nhìn nhận giá trị của những lối nhận thức khác với những lối nhận
thức của khoa học thực nghiệm ; nó đẩy nhận thức tôn giáo, thần học, đạo đức và thẩm
mỹ vào lãnh vực tưởng tượng thuần tuý. Trong quá khứ, tư tưởng trên đã xuất hiện
trong thuyết thực chứng và thuyết tân thực chứng; mấy thuyết này coi các khẳng định
siêu hình học là vô nghĩa. Lập trường này đã bị khoa tri thức luận phê bình làm cho mất
uy tín, nhưng nay ta thấy nó hồi sinh dưới bộ dạng mới của thuyết duy khoa học. Trong
viễn tượng này, các giá trị bị coi như chỉ là sản phẩm của cảm xúc và ý niệm hữu thể bị
loại bỏ để dành chỗ cho “sự kiện tính” [facticity] thuần tuý. Vậy khoa học đã sẵn sàng
để thống lãnh mọi khía cạnh đời sống con người nhờ những tiến bộ kỹ thuật. Những
thành công không thể chối cãi của nghiên cứu khoa học và công nghệ hiện đại đã góp
phần truyền bá một não trạng duy khoa học xem ra không còn giới hạn bởi nó xâm nhập
vào nhiều nền văn hoá khác nhau và mang tới những thay đổi tận gốc.
Đáng tiếc thay, người ta phải ghi nhận rằng chủ nghĩa duy khoa học đưa tất cả
những gì có liên quan tới vấn đề ý nghĩa cuộc đời vào lãnh vực của cái ngoại lý [
irrational} hay tưởng tượng. Cũng đáng thất vọng không kém là cách thức nó tiếp cận
những vấn đề lớn khác của triết học, những vấn đề mà, nếu không bị lờ đi, ít ra chúng
cũng đều bị phân tích căn cứ trên những điểm tương đồng [analogies] hời hợt, thiếu nền
tảng lý tính. Điều này làm nghèo tư tưởng nhân loại vì nó không còn đề cập tới những
vấn đề tối hậu nữa mà con người trong tư cách là con vật có lý tính đã không ngừng đặt
ra từ khi xuất hiện trên mặt đất. Và vì không còn dành chỗ cho sự phê bình của phán
đoán đạo đức nữa, não trạng duy khoa học đã đưa tới kết quả là làm cho nhiều người
nghĩ rằng điều gì có thể làm được về mặt kỹ thuật thì do đó cũng có thể chấp nhận về
mặt đạo đức.
89. Thuyết duy thực dụng cũng không kém phần nguy hiểm. Đó là một thái
độ của trí khôn loại trừ những suy xét hay phán đoán lý thuyết căn cứ trên những
nguyên tắc đạo đức khi chọn lựa. Hậu quả thực hành của lối suy nghĩ này thật quan
trọng. Đặc biệt, người ta đi tới chỗ ủng hộ một quan niệm về dân chủ không đặt nền
tảng trên một qui chiếu nào về những giá trị bền vững : để quyết định một cách hành xử
nào đó là có thể hay không thể chấp nhận, người ta căn cứ vào cuộc bỏ phiếu của đa số
nghị viện (105). Hậu quả của lối nhìn đó là rõ ràng : trong thực tế, những quyết định
luân lý lớn của nhân loại tuỳ thuộc vào những phán quyết lần lượt của các cơ cấu thể
chế. Hơn nữa, chính khoa nhân học cũng bị tổn hại nghiêm trọng bởi một quan niệm
độc chiều về con người, một quan niệm loại trừ những song luận [dilemmas] luân lý
lớn và những phân tích hiện sinh về ý nghĩa của đau khổ và hy sinh, của sự sống và sự
chết.
90. Những luận đề chúng ta đã xem xét trên đây lại đưa tới một quan niệm tổng
quát hơn, mà ngày nay đang xuất hiện như cái khung chung của nhiều nền triết học đã
loại bỏ ý nghĩa của hữu thể. Tôi muốn nói đến lối giải thích hư vô chủ nghĩa, nó vừa
phủ nhận mọi nền tảng vừa chối bỏ mọi chân lý khách quan. Chưa kể chủ nghĩa hư vô
mâu thuẫn với những đòi hỏi và với nội dung Lời Thiên Chúa, nó còn phủ nhận nhân
tính và chính căn tính của con người. Không bao giờ được quên rằng việc sao nhãng
hữu thể nhất thiết sẽ dẫn tới chỗ mất liên lạc với chân lý khách quan do đó, với chính
nền tảng của phẩm giá con người. Đến lượt điều đó lại tạo điều kiện xoá khỏi khuôn
mặt con người những nét biểu lộ con người giống Thiên Chúa, và rồi từng bước dẫn họ
đến một ý chí quyền lực huỷ hoại hay một nỗi cô đơn tuyệt vọng. Một khi đã khước từ
chân lý với con người mà còn muốn làm cho họ được tự do thì thật là ảo tưởng. Chân lý
và tự do cùng đi với nhau hoặc cùng tiêu tan với nhau cách thảm hại. 106)
91. Khi thảo luận về những luồng tư tưởng trên đây, tôi không có ý trình bày
một bức tranh đầy đủ về tình trạng hiện nay của triết học ; thật ra cũng khó rút gọn nó
vào một cái nhìn thống nhất. Điều tôi muốn nhấn mạnh là di sản tri thức và khôn ngoan
mà chúng ta thừa hưởng, chắc chắn đã được nên phong phú trong nhiều lãnh vực. Chỉ
cần nhắc tới luận lý học, triết học ngôn ngữ, tri thức luận, triết học thiên nhiên, nhân
học, sự phân tích sâu sắc hơn về những chiều kích tình cảm của nhận thức và phân tích
tự do theo cách tiếp cận hiện sinh. Tuy nhiên, từ thế kỷ trước, việc khẳng định nguyên
lý nội tại vốn là trọng tâm của lập luận duy lý, đã khiến người ta xét lại một cách triệt để
những khẳng định vốn được coi là không thể nào tranh cãi. Để phản ứng lại, đã xuất
hiện những trào lưu triết học phi lý tính ngay trong lúc người ta chứng minh một cách
có phê phán rằng việc đòi hỏi lý trí phải là nền tảng tuyệt đối của chính mình, là một đòi
hỏi vô căn cứ.
Một vài nhà tư tưởng đã gọi thời đại chúng ta là thời “hậu hiện đại”. Thường
dùng trong những bối cảnh rất khác nhau, cách gọi này chỉ sự xuất hiện của một tập hợp
phức tạp những yếu tố mới ; nhờ được phổ biến rộng rãi và có hiệu năng, những yếu tố
này đã có khả năng tạo nên những thay đổi quan trọng và lâu bền. Lúc đầu thuật ngữ
này được sử dụng liên quan tới những hiện tượng thẩm mỹ, xã hội và kỹ thuật. Rồi nó
được chuyển qua địa hạt triết học, nhưng vẫn có phần mơ hồ bởi vì phán đoán người ta
đưa ra về cái được gọi là “hậu hiện đại” khi thì tích cực có lúc lại tiêu cực, và cũng bởi
vì chưa có sự đồng thuận về vấn đề tế nhị liên quan tới việc phân chia các thời đại lịch
sử. Song có điều chắc chắn là những luồng tư tưởng tự coi là hậu hiện đại đáng được
quan tâm xem xét. Theo một số trào lưu trong đó thì thời của những điều chắc chắn đã
dứt khoát qua rồi, và con người ngày nay phải học sống trong một viễn tượng hoàn toàn
thiếu vắng ý nghĩa, ở đó mọi sự đều tạm bợ và phù du. Nhiều tác giả khi phê bình mọi
sự xác thực một cách huỷ hoại, vì không muốn đưa ra những phân biệt quyết định, đã
đặt vấn đề về những xác thực của đức tin.
Theo một nghĩa nào đó, chủ nghĩa hư vô đã được biện minh bởi kinh nghiệm
khủng khiếp về sự ác, một đặc điểm của thời đại chúng ta. Một kinh nghiệm bi thảm
như thế đã làm tan rã niềm lạc quan của thuyết duy lý một thời đã quan niệm lịch sử
như bước tiến toàn thắng của lý trí, nguồn phát sinh mọi hạnh phúc và tự do. Và bây
giờ, vào cuối thế kỷ này, một trong những đe doạ lớn nhất cho chúng ta là cám dỗ tuyệt
vọng.
Tuy nhiên vẫn còn đúng là một não trạng thực chứng nào đó đang tiếp tục nuôi
ảo tưởng rằng, nhờ tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, con người sẽ có thể sống như một
tiểu thần (demiurg), tự mình hoàn toàn làm chủ vận mình.
Những nhiệm vụ hiện nay của thần học
92. Vì chức năng của nó là hiểu biết Mặc Khải, nên thần học đã luôn luôn phải
đáp ứng những đòi hỏi của các nền văn hoá khác nhau trong những thời đại lịch sử khác
nhau, hầu qua trung gian của mình đưa nội dung đức tin hội nhập vào các nền văn hoá
ấy một cách mạch lạc và rõ ràng về quan niệm. Ngày nay nữa, thần học phải đương đầu
với hai nhiệm vụ. Một đàng, càng ngày nó càng phải dấn mình chu toàn sứ mạng do
Công đồng Vaticanô II uỷ thác, là đổi mới các phương pháp của mình để phục vụ việc
loan báo Tin Mừng hữu hiệu hơn. Nhân đây, làm sao không nhắc lại lời Đức Giáo
hoàng Gioan XXIII khi khai mạc Công đồng ? Ngài nói : “Phù hợp với sự chờ đợi nhiệt
tình của những người thành tâm yêu mến đạo Kitô, Công giáo và Tông truyền, giáo
thuyết này phải được biết tới sâu rộng hơn, và các tâm trí được rèn luyện và đào tạo
trong đó đầy đủ hơn ; cần phải làm cho giáo thuyết chắc chắn và bất biến này luôn luôn
được tuân theo cách trung thành, được am hiểu sâu sắc hơn và được trình bày một cách
phù hợp với đòi hỏi của thời đại chúng ta” (107).
Đàng khác, thần học phải quan tâm tới chân lý tối hậu mà Mặc khải uỷ thác
cho nó, không bao giờ bằng lòng dừng lại nửa vời. Các nhà thần học nên nhớ rằng công
việc của họ đáp ứng lại “sức năng động chứa đựng trong chính đức tin” và đối tượng
riêng họ nghiên cứu là “Chân lý, là Thiên Chúa hằng sống và kế hoạch cứu độ của
Người được mặc khải trong Đức Giêsu Kitô” (108). Nhiệm vụ này tuy là mối quan tâm
đầu tiên của thần học nhưng cũng liên quan tới triết học. Khối lượng những vấn đề ngày
nay đang cần được đề cập tới đòi hỏi một nỗ lực chung, dĩ nhiên với những phương
pháp khác nhau, thế nào cho chân lý lại được nhận biết và diễn tả. Chân lý là Đức Kitô
buộc ta phải chấp nhận như uy quyền phổ quát, một uy quyền đưa ra cho cả thần học lẫn
triết học triển vọng trợ giúp, khích lệ và tăng trưởng (x. Ep 4,15).
Tin tưởng vào khả năng biết một chân lý có giá trị phổ quát, tuyệt nhiên không
phải là khuyến khích lòng bất bao dung ; trái lại, đó là điều kiện thiết yếu cho một cuộc
đối thoại thành thực và chân chính giữa người với người. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể
vượt qua những chia rẽ và cùng nhau tiến về chân lý vẹn toàn, theo những con đường
mà chỉ một mình Thần Khí của Chúa Phục sinh biết được. (109) Căn cứ vào những
nhiệm vụ hiện nay của thần học, bây giờ tôi muốn chỉ cho thấy lời mời gọi hiệp nhất
đang mang hình thức đặc thù cụ thể nào.
93. Mục tiêu chính của thần học là cung cấp một sự hiểu về Mặc Khải và về
nội dung đức tin. Nhưng chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi
mới là trọng tâm thật của công cuộc nghiên cứu thần học . Để đến với mầu nhiệm ấy,
thần học bắt đầu với việc suy tư về mầu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa, Đấng đã
làm người , đã chịu chết, – một mầu nhiệm kết thúc trong việc Người phục sinh vinh
quang và lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, từ đó Người cử Thánh Thần Chân lý đến
để thiết lập Giáo Hội và làm cho Giáo Hội tăng trưởng. Nhìn từ vị trí này, phần vụ đầu
tiên của thần học xem ra là hiểu biết được sự tự hạ ( kenosis ) của Thiên Chúa, một chân
lý lớn lao và nhiệm mầu đối với trí khôn con người. Trí khôn không thể nào quan niệm
được rằng đau khổ và sự chết có thể diễn tả một tình yêu tự hiến mà không đòi một đáp
trả nào. Về phương diện này, một nhu cầu căn bản và cấp bách được đặt ra, đó là phân
tích cẩn thận các bản văn : trước hết các bản văn Kinh Thánh, rồi đến các bản văn diễn
tả Truyền thống sống động của Giáo Hội. Liên quan tới điểm này, có một ít vấn đề mới
xuất hiện gần đây, tuy là những vấn đề chỉ một phần nào mới mà thôi ; muốn giải quyết
một cách thoả đáng cần có phần đóng góp của triết học.
94. Vấn đề đầu tiên liên quan tới mối liên hệ giữa ý nghĩa và chân lý. Như mọi
bản văn khác, những bản văn nguồn gốc mà thần học giải thích chuyển tải chủ yếu một
ý nghĩa cần được nắm bắt và cắt nghĩa. Ý nghĩa đó xuất hiện như là chân lý về Thiên
Chúa, do chính Người truyền đạt qua bản văn. Như thế, ngôn ngữ loài người thể hiện
ngôn ngữ của Thiên Chúa, Đấng thông truyền chân lý của chính mình với “lòng hạ cố”
lạ lùng phản ảnh cái lôgic của sự nhập thể. (110) Vậy khi giải thích các nguồn của Mặc
Khải, nhà thần học cần phải hỏi đâu là chân lý sâu xa và chân thực mà các bản văn
muốn truyền đạt, ngay cả trong những giới hạn của ngôn ngữ.
Chân lý của các bản văn Kinh Thánh , và cách riêng của các sách Phúc Âm,
chắc chắn không thu hẹp vào bản tường thuật về những biến cố thuần tuý lịch sử hoặc
vào lời công bố những sự kiện chung chung [[neutral] như thuyết thực chứng duy sử
chủ trương. (111) Trái lại, bên kia sự việc lịch sử xảy ra, chân lý của những biến cố mà
các bản văn này thuật lại, nằm nơi ý nghĩa của chúng trong và cho lịch sử cứu độ. Chân
lý này được minh giải đầy đủ trong việc Giáo Hội liên tục đọc các bản văn ấy qua các
thế kỷ mà vẫn bảo toàn ý nghĩa nguyên thuỷ của chúng. Vậy mối liên hệ giữa sự kiện và
ý nghĩa, – thứ liên hệ tạo nên ý nghĩa riêng của lịch sử, cũng cần phải được cấp bách
xem xét từ quan điểm triết học.
95. Lời Thiên Chúa không được gởi đến một dân tộc hay một thời đại lịch sử
duy nhất nào. Cũng vậy, những biểu đồ tín lý, dù đôi khi có phản ánh nền văn hoá của
thời đại khi chúng được xác định, vẫn diễn đạt một chân lý không thay đổi và cuối cùng.
Điều này gợi ra câu hỏi làm sao dung hoà được tính tuyệt đối và phổ quát của chân lý
với ảnh hưởng không thể tránh về mặt lịch sử và văn hoá của những công thức diễn tả
chân lý đó. Như tôi đã nói trên đây, các luận đề của thuyết duy lịch sử là không thể chấp
nhận được ; nhưng việc sử dụng một lối chú giải sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của
siêu hình học có thể cho thấy bằng cách nào khởi đi những hoàn cảnh lịch sử bất tất
trong đó các bản văn đã được quan niệm, người ta có thể tiến đến với chân lý được các
bản văn diễn tả, một chân lý vượt lên trên các hoàn cảnh ấy.
Ngôn ngữ loài người có thể bị ảnh hưởng bởi lịch sử và giới hạn bằng những
cách thức khác nhưng con người vẫn có thể diễn tả những chân lý vượt qua hiện tượng
ngôn ngữ. Chân lý không bao giờ có thể bị đóng khung lại trong thời gian và văn hoá.
Người ta biết nó trong lịch sử nhưng nó vượt quá lịch sử.
96. Suy tư này giúp ta thoáng thấy giải đáp cho một vấn đề khác : đó là vấn đề
giá trị bền vững của ngôn ngữ lý niệm [ conceptual language] được sử dụng trong
những định nghĩa của các Công đồng chung. Đây là một vấn đề mà Đức Piô XII, vị
Tiền nhiệm đáng kính của tôi đã đề cập tới trong thông điệp Humani Generis. (112)
Suy nghĩ về đề tài phức tạp này không phải là dễ vì người ta phải nghiêm chỉnh
tính đến ý nghĩa mà từ ngữ nhận lấy trong những thời kỳ và những nền văn hoá khác
nhau. Dù sao, lịch sử tư tưởng cho thấy rằng, qua hàng loạt các nền văn hoá và sự phát
triển của chúng, một số khái niệm cơ bản vẫn giữ được giá trị tri thức luận phổ quát của
chúng và do đó, chân lý của những mệnh đề trong đó chúng được diễn tả.(113) Chẳng
vậy, triết học và các ngành khoa học sẽ không thể liên lạc với nhau cũng như không thể
tìm được một chỗ trong những nền văn hoá khác với nền văn hoá đã cưu mang và phát
triển chúng. Vậy vấn đề giải thích học là có thật, nhưng không phải là không thể giải
quyết. Ngoài ra, giá trị khách quan của nhiều khái niệm không ngăn cản ý nghĩa chúng
đôi khi vẫn khiếm khuyết. Đây là chỗ mà suy tư triết học có thể rất hữu ích. Vậy chúng
ta có thể hy vọng rằng triết học sẽ đặc biệt quan tâm đào sâu sự hiểu biết về mối tương
quan giữa ngôn ngữ lý niệm và chân lý, và đề ra những cách thức diễn tả một sự hiểu
biết đúng đắn về mối liên hệ đó.
97. Giải thích các nguồn là một nhiệm vụ quan trọng của thần học, nhưng hiểu
chân lý mặc khải hay xây dựng việc lĩnh ngộ đức tin (intellectus fidei) là một nhiệm vụ
khác còn tế nhị và đòi hỏi hơn. Như tôi đã nói, lĩnh ngộ đức tin đòi hỏi sự đóng góp của
một nền triết học về hữu thể, trước hết là để giúp cho thần học tín lý thi hành các chức
năng mình một cách thích hợp. Chủ trương thực dụng tín lý hồi đầu thế kỷ đã coi các
chân lý đức tin chỉ là những qui tắc hạnh kiểm không hơn không kém, chủ trương đó đã
bị phi bác và loại bỏ ;(114) nhưng vẫn luôn luôn tồn tại cơn cám dỗ hiểu các chân lý
này theo nghĩa thuần tuý chức năng. Điều đó chỉ đưa tới một cách tiếp cận không thích
đáng, giản lược và hời hợt trên bình diện suy luận. Một nền Kitô học chẳng hạn, nếu chỉ
xuất phát “từ dưới lên” như người ta nói hiện nay, hay một giáo hội học chỉ được soạn
thảo theo mẫu mực xã hội dân sự mà thôi, sẽ khó lòng tránh khỏi loại giản lược này.
Nếu việc lãnh hội đức tin 7 * muốn sát nhập tất cả sự phong phú của truyền
thống thì phải quay về với triết học hữu thể. Hữu thể học phải có khả năng lấy lại vấn
đề hữu thể phù hợp với những đòi hỏi và những đóng góp của tiến bộ truyền thống
triết học, kể cả triết học thời gần đây, mà không bị rơi vào việc lặp lại cách vô bổ
những công thức lỗi thời. Trong khuôn khổ của truyền thống siêu hình học Kitô giáo,
hữu thể học là một môn triết học năng động, nó nhìn thực tại trong cơ cấu hữu thể luận,
nhân quả và cởi mở của nó. Nó mạnh mẽ và bền vững vì được đặt cơ sở trên chính sự
hiện hữu của hữu thể 8 * , nhờ đó mà có được một độ cởi mở đầy đủ và ao quát đối với
thực tại toàn diện, bằng cách vượt qua mọi giới hạn để đạt tới Đấng đưa mọi sự tới chỗ
hoàn thành. (195) Trong thần học, là môn lấy các nguyên lý từ Mặc Khải như một
nguồn nhận thức mới, viễn tượng này được xác nhận bởi mối liên hệ mật thiết giữa đức
tin và lý luận siêu hình.
98. Nhưng suy luận này cũng áp dụng cho thần học luân lý. Cũng cấp bách
phải trở lại với triết học trong lãnh vực mà việc hiểu biết đức tin gắn liền với đời sống
luân lý của các tín hữu. Đứng trước những thách đố hiện tại trong các phạm vi xã hội,
kinh tế, chính trị và khoa học, lương tâm của con người bị lạc hướng. Trong thông điệp
Chân lý rạng ngời, tôi đã viết rằng nhiều vấn đề của thế giới hiện nay phát sinh từ một
cuộc khủng hoảng về chân lý. Tôi lưu ý rằng “một khi đã mất ý tưởng về một chân lý
phổ quát liên quan tới sự thiện mà lý trí con người có thể biết được, thì ý niệm lương
tâm cũng thay đổi không thể tránh. Lương tâm không còn được nhìn trong thực tại
nguyên khởi của nó như một hành vi của trí khôn con người, có phận sự áp dụng nhận
thức phổ quát về sự thiện vào hoàn cảnh cụ thể và như vậy là đưa ra một phán đoán về
cách cư xử đúng phải lựa chọn ở đây và lúc này. Thay vào đó, người ta có khuynh
hướng ban cho lương tâm cá nhân đặc quyền xác định cách độc lập các tiêu chuẩn về
thiện ác và theo đó mà hành động. Lối nhìn đó gắn liền cách hoàn toàn tự nhiên với nền
đạo đức cá nhân chủ nghĩa, trong đó mỗi người đối diện với chân lý của riêng mình,
khác với chân lý của người khác”. (116)
Trong toàn bức Thông điệp, tôi đã nhấn mạnh cách rõ ràng đến vai trò căn bản
của chân lý trong lãnh vực luân lý. Trong trường hợp những vấn đề luân lý cấp bách
hơn, chân lý này đòi hỏi nơi thần học luân lý một suy tư chu đáo, bén rễ rõ ràng trong
lời của Chúa, không mập mờ. Để chu toàn sứ mạng của mình, thần học luân lý phải
quay về với một nền đạo đức học triết lý, biết chú ý tới chân lý của điều thiện, tức là
một nền đạo đức học không duy chủ thể cũng chẳng duy lợi. Một nền đạo đức như thế
bao hàm và giả định một khoa nhân học triết lý và một nền siêu hình học về sự thiện.
Dựa trên cái nhìn thống nhất đó và nối kết tất yếu vào sự thánh thiện Kitô giáo cũng
như việc thực hành các nhân đức nhân bản và siêu nhiên, thần học luân lý sẽ có khả
năng đề cập tới những vấn đề khác nhau thuộc thẩm quyền mình, như hoà bình, công
bằng xã hội, gia đình, bảo vệ sự sống và môi trường thiên nhiên, một cách thích hợp và
hữu hiệu hơn.
* Inrtellectus fidei : được dịch theo bốn cách trong bản dịch này, là : hiểu biết đức tin,
am hiểu đức in, lĩnh ngộ đức tin và lãnh hội đức tin (chú thích của người dịch)
* the very act of being, l’acte même de l’être, rất khó dịch. Có người dịch là chính hiện
thể của hữu thể hoặc chính hành động , hành vi của hữu thể .Mà động tác cốt yếu của
hữu thể là hiện hữu (hiểu như một động từ), nên chúng tôi chọn theo cách hiểu này. (chủ
thich của người dịch)
99. Công tác thần học trong Giáo Hội trước hết là để phục vụ việc rao giảng
đức tin và giáo lý. (117) Việc rao giảng hay loan báo là lời mời gọi hoán cải, công bố
chân lý của Đức Kitô mà chóp đỉnh là Mầu nhiệm Vượt qua của Người : Vì chỉ trong
Đức Kitô mới có thể biết được chân lý sung mãn mang lại ơn cứu độ (x. Cv 4,12; 1Tm
2,4-6).
Về mặt này, người ta hiểu rõ tại sao, bên cạnh thần học, việc nhắc tới huấn
giáo cũng quan trọng, bởi lẽ huấn giáo có những hệ lụy triết học nên cần phải đào sâu
dưới ánh sáng đức tin. Việc giảng dạy thực hiện trong huấn giáo góp phần đào tạo con
người. Là một lối truyền thông bằng ngôn ngữ, huấn giáo phải trình bày đạo lý toàn vẹn
của Giáo Hội (118) bằng cách nêu rõ mối liên hệ của nó với đời sống người tín hữu.
(119) Kết quả là giữa giảng huấn và cuộc sống, một mối dây đặc biệt được thiết lập mà
người ta sẽ không đạt được bằng cách nào khác, bởi vì điều truyền đạt trong huấn giáo
không phải là một khối lượng những chân lý trừu tượng nhưng là mầu nhiệm Thiên
Chúa hằng sống.(120)
Suy tư triết học có thể góp phần lớn làm sáng tỏ quan hệ giữa chân lý và đời
sống, giữa biến cố và chân lý của học thuyết, và nhất là giữa chân lý siêu việt và ngôn
ngữ loài người có thể hiểu được (121). Điều đó bao hàm một mối hỗ tương giữa các
môn thần học và những kết quả đạt được bởi những trào lưu triết học khác nhau ; và
một mối hỗ tương như thế có thể chứng tỏ là thực sự phong phú để truyền thông đức tin
và am hiểu đức tin sâu sắc hơn.
KẾT LUẬN
100. Hơn một trăm năm sau khi Đức Giáo hoàng Lê-ô XIII công bố Thông
điệp Aeterni Patris, mà tôi đã nhiều lần nhắc đến trong những trang này, tôi nhận thấy
nhu cầu phải bàn tiếp một cách có hệ thống hơn vấn đề quan hệ giữa đức tin và triết
học. Tầm quan trọng của tư tưởng triết học trong sự phát triển của văn hoá và ảnh
hưởng của nó trên những lối cư xử cá nhân và xã hội là điều hiển nhiên. Ngoài ra, triết
học cũng tạo một ảnh hưởng mạnh mẽ, dù không phải luôn luôn dễ thấy, đối với thần
học và các môn thần học. Vì những lý do trên, tôi cho là chính đáng và cần thiết phải
nhấn mạnh giá trị của triết học đối với việc am hiểu đức tin, cũng như nhấn mạnh đến
những giới hạn triết học phải đương đầu khi sao lãng hoặc loại bỏ chân lý mặc khải.
Giáo Hội vẫn xác tín sâu sắc rằng đức tin và lý trí “giúp đỡ lẫn nhau” ; (122) phía này
ảnh hưởng lên phía kia, phê bình và tinh luyện lẫn nhau, và thúc đẩy nhau tiếp tục tìm
kiếm một sự hiểu biết sâu sắc hơn.
101. Nhìn qua lịch sử tư tưởng, nhất là ở Phương Tây, chúng ta thấy rõ ràng sự
gặp gỡ giữa triết học và thần học cũng như sự trao đổi những thành tựu của đôi bên đã
đóng góp nhiều vào tiến bộ của loài người. Nhờ được phú cho một tính cởi mở và độc
đáo cho phép nó hiện hữu như khoa học về đức tin, thần học chắc chắn đã kích thích lý
trí cởi mở đón nhận tính mới mẻ triệt để hàm chứa trong Mặc Khải của Thiên Chúa. Và
hiển nhiên điều đó đã có lợi cho triết học vì được thấy mở ra những viễn cảnh mới cho
những ý nghĩa xa hơn mà lý trí được mời gọi tiến sâu vào.
Chính là trong ánh sáng của sự suy xét này, và như tôi đã nhắc lại bổn phận của
thần học phải tìm lại mối liên hệ đích thật với triết học, thì đối lại tôi cũng tin chắc cần
phải nhấn mạnh rằng vì lợi ích và sự phát triển của tư tưởng con người, triết học phải
phục hồi quan hệ của mình với thần học. Trong thần học, triết học sẽ tìm thấy, không
phải tư tưởng của một con người đơn độc mà, cho dù có phong phú và sâu sắc đến đâu,
cũng vẫn bị giới hạn bởi cái nhìn của một cá nhân, nhưng gặp được sự phong phú của
một sự suy tư cộng đồng. Quả thật, trong khi tìm kiếm chân lý, thần học được nâng đỡ
do chính bản tính mình, bởi bối cảnh giáo hội của nó (123) và bởi truyền thống của dân
Thiên Chúa nhờ sự hài hoà của nhiều lãnh vực tri thức và văn hoá trong một đức tin duy
nhất .
102. Khi nhấn mạnh tầm quan trọng và những chiều kích đích thực của tư
tưởng triết học, Giáo Hội cổ vũ việc bảo vệ phẩm giá con người một trật với việc loan
báo sứ điệp Tin Mừng . Ngày nay, để hoàn thành những nhiệm vụ này, không có sự
chuẩn bị nào cấp bách hơn là hướng dẫn người ta khám phá ra mình có khả năng biết
chân lý và có khát vọng đạt tới ý nghĩa cuối cùng và dứt khoát của cuộc đời. Trong ánh
sáng những nhu cầu sâu xa này mà Thiên Chúa đã ghi khắc vào bản tính con người, ý
nghĩa nhân bản và nhân bản hoá của Lời Chúa còn xuất hiện rõ ràng hơn. Nhờ một nền
triết học mà cũng là một sự khôn ngoan đích thực làm trung gian, con người ngày nay
sẽ tiến tới chỗ nhìn nhận rằng họ càng phó thác vào Tin Mừng và cởi mở đón nhận Đức
Kitô bao nhiêu, càng trở nên người hơn bấy nhiêu.
103. Đàng khác, triết học là tấm gương phản chiếu văn hoá của một dân tộc.
Một nền triết học đáp ứng thách đố của những yêu sách của thần học và phát triển ăn
khớp với đức tin, là một bộ phận của việc ”Phúc âm hoá nền văn hoá” mà Đức Phaolô
VI đã đề nghị như một trong những mục tiêu căn bản của công cuộc loan báo Tin Mừng
. (125) Không mệt mỏi, tôi đã nhắc lại nhu cầu khẩn thiết phải có một cuộc Phúc âm
hoá mới ; và bây giờ tôi kêu gọi các nhà triết học hãy thăm dò cách toàn diện hơn
những chiều kích của chân thiện mỹ mà Lời Thiên Chúa mở đường cho ta tiếp xúc.
Nhiệm vụ này càng trở nên cấp bách hơn nếu chúng ta lưu ý đến những thách thức mà
thiên niên kỷ mới hình như đang mang theo, và có tác động cách riêng trên những miền
và những nền văn hoá thuộc truyền thống Kitô giáo lâu đời. Mối quan tâm này cũng nên
được coi như một đóng góp căn bản và độc đáo của công cuộc Phúc âm hoá mới.
104, Tư tưởng triết học thường là địa hạt duy nhất cho sự thông cảm và đối
thoại với những người không chia sẻ đức tin của chúng ta. Sự sôi động hiện nay trong
triết học đòi hỏi các triết gia có đức tin một sự dấn thân thận trọng và tinh thông, có thể
nhận ra những chờ đợi, những điểm cởi mở và những chủ đề then chốt của thời buổi
lịch sử này. Suy tư trong ánh sáng của lý trí và phù hợp với những qui tắc của lý trí,
nhưng lại luôn luôn được hướng dẫn bởi một sự hiểu biết sâu sắc hơn do lời Chúa mang
tới, nhà triết học Kitô giáo có thể phát triển một lý luận vừa dễ hiểu vừa hấp dẫn đối với
những ai chưa nắm được chân lý đầy đủ mà Mặc Khải của Thiên Chúa trình bày. Ngày
nay, một địa hạt hiểu biết và đối thoại như thế lại càng quan trọng bởi vì những vấn đề
cấp bách nhất đặt ra cho nhân loại, như môi sinh, hoà bình, và chung sống hoà bình của
những chủng tộc và văn hoá khác nhau chẳng hạn, – có thể tìm được một giải pháp nếu
có một sự cộng tác rõ ràng và thành thật giữa người Kitô hữu và tín đồ các tôn giáo
khác cũng như tất cả những ai, tuy không chia sẻ một niềm tin tôn giáo song tha thiết
với việc canh tân nhân loại. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định như thế: “Niềm ước
mong đối thoại đó chỉ do lòng yêu chân lý hướng dẫn và dĩ nhiên vẫn giữ được sự khôn
ngoan thích hợp ; về phần chúng tôi, niềm ước vọng này không loại trừ một ai : từ
những người đang tôn thờ những giá trị tinh thần nhân bản cao quí mà chưa nhận biết
Đấng Tạo Thành đến những ai chống đối và bách hại Giáo Hội bằng nhiều cách´”. (126)
Một nền triết học trong đó phản chiếu dù là một tia sáng lờ mờ chân lý của Đức Kitô ,-
Người là câu trả lời duy nhất và quyết định cho các vấn đề của loài người , (123) – sẽ là
một chỗ dựa mạnh mẽ cho nền đạo đức đích thực và toàn cầu mà thế giới ngày nay cần
tới.
105. Khi kết thúc Thông điệp này, tâm trí tôi hướng về các nhà thần học cách
riêng để khích lệ họ đặc biệt chú ý tới những liên lụy triết học của Lời Chúa và đừng
quên phản ánh trong công việc của mình tất cả chiều rộng lý thuyết và thực hành của
khoa thần học. Tôi muốn cám ơn họ về công lao của họ phục vụ Giáo Hội. Mối liên hệ
mật thiết giữa sự khôn ngoan thần học và sự khôn ngoan triết học là một trong những
kho tàng đặc biệt nhất của truyền thống Kitô giáo trong việc đào sâu chân lý mặc khải.
Vì thế tôi khuyến khích họ tìm lại và diễn tả đầy đủ chiều kích siêu hình của chân lý hầu
đi vào một cuộc đối thoại có phê phán và đòi hỏi với tư tưởng triết học hiện đại và với
truyền thống triết học trong mọi khía cạnh của nó, bất kể là phù hợp hay không phù
hợp với lời Thiên Chúa . Chớ gì các nhà thần học luôn luôn nhớ lời của vị thầy vĩ đại
về tư tưởng và linh đạo là thánh Bonaventura, khi dẫn độc giả vào tác phẩm Itinerarium
mentis in Deum ( Hành trình của tâm trí vào Thiên Chúa ), ngài mời gọi họ “đừng nghĩ
rằng chỉ cần đọc mà không sám hối, suy tư mà không mộ mến, nghiên cứu mà không
thán phục, khôn ngoan mà không mừng vui, hoạt động mà không đạo đức, tri thức
không bác ái, hiểu biết không khiêm nhường, học hỏi không có ân sủng nâng đỡ, tư duy
tách lìa sự khôn ngoan do Thiên Chúa tác động”. (128)
Tôi cũng nghĩ tới những người đảm trách việc đào tạo linh mục, về mặt học vấn
cũng như mục vụ. Tôi khuyến khích họ để ý cách đặc biệt tới việc huấn luyện triết học
cho những ai sẽ phải loan báo Tin Mừng cho con người thời nay và, còn hơn nữa, cho
những người sẽ chuyên lo công việc nghiên cứu và giảng dạy thần học. Họ phải nỗ lực
hết sức làm nhiệm vụ mình theo các chỉ dẫn của Công đồng chung Vaticanô II ( 129) và
những luật lệ tiếp theo, nói rõ về bổn phận cấp bách và bó buộc của mọi người phải góp
phần vào việc truyền thông các chân lý đức tin cách chân chính và sâu sắc. Lo liệu cho
những ai phải dạy triết học trong các chủng viện cũng như trong các phân khoa của
Giáo Hội được đào tạo thích hợp , đó là một trách nhiệm nặng nề không được sao lãng.
(130) Việc giảng dạy trong lãnh vực này đòi hỏi phải được chuẩn bị phù hợp về mặt
chuyên môn, phải trình bày một cách có hệ thống di sản lớn lao của truyền thống Kitô
giáo và biết biện phân trước những nhu cầu hiện nay của Giáo Hội và thế giới.
106. Tôi cũng xin mời gọi các triết gia và tất cả các giáo sư triết học hãy có can
đảm tìm lại trong dòng lưu thông của một truyền thống triết học mãi mãi có giá trị,
những phẩm chất khôn ngoan và chân lý đích thực, kể cả chân lý siêu hình, là đặc trưng
của tư tưởng triết học. Chớ gì họ biết cởi mở trước những câu hỏi thôi thúc phát sinh từ
Lời Chúa và đủ mạnh mẽ để xây dựng tư tưởng và lập luận của mình đáp lại sự thách
thức ấy. Xin họ hãy luôn luôn nỗ lực tìm kiếm chân lý, nhanh nhẹn với điều thiện chứa
đựng trong chân lý. Như thế họ sẽ có thể đưa ra nền đạo đức chân chính mà nhân loại
đang cần đến một cách khẩn thiết vào thời đặc biệt hiện nay. Giáo Hội theo dõi công
việc của các triết gia với mối quan tâm và trân trọng, vì thế xin họ cứ yên tâm, Giáo Hội
tôn trọng tính tự lập chính đáng của ngành chuyên môn của họ. Tôi muốn khuyến khích
cách riêng những tín hữu hoạt động trong lãnh vực triết học hãy soi sáng các lãnh vực
khác nhau của con người bằng cách sử dụng một lý trí nhờ được nâng đỡ bởi đức tin mà
nên sắc sảo và vững chắc hơn.
Cuối cùng, tôi không thể quên ngỏ lời với các nhà khoa học, những người dùng
các công trình nghiên cứu của mình mang lại cho chúng ta một tri thức ngày càng gia
tăng về vũ trụ xét như toàn thể, và về các thành phần cấu tạo thật đa dạng và phong phú
lạ lùng của vũ trụ,- vũ trụ có sự sống và không có sự sống -.với những cơ cấu nguyên
tử và phân tử phức tạp của chúng. Khoa học đã tiến những bước thật dài, nhất là trong
thế kỷ này, những thành công của nó không bao giờ hết làm cho ta kinh ngạc. Trong
khi bày tỏ lòng thán phục và lời khích lệ của tôi với các nhà tiên phong dũng cảm trong
nghiên cứu khoa học, nhờ họ một phần rất lớn mà nhân loại có được sự phát triển hiện
nay, tôi muốn khuyến khích họ tiếp tục các nỗ lực của mình mà không bao giờ rời bỏ
viễn tượng khôn ngoan, trong đó những thành tựu khoa học và kỹ thuật được liên kết
với các giá trị triết học và đạo đức, là dấu tiêu biểu và không thể xoá nhoà của ngôi vị
con người . Các nhà khoa học ý thức rõ ràng rằng “việc tìm kiếm chân lý, dù liên quan
tới thực tại hữu hạn của thế giới và con người, thì vô tận nhưng luôn luôn qui hướng về
cái gì cao xa hơn đối tượng trực tiếp của sự nghiên cứu, về những câu hỏi dẫn vào
huyền nhiệm”. (131)
107. Đối với mọi người, tôi xin họ hãy có cái nhìn sâu sắc hơn về con người mà
Đức Kitô đã cứu chuộc trong mầu nhiệm tình thương của Người, và về việc con người
không ngừng tìm kiếm chân lý và ý nghĩa. Có những hệ thống triết học dẫn dụ người ta
tin rằng họ là ông chủ tuyệt đối có thể quyết định vận mệnh và tương lai mình một cách
hoàn toàn tự lập, chỉ phải tin cậy vào mình và năng lực của mình . Nhưng đó không bao
giờ có thể là sự cao cả của con người, vì họ chỉ hoàn thành được chính mình khi chọn
lựa đi vào chân lý và đặt nơi ở dưới bóng Đấng Khôn Ngoan và cư ngụ tại đó. Chỉ bên
trong chân trời chân lý này người ta mới hiểu được cách đầy đủ sự tự do và ơn gọi của
mình là biết và yêu mến Thiên Chúa đó là sự thể hiện cao nhất của bản thân họ.
108. Sau hết tôi hướng tâm trí lên người phụ nữ mà lời kinh của Hội Thánh kêu
cầu như là Ngai toà Đấng Khôn Ngoan. Chính cuộc đời của Người là một dụ ngôn đích
thực soi sáng những suy tư của tôi đây. Quả thực, giữa ơn gọi của Đức Trinh Nữ và ơn
gọi của triết học chân chính có một sự hoà hợp sâu sắc. Cũng như Đức Trinh Nữ đã
được gọi dâng hiến hoàn toàn nhân tính và nữ tính mình cho Ngôi Lời Thiên Chúa nhập
thể và đến giữa chúng ta, thì triết học cũng được kêu gọi cống hiến năng lực suy lý và
phê bình của mình để thần học trở thành một sự lãnh ngộ đức tin phong nhiêu và sáng
tạo. Và như khi Đức Maria ưng thuận lời truyền tin của sứ thần Gabriel, nhân tính và tự
do của Mẹ không mất mát gì, cũng vậy, lúc triết học chú ý đến lời mời gọi của chân lý
Phúc Âm, quyền tự lập của nó không hề bị suy suyển. Thật thế, chính lúc đó triết học
nhìn thấy tất cả cuộc tìm kiếm của mình vươn đến mức diễn đạt cao nhất . Các vị ân sĩ
thánh thiện của thời cổ đại Kitô giáo đã hiểu rõ chân lý này khi gọi Đức Maria là “chiếc
bàn nơi đức tin ngồi suy tư”. (132) Nơi Mẹ. các ngài nhìn thấy hình ảnh minh bạch của
triết học chân chính và các ngài xác tín cần phải “triết lý trong Đức Maria”
(philosophari in Maria).
Ban hành tại Roma, cạnh đền thờ Thánh Phê-rô,
ngày 14/9/1998, lễ Suy tôn Thánh Giá,
năm 20 triều Giáo Hoàng của tôi.(1)
Ghi chú :
(1) Trong Thông điệp thứ nhất của tôi Redemptor Hominis, tôi viết : “ Chúng ta trở
nên người tham dự vào sứ mệnh của Đức Kitô ngôn sứ, và cũng nhân danh
chính sứ mệnh đó, chúng ta ở cùng Người để phục vụ chân lý của Thiên Chúa
trong Giáo Hội. Trách nhiệm đối với chân lý này cũng có nghĩa là ta phải yêu
mến nó, tìm hiểu nó cho rõ đúng, làm sao cho chân lý đó vừa tầm với chính ta và
với người khác trong toàn sức cứu độ của nó, trong cái huy hoàng, cái sâu sắc và
cả trong cái đơn giản của nó” Số 19 : AAS 71 (1979) , 206.
(2) x. Vaticanô II, HC mục vụ Giáo Hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes,
16
(3) Hc Tín lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, 25
(4) Số 4 : ÂAS 85 (1993) 1136.
(5) HC tín lý về Mặc khải, Dei Verbum , 2.
(6) x. HC tín lý về Đức tin công giáo,Dei Filius III ; DS 3008
(7) -nt- , IV : DS 3015: trích trong HC mục vụ Gaudium et Spes, 59.
(8) HC tín lý Dei Verbum, 2
(9) Tông thư Tertio Millennio Adveniento (10-10-1994), 10; AAS 87 (1995), 11.
(10) Số 4
(11) Số 8
(12) Số 22
(13) x. Hiến chế Dei Verbum, 4.
(14) –nt- 55
(15) Công đồng Vaticanô I, mà câu trích dẫn trên tham chiếu, dạy rằng sự
tuân phuc của đức tin đòi hỏi phải dấn hết trí khôn và ý chí : “vì con người hoàn
toàn lệ thuộc Thiên Chúa như là Đấng Tạo Hoá và là Đức Chúa , và vì lý trí thọ
tạo lệ thuộc hoàn toàn chân lý vô tạo. nên trong đức tin, chúng ta buộc phải bày
tỏ với Thiên Chúa Đấng mặc khẩi sự thần phục trọn vẹn của trí khôn và ý chí”
(HC tín lý Dei Filius, III : DS 3008)
(16) Ca tiếp liên đại lễ Mình Máu Thánh Chúa.
(17) Pensées. 789 (éd L. Brunschvig)
(18) HC mục vụ Gaudium et Spes, 22.
(19) HC tín lý Dei Verbum , 2.
(20) Mở đầu và các số 1, 15 ; PL 158, 223-224, 226, 235
(21) De vera religione XXXIX, 72: CCL 332- 234.
(22) “Ut te semper desssiderando quaererent et inveniendo quiescarent
Missale Remanum”
(23) Aristotle, Metaphysics I, I
(24) Confessions, X, 23, 33 CCL 27. 173
(25) Số 34 ; AAS 85 (1993), 1161
(26) x. John Paul II, Tông thư Savifici Dolorí (11-2-1984), 9: AAS 76 (1984).
209-210.
(27) x. Vaticanô II, Tuyên ngôn về Quan hệ của Giáo Hội với các tôn giáo
ngoài Kitô giáo , Nostra Aetate. 2.
(28) Đây là đề tài tôi đã theo đuổi và đề cập trong nhiều dịp : “Con người là
gì và con người để làm gì ? Cái gì tốt nơi nó và cái gì xấu ? (Sir 18: 8)… Đó là
những câu hỏi nằm trong lòng mỗi người , như tài năng, thi ca của mọi thời và
mọi dân tộc đã cho thấy, khi đật đi đặt lại – gần như là tiếng nói tiên tri của nhân
loại – câu hỏi nghiêm trọng làm cho con người thực sự là người . Đó là những
câu hỏi diễn tả sự khẩn thiết phải tìm một lý do cho cuộc sống vào mọi lúc, vào
những thời điểm quan trọng nhất và quyết định nhất cũng như vào những lúc
bình thường hơn, Các câu hỏi ấy chứng tỏ tính hợp lysâu xa của đời người , bởi
lẽ chúng thôi thúc trí khôn và ý chí con người tìm kiếm cách tự do một câu giải
đáp khả dĩ nêu rõ ý nghĩa của cuộc sống. Vậy những cuộc tìm kiếm ấy là biểu
hiệu cao nhất cho bản tính con người : Do đó câu trả lời là thước đo chiều sâu
của sự dấn thân của con người cho đời sống mình. Cách riêng, khi việc tím hiểu
lý do (tồn tại) của sự vật ăn khớp hoàn toàn với việc tìm kiếm câu trả lời tối hậu,
lúc bấy giờ lý trí con người đạt tới đỉnh điểm và mở ra cho sự thôi thúc tôn giáo.
Sự thôi thúc này là biểu hiệu cao nhất của con người, bởi vì nó là chóp đỉnh của
bản tính lý tính của họ. Nó phát xuất từ khát vọng sâu xa của con người vê chân
lý và là nền tảng của việc con người tìm kiếm thần linh cách tự do và riêng tư ”
(John-Paul II, Diễn văn đọc tại Viện Khoa học Toà Thánh (10-11-1979) :
Insegnamenti, II, 2 (1979) , 1111-1112.
(29) [ Galilêô ] đã tuyên bố rõ ràng rằng hai chân lý của đức tin và của khoa
học không bao giờ có thể mâu thuẫn nhau. “Kinh Thánh và thế giới tự nhiên đều
phát xuất từ Lời Thiên Chúa. Kinh Thánh thì như được Chúa Thánh Thần đọc
cho viết, còn thiên nhiên như thi hành các mệnh lệnh của Thiên Chúa cách thật
trung thành. đã viết như vậy trong thư gởi cha Benedetto Castelli ngày 21-12-
1613. Công đồng chung Vaticanô II cũng không nói khác hơn, thậm chí sử dụng
cùng một ngôn ngữ giống như thé : “Việc khảo sát có phương pháp trong mọi
ngành, nếu tiến hành một cách khoa học thực sự và theo các tiêu chuẩn luân lý,
sẽ không bao giờ thực sự trái nghịch với đức tin , vì các thực tại trần thế và các
thực tại đức tin đều do bởi Thiên Chúa mà ra” (HC mục vụ Gaudium et Spes,
36). Galilêô cảm thấy trong nghiên cứu khoa học của mình sự hiện diện của
Đấng Tạo Hoá : Người thúc đẩy ông , báo trước và nâng đỡ các trực giác của
ông bằng cách tác động tận đáy trí khôn ông”: Gioan-Phaolô II, Diễn từ cho
Viện Khoa học Toà Thánh (10-10-1979); Insegnamenti, II, 2 (1979), 1111-1112.
(30) x, HC tín lý Dei Verbum, 4
(31) Origen, Contra Celsum, 3, 53, SC 136, 130
(32) Dialogue with Trypho, 8. 1: PG 6, 492
(33) Stromata, I, 18, 90,1 : SG 30, 115.
(34) x. –nt-, I,16,5 : SC 30, 108
(35) x. nt- I, 5. 28,1 : SC 30,65
(36) x. nt- VI, 7, 55, 1-2 : PG 9,277
(37) nt- II,20, 100 : SC 30,124
(38) Saint Augustine, Confessions, VI, 5, 7: CCL 27,77-78
(39) x. –nt- VII, 9, 13-14: CCL 27,101-102
(40) De Praescriptione Haereticorum, VII, 9: SC 46,90 : “Có gì chung giữa
Athen và Giêrusalem ? Giữa Hàn Lâm Viện và Hội Thánh ?
(41) Bộ giáo dục công giáo, Huấn thị về việc học các Giáo phụ trong đào tạo
linh mục (10-11-1989), 25 : AAS 82 (1990) 617-618
(42) Saint Anselm roslogion, I : PL 158,226
(43) – – Monologion, 64 : PL 158,210
(44) x. Summa contra Gentiles, I, 7
(45) x. Summa Theologiae, I, l ad 2 : “Vì ân sủng không xóa bỏ tự nhiên
nhưng kiện toàn nó”.
(46) x. John Paul II, Address to the Participants at the IX International
Thomistic Congress (29-9-2990) ; Insegnamenti, XIII , 2 (199)), 770-771.
(47) Tông thư Lumen Ecclesiae (20-11-1974), 8 : AAS 66, (1974), 680.
(48) x. I, 1, 6 : “ Praeterea, haec doctrina per studium acquiritur. Sapientia
autem per infudionem habitur, unde inter septem dona Spiritus Sancti
Connimeratur” (Ngoài ra, giáo thuyết này có được nhờ học tập, còn sự khôn
ngoan thì nhờ ân ban [ thông ban] mà có, bởi thế nó được kể vào số bảy ơn Chúa
Thánh Thần).
(49) –nt- II –II , 45, 1 ad 2; x, II –II, 45,2
(50) –nt- II –II, 109, 1 ad 1. Chỗ này lấy lại câu nổi tiếng của Ambrosiaster,
In prima Cr 12,3 : Pl 17,258.
(51) Lê ô XIII, TĐ Aeterni Patris (4-8-1879) ; AAS 11 (1878-1879), trang
109.
(52) Paul VI, Tông thư Lumen Ecclesiae (20-11-1974), số 8 : AAS 66 (1974),
tr. 683
(53) TĐ Redemptor Hominis (4-3-1979), 15 : ASS 71 (1979), 286.
(54) x. Piô XII, TĐ Humani Generis (12-8-1950) AAS 42 (1950) , 566
(55) x. Vaticanô I : HC Tín lý Pastor Aeternus : DS 3070: Vaticanô II, HC tín
lý Lumen Gentium, 256.
(56) x. Synod of Constantinople ; DS 403
(57) x. Công đồng Toledo I; DS 205; Công đồng Borgia I, DS 4459-460;
Sixtus V, Sắc chỉ Coeli et Terrae Creator (3-1-1586); Bullarium Romanum 44,
Roma 1747, 176-179; Urban VIII, Inscrutabilis Juduciorium (1-4-1631);
Bullarium Romanum 61, Rome 1, 758, 268-270.
(58) x. Công đồng chung Vienne, Sắc lệnh Fidei Catholicae, DS 902; Công
đồng chung Lateran II, Sắc chỉ Apostoli Regiminis, DS 1440.
(59) x. Theses a Ludovico Eugenio Bautain jussu sui Episcopi subscriptae (8-
9-1840); DS 2751-2756; Theses a Ludovico Eugenio Bautain, ex mandate
Sacrae Congregatione Epicoporum Subscriptae (26-4-1848), DS 2765-2767.
(60) x. S. Congr. Indicis, Sắc lệnh Theses contra Traditionalismum Augustini
Bonnetty (11-6-1855); DS 2811-2814.
(61) x. Piô IX, Đoản sắc Eximiam Truam (15-6-1853), DS 2828-2831; Đoản
sắc Gravissimas Inter (11-12-1862) ; DS 2850-2861.
(62) Sacred Congregation of the Holy Office (Bộ Thánh Vụ); Sắc lệnh
Errrores ontologistarum (18-9-1861); DS 2841-2847.
(63) x. Vaticanô I, HC tín lý Dei Filius II, DS 3004 và Canon 2,1 : DS 3026.
(64) x. –nt- IV, DS 3015 trích dẫn trong Gaudium et Spes, 59.
(65) Vaticanô I, HC tín lý Dei Filius, III; DS 8017.
(66) TĐ Pascendi Dominici Gregis (8-12-1907) : AAS 40 (1907), 598-597
(67) x .Piô XI, TĐ Divini Redemptoris (19-8-1937); AAS 29 (1937), 65-105.
(68) TĐ Humani Generis (12-8-1950) : AAS 42 (1950), 562-563.
(69) –nt- loc. cit. , 563-564.
(70) x. Gioan-Phaolô II, Tông hiến Pastor Bonus (28-6-1988), art. 48-49;
AAS 80 (1988), 872; Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị về ơn gọi của nhà thần học
trong Giáo Hội Donum Veritatis (24-5-1990), 18 ; AAS 82 (1980) , 1558.
(71) Huấn thị về một số khía cạnh của Thần học Giải phóng Libertatis
Nuntius (6-8-1984), VII – X ; AAS 76 (1884), 890-903.
(72) Với những lời lẽ rõ ràng và được diễn tả ra với uy quyền, Công đồng
Vaticanô I đã lên án sai lầm này, khẳng định một mặt rằng “liên quan tới đức
tin… Hội Thánh công giáo tuyên xưng : đó là một nhân đức siêu nhiên nhờ đó,
dưới sự soi sáng của Thiên Chúa và với ơn thánh trợ giúp, chúng ta tin là thật
những điều do Thiên Chúa mặc khải, không phải vì chân lý nội tại của những
điều được ánh sáng tự nhiên của lý trí nhận ra, nhưng vì uy quyền của chính
Thiên Chúa , Đấng mặc khải chúng và không thể lừa dối chúng tôi hoặc bị lừa
dối [ sai lầm] : HC Dei Filius, III, DS 3008, và Canon 3,2: DS 3032. Mặt khác,
Công đồng tuyên bố rằng lý trí không bao giờ “có thể thấu hiểu [những mầu
nhiệm này] như nó thấu hiểu những chân lý là đối tượng riêng của nó”. -nt- ,
IV, DS 3016. Rồi Công đồng rút ra kết luận thực tiễn : “Người Kitô hữu không
những không có quyền bênh vực những ý kiến nghịch với giáo lý đức tin, coi đó
như những kết luận khoa học chính đáng, nhất là khi các ý kiến đó bị Giáo Hội
lên án, mà họ còn bị buộc nhặt phải coi chúng là những sai lầm , tuy bề ngoài có
vẻ là sự thật” –nt- , IV; DS 3018.
(73) x. các số 9-10.
(74) –nt-, 10.
(75) –nt – 21
(76) nt – 10
(77) x. TĐ Humani Generis (12-8-1950) ; AAS 42 (1950). 5 65-567; 571-
573.
(78) x. TĐ Aeterni Patris (4-8-1879): ÂAS 11 (1878-1879), 97-115.
(79) –nt- loc. cit., 109.
(80) x. các số 14-15.
(81) x. nt- , 20-21.
(82) x. nt- 22, x, Gioan-Phaolô II, TĐ Redemptor Hominis (4-3-1979), 8 ;
AAS 7 (1979), 271-172.
(83) Sắc lệnh về Đào tạo Linh mục Optatam Totius,15.
(84) x. Tông hiến Sapientia Christiana (15.4.1979), art. 79-80 : AAS 71
(1979), 495-496 ; Tông huấn Pastores Dabo Vobis (25-3-1992), 52 : AAS 84
(1992), 750-751; x, một số nhận định về triết học thánh Tôma : Diễn văn cho
Đại học Angelicum (17.11.1979). Insegnamenti II, 2 ( 1979). 1177-1189; Diễn
văn cho Đại học quốc tế của Hiệp hội Thánh Tôma về Học thuyết về Linh hồn
nơi Thánh Toma (4-1-1986) : Insegnamenti IX, 1 91986), 18-224. Và Bộ Giáo
dục Công giáo, Qui chế căn bản Institurionis Sacerdotalis (6-1-1970), 70-75 :
ÂAS 62 (1970) 366-368 ; Sắc lệnh Sacra Theologica (20-1-1972) ; AAS 64
(1972), 583-586.
(85) x. Gaudium et Spes. 57 ; 62
(86) x. nt , 44
(87) x. Công đồng chung Lateran V, Sắc chỉ Apostolici Regimini Sollicitudo,
Session VIII : Conciliorum Decumenicorum Decrata, 1991, 605-606.
(88) x. Hiến chế tín lý Dei Verbum, 10.
(89) Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II – II, 5, 3 ad 2..
(90) Việc tìm kiếm những điều kiện trong đó con người tự mình nâng lên
những câu hỏi căn bản đầu tiên về ý nghĩa cuộc đời, về mục đich mà họ muốn
nhắm cho nó và về điều chờ đợi họ sau khi chết, đó là phần mở đầu cần thiết
cho thần học căn bản, để cho cả hiện nay nữa,đức tin có thể chỉ dường đầy đủ
cho lý trí tìm kiếm chân lý một cách chân thành “ : Gioan_Phaolô II, Thư gởi
Đại học quốc tế về Thần học căn bản, nhân dịp kỷ niện 125 năm Hiến chế “Dei
Filius” (30-9-1995), 4 : Báo Osservatore Romanusm 3-10-1995, 8.
(91) –nt-
(92) x. Gaudium et Spes, Sắc lệnh Truyền giáo Ad Gentes. 22
(93) Thánh Tô-ma Aquinô, De Coelo, 1, 22
(94) Gaudium et Spes, 53-50.
(95) Thánh Au-tinh, De Praedestinatione Sanctorum, 2,5 : PL 44, 963.
(96) -nt – , De Fide, Spe et Caritate, 6 : CCL 64, 61.
(97) x. Công đồng chung Chalcedon, Symbolum Definitio : DS 302
(98) TĐ Redemptor Hominis (4-3-1979), 15 : AAS 71 (1979), 281-189.
(99) x. chẳng hạn Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I, 16, 1 ; Thánh
Bonaventura, Coll. In Hex. 3, 8,1.
(100) Hiến chế Gaudium et Spes, 15.
(101) x. Gioan-Phaolô II, TĐ Veritatis Splendor (6-8-1993), 57-61: AAS 85,
(1993), 179-1182.
(102) x. Hiến chế Dei Filius, IV : DS 2016.
(103) x. Công đồng chung Lateran IV, De Errore Abbatis Joachim, II : DS
806.
(104) x. Hiến chế tín lý Dei Verbum. 24; Sắc lệnh Đào tạo linh mục Optatam
Totius, 16.
(105) Gioan –Phaolô II, TĐ Evangelium vitae (25-3-1995), 69 ; AAS 87
(1995), 481.
(106) “ Cùng trong nghĩa đó tôi đã bình luận trong Thông điệp đầu tiên của tôi
về câu trong Phúc âm theo thánh Gioan : “Anh em sẽ biết chân lý và chân lý sẽ
giải phóng anh em “ (8 : 32) : “ Những lời này chứa đựng một đòi hỏi và một
cảnh cáo căn bản : đòi hỏi một mối liên hệ ngay thẳng với chân lý như là điều
kiện cho tự do chân chính, và cảnh cáo để tránh mọi thứ tự do giả dối, một thứ
tự do độc chiều hời hợt, mọi thứ tự do không đi vào trong sự thật toàn vẹn về
con người và thế giới. Ngày nay cũng vậy, ngay cả sau hai ngàn năm, chúng ta
thấy Đức Kitô, như là Đấng mang tới cho con người sự tự do đặt trên cơ sở chân
lý, giải phóng con người khỏi những gì giới hạn ,giảm thiểu và có thể nói phâ
huỷ sự tự do đó tận gốc rễ, trong tâm hồn con người , trái tim và lương tâm con
người “ : TĐ Redemptor Hominis (4-3-1989), 12 : AAS 71 (1979), 280-281.
(107) Diễn văn tại lễ khai mạc Công đồng (11-11-1962) : AAS 54 (1962), 792.
(108) Bộ Giáo lý đức tin, Huấn thị về Ơn gọi nhà thần học trong Giáo Hội
Donum Vitae (24-5-1900), 7-8 : AAS 82 (1900), 1551-1553.
(109) Trong Thông điệp Dominum et Vivificantem, khi giải thích Gioan 16 :
12,13, tôi viết : “Đức Giêsu giới thiệu Đấng Bảo Trợ, Thần khí sự thật như là
Đấng ‘sẽ dạy’ và ‘làm cho nhớ lại’, là Đấng ‘sẽ làm chứng’ cho Ngài. Bây giờ
Đức Giêsu nói : “Người sẽ đưa anh em vào tất cả sự thật”. Việc ‘đưa vào tất cả
sự thật’ này qui chiếu về điều mà các Tông đồ “không thể chịu nổi bây giờ”,
cũng gắn liền một cách cần thiết với việc Đức Kitô tự ‘dốc sạch mình ‘ qua cuộc
khổ nạn và cái chết trên thập giá sắp xảy tới khi Ngài nói những lời này. Nhưng
về sau ta thấy rõ rằng việc ‘đưa vào tất cả sự thật’ được nối liền không phải chỉ
với gương mù thập giá, mà còn với tất cả những gì Đức Kitô “lâm và giảng
dạy” (Cv 1 : 1). Vì mầu nhiệm Đức Kitô nhìn trong toàn bộ đòi hỏi đức tin, bởi
lẽ chính đức tin dẫn đưa con người cách đầy đủ vào trong thực tại của mầu
nhiệm được mặc khải. Vậy việc ‘đưa vào tất cả sự thật’ được kiện toàn trong
lòng tin và nhờ lòng tin: và đó là công việc của Thánh Thần chân lý và là kết quả
của hành độn của Người trong con người . Ở đây Chúa Thánh Thần phải là vị
hướng dẫn tối cao của con người và là ánh sáng cho trí khôn con người “: số 6,
AAS 78 (1986), 815-826.
(110) x. Vaticanô II, Hc Dei Verbum, 13
(111) x, Uỷ ban Giáo hoàng về Kinh Thánh, Huấn thị về Chân lý lịch sử của
các sách Tin Mừng (21-4-1964) : AAS 56 (1964)m 713.
(112) Rõ ràng là Giáo Hội không thể bị buộc vào bất cứ hệ thống triết học
chóng qua nào. Tuy nhiên, những ý niệm và từ ngữ đã được phát triển qua nỗ
lực chung bởi các bậc thầy Công giáo trong dòng lịch sử để đưa tới một sự hiểu
biết nào đó về tín điều , chắc chắn không được đặt trên một nền tảng yếu ớt như
thế. Chúng đặt trên những nguyên lý và ý niệm diễn dịch từ một nhận thức đúng
về các thực tại hữu hạn. Qua quá trình diễn dịch , nhận thức này , giống như một
ngôi sao, đã soi chiếu tâm trí con người qua trung gian Giáo Hội. Do đó không
có gì đáng ngạc nhiên khi một số trong các ý niệm ấy đã không được các công
đồng sử dụng, nhưng được chấp nhận đến mức không được phép xa lìa chúng” :
TĐ Humani Generis (12-8-1950); AAS 42 (1950, 566-56 7 ; x, Uỷ ban Thần
học quốc tế, Tài liệu Interpretationí Problema (11-1989) : Enchiridion
Vaticanum 11, 712-1811.
(113) “ Về ý nghĩa của các định thức tín lý, nó vẫn mãi mãi là đúng và bền
vững trong Giáo Hội , ngay cả khi được diễn tả cho rõ ràng hơn hoặc được khai
triển thêm. Vậy các tín hữu phải tránh tư tưởng cho rằng các định thức tín lý
(hay một số loại trong đó) không thể biểu thị chân lý một cách xác định , nhưng
chỉ có thể đề nghị những “phỏng định” có thể thay đổi của chân lý mà
thôi,những phỏng định ấy, tới mức nào đó, làm méo mó hoặc thay đổi chân lý”,
Bộ Giáo lý Đức tin, Mysterium Ecclesiae (24-6-1973), 5 : AAS 65 (1973), 403.
(114) x. Bộ Thánh Vụ ; Sắc lệnh Lamentabili (3-7-1907) 26; AAS 40 (1907),
473.
(115) x. Gioan-Phaolô II, Tông hiến Catechesi tradendae (16-11-1979), 30:
AAS 71 (1979), (1302-1303) : Bộ Giáo lý Đức tin , Huấn thị Donum Veritatis
(24-5-990), 7 ; AAS 82 (1990), 1302-1303.
(116) Số 32 : AAS 85 (1997), 159-160.
(117) x, Gioan-Phaolô II, Tông huấn Catechesi tradendae (16-11-1979), 30 :
AAS 71 (1979), 1302-1303 ; Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị Donum Veritatis (24-
5-1990), 7 ; AAS 62 (1990), 1552 –1553.
(118) x. Gioan-Phaolô II, Tông huấn Catechesi tradendae (16-11-1979), 30, :
AAS 71 (1979) 1302-1303.
(119) x. –nt- , 22, loc, cit., 1295-1296
(120) x. nt , 7, loc. cit. , 1282
(121) x. –nt- 59, loc, cit, 1325
(122) Vaticanô I, Hiến chế tín lý Dei Filius, IV; DS 3019
(123) “ Không ai có thể làm cho thần học trở thành chỉ như một tập hợp những
ý tưởng của mình mà thôi, nhưng mọi người phải ý thức mình liên kết mật thiết
với sứ mạng giảng dạy chân lý mà Giáo Hội có trách nhiệm” (TĐ Redemptor
Hominis (4-3-1979), 19: AAS 71 (1979), 308.
(124) x. Vaticanô II, Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo Dignitatis Humanae. 1-3.
(125) x.Phaolô VI, Tông huấn Evangelii nuntiandi (8-12-1975), 20, AAS 68
(1976), 18-19.
(126) Vaticanô II, Huấn thị Gaudium et Spes, 92
(127) x. nt , 10
(128) Prologus, 4, Omnia Opera, Florence, 1891, vol,V, 296.
(129) x. Sắc lệnh Đào tạo Linh mục Optatam Totius, 15.
(130) x. Gioan Phaolô II, Tông Hiến Sapientia Christiana (16-4-1979), art 67-
68 : AAS 71 (1979), 491-492.
(131) Gioan-Phaolô II, Diễn văn nhân dịp kỷ niệm 600 năm Đại học Jagellone,
Krakow (8-6-1997), 4 : L’Osservatore Romano, 9-10/6/1997. 12
(132) “ He noerà tes pisteos trapeza “ Pseudo Epiphanius, Bài giảng kính Đức
Maria Mẹ Thiên Chúa : PG 43, 493
TĐ. Fides et Ratio
Bản dịch của LM Nguyễn Hồng Giáo
Theo bản Anh ngữ : L’Osservatore Romano
English Edition , P.O. Box 777, Baltimore MD 21201
Có tham chiếu bản Pháp ngữ.







