CHƯƠNG I

TIẾNG MÁU EM NGƯƠI TỪ ĐẤT KÊU ĐẾN TA

NHỮNG ĐE DỌA HIỆN NAY CHỐNG LẠI SỰ SỐNG CON NGƯỜI

Căn nguyên của bạo lực chống lại sự sống

“Ca-in xông đến và giết chết Abel em mình” (St 4,8)

7. Thiên Chúa không tạo nên sự chết, cũng chẳng vui vì các sinh vật bị diệt vong; ngài dựng nên muôn vật, cốt cho chúng được tồn tại … Thật vậy, Thiên Chúa tạo dựng con người để nó sống mãi, Ngài dựng con người theo hình ảnh Ngài. Chính bởi ác quỉ ghen tương mà sự chết đã xâm nhập thế gian; những ai thuộc về nó, đều kinh nghiệm đều đó (Kn 1,13-14; 2,23-24).

Tin Mừng về sự sống, được công bố ngay từ nguyên thuỷ với việc tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa nhằm đạt đến một cuộc sống sung mãn và hoàn hảo (xem St 2,7; Kn 9,2-3), đã bị chống đối bởi kinh nghiệm đau thương về sự chết, sự chết ấy đã xâm nhập vào thế gian, và gieo rắc sự tối tăm phi lý trên cuộc sống con người. Sự chết xâm nhập thế gian bởi ác quỉ ghen tương (xem St 3,1.4-5) và bởi ông bà nguyên tổ phạm tội (xem St 2,17; 3,17-19). Sự chết còn xâm nhập thế gian một cách ác liệt, tại vì Ca-in đã giết Abel em mình: “Vừa khi ra tới đồng vắng, Cain xông đến và giết chết Abel em mình” (St 4,8).

Sự giết người đầu tiên này được trình bày cách đặc biệt hùng hồn trong một trang tiêu biểu của sách Sáng Thế, một trang không ngừng được viết lại hằng ngày trong quyển lịch sử của các dân tộc, một cách thường xuyên tệ hại hơn.

Chúng ta cũng hãy đọc lại trang sách Thánh Kinh này, tuy cổ xưa và hết sức bình dị, nhưng đặc biệt phong phú về giáo huấn:

“A-ben làm nghề chăn chiên, còn Ca-in làm nghề cày cấy đất đai. Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên ÐỨC CHÚA. A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. ÐỨC CHÚA đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông, nhưng Ca-in và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. Ca-in giận lắm, sa sầm nét mặt. ÐỨC CHÚA phán với Ca-in: “Tại sao ngươi giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt? Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó.” Ca-in nói với em là A-ben: “Chúng mình ra ngoài đồng đi! ” Và khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến giết A-ben, em mình. ÐỨC CHÚA phán với Ca-in: “A-ben em ngươi đâu rồi? ” Ca-in thưa: “Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?” ÐỨC CHÚA phán: “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta! Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất.” Ca-in thưa với ÐỨC CHÚA: “Hình phạt dành cho con quá nặng không thể mang nổi. Ðây, hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con.” ÐỨC CHÚA phán với ông: “Không đâu! Bất cứ ai giết Ca-in sẽ bị trả thù gấp bảy.” ÐỨC CHÚA ghi dấu trên Ca-in, để bất cứ ai gặp ông khỏi giết ông. Ông Ca-in đi xa khuất mặt ÐỨC CHÚA và ở tại xứ Nốt, về phía đông Ê-đen.” (St 4,2-16).

8. Ca-in “căm giận lắm” và “xịu mặt lại” bởi vì “Thiên Chúa đoái nhận Abel và lễ vật anh dâng” (St 4,4). Bản văn Kinh Thánh không tiết lộ nguyên do vì sao Thiên Chúa quý chuộng hiến lễ của Abel hơn hiến lễ của Ca-in: tuy nhiên bản văn trình bày rõ ràng rằng: trong khi quý chuộng hiến vật của Abel, Thiên Chúa vẫn không cắt đứt cuộc đối thoại với Ca-in. Trong khi nhắc lại cho hắn về sự tự đo trước sự dữ: Ngài khuyến cáo hắn rằng: con người không hề được tiền định để làm điều dữ. Thật vậy, như Ađam xưa kia, Ca-in đã bị quyền lực ác hại của tội lỗi cám dỗ, thứ tội lỗi giống như một con vật hung dữ, ẩn nấp ngay trước cửa lòng anh ta, chờ chực đúng lúc xông vào con mồi. Còn Ca-in thì vẫn tự do trước tội lỗi. Anh ta có thể và phải chế ngự tội lỗi: “Nó thèm muốn người, nhưng ngươi, hãy chế ngự nó!” (St 4,7).

Sự ghen tương và cơn giận dữ đã thắng Ca-in trước lời khuyến cáo của Thiên Chúa, bởi đó cho nên Ca-in xông đến và giết chết em mình. Như chúng ta đọc được điều này trong sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo: “Trong câu chuyện Ca-in giết chết Abel, Kinh Thánh mặc khải ngay từ buổi đầu lịch sử nhân loại là trong con người đã hiện diện cơn giận dữ và lòng tham lam, hậu quả của tội nguyên tổ. Con người trở nên thù địch của kẻ đồng loại”. (10)

Anh giết em. Như trong tội huynh đệ tương tàn đầu tiên này, trong tất cả mọi tội giết nguời, tình thân tộc “thiêng liêng” bị xâm phạm, tình thân tộc liên kết mọi người thành một đại gia đình tất cả cùng chia sẻ một điều thiện hảo duy nhất và căn bản đó là một phẩm giá ngôi vị ngang nhau. Cũng không hiếm trường hợp tình thân tộc “máu mủ” bị xâm phạm một cách tương tự, ví dụ như khi những đe doạ chống lại sự sống phát triển trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái: đó là trường hợp phá thai, hay trong toàn cảnh gia đình hoặc thân tộc rộng lớn hơn, trường hợp hưởng ứng hoặc khuyến khích việc làm cho chết êm dịu.

Ở nguồn gốc của mọi bạo lực chống lại tha nhân, có việc nhượng bộ cái suy luận của Ác thần, tức là của “tên sát nhân từ ban đầu” (Ga 8,44), Như tông đồ Gioan nhắn nhủ chúng ta: “Vì đây là lời loan báo mà anh em đã nghe từ đầu rằng: chúng ta hãy thương yêu nhau, đừng như Ca-in, nó là người của Ác thần, nên đã giết em mình (1 Ga 3,11-12). Như vậy tội giết em ngay từ khởi nguyên lịch sử là một bằng chứng đáng buồn về cách thức mà theo đó sự dữ phát triển nhanh chóng đến mức kinh ngạc: thêm vào sự phản nghịch của con người chống lại Thiên Chúa nơi vườn địa đàng, là cuộc tử chiến của con người chống lại con người.

Sau khi xảy ra tội ác, Thiên Chúa can thiệp để trả thù cho nạn nhân. Đối diện với Thiên Chúa, Đấng hạch hỏi hắn về số phận của Abel, Ca-in, thay vì tỏ ra bối rối và cầu xin ơn tha thứ, lại kiêu căng tránh né vấn đề: “Tôi không biết. Tôi là người bảo vệ em tôi sao?” (St 4,9) – “Tôi không biết”: Ca-in gian dối tìm cách che đậy tội ác. Chính như vậy đó mà điều này đã thường xảy ra và vẫn còn xảy ra khi những lý luận rất khác biệt nhau đang được dùng để biện minh và bao che cho những tội ác ghê tởm nhất vẫn luôn mãi chống lại con người. “Tôi là người bảo vệ em tôi sao?” – Ca-in không màng nghĩ đế em mình và từ chối lãnh nhận trách nhiệm của mọi người về một người. Tức khắc ta nghĩ đến những khuynh hướng hiện tại đang làm cho con người quên mất trách nhiệm của mình đối với đồng loại: ta có rất nhiều triệu chứng, trong số đó là triệu chứng mất tình liên đới đối với những thành phần yếu đuối nhất của xã hội như những người lớn tuổi, bệnh nhân, người tị nạn, trẻ em; tiếp đến là triệu chứng vô cảm mà ta thường nhận thấy trong các mối quan hệ giữa các dân tộc, ngay cả khi liên quan đến những giá trị căn bản như sự sống, tự do và hoà bình.

9. Nhưng Thiên Chúa không thể để cho tội ác không bị trừng phạt: từ mặt đất nơi máu đã đổ ra, máu của nạn nhân kêu nài Thiên Chúa thực thi công lý (x. St 37,26; Is 26,21; Ed 24,7-8). Từ bản văn này, Giáo Hội đã rút ra cách nói: “Tội lỗi kêu nài Thiên Chúa báo thù”, và Giáo Hội bao gồm trong đó trước tất cả, tội cố ý sát nhân (12). Đối với dân Do Thái cũng như đối với nhiều dân tộc thời Thượng Cổ, máu chính là sự sống” (Đnl 12,23) và sự sống, nhất là con người, chỉ thuộc quyền Thiên Chúa; bởi vậy ai xâm phạm đến sự sống con người thì, một cách nào đó, xâm phạm đến chính Thiên Chúa.

Thiên Chúa chúc dữ Ca-in và ngay cả ruộng đất cũng chẳng cho hắn hoa trái (x. St 4,11-12). Và Ca-in bị trừng phạt: hắn đến ở trong đồng hoang và sa mạc. Bạo lực giết nguời thay đổi tận gốc khung cảnh cuộc sống con người. Ruộng đất, trước kia là “Vườn Eden” (St 2,15), nơi phì nhiêu sung túc, nơi gặp gỡ thanh thản và thân tình giữa con người với Thiên Chúa, giờ đây trở nên “Xứ Nod” (St 4,16), chốn “cùng cực”, hoang vắng và xa cách Thiên Chúa. Ca-in sẽ là “kẻ lang thang khắp cùng trái đất” (St 4,14): sự bất ổn, tính thất thường không ngừng đeo đuổi hắn.

Thế nhưng Thiên Chúa, Đấng luôn luôn nhân hậu ngay cả khi Ngài trừng phạt, “đặt một dấu trên Ca-in, để người đầu tiên bắt gặp, không giết hắn” (St 4,15): Thiên Chúa ban cho Ca-in một dấu đặc biệt, không nhằm mục đích đày đoạ cho hắn bị những người khác ruồng rẫy, mà để hắn được bảo vệ và bênh vực khỏi những kẻ muốn giết hắn, dù là để trả thù cho cái chết của Aben. Tuy là tên sát nhân, nhưng Ca-in vẫn giữ phẩm giá cá biệt của mình và chính Thiên Chúa bảo đảm cho phẩm giá đó. Rõ ràng ở đây biểu lộ huyền nhiệm trái nghịch của sự công bằng đầy khoan dung của Thiên Chúa, như thánh Ambrôsiô đã viết: “Vừa khi xảy ra cuộc huynh đệ tương tàn, tức là tội nặng nhất trong các thứ tội, đúng vào lúc mà tội lỗi len lỏi vào, tức khắc giới luật khoan dung của Thiên Chúa được mở rộng: vì rằng, nếu phạm nhân bị trừng trị ngay lập tức, thì loài người, khi họ trừng phạt, cũng sẽ không thể tỏ ra khoan dung nhân hậu, mà họ sẽ thẳng tay trừng trị ngay phạm nhân. (…) Thiên Chúa đuổi Ca-in đi xa khỏi mặt Ngài và, bởi vì hắn bị thân nhân ruồng bỏ, Thiên Chúa đưa hắn đi xa giống như đày hắn vào nơi cách ly, vì lẽ hắn đã để mất sự ôn hoà hiền hậu của loài người mà mặc lấy sự hung dữ tàn bạo của loài thú hoang dã. Dù vậy, Thiên Chúa không muốn trừng phạt tên sát nhân bằng sự sát nhân, bởi vì Ngài muốn tội nhân ăn năn hối lỗi hơn là phải chết” (13).

Thiếu vắng giá trị của sự sống

“Ngươi đã làm gì thế?” (St 4,10)

10. Chúa phán bảo Ca-in: “Người đã làm gì thế? Hãy nghe tiếng máu của em ngươi đã từ đất kêu đến ta” (St 4,10). Tiếng máu do tay con người đổ ra không ngừng kêu than, từ đời nọ sang đời kia, vang lên những cung điệu, những âm sắc khác nhau và luôn luôn mới mẻ.

Câu Chúa hỏi: “Ngươi đã làm gì thế?” mà Ca-in không thể tránh né, cũng là câu Chúa hỏi con người thời nay, để con người ý thức về sự lan rộng và tính nghiêm trọng của mọi xâm phạm đến sự sống đang tiếp tục ghi dấu sâu đậm trên lịch sử loài người. Câu hỏi ấy được gửi tới con người để họ tìm ra vô số nguyên nhân gây nên và nuôi dưỡng những xâm phạm nầy, và để họ suy nghĩ một cách hết sức nghiêm túc về những hậu quả từ đó phát sinh cho sự tồn tại của mọi người và mọi dân tộc.

Một số đe doạ đến từ thiên nhiên, và thường thuờng con người có thể cữu vãn được, nhưng chúng lại trở nên trầm trọng hơn bởi con nguời cố tình chểnh mãng, không lo chạy chữa; có những đe doạ khác, trái lại, đã xảy đến từ những tình trạng bạo động, hận thù hoặc từ những quyền lợi đối nghịch xô đẩy nhóm người này tấn công nhóm người kia, lao mình vào tội giết người, vào chiến tranh, vào các cuộc chém giết hoặc những cuộc diệt chủng.

Và làm sao không kể đến bạo lực chống lại sự sống của hàng triệu sinh linh, nhất là của trẻ em, là nạn nhân của sự bần cùng, thiếu dinh dưỡng và đói khát, nguyên do vì sự phân phối của cải không công bằng giữa các dân tộc và giữa các giai cấp xã hội? Hoặc là, ngay trước khi xuất hiện trong chiến tranh, bạo lực đã gắn liền với việc mua bán các loại vũ khí, tạo thuận lợi cho cuộc leo thang của biết bao xung đột quân sự đẫm máu trên thế giới ? Hay còn nữa, việc truyền bá các mầm mống của sự chết được tác động bởi sự xuống cấp vô tâm của những cân bằng sinh thái, bởi sự bành trướng đầy tội ác của ma tuý hay bởi việc khuyến khích các loại hình sinh hoạt tính dục mà, ngoài việc chúng không thể được chấp nhận về phương diện luân lý, chúng còn cho thấy trước những hiểm hoạ nặng nề đối với sự sống ? Không thể nào kể ra cho hết được một tràng dài những đe doạ chống lại sự sống con người, vì trong thời đại chúng ta những đe doạ ấy được che đậy dưới rất nhiều hình thức, hoặc được công bố rõ ràng hoặc ém nhẹm phỉnh gạt.

11. Nhưng chúng ta, muốn đặc biệt tập trung chú ý về một loại hình thức khác của những việc xâm phạm, liên quan đến sự sống vừa mới nẩy sinh cũng như sự sống vào những giờ phút cuối cùng; những thứ xâm phạm này mang những đặc trưng mới mẻ so với quá khứ và khơi dậy nhiều vấn đề đặc biệt nghiêm trọng: bởi sự việc chúng hướng tới chỗ làm biến mất đi khỏi lương tâm quần chúng tính cách “tội ác” của chúng, và mặc lấy một cách trái nghịch tính cách “quyền lợi”, đến nỗi người ta đòi hỏi từ phía Nhà nước một sự công nhận đích thật, thực chất và hợp pháp và, tiếp theo đó, đòi hỏi được đưa ra thực hiện nhờ vào sự can thiệp không phải trả tiền của chính các nhân viên y tế. Những sự xâm phạm ấy đánh thẳng vào sự sống con người trong những hoàn cảnh hết sức bấp bênh, khi mà sự sống thiếu mọi khả năng tự vệ. Sự việc càng nghiêm trọng hơn nữa khi mà, phần lớn những xâm phạm này được thực hiện ngay bên trong gia đình, nơi mà, trái lại do bởi cơ cấu của nó, được gọi là “cung thánh của sự sống”.

Làm sao người ta có thể đi đến một tình trạng như thế ? Phải để ý đến nhiều yếu tố. Ở hậu trường là sự khủng hoảng sâu sắc của nền văn minh làm nẩy sinh mối hoài nghi đối với chính mình những nền tảng của tri thức và luân lý đạo đức, và ngày càng gây khó khăn đối với cảm nhận rõ ràng ý thức về con người, về những quyền lợi, bổn phận của con người. Thêm vào đó những khó khăn rất khác biệt trong cuộc hiện sinh, trong giao tiếp, được đánh dấu bởi thực tế của một xã hội hỗn tạp trong đó các cá nhân, các cặp vợ chồng, các gia đình thường thường bị đơn độc trước những vấn đề của họ. Cũng có những hoàn cảnh nguy cập vì nghèo khổ, lo âu hay cùng cực trong đó sức cố gắng để sinh tồn đã quá mức, nỗi đau đã vượt sức chịu đựng, trong đó những bạo lực phải chịu, đặc biệt những bạo lực xúc phạm đến phụ nữ, đòi buộc, đôi khi tới mức anh hùng, những sự lựa chọn nhằm bênh vực và thăng tiến sự sống.

Tất cả điều đó cho thấy, ít ra một phần, rằng ngày nay có thể là như đang thiếu vắng giá trị của sự sống, dù rằng lương tâm không ngừng phơi bày sự sống là thánh thiêng và bất khả xâm phạm. Chính từ sự kiện đó, người ta nhận thấy phải cố gắng che giấu một số những xúc phạm đối với sự sống, với sự sống vừa nảy sinh hoặc đối với sự sống ở vào những giây phút cuối cùng, bằng những thuật ngữ vay mượn ở ngữ vựng về sức khỏe nhằm đánh lạc hướng cái nhìn về vấn đề trong cuộc là quyền sinh tồn của một con người cụ thể.

12. Thực ra, nếu nhiều khía cạnh quan trọng của vấn đề xã hội hiện nay có thể giải thích bằng một cách nào đó bầu khí luân lý bất ổn mù mờ và đôi khi giảm nhẹ trách nhiệm cá nhân nơi một số người, thì cũng không kém phần chân thực rằng chúng ta đang đối đầu với một thực tại rộng lớn hơn mà người ta có thể coi như là một cơ cấu thực thụ của tội lỗi, đặc trưng bởi ưu thế của một nền văn hoá trái nghịch với tình liên đới, nền văn hoá này tự biểu lộ trong nhiều trường hợp như một “nền văn hoá thực thụ của sự chết”. Nền văn hoá sự chết này được tích cực khích lệ bởi những trào lưu văn hoá, kinh tế và chính trị mang phần nào quan niệm thực dụng của xã hội.

Nhìn vào các sự việc theo quan điểm trên, ta có thể, bằng một cách nào đó, nói về một cuộc chiến của những kẻ có quyền lực chống lại những kẻ yếu đuối; sự sống đáng lý cần đượcc tiếp đón, yêu thương và chăm sóc, thì bị xem là vô tích sự hoặc bị coi như một gánh nặng không kham nổi, và bởi vậy sự sống bị từ chối bằng nhiều cách. Do đau ốm, tật nguyền hay đơn giản hơn nhiều, do chính sự có mặt của mình, ai mà động chạm đến sự yên thân hay những tập quán sinh sống của những người được ưu đãi hơn, sẽ bị coi như một kẻ thù cần phải đề phòng hoặc phải loại bỏ. Như thế bung ra một “âm mưu chống lại sự sống”. Âm mưu này không chỉ liên quan đến con người trong những mối quan hệ cá nhân, gia đình hoặc đoàn thể mà còn đi xa hơn nữa, đến độ lay chuyển và làm biến dạng, trên bình diện quốc tế, những quan hệ giữa các dân tộc và giữa các chính phủ.

13. Để tiếp tay cho việc thực hiện phá thai được lan rộng hơn, người ta đã đầu tư và tiếp tục đầu tư những số tiền đáng kể nhằm cập nhật việc bào chế các loại thuốc có thể giết chết phôi thai ngay trong bụng mẹ mà không cần phải nhờ đến bác sĩ. Về điểm nầy, chính sự nghiên cứu khoa học xem ra gần như chỉ chuyên tâm sản xuất những dược phẩm mỗi ngày mỗi đơn giản và hữu hiệu hơn chống lại sự sống và, đồng thời, có khả năng tránh cho sự phá thai khỏi mọi hình thức kiểm soát và trách nhiệm xã hội.

Người ta thường xác quyết rằng việc ngừa thai, đã trở nên chắc chắn có kết quả và dễ thực hiện đối với mọi người là phương cách hữu hiệu nhất để khỏi phá thai. Người ta cũng tố cáo Giáo hội Công giáo trong thực tế đang ủng hộ phá thai bởi vì Giáo Hội không ngừng cương quyết truyền dạy tính bất hợp pháp về luân lý của việc ngừa thai. Nhìn kỹ vấn đề, lời tố cáo này thực ra lại đáng quí. Quả thực, có thể rằng nhiều trong số những người sử dụng các phương tiện ngừa thai, cũng có ý tránh chuớc cám dỗ phá thai về sau. Nhưng mà những giá trị trái ngược hiện hữu trong “tầm mức ngừa thai” rất khác biệt với công việc đầy trách nhiệm của tình cha tình mẹ, thực hiện trong sự tôn trọng lẽ phải toàn vẹn của hành vi hôn nhân. Những giá trị trái ngược đó càng làm cho chước cám dỗ phá thai trở nên mãnh liệt, khi phải đối đầu với sự cưu mang ngẫu nhiên một sự sống không được mong ước. Kỳ thực, nền văn hoá thúc đẩy đến việc phá thai đã đặc biệt phát triển trong các giới từ chối giáo huấn của Giáo Hội về việc ngừa thai. Thực vậy, về phương diện luân lý, ngừa thai và phá thai là những điều ác có biệt tính khác nhau: ngừa thai đối kháng với lẽ phải toàn vẹn của hành vi tính dục như cách biểu lộ đặc trưng của tình yêu trong hôn nhân, còn phá thai thì huỷ diệt sự sống của một con người; ngừa thai đối nghịch với nhân đức khiết tịnh trong hôn nhân, phá thai đối nghịch với nhân đức công bằng và vi phạm trực tiếp giới răn của Thiên Chúa: “Chớ giết người”.

Nhưng mà, ngay với bản chất và trách nhiệm luân lý khác biệt này, ngừa thai và phá thai rất thường liên kết chặt chẽ với nhau như những trái của cùng một cây. Thật ra thì cũng có những trường hợp trong đó người ta phảl đi đến ngừa thai và ngay cả phá thai vì sự thúc bách của nhiều khó khăn trong cuộc sống, tuy nhiên những khó khăn nầy không bao giờ có thể châm chước việc tuân giữ trọn vẹn giới luật của Thiên Chúa. Nhưng mà, trong rất nhiều trường hợp khác, việc thực hành ngừa thai và phá thai đang đâm rễ sâu vào tâm lý hưởng thụ khoái lạc và sự vô trách nhiệm trong vấn đề tính dục; những việc thực hành nầy giả thiết một quan niệm ích kỷ về tự do, chỉ thấy trong việc sinh đẻ một trở ngại cho sự phát triển nhân vị của mỗi người. Như thế sự sống đã có thể nảy sinh từ quan hệ tính dục lại trở thành kẻ thù cần phải tuyệt đối tránh xa; và phá thai trở nên giải pháp duy nhất có thể và là phương cách xử lý trong trường hợp bị vỡ kế hoạch.

Tiếc thay, ngày càng bộc lộ lõ nét sự liên quan chặt chẽ mà ta thường bắt gặp trong mọi tâm trạng giữa việc thực hành phá thai và ngừa thai; và điều này càng được xác định một cách báo động bởi sự cập nhật việc bào chế các chất hoá học, các dụng cụ đặt trong tử cung và các thứ vác-xanh; những thứ đó càng được phân phát dễ dàng như các phương tiện tránh thai ngay từ giai đoạn phát triển đầu tiên của sự sống nơi một con người mới.

14. Ngay cả các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo khác nhau là những kỹ thuật duờng như phục vụ sự sống và là những thực hành nhắm đến mục tiêu này, thực tế cũng đang mở ra những cách thức mới chống lại sự sống. Ngoài việc các kỹ thuật này không thể chấp nhận được về mặt luân lý bởi vì chúng tách rời sự truyền sinh thuộc lãnh vực hoàn toàn nhân bản khỏi hành vi vợ chồng (14), chúng còn có tỷ lệ thất bại cao, không những trong việc thụ tinh mà còn trong việc phát triển sau này của phôi, có nguy cơ tử vong trong thời gian thường là rất ngắn. Hơn nữa, đôi khi người ta sản xuất phôi với số lượng nhiều hơn nhu cầu để cấy vào tử cung của phụ nữ và các “phôi dư” này, như người ta gọi, sau đó bị loại bỏ hoặc được dùng như những cuộc nghiên cứu dưới danh nghĩa vì sự tiến bộ khoa học hoặc y học. Thực ra đây là những cuộc nghiên cứu biến sự sống con người thành một thứ “chất liệu sinh học” đơn giản mà người ta có thể tuỳ ý sử dụng một cách tự do.

Việc chẩn đoán tiền sản, không làm nổi lên những khó khăn luân lý nếu nó được thực hiện để xác định những săn sóc nếu có đối với em bé chưa sinh ra, lại trở nên rất thường trở nên dịp để đề nghị phá thai và gây ra phá thai. Chính việc phá thai có tính cách ưu sinh, mà việc hợp pháp hoá trong dư luận chung phát sinh từ một tâm trạng – được nhận thức sai lầm rằng đó là hoà hợp với những đòi hỏi “chữa bệnh” – chỉ tiếp đón sự sống theo một số điều kiện nào đó và từ chối sự giới hạn, tàn phế, tật nguyền.

Trong khi theo đuổi cùng cái logíc đó, người ta đi đến chỗ từ chối những săn sóc thông thường sơ đẳng nhất và ngay cả thức ăn đối với những trẻ em sinh ra đã mang tật nguyền hoặc những chứng bệnh nặng. Hơn nữa, bối cảnh hiện nay còn trở nên bối rối hơn nữa vì những đề nghị được đưa ra đây đó trong cùng lãnh vực của quyền phá thai, cả đến giết con mới sinh nữa, là điều làm quay trở lại một giai đoạn man rợ mà người ta hy vọng đã vượt qua vĩnh viễn rồi.

15. Những đe doạ không kém nặng nề cũng đè nặng trên những người mắc bệnh bất khả trị và trên những người hấp hối, trong một bối cảnh xã hội và văn hoá là bối cảnh, khi gia tăng sự khó khăn trong việc đương đầu và chịu đựng đau khổ, đã làm cho mạnh mẽ hơn cám dỗ giải quyết vấn đề đau khổ bằng cách loại bỏ sự đau khổ đến tận gốc bằng việc giúp cho chết sớm đi vào lúc được xem là thuận tiện nhất.

Xét đến sự chọn lựa này, thường cũng gặp những yếu tố có bản chất khác nhau là những yếu tố, tiếc thay, đồng quy ở kết cục kinh khủng do kinh nghiệm đau đớn dữ dội và kéo dài, có thể có tính cách quyết định. Điều này thử thách thế quân bình đôi khi không vững vàng của cuộc sống cá nhân và gia đình, bởi vì, một đàng, bệnh nhân có nguy cơ cảm thấy bị đè nặng do sự mỏng dòn của mình mặc dù hiệu quả ngày càng cao của cơ quan y tế và cứu tế xã hội; đàng khác, bởi vì, nơi những người có liên hệ trực tiếp với bệnh nhân, điều này có thể tạo nên một tình cảm thương xót có thể được cảm nhận rõ mặc dù tình cảm đó bị hiểu sai. Tất cả những điều đó làm cho ra trầm trọng do môi trường văn hoá không nhận thức được ý nghĩa cũng như giá trị nào trong đau khổ, trái lại xem đau khổ là điều ác tiêu biểu nhất phải loại bỏ bằng bất cứ giá nào; điều đó đặc biệt được gặp thấy trong các trường hợp không có một quan điểm tôn giáo nào để có thể giúp hiểu một cách tích cực mầu nhiệm đau khổ.

Nhưng trong toàn bộ bối cảnh văn hoá, cũng không thiếu sự cân nhắc việc con người có thái độ của thần Promêthê tin có thể tự phong mình là chủ của sự sống và sự chết, bởi vì con người định đoạt chúng, trong khi thực tế con người bị thua và bị đè bẹp do một cái chết đóng lại mọi viễn tượng về ý nghĩa và hy vọng một cách không thể đảo ngược được. Chúng ta thấy điều này biểu lộ một cách bi thảm trong việc phát triển cái chết êm dịu có tính cách che giấu và lừa lọc, hoặc được thực hiện công khai và thậm chí được hợp pháp hoá. Ngoài việc được xem là thương bệnh nhân bị đau khổ, đôi khi cái chết êm dịu được biện minh bằng lợi ích, đó là tránh cho xã hội những tiêu tốn phi sản xuất. Như thế người ta dự kiến loại bỏ các trẻ sơ sinh dị dạng, các người tàn tật nặng hoặc không có khả năng, các người già, nhất là nếu họ không có tự do, và các bệnh nhân ở vào giai đoạn cuối. Chúng ta không được phép im lặng trước những hình thức chết êm dịu khác xảo trá hơn nhưng không kém trầm trọng và có thực. Những hình thức này có thể được trình bày chẳng hạn như nếu, để có được nhiều hơn nữa các bộ phận trong cơ thể cho việc ghép ráp, người ta tiến hành lấy các bộ phận này mà không tôn trọng các tiêu chuẩn khách quan thích hợp để xác minh rằng người hiến tặng thực sự đã chết.

16. Thông thường các đe doạ và xâm phạm sự sống được liên kết với một hiện tượng có tính thời sự, đó là hiện tượng dân số. Hiện tượng này xảy ra mỗi nơi mỗi khác trên trái đất: tại các nước giàu và phát triển, người ta ghi nhận sinh suất giảm sút một cách đáng lo ngại, ngược lại, thường thường các nước nghèo có tỉ lệ gia tăng dân số cao, khó có thể chịu đựng được trong bối cảnh phát triển thấp về mặt kinh tế và xã hội, hoặc thậm chí dưới mức phát triển trầm trọng. Đứng trước tình trạng dân số quá đông của các nước nghèo, thì, trên bình diện quốc tế hiện đang thiếu những sự can thiệp có tính cách toàn cầu – như các chính sách gia đình và xã hội nghiêm túc, các chương trình phát triển văn hoá cũng như việc sản xuất và phân phối tài nguyên một cách công bằng -, trong khi đó người ta lại tiếp tục thực hiện các chính sách chống sinh sản.

Ngừa thai, triệt sản và phá thai dĩ nhiên phải được kể vào trong số nguyên nhân góp phần vào việc gây ra các tình hình chống sinh sản một cách mạnh mẽ. Người ta có thể dễ dàng bị cám dỗ dùng đến các phương pháp này và những xâm phạm đến sự sống trong các hoàn cảnh “bùng nổ dân số”.

Cảm thấy lo lắng do sự hiện diện và sinh sôi nẩy nở của con cái Israel, vua Ai Cập thời cổ đại tìm mọi cách đàn áp họ và ra lệnh giết tất cả các con trai do những người phụ nữ Do Thái sinh ra (x. Xh 1,7-22). Nhiều người có quyền lực trên thế giới hiện nay cũng xử sự theo cách đó. Họ cũng cảm thấy lo lắng về sự phát triển dân số hiện tại và họ sợ các dân tộc sinh sản nhiều nhất và nghèo nhất đang đe doạ sự sung túc và sự yên ổn của đất nước họ. Do đó thay vì muốn đương đầu và giải quyết các vấn đề nghiêm trọng này trong sự tôn trọng phẩm giá của con người và của gia đình, cũng như sự tôn trọng quyền bất khả xâm phạm của mọi người là được sống, thì họ lại muốn làm mọi cách thúc đẩy và áp đặt một sự kế hoạch hoá rộng rãi việc sinh sản. Có một điều kiện bất công đó là người ta sẵn sàng viện trợ nhân đạo nếu nước nhận viện trợ chấp nhận chính sách chống sinh sản.

17. Nhân loại thời nay bày ra một cảnh tượng thật sự đáng báo động khi chúng ta không chỉ nhìn vào những lĩnh vực khác nhau trong đó những vi phạm chống lại sự sống đang phát triển mà còn số lượng những xâm phạm này nữa, cũng như sự hỗ trợ và nhất trí mạnh mẽ của xã hội, của luật pháp, của một bộ phận nhân viên y tế.

Như tôi đã nhấn mạnh điều này tại Denver nhân dip ngày Quốc tế giớí trẻ lần thứ VIII, “các đe doạ chống lại sự sống không giảm bớt theo thời gian. Trái lại, chúng mang những chiều kích to lớn. Đây không chỉ là những đe doạ đến từ bên ngoài, từ những sức mạnh của thiên nhiên hoặc của những “Cain” giết chết những “Abel”; không, đây là những đe doạ được soạn thảo một cách khoa học và có hệ thống. Thế kỷ thứ 20 sẽ là một thời kỳ tấn công rộng rãi chống lại sự sống, một loạt vô tận những cuộc chiến đấu và một sự tàn sát thường xuyên sự sống của những con người vô tội. Các tiên tri giả và các ông thầy giả đã thu được thành công lớn nhất (15). Ngoài những mục tiêu có thể là đa dạng, và có tính thuyết phục cả đến nhân danh tình liên đới, thực ra chúng ta đang đứng trước một điều khách quan đó là “âm mưu chống lại sự sống”, trong đó người ta thấy bao gồm những thể chế quốc tế gắn liền với việc cổ võ và vạch ra những chiến dịch thực sự nhằm phổ biến ngừa thai, triệt sản và phá thai. Cuối cùng, người ta không thể chối cãi rằng các phương tiện truyền thông thường đồng loã với âm mưu này bằng cách truyền bá trong dư luận quần chúng một tâm trạng coi việc sử dụng ngừa thai, triệt sản, phá thai và thậm chí chết êm dịu như một dấu hiệu của sự tiến bộ và chinh phục tự do, trong khi người ta mô tả những quan điểm vô điều kiện ủng hộ sự sống như là những kẻ thù của tự do và tiến bộ.

Một quan niệm đồi bại về tự do

“Tôi đâu phải là người bảo vệ em tôi?” (St 4,9)

18. Toàn cảnh mà người ta đã mô tả đòi hỏi được hiểu không những trên quan điểm các hiện tượng của cái chết làm rõ nét nó mà còn trên quan điểm nhiều nguyên nhân xác định nó. Câu hỏi của Chúa “Ngươi đã làm gì?” (St 4,10) dường như là một lời kêu gọi nói với Cain để anh ta vượt lên trên tính chất thể của hành vi giết người của anh ta nhằm nắm bắt được sự nghiêm trọng của hành vi đó trên bình diện các động cơ ban đầu và các hậu quả tiếp theo.

Việc chọn lựa chống lại sự sống đôi khi phát sinh do những hoàn cảnh khó khăn hay thậm chí bi đát của sự đau khổ lớn lao, cô đơn, vô phương có hy vọng cải thiện về kinh tế, sự suy sụp tinh thần, lo âu đến tương lai. Những hoàn cảnh như thế có thể giảm thiểu đáng kể trách nhiệm cá nhân và tội lỗi phát sinh từ đó nơi những kẻ thực hiện những chọn lựa này mà tự chúng là những lựa chọn mang tính tội phạm. Tuy nhiên, ngày nay vấn đề còn vượt lên trên việc công nhận, đây đúng là điều cần thiết, các hoàn cảnh cá nhân này. Vấn đề cũng còn được đặt ra trên các bình diện văn hoá, xã hội và chính trị, và chính ở đó xuất hiện khía cạnh đảo lộn và gây ra bối rối nhất, vì cái khuynh hướng, luôn được chấp nhận rộng rãi hơn giải thích các tội ác chống lại sự sống như là những biểu lộ hợp pháp của tự do cá nhân, mà người ta sẽ phải công nhận và bảo vệ như là những quyền thực sự.

Như vậy, sau khi khám phá ra tư tưởng “quyền con người” – như là quyền bẩm sinh của tất cả mọi người có trước mọi định chế và mọi luật pháp của các quốc gia – người ta đi đến một khúc quanh những hậu quả bi thảm trong một quá trình lịch sử dài là quá trình ngày nay đang đứng trước một sự mâu thuẫn đáng ngạc nhiên: vào một thời kỳ mà người ta long trọng công bố những quyền bất khả xâm phạm của con người và công khai khẳng định giá trị của sự sống, thì chính cái quyền được sống thực ra lại bị từ chối và xâm phạm, nhất là trong những lúc có ý nghĩa nhất của cuộc sống đó là khi sinh ra và khi chết.

Một đàng, những tuyên ngôn khác nhau về quyền con người và nhiều sáng kiến phát sinh từ đó chứng tỏ rằng trên toàn thế giới có sự tiến bộ của ý thức luân lý sẵn sàng công nhận giá trị và phẩm giá của mọi người; không hề phân biệt chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo, chính kiến hoặc tầng lớp xã hội.

Đàng khác thực ra, người ta thấy những tuyên bố cao đẹp nay tiếc thay đi ngược lại cái phủ định bi thảm của chúng. Điều làm chưng hững hơn và thậm chí gây ra gương mù đó là việc này xảy ra ngay trong một xã hội coi khẳng định và bảo vệ quyền con người như là mục đích chính và đồng thời là niềm kiêu hãnh của mình. Làm sao có thể làm cho các khẳng định về nguyên tắc được lặp đi lặp lại này tương hợp với việc gia tăng liên tục và việc hợp pháp hoá thường xuyên như xâm phạm đến sự sống của con người? Làm sao dung hoà các tuyên ngôn này với các việc loại trừ kẻ yếu thế nhất, kẻ nghèo hèn nhất, kẻ già nua và kẻ vừa mới được thụ thai? Nhưng xâm phạm này đi theo chiều hướng hoàn toàn ngược lại việc tôn trọng sự sống, và chúng đe doạ trực tiếp đến toàn bộ việc vun đắp các quyền con người. Cuối cùng: đây là một sự đe doạ có khả năng gây nguy hiểm cho chính ý nghĩa của việc đồng sinh tồn theo tin thần dân chủ: thay vì là những xã hội sống chung hoà hợp”, các quốc gia của chúng ta có nguy cơ trở thành các xã hội của những người bị loại trừ, những người ở ngoài lề; những người bị biệt xứ, những kẻ bị xua đuổi. Và nếu người ta nhìn rộng ra một vòng chân trời thế giới, làm sao không nghĩ rằng chính việc công bố các quyền của con người và của các dân tộc, như điều này đã được thực hiện tại những hội nghị cấp cao quốc tế, chỉ là một công việc khoa trương vô ích bao lâu mà người ta không lột mặt nạ sự ích kỷ của các nước giàu là những nước từ chối không muốn cho các nước nghèo đạt đến sự phát triển hoặc làm cho các nước đó thuộc vào những cấm đoán điên rồ đối với việc truyền sinh, và như thế là chống lại sự phát triển của con người? Có nên đặt lại vấn đề các mô hình kinh tế được các quốc gia thường theo đuổi, nhất là được quyết đlịnh do sức ép có tính cách quốc tế là những sức ép tạo ra và duy trì các hoàn cảnh bất công và bạo lực trong đó sự sống con người của trọn cả những dân tộc bị làm cho giảm giá, và bị đàn áp hay không?

19. Đâu là nguồn gốc của một sự mâu thuẫn hết sức nghịch lý như thế?

Chúng ta có thể nhận thấy những nguồn gốc này khi đánh giá tổng quát về mặt văn hoá và luân lý, bắt đầu với não trạng đưa khái niệm chủ thể đến chỗ cực đoan và thậm chí làm biến chất nó, và công nhận như một chủ thể của các quyền chỉ người nào hưởng được hoàn toàn hoặc ít ra là vào lúc đầu và xuất hiện từ một tình trạng hoàn toàn không lệ thuộc người khác. Nhưng làm sao dung hoà quan điểm này với việc tán dương rằng con người là một hữu thể “không bị khiến dụng”? Lý luận về quyền con người chắn chắn dựa căn bản trên việc xác quyết rằng, khác với các động vật và các sự vật, con người không thể bị đặt dưới sự thống trị của ai cả. Còn phải nêu lên cái lôgic có huynh hướng đồng nhất hoá phẩm giá của con người với khả năng trao đổi bằng lời nói rõ ràng hoặc ít ra, có thể nhận biết và khả năng giao tiếp. Rõ ràng là với những điều được giả định như thế, thế giới không có chỗ cho kẻ nào – đối với người sắp sinh ra cũng như sắp chết đi – là một chủ thể có thể tạng yếu, là kẻ dường như hoàn toàn được phó mặc cho những người khác, triệt để lệ thuộc họ, và là kẻ chỉ có thể trao đổi bằng ngôn ngữ câm lặng của một sự chia sẻ sâu xa bằng cảm tính mà thôi. Do đó, đây là sức mạnh trở nên tiêu chuẩn chọn lựa và hành động trong tương quan giữa các cá nhân với nhau và trong đời sống xã hội. Nhưng đây lại chính là trái ngược với việc, trong lịch sử, Nhà Nước pháp quyền công bố như là cộng đồng mà trong đó “lý lẽ của sức mạnh” được thay cho “sức mạnh của lý trí”.

Trên một bình diện khác, nguồn gốc của sự mâu thuẫn giữa việc long trọng khẳng định quyền con người với sự phủ định bi đát các quyền này trong thực tế nằm ở cách quan niệm về tự do. Quan niệm này tuyệt đối ca tụng cá nhân và không chuẩn bị cho cá nhân có được sự liên đới, sự tiếp nhận không đắn đo cũng như sự phục vụ của tha nhân. Nếu thật sự đôi khi việc loại bỏ sự sống sắp sửa ra đời hoặc sự sống đến hồi kết thúc cũng còn lệ thuộc vào ý nghĩa được hiểu sai về lòng vị tha hay lòng thương xót, người ta không thể chối cãi rằng đại thể, nền văn minh chết chóc cho thấy một quan niệm về sự tự do hoàn toàn có tính cách cá nhân chủ nghĩa, rốt cuộc là sự tự do của “những kẻ mạnh” chống lại những kẻ yếu sắp ngã gục.

Chính trong chiều hướng này mà người ta có thể giải thích câu trả lời của Cain khi Thiên Chúa hỏi: “Abel, em ngươi ở đâu?” – “Tôi không biết. Tôi đâu phải là người bảo vệ em tôi?” (St 4,9). Phải, mọi người đều là “kẻ bảo vệ người anh em của mình”, bởi vì Thiên Chúa giao phó con người cho con người. Và chính vì muốn giao phó con người cho con người như thế mà Thiên Chúa ban tự do cho mọi người, một sự tự do bao hàm chiều kích liên hệ chủ yếu. Đây là một ân huệ lớn lao của Đấng Tạo hoá, bởi vì sự tự do được dùng để phục vụ con người và hoàn thành con người do chính việc tự hiến và tiếp nhận tha nhân; trái lại, khi chiều kích cá nhân chủ nghĩa được tuyệt đối hoá, thì tự do sẽ mất đi ý nghĩa đầu tiên của nó, rồi chính ơn gọi và phẩm giá của nó cũng bị chối bỏ.

Có một khía cạnh khác sâu xa hơn cần phải chú ý: tự do sẽ chối bỏ chính mình, tự do sẽ tự huỷ và chuẩn bị loại bỏ tha nhân khi tự do không còn công nhận và tôn trọng mối dây cấu thành nó với sự thật. Mỗi lần muốn giải phóng khỏi mọi truyền thống và quyền lực, là sự tự do tự đóng khung ngay cả trong những cái hiển nhiên đầu tiên của một sự thật khách quan và thường thấy là cơ sở của cuộc sống con người và xã hội, rốt cuộc con người không còn lấy sự thật căn cứ trên cái thiện và cái ác mà chỉ lấy quan điểm chủ quan và hay thay đổi hoặc thậm chí những lợi lộc ích kỷ và những ý thích thất thường của mình làm tiêu chuẩn duy nhất và bất khả tranh luận cho những lựa chọn của mình.

20. Với quan niệm như thế về tự do, đời sống trong xã hội bị biến chất sâu sắc. Nếu việc hoàn chỉnh cái “tôi” được hiểu bằng những từ “ tự trị tuyệt đối”, thì người ta sẽ không thể tránh được việc chối bỏ tha nhân, coi họ như một kẻ thù mà mình phải tự vệ. Như thế, xã hội sẽ trở thành một tổng thể những cá nhân đứng bên nhau, chứ không có liên lạc gì với nhau cả: mỗi người muốn tự khẳng định mình biệt lập với người khác, hay đúng hơn, mỗi người đều muốn đề cao tư lợi của riêng mình. Tuy nhiên, trước những lợi ích tương tự của tha nhân, người ta phải giải quyết bằng cách tìm một thứ thoả hiệp, nếu muốn bảo đảm tự do tối đa cho từng người trong xã hội. Như thế mọi qui chiếu về các giá trị chung và về một chân lý tuyệt đối cho tất cả mọi người sẽ tiêu tan: đời sống xã hội sẽ phiêu lưu trên một bãi cát trôi nổi của chủ nghĩa trôi nổi quá khích. Lúc đó điều gì cũng là vấn đề qui ước, điều gì cũng là vấn đề thương lượng được, kể cả quyền đầu tiên trong các quyền căn bản, đó là quyền sống.

Trên thực tế, việc ấy cũng đang xảy ra trong phạm vi chính trị nói riêng của Nhà nước: quyền được sống, một quyền nguyên thuỷ và bất khả nhượng, mà vẫn bị đưa ra thảo luận và phủ quyết, dựa trên sự biểu quyết ở Nghị viện hoặc theo ý muốn của một phần dân chúng – có thể là một phần lớn nữa. Đó là kết quả bất hạnh của chủ nghĩa tương đối đang hoành hành mà không hề bị chống đối: cái “quyền” mà hết còn là một quyền, vì nó không còn được đặt vững chắc trên phẩm giá bất khả xâm phạm của nhân vị, nhưng lại bị người ta bắt lệ thuộc ý muốn của kẻ mạnh hơn. Thế là nền dân chủ, mặc dầu có nguyên tắc đấy, nhưng lại đi tới một chủ nghĩa chuyên chế có hạng. Nhà nước không còn là “Ngôi nhà chung” mà ở đó ai cũng có thể sống theo những nguyên tắc bình đẳng căn bản, nhưng nó đã biến thành nhà nước độc tài bá đạo, với tham vọng có thể quyết định về sự sống của những người yếu kém và những con người không có chi bảo vệ, từ hài nhi sinh ra đến người già cả, nhân danh lợi ích công cộng mà thực chất chỉ là lợi ích của một số người thôi.

Mọi sự có vẻ diễn tiến trong việc tôn trọng luật pháp, ít là khi những luật cho phép phá thai hoặc làm chết êm dịu được biểu quyết theo những khoản luật người ta cho là dân chủ. Thực ra, chúng ta phải chứng kiến cái bộ mặt thảm khốc của luật pháp và của lý tưởng dân chủ và lẽ ra nó chỉ là dân chủ khi nó nhìn nhận và bảo vệ phẩm giá của mọi nhân vị, nhưng nó lại bị phản hồi ngay từ nền tảng: “làm sao còn nói được tới phẩm giá của nhân vị, khi người ta giết những kẻ yếu nhất và vô tội nhất? Nhân danh công lý nào mà người ta thực hiện sự kỳ thị tới bất công giữa những con người như thế, bằng cách tuyên bố rằng một số những kẻ này đáng được bảo vệ, còn những kẻ kia bị từ chối quyền sống?”. Khi người ta nhận xét về những kiếu cách hành động ấy, thì đã khơi mào những quá trình dẫn tới sự tiêu huỷ việc cùng chung sống đích thực giữa những con người và dẫn tới sự phân hoá chính thực tại của Nhà nước.

Đòi hỏi quyền phá thai, quyền giết trẻ sơ sinh, quyền làm chết êm dịu, và công nhận những quyền ấy là hợp pháp, thì có nghĩa là dành cho tự do con người một ý nghĩa phi đạo đức và bất công, ý nghĩa của một quyền lực chuyên chế trên người khác và phản lại người khác. Nhưng đó là giết chết tự do chân thực: “Thật, tôi bảo thật các ông: ai phạm tội là làm nô lệ cho tội” (Ga 8,34).

Sự thiếu vắng ý thức về Thiên Chúa và ý thức về con người

“Tôi sẽ phải lánh đi khỏi nhan Ngài” (St 4,14)

21. Khi ta tìm những cội rễ sâu sa nhất của cuộc chiến giữa “văn hoá sự sống” và “văn hoá sự chết”, ta không thể dừng lại ở quan niệm đảo lộn về tự do vừa được nhắc tới. Cần phải đi vào tâm điểm của tấn thảm kịch mà con người hiện đại đang sống: sự khuất bóng ý thức về Thiên Chúa và ý thức về con người là đặc điểm của tình hình xã hội và văn hoá mà chủ nghĩa tục hoá đang thao túng, chủ nghĩa này với những cái vòi vươn dài đôi khi đã thử thách cả những cộng đồng Kitô giáo. Những ai tự để mình lây nhiễm tâm trạng ấy, sẽ dễ bị lôi cuốn vào cơn lốc của một vòng xoáy đồi bại kinh khủng; bỏ mất ý thức về Thiên Chúa, người ta lao tới chỗ đánh mất cả ý thức về con người, về phẩm giá và sự sống của con người; và đến lượt mình, sự vi phạm có hệ thống luật luân lý, đặc biệt trong vấn đề quan trọng là tôn quí sự sống và phẩm giá của sự sống con người, sẽ tạo ra một bóng tối ngày càng mù mịt che lấp khả năng nhìn ra sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng ban sự sống và cứu độ.

Một lần nữa, chúng ta có thể cảm hứng theo trình thuật Abel bị ông anh hạ sát. Sau khi bị Thiên Chúa chúc dữ, Ca-in thưa cùng Chúa rằng: “Tội vạ tôi quá lớn làm sao mang nổi, ngày hôm nay Ngài đuổi tôi ra khỏi mặt đất màu mỡ và tôi phải lánh đi khỏi nhan Ngài, nên kẻ vất vơ vất vưởng chạy rong trên đất. Và có ai gặp tôi sẽ giết tôi!” (St 4, 13-14) Ca-in cho rằng tội mình sẽ không được Chúa thứ tha và nghĩ số phận tất nhiên của mình là phải “ẩn nấp khỏi nhan Chúa”. Nếu Ca-in đạt tới được việc thú nhận tội mình “quá lớn”, là vì anh có ý thức rằng mình ở trước mặt Thiên Chúa và trước sự phán xét nghiêm minh của Người. Trong thực tế, con người chỉ có thể nhận ra tội của mình và hiểu được sự nặng nề của tội khi họ ở trước nhan Chúa. Đó cũng là cảm nghiệm của vua David, sau khi “đã làm điều ác trước mặt Ngài”, vị ngôn sứ Nathan trách cứ (x. 2 Sm 11,12), vua đã kêu van: “Tội ác tôi, tôi xin nhận”; lỗi lầm tôi luôn luôn trước mắt tôi; tôi đã xúc phạm đến Ngài; điều ác trước mắt Ngài, tôi đã dám làm (Tv 50, 5-6).

22. Vì thế, khi mất ý thức về Thiên Chúa, thì ý thức con người cũng bị đe doạ, bị hư hỏng, như Công Đồng Vatican II đã tuyên ngôn dưới hình thức sâu sắc: Thụ tạo mà bỏ Đấng Tạo Hoá của mình thì tiêu vong.(…) Mà cả đến chính thụ tạo cũng bị u mê vây hãm, nếu nó quên Thiên Chúa” (17). Con người không còn đạt tới chỗ hiểu được mình là: “huyền diệu khác hẳn” những tạo vật khác trên mặt đất này nữa; con người coi mình chỉ là một trong những sinh vật, như một cơ thế cùng lắm là đã đạt được tới chặng hoàn hảo rất cao thôi. Bị nhốt trong một chân trời chật chội của thực tại thể chất, một cách nào đó con người sẽ trở nên một “sự vật”, không thấu hiểu được tính cách “siêu việt” trong “cuộc sinh tồn của mình trong tư cách là người”. Con người đã không coi sự sống như hồng ân của Thiên Chúa, như một thực tại “thánh thiêng” được trao cho trách nhiệm của mình và, do đó, để mình âu yếm bảo vệ, để mình “trân trọng”. Sự sống trở nên thuần tuý là “một sự vật” mà con người đòi được chiếm hữu như của riêng mình, mà con người có thể hoàn toàn làm chủ và định đoạt.

Như thế, trước sự sống sinh ra và sự sống chết đi, con người không còn khả năng để tự hỏi về ý nghĩa đích thực của cuộc đời mình, cũng chẳng có khả năng chấp nhận những giờ phút cam go của cuộc sống trong một niềm tự do chân thực. Con người chỉ còn việc lo “hành động” và, nhờ vào mọi kỹ thuật có thể, họ cố gắng tối đa để đặt chương trình, kiểm soát, khống chế sự sinh và sự tử. Những thực tại này, là kinh nghiệm từ nguyên thuỷ đòi hỏi phải được “sống”, thì lại trở thành những điều mà người ta chỉ chủ trương đơn thuần là “chiếm đoạt” hay “từ chối”.

Hơn nữa, khi sự qui chiếu về Thiên Chúa bị loại trừ rồi, thì chẳng lạ gì chính ý nghĩa của mọi sự vật sẽ bị biến chất một cách sâu xa, và chính thiên nhiên, khi không còn là “mater” (mẹ) nữa sẽ bị coi như một “vật liệu “để người ta xử lý tùy thích, Hình như người ta được dẫn đưa vào đường hướng này, do tính thuần lý “kỹ thuật-khoa học”, là quân bài chủ trong văn hoá hiện đại, nó phủ định cả ý tưởng về con người phải công nhận công lý về cuộc sáng tạo, hay phải tôn trọng ý định của Thiên Chúa về sự sống. Và điều ấy không kém phần chân thật, khi nỗi khắc khoải trước các hậu quả của “tự do không luật pháp” này lại đưa một số người tới lập truờng trái ngược là “luật pháp không tự do”, như từng xảy ra, chẳng hạn trong các ý thức hệ tuyên bố tính hợp pháp cho mọi thứ can thiệp vào thiên nhiên, gần như là vì “sự thần hoá mình” – điều này, một lần nữa, đã không chịu nhận rằng mình lệ thuộc vào ý định của Đấng Tạo Hoá.

Thực ra, sống mà “coi như Thiên Chúa không có” thì không những con người mất ý thức về mầu nhiệm Thiên Chúa, mà mất luôn cả ý thức về thế giới và về chính bản thân mình.

23. Sự thiếu vắng ý thức về Thiên Chúa và về con người không thể nào lại không đưa tới chủ nghĩa duy vật thực dụng, khiến cho chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy ích và chủ nghĩa khoái lạc lan rộng. Ở đây nữa ta nhận thấy giá trị vẫn còn đó của lời Thánh Tông đồ: “Và vì họ đã bỏ việc nhận biết Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã bỏ mặc họ cho trí não hư hỏng để họ làm những điều chẳng xứng” (Rm 1,28). Chính vì thế các giá trị của hữu thể bị thay thế bằng giá trị của những cái người ta sở hữu. Mục đích duy nhất đáng kể bây giờ chỉ còn là đi tìm tiện nghi vật chất cho riêng mình. Cái gọi là “phẩm chất cuộc sống” chỉ còn được hiểu thiết yếu là ở hiệu quả kinh tế, tiêu thụ phóng túng, sắc đẹp, hưởng thụ đời sống thể lý, mà quên mất những chiều kích sâu xa của cuộc sinh tồn, của những lĩnh vực tương giao, tinh thần và tôn giáo.

Trong bối cảnh như vậy, đau khổ, là gánh nặng vốn đè trên cuộc nhân sinh nhưng cũng là khả năng giúp con người tăng trưởng, đã bị kiểm duyệt bỏ, bị vứt đi như một sự ác phải luôn luôn xa tránh và xa tránh bằng bất cứ giá nào. Khi người ta không thể vượt thắng đau khổ, và khi không còn viễn cảnh về hạnh phúc nữa, ít nhất là cho tương lai, lúc ấy cuộc đời dường như đã mất hết ý nghĩa và trong con người sẽ tăng lên cơn cám dỗ muốn dành quyền triệt bỏ đau khổ.

Vẫn trong cùng một bối cảnh văn hoá như vậy, thân xác không còn được coi như một thực tại đặc trưng cá vị, là dấu chỉ và là nơi tiếp xúc với tha nhân, với Thiên Chúa và với thế giới. Thân xác bị hạ xuống hàng bản chất duy vật thuần tuý; thân xác chẳng còn là gì khác hơn một tổng hợp các cơ quan, các chức năng và năng lượng để dùng theo những tiêu chuẩn của lạc thú và của tính hiệu quả. Do đó, giới tính cũng bị phi nhân vị, bị khai thác: thay vì là dấu chỉ, là nơi chốn và là ngôn ngữ biểu lộ tình yêu -tức là hiến thân và đón nhận người khác trong tất cả sự phong phú của nhân vị – thì giới tính càng ngày càng trở nên một cơ hội làm dụng cụ cho việc khẳng định cái tôi và thoả mãn cách ích kỷ các dục vọng và bản năng. Chính vì thế mà nội dung nguyên thuỷ của giới tính nơi con người bị bóp méo và biến chất đi. Hai ý nghĩa, là phối hiệp và truyền sinh, gắn liền trong bản tính và hành vi hôn nhân, đã bị tách rời nhau cách giả tạo; theo kiểu đó, người ta làm hỏng sự phối hiệp khi người ta bắt việc truyền sinh phải theo ý thích tùy nghi của người nam và người nữ. Lúc đó việc truyền sinh sẽ trở nên “kẻ thù”, cần phải tránh trong việc hành xử giới tính: người ta chỉ chấp nhận truyền sinh theo mức độ hợp với dục vọng của con người, hay với ý muốn có một đứa con bằng “ bất cứ giá nào”; chứ không phải vì việc truyền sinh diễn tả sự đón nhận trọn vẹn người phối ngẫu và do đó rộng mở cho sự sống phong phú được thể hiện nơi đứa con.

Trong viễn ảnh duy vật trình bày trên đây, những tương quan giữa người với người bị giảm thiểu nghiêm trọng. Những người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả là phụ nữ, trẻ em, người bệnh hay người đau khổ và người già yếu. Tiêu chuẩn chân thực của phẩm giá con người – là tiêu chuẩn về sự tôn trọng, tặng trao và phục vụ – bị thay thế bằng tiêu chuẩn của hiệu quả tính, chức năng tính và duy ích: người ta được quí chuộng không vì họ là ai, mà vì họ có gì, làm gì và đưa lại được gì. Kẻ mạnh thắng kẻ yếu.

24. Chính ở nơi thẳm sâu nhất của lương tâm luân lý, người ta hoàn chỉnh việc che lấp ý thức về Thiên Chúa cũng như ý thức về con người, với bao nhiêu là hậu quả thảm khốc trên sự sống. Trước hết là lương tâm của mỗi người bị liên lụy, vì trong sự thống nhất nội tâm và với đặc tính duy nhất của mình, lương tâm ấy thấy mình ở trước mặt Thiên Chúa (18). Nhưng theo một hướng khác, “lương tâm luân lý” của xã hội cũng có liên luỵ: một cách nào đó, xã hội chịu trách nhiệm, không những vì xã hội dung tha hay còn ủng hộ những cách ăn ở nghịch lại sự sống, mà còn vì xã hội nuôi dưỡng cái “văn hoá sự chết”, đi tới chỗ phát minh và củng cố nhiều “cơ chế tội lỗi” thực sự chống lại sự sống. Ngày nay lương tâm luân lý của cá nhân hay xã hội đang đứng trước một mối nguy hiểm rất nghiêm trọng và chết người tức là cái nguy trộn lẫn điều thiện với điều ác, trong những việc liên quan tới quyền căn bản được sống – dù chỉ là do ảnh hưởng tràn lan càng ngày càng nhiều những phương tiện truyền thông xã hội. Một phần lớn xã hội hiên nay tỏ ra rất giống với nhân loại mà Thánh Phaolô tả trong thư gửi Giáo đoàn Rôma. Xã hội ấy gồm những “người lấy bất chính hãm cầm sự thật” (Rm 1,18): vì chối bỏ Thượng Đế và tưởng chừng có thể xây dựng thành trì nơi trần gian mà không cần đến Ngài, “họ đã mất ý thức trong các lý luận của họ” đến nỗi “lòng họ đã ngu muội lại hoá ra tối tăm” (Rm 1,22); họ trở nên tác giả những hành động đáng chết và “chẳng những họ làm những điều ấy mà còn tán thành những kẻ làm như vậy” (Rm 1,32). Một khi lương tâm, là con mắt sáng của tâm hồn (x. Mt 22-23), lại gọi “dữ là lành và lành là dữ” (Is 5,20) thì lương tâm ấy đã đi vào con đường sa đoạ làm ta phải lo ngại và cũng là con đường đui mù về tinh thần tối tăm nhất.

Tuy nhiên, mọi ảnh hưởng và cố gắng đều không thể làm tắt tiếng nói của Chúa đang vang lên trong lương tâm mỗi người. Bởi vì bao giờ thì cũng là từ thánh cung sâu thẳm của lương tâm mà người ta trở lại được con đường của tình thương, của đón nhận và phục vụ sự sống con người.

“Anh em đã tiến lại gần máu thanh tẩy” (x. Dt 12,22.24): Những dấu chỉ hy vọng và lời kêu gọi dấn thân.

 25. “Hãy nghe tiếng máu của em ngươi từ đất kêu oán lên Ta” (St 4,10). Không phải chỉ có máu Abel, người vô tội đầu tiên bị sát hại, đang kêu lên Thiên Chúa là nguồn sự sống và là Đấng bảo vệ sự sống. Máu của bất kỳ người nào sát hại sau Abel, cũng là tiếng kêu oan lên tới Chúa. Một cách tuyệt đối duy nhất, tiếng máu Chúa Kitô cũng kêu lên tới Thiên Chúa – mà Abel vô tội là hình ảnh tiên tri về Chúa Kitô, như tác giả Do Thái nhắc nhở ta: “ Anh em đã tiến lại gần núi Sion, thành của Thiên Chúa hằng sống… gần Đấng trung gian Giao ước mới và dòng máu thanh tẩy hùng biện hơn máu Abel” (Dt 12,22-24).

Đó là máu thanh tẩy. Máu của các hy lễ Cựu Ước là dấu chỉ biểu tượng và báo trước về máu thanh tẩy ấy: máu các lễ hy sinh qua đó Thiên Chúa tỏ thánh ý Ngài muốn thông ban sự sống của Ngài cho mọi người bằng cách thanh tẩy và thánh hiến họ (Xh 24,8; Lv 17,11). Tất cả việc đó được hoàn thành và từ nay biểu lộ nơi Chúa Kitô: máu của Ngài là máu rảy trên con người để chuộc lại, thanh tẩy và cứu chữa; chính là máu Đấng Trung Gian của giao ước mới, “đổ ra cho nhiều người được tha tội” (Mt 26,28).

Máu này đổ ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Kitô trên thập giá (Ga 19,34) còn “hùng biện hơn” máu của Abel. Quả vậy, Máu Chúa Kitô kêu lên và đòi một “công lý” sâu sắc hơn, nhưng nhất là khẩn cầu lòng thương xót (19), máu ấy cầu bầu với Cha cho các anh em của Chúa Kitô (Dt 7,25) máu ấy là nguồn cứu chuộc hoàn hảo và là ơn ban sự sống mới.

Máu Chúa Kitô, mặc khải sự cao cả của tình yêu thương của Chúa Cha, đã bộc lộ rằng con người là rất quý trước mặt Thiên Chúa và giá trị của sự sống con người thật khôn lường. Thánh tông đồ Phêrô nhắn nhủ ta: “Anh em hãy biết rằng không phải bằng những của hư nát, vàng bạc, mà anh em được cứu chuộc khỏi cách sống phù phiếm do cha ông để lại, mà là nhờ Máu châu báu của Con Thiên Chúa không tì vết, không thể trách cứ, là chính Chúa Kitô” (1 Pr 1,18-19). Chính khi chiêm ngắm Máu châu báu của Chúa Kitô, là dấu chứng của sự hiến dâng Ngài thực hiện vì yêu ta, mà người tín hữu học biết cách nhìn nhận và quí chuộng phẩm giá gần như là thần thiêng của mọi người. Trong niềm thán phục và tri ân luôn luôn mới mẻ, người tín hữu có thể kêu lên: “Ôi! Giá trị của con người lớn biết bao trước mặt Đấng Tạo Hoá, tới độ đã xứng đáng có được một Đấng Cứu Chuộc rất vĩ đại và đáng kính tôn” (bài ca Exultet đêm phục sinh), tới độ Thiên Chúa đã ban Con Một của Ngài để con người khỏi hư mất, nhưng được sự sống đời đời” ! (Ga 3,16) (20).

Hơn nữa, Máu Chúa Kitô mạc khải cho con người biết sự cao cả và do đó ơn gọi của họ hiến dâng toàn thân mình. Bởi vì được đổ ra như ơn ban sự sống, nên Máu Chúa Kitô không còn là dấu chỉ sự chết, dấu chỉ biệt lý hẳn với anh em của Người, nhưng là phương tiện hiệp thông làm dồi dào sức sống cho mọi người. Trong Bí Tích Thánh Thể, người uống Máu này và ở lại trong Chúa Kitô (x. Ga 5,56) được lôi cuốn vào sức năng động của tình yêu Ngài để đưa tới mức sung mãn chính ơn gọi đầu tiên hướng tới tình yêu, là ơn gọi của mọi người (x.St 1,27; 2,18-24)

Trong Máu Chúa Kitô, tất cả mọi người cũng múc được sức mạnh để dấn thân phục vụ sự sống. Máu Chúa Kitô chính là lý do mạnh nhất để hy vọng và là nền tảng cho niềm xác tín tuyệt đối, theo kế hoạch của Thiên Chúa, sự sống sẽ dành được chiến thắng. Một tiếng nói mạnh mẽ từ ngai toà Thiên Chúa trong thành Giêrusalem thiên quốc đã kêu lên: “Sẽ chẳng còn chết chóc nữa!” (Kh 21,4). Thánh Phaolô cũng bảo đảm với ta rằng sự chiến thắng hiện tại trên tội lỗi là dấu chỉ và là lời tiên báo cuộc chiến thắng hoàn toàn trên sự chết, khi hoàn tất lời chép: “Sự chết đã bị vùi trong chiến thắng. Hỡi sự chết, nọc độc của ngươi đâu?” (1 Cr 15,54-55)

26. Thật sự, người ta nhận thấy những dấu hiệu báo tin cuộc chiến thắng này trong các xã hội, các nền văn hoá của ta, mặc dầu chúng bị ghi dấu đậm nét bởi “văn hoá sự chết”. Người ta sẽ chỉ thiết lập một bảng thống kê không đầy đủ có thể làm ta nản lòng, nếu như cùng với những lời tố giác các mối đe doạ chống lại sự sống, người ta không nêu lên một khái lược những dấu chỉ tích cực có hiệu quả trong hiện tình của nhân loại.

Tiếc thay, những dấu chỉ tích cực ấy rất khó xuất hiện và không được dễ dàng nhận ra, chắc hẳn vì chúng không là đối tượng được chú ý đủ qua những phương tiện truyền thông xã hội. Nhưng nhiều sáng kiến để giúp đỡ những người yếu đuối nhất và không có ai bảo vệ đã được thực hiện và tiếp tục được thực hiện, trong cộng đồng Kitô giáo và trong xã hội dân sự, ở mức độ địa phương, quốc gia và quốc tế, do từng người, từng nhóm, từng phong trào và nhiều tổ chức khác nhau.

Có nhiều đôi vợ chồng biết quảng đại lãnh trách nhiệm đón nhận con cái như “ân huệ tuyệt vời nhất của hôn nhân” (21) Và không thiếu những gia đình, ngoài các phục dịch cho cuộc sống hàng ngày, đã biết mở rộng cửa đón tiếp những trẻ bị bỏ rơi, những thanh thiếu niên gặp khó khăn, những người bất hạnh, những người già cả cô đơn. Nhiều những trung tâm hỗ trợ sự sống hay những tổ chức tương tự, được sinh động nhờ có những cá nhân, những đoàn nhóm, với lòng tận tuỵ và những hy sinh đáng thán phục, đang nâng đỡ tinh thần và vật chất cho nhiều người mẹ gặp khó khăn và bị cám dỗ đi phá thai.

Người ta còn thiết lập và phát triển những nhóm thiện nguyện dấn thân tiếp đón những người không gia đình, những người gặp các hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hoặc những người cần tìm lại một nơi giáo dục, trong khi giúp họ vượt thắng các thói quen độc hại và trở về với ý nghĩa thực của cuộc sống.

Y học được nhiều nhà nghiên cứu và thành viên các ngành y tế nhiệt tình phục vụ, vẫn tiếp tục những cố gắng riêng để tìm ra các phương tiện ngày càng hữu hiệu: ngày nay người ta đạt những kết quả mà ngày xưa không ai có thể nghĩ tới, và mở ra những viễn ảnh có lợi cho sự sống đang triển nở, cho những người đau khổ, cho những bệnh nhân ở giai đoạn mãn tính hoặc cuối cùng. Có những cơ quan, những tổ chức khác nhau đang vận động để lấy y học làm mũi nhọn giúp đỡ những miền bị cùng khổ hay bị các bệnh tật hoành hành. Có những hiệp hội quốc gia và quốc tế các y sĩ cũng hoạt động để nhanh chóng cứu trợ những dân bị thiên tai, dịch tể hay chiến tranh. Dù còn lâu mới thực hiện được hoàn toàn nền công bình quốc tế chân thật, bằng việc phân phối các sản phẩm y tế rộng rãi, nhưng làm sao lại không nhận ra, trong các tiến bộ đã đạt được, những dấu chỉ của tình liên đới ngày càng gia tăng giữa các dân tộc, những dấu chỉ mang ý nghĩa nhân đạo và luân lý đáng ca ngợi, và là những dấu chỉ của một lòng tôn trọng lớn lao hơn đối với sự sống?

27. Trước những bộ luật cho phép phá thai và trước những mưu toan, đã thành công ở nơi này nơi khác, chấp nhận việc làm chết êm dịu, nhiều phong trào được thành hình và nhiều sáng kiến được áp dụng trên toàn thế giới, để làm cho xã hội phải nhạy cảm với việc bảo vệ sự sống. Khi những phong trào này hành động đúng theo cảm hứng chính thực của mình. Mạnh mẽ xác định lập trường mà không dùng đến bạo lực, đã giúp cho có nhiều người hơn ý thức về giá trị của sự sống, cũng như họ đã khơi dậy và đạt được những việc dấn thân cương quyết hơn để bảo vệ sự sống.

Đàng khác, làm sao không nhắc tới những hành vi thường ngày như đón tiếp, hy sinh, săn sóc vô vị lợi mà một số đông vô kể những con người đã thực hiện với tấm lòng thương mến trong các gia đình, nhà thương, viện mồ côi, nhà hưu dưỡng cho những cụ già, và trong nhiều trung tâm hay cộng đoàn khác đang bảo vệ sự sống? Theo gương Chúa Giêsu là “người Samari nhân hậu” (x. Lc 10,29-37) và được Ngài ban sức mạnh nâng đỡ, Giáo Hội đã luôn đứng hàng đầu trên mặt trận của tình bác ái, nhiều con cái trong Giáo Hội nam cũng như nữ, đặc biệt là các tu sĩ, theo những hình thức truyền thống được canh tân, đã hiến dâng và tiếp tục hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, dâng đời mình vì yêu thương anh chị em yếu đuối nhất, thiếu thốn nhất. Họ xây dựng theo chiều sâu một nền “văn minh của tình yêu và sự sống”, không có nền văn minh này thì sự hiện hữu của cá nhân và xã hội sẽ mất đi ý nghĩa nhân bản chính thực nhất. Dù chẳng ai nhìn ra họ, dù họ vẫn ẩn khuất trước mặt số đông người đời, đức tin vẫn bảo đảm với ta rằng Thiên Chúa Cha, “Đấng nhìn thấy trong nơi kín đáo” (Mt 6,4), không những sẽ ban thưởng, mà còn làm cho họ thêm phong phú ngay từ đời này, làm cho họ mang nhiều hoa quả bền vững vì lợi ích của tất cả mọi người.

Giữa các dấu chỉ của niềm Hy vọng, phải ghi nhận trong các tầng lớp dư luận quần chúng, sự phát triển một cảm thức mới luôn luôn chống lại việc nhờ chiến tranh, để giải quyết những xung đột giữa các dân tộc, và luôn luôn hướng về việc tìm kiếm những phương tiện hữu hiệu, không “bạo lực” để chận đứng kẻ vũ trang xâm lược. Cũng trong hệ tư tưởng này, dư luận quần chúng vẫn phổ biến sự chống đối án tử hình, cho dù người ta chỉ coi nó như phương tiện “bảo vệ hợp pháp” cho xã hội, thì chiếu theo những khả năng mà một xã hội hiện đại có thể dùng để trấn áp tội phạm cách hữu hiệu, người ta phải làm sao cho kẻ phạm pháp không còn gây cho xã hội, mà vẫn không làm cho kẻ ấy mất hẳn khả năng tự cải hoá.

Cũng phải tích cực đón chào sự quan tâm càng ngày càng lớn đối với phẩm chất sự sống, đối với tương quan học mà ta gặp thấy nhất là tại các xã hội tiên tiến, nơi đó, hiện người ta ít chú tâm vào những vấn đề giúp sống lâu hơn, cho bằng vào việc cải thiện toàn bộ các điều kiện sống, việc lặp lại suy tư đạo đức về chủ đề sự sống mang một ý nghĩa đặc biệt; sự sáng tạo và phát triển liên tục khoa đạo đức sinh học hỗ trợ cho những suy tư và đối thoại- giữa những người có tín ngưỡng và không tín ngưỡng, cũng như giữa những tín hữu thuộc các tôn giáo khác nhau- về những vấn đề đạo đức căn bản liên quan đến sự sống con người.

28. Viễn cảnh này vừa mang ánh sáng vừa xen bóng tối, phải làm cho chúng ta ý thức đầy đủ rằng chúng ta đang đứng trước cuộc đối đầu gay gắt và thảm khốc giữa cái xấu và cái tốt, giữa sự chết và sự sống, giữa “văn hoá sự chết” và “văn hoá sự sống”. Không những chúng ta chỉ “đứng trước” mà chắc chắn còn “ở giữa’ cuộc xung đột này: chúng ta tất cả đều có liên quan tích cực trong đó, chúng ta không được tránh né trách nhiệm phải chọn lựa vô điều kiện việc bênh vực sự sống.

Lời răn đe rõ ràng và mạnh mẽ của Môsê cũng nói với chúng ta: “Này đây hôm nay ta đặt trước mặt ngươi sự sống và hạnh phúc, sự chết và đau khổ… Ta đặt trước mặt ngươi sự sống hoặc sự chết, sự chúc lành hoặc chúc dữ. Vậy hãy chọn sự sống, để ngươi và miêu duệ ngươi được sống” (Đnl 30,15-19). Lời răn đe ấy cũng hoàn toàn hợp cho chúng ta là những kẻ hằng ngày phải chọn lựa giữa “văn hoá sự sống” và “văn hoá sự chết”. Nhưng tiếng gọi của sách Đệ Nhị Luật còn sâu sắc hơn vì đề nghị với chúng ta sự chọn lựa đích thực mang tính tôn giáo và luân lý. Đây là vấn đề tìm hiểu cho cuộc sống của mình một hướng đi căn bản, là vấn đề sống trung thành theo luật Chúa dạy: “Hãy nghe những huấn lệnh mà hôm nay ta truyền cho ngươi: Yêu mến Giavê Thiên Chúa của ngươi, đi theo đường lối của Người, giữ các lệnh truyền, luật điều và phán quyết của Người … Hãy chọn sự sống, hầu ngươi và dòng dõi người được sống, là yêu mến Giavê Thiên Chúa của ngươi, nghe tiếng Người và khăng khít với Người: vì đó là sự sống của ngươi, là sự sống lâu dài nơi ngươi cư ngụ trên trái đất… (Đnl 30,19-20)

Việc lựa chọn sự sống cách vô điều kiện sẽ đạt tới độ sung mãn theo ý nghĩa tôn giáo và luân lý, khi nó phát xuất từ niềm tin vào Chúa Kitô, khi nó được thành hình và nuôi dưỡng bằng niềm tin ấy. Không có gì giúp ta sẵn sàng tham gia cuộc chiến tranh giữa sự chết và sự sống, một cuộc đấu tranh mà ta đang đắm chìm vào, cho bằng niềm tin nơi Con Thiên Chúa làm người và đã đến giữa loài người “để loài người được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10) : Đó là niềm tin vào Chúa Phục Sinh, Đấng chiến thắng sự chết; đó là niềm tin vào Máu Thánh Chúa Kitô “hùng biện hơn máu Abel” (Dt 12,24). Trước những thách đố của tình hình hiện nay, theo ánh sáng và sức mạnh của niềm tin ấy, Giáo Hội ý thức cách sống động hơn về ơn sủng và trách nhiệm Chúa trao, để loan báo, để tôn dương và để phục vụ Tin Mừng về sự sống.