CHƯƠNG II
“TÔI ĐẾN ĐỂ CHO HỌ ĐƯỢC SỐNG”
SỨ ĐIỆP KITÔ GIÁO VỀ SỰ SỐNG
Nhìn về Chúa Kitô “Lời Sự Sống”
“Sự sống đã được tỏ hiện, chúng tôi đã nhìn thấy” (1Ga 2)
29. Trước vô số những đe doạ nghiêm trọng đè nặng trên sự sống trong thế giới hôm nay, ta có thể vẫn như là bị dằn vặt, vì cảm thấy một nỗi bất lực không thể vượt qua: điều thiện sẽ không bao giờ đủ mạnh mẽ để chiến thắng cái ác.
Chính lúc đó Dân Chúa, và trong Dân Chúa mọi người tin được kêu mời khiêm tốn và can đảm tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô, “Lời sự sống” (1Ga 1,1) Tin Mừng về sự sống không phải là một suy tư đơn thuần về sự sống, mặc dù độc đáo và sâu sắc, cũng không phải chỉ là lệnh truyền để báo động lương tri và khơi lên những biến đổi quan trọng trong xã hội, càng không phải là lời hứa viễn vông về một tương lai tốt đẹp hơn. Tin Mừng về sự sống là một thực tại cụ thể và mang tính ngôi vị, vì hệ tại ở việc loan báo về chính ngôi vị của Chúa Giêsu. Với tông đồ Thomas và qua ông, với bất kỳ ai, Chúa Giêsu tự giới thiệu: “Thầy là Đường đi, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,60), Ngài cũng khẳng định căn tính ấy với Marta, chị của Lazarô: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Thầy, dù kẻ ấy có chết cũng sẽ sống và bất kỳ ai sống và tin Thầy, sẽ không chết bao giờ” (Ga 11,25-26). Chúa Giêsu là Chúa Con từ nguyên thuỷ đã nhận sự sống của Chúa Cha (x.Ga 5,26) và đã đến giữa loài người để cho họ tham dự vào hồng ân này: “Tôi đến để cho họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Như thế, chính là từ lời nói, hành động và ngôi vị của Chúa Giêsu mà loài người được khả năng “nhận biết” chân lý trọn vẹn về giá trị của sự sống con người; chính từ “nguồn” này mà tựu trung loài người nhận được khả năng “thi hành” chân lý cách hoàn hảo, hoặc nhận lãnh và thi hành đầy đủ trách nhiệm yêu quý và phục vụ sự sống con người, bảo vệ và thăng tiến nó.
Quả vậy, trong Chúa Kitô, đã dứt khoát được loan truyền và trao ban đầy đủ Tin Mừng về sự sống, Tin Mừng này vốn hiện diện trong Mạc Khải của Cựu Ước, và một cách nào đó đã ghi khắc trong trái tim của mọi người, nam cũng như nữ, vẫn hằng vang lên trong mỗi lương tâm “ngay từ ban đầu,tức là ngày Thiên Chúa sáng tạo thế giới, đến mức, cho dù có những lựa chọn tiêu cực của tội lỗi, Tin Mừng này vẫn được lý trí con người nhận biết ở những nét cốt yếu. Như Công đồng Vatican II đã viết, Chúa Kitô dùng “tất cả sự hiện diện và biểu lộ về chính Ngài bằng lời nói và việc làm, bằng dấu chỉ và phép lạ, và đặc biệt nhất, là bằng sự chết và phục sinh vinh hiển của Người từ giữa những người chết, rồi qua việc ban Thánh Thần chân lý, Ngài kết thúc mặc khải bằng cách hoàn chỉnh, và củng cố Mặc Khải bằng cách xác nhận uy quyền rằng chính Thiên Chúa ở cùng ta để lôi kéo ta ra khỏi chốn tối tăm tội lỗi và sự chết, và phục sinh ta cho ta được sống đời đời (22)
30. Vì vậy, hướng nhìn lên Chúa Giêsu, chúng ta muốn nghe lời Ngài nói lại “những lời Thiên Chúa” (Ga 3,34) và muốn lại được suy gẫm Tin Mừng về sự sống. Ý nghĩa sâu xa nhất và độc đáo nhất của việc suy gẫm sứ điệp mặc khải về sự sống con người, đã được thánh Gioan tông đồ thấu hiểu, khi Ngài viết ngay ở đầu lá thư thứ nhất: “Điều từ thuở ban đầu đã có, điều chúng tôi chính mắt nhìn xem, điều chúng tôi đã từng chiêm ngắm, điều hai tay chúng tôi đã sờ tới, về Lời sự sống- vì Sự Sống đã tỏ hiện, chúng tôi đã từng thấy, chúng tôi đã làm chứng và loan báo sự sống đời đời ấy cho anh em, Sự Sống ấy luôn hướng về Chúa Cha và đã xuất hiện cho chúng ta- điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho anh em, để anh em cùng hiệp thông cùng chúng tôi” (1Ga 1,1-3).
Như vậy nơi Chúa Giêsu, “Lời sự sống”, sự sống thần linh và vĩnh hằng đã được loan báo và ân ban này, sự sống thể lý và thiêng liêng của con người, ngay cả trong giai đoạn trần thế, đã nhận đầy đủ giá trị và ý nghĩa của nó: quả vậy, sự sống thần linh và vĩnh cửu là mục đích mà con người trên trần gian hướng đến và được mời gọi tới. Như thế Tin Mừng về sự sống chứa đựng điều mà ngay cả kinh nghiệm và lý trí con người đều nói về giá trị của sự sống, Tin Mừng về sự sống tiếp đón, nâng cao và đưa sự sống con người tới mức hoàn chỉnh.
Sự sống bao giờ cũng là điều thiện hảo
“Sức mạnh và lời ca của tôi chính là Chúa, tôi mong ơn Ngài cứu độ” (Xh 15,2)
31. Quả thực, sự sung mãn mang tính Tin Mừng của sứ điệp về sự sống đã được chuẩn bị ngay trong Cựu Ước. Nhất là chính trong biến cố Xuất hành, trọng tâm của kinh nghiệm đức tin trong Cựu Ước, mà khi Israel bị án tiêu diệt, vì một đe doạ tàn sát đè nặng trên hết thảy hài nhi sơ sinh của họ (x. Xh 1,15-23) thì Chúa tỏ mình ra cho họ như Đấng Cứu Độ, Đấng cơ thể bảo đảm tương lai cho kẻ không còn hy vọng. Và như thế nảy sinh trong dân Irael một ý thức chính xác: Sự sống của họ không thể tùy hứng của một Pharao muốn lấy quyền độc tài mà áp bức ra sao cũng được, trái lại sự sống của họ là đối tượng của tình yêu nhân hậu và mạnh mẽ từ phía Thiên Chúa.
Sự giải phóng khỏi cảnh nô lệ là ân ban một căn tính, là sự nhìn nhận một phẩm giá bất khả huỷ và là khởi đầu một lịch sử mới, ở đó sự khám phá ra Thiên Chúa và sự khám phá ra chính mình đi đôi với nhau. Kinh nghiệm này của xuất hành là căn bản và mẫu mực. Israel học biết được rằng, mỗi khi họ bị đe doạ trong cuộc sống, họ chỉ cần chạy lại cùng Thiên Chúa với niềm cậy trông mới để gặp được nơi Ngài một sự phù trì linh nghiệm: “Ta đã nặn đúc ngươi, ngươi làm đầy tớ Ta, Israel ơi, Ta sẽ không quên ngươi” (Is 44,21)
Như thế, khi nhận biết được giá trị sự sinh tồn của mình như là một dân tộc, Israel cũng tiến bước trong sự hiểu được ý nghĩa và giá trị của sự sống với tư cách là sự sống. Đó là một suy tư được phát triển cách đặc sắc trong các sách triết ngôn, khởi đi từ cảm nghiệm hằng ngày về sự sống bấp bênh, cũng như ý thức được những đe doạ đang rình rập nó. Trước những mâu thuẫn trong cuộc sống, đức tin được mời gọi lên tiếng giải đáp.
Nhất là chính vấn đề đau khổ đang thách đố niềm tin, đang thử lửa nó. Làm sao không hiểu thấu được tiếng kêu than của con người ở khắp nơi, trong lúc gẫm suy sách Job? Người vô tội bị đau khổ đè bẹp thì cũng dễ hiểu là họ phải đi tới chỗ tự hỏi: “Tại sao ban ánh sáng cho kẻ khốn cùng, ban sự sống cho kẻ lòng đầy đắng cay, mong chết đi mà chẳng được, kẻ tìm cái chết như kẻ tìm kho báu?” (Job 3,20-21). Ngay trong cảnh tối tăm dày đặc, đức tin vẫn thúc đẩy nhìn nhận ra “một mầu nhiệm, trong tinh thần cậy trông và tôn thờ: “Tôi biết là Ngài toàn năng: điều Ngài nghĩ, Ngài thực hiện được.” (Job 42,2)
Dần dần, mặc khải làm cho ta hiểu được mỗi ngày rõ ràng hơn cái mầm sống bất tử mà Đấng Tạo Hoá đặt trong trái tim mọi người: “Tất cả những vật Chúa ban đều tốt trong thời chúng; Chúa đã đặt trong lòng chúng tổng số thời gian” (Gv 3,11). Cái niềm tin toàn thể và sung mãn này đang chờ được tỏ lộ trong tình yêu thương và được hoàn chỉnh trong việc dự phần sự sống đời đời nhờ một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa.
Trong cảnh đời bấp bênh, Chúa Giêsu đưa ý nghĩa sự sống đến mức hoàn hảo
“Danh Chúa Giêsu đã làm cho người này mạnh khoẻ lại” (Cv 3,16)
32. Kinh nghiệm của dân tộc Giao Ước lại tái diễn trong kinh nghiệm của mọi “người nghèo khổ” những người gặp gỡ Chúa Giêsu thành Nazareth. Như Thiên Chúa, “bạn của sự sống” (Kn 11,26), đã trấn an Israel giữa cơn hiểm nghèo, cũng thế ngày nay con Thiên Chúa loan báo cho những ai cảm thấy mình bị đe doạ và bị cản trở trong cuộc đời biết rằng sự sống của họ là một thiện hảo mà tình yêu của Chúa Cha phú ban cho một ý nghĩa và một giá trị.
“Những người mù được thấy, những kẻ què được đi, kẻ cùi được sạch, kẻ điếc lại được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo khó được nghe loan báo Tin Mừng” (Lc 7,22). Qua những lời kêu gọi của ngôn sứ Isaia (Is 15,5-6; 61,1), Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa của sứ mệnh Ngài, những kẻ đau khổ vì một hình thức bất hạnh nào trong đời họ, cũng được nghe từ Ngài Tin Mừng về lòng Thiên Chúa Cha chăm sóc cho họ và họ xác tín rằng sự sống của họ cũng là một hồng ân được giữ chắc trong bàn tay Cha” (x.t 6,25-34).
Chính những “kẻ nghèo khổ” được đặc biệt quan tâm bởi lời giảng và hành động của Chúa Giêsu. Những đoàn bệnh nhân và người bên lề xã hội khi đi theo Chúa, và đi tìm Chúa, đã gặp được trong lời nói và hành vi của Ngài sự Mặc Khải về giá trị sự sống của họ, và về những gì làm cơ sở cho việc họ mong chờ ơn cứu độ.
Trong sứ mệnh của Giáo Hội khi loan báo về Chúa Giêsu “Đấng” đi qua đâu cũng đều thi ân giáng phúc và chữa lành mọi kẻ bị quỷ ma thống trị, vì Thiên Chúa ở cùng Ngài” (Cv 10,38), Giáo Hội cũng biết rằng mình mang sứ điệp cứu rỗi đang vang vọng một cách trọn vẹn mới mẻ, nhất là giữa những hoàn cảnh của khốn cùng và nghèo đói mà con người phải trãi qua trong cuộc đời. Chính thánh Phêrô đã làm như thế, khi chữa lành người què, ngày ngày được đưa tới đặt gần “Cửa Đẹp” của Đền Thờ Giêrusalem để xin bố thí: “Bạc vàng thì tôi không có, nhưng có gì thì tôi cho anh: nhân danh Chúa Giêsu người Nazareth, anh hãy bước đi” (Cv 3,6). Trong niềm tin vào Chúa Giêsu “tác giả sự sống” (Cv 3,15), thì sự sống hiện có đó, bị bỏ rơi và đang van xin lại gặp được ý thức về mình và gặp được phẩm giá đầy đủ.
Lời nói và việc làm của Chúa Giêsu và của Giáo Hội không chỉ liên hệ tới người sống trong bệnh tật, đau khổ hay trong những hình thức bị gạt bỏ khác nhau. Một cách sâu xa hơn, những lời nói việc làm ấy đụng chạm tới ý nghĩa sự sống của mọi người trong chiều kích luân lý và tinh thần của họ. Chỉ ai nhìn nhận đời sống mình bị mắc bệnh tội lỗi, mới có thể tìm lại được trong cuộc gặp Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế, chân lý và sự chính thực của đời mình, như lời Chúa Giêsu dạy: “Có cần đến lương y, hẳn không phải là người lành mạnh, mà là người đau ốm. Ta không đến gọi những người công chính mà gọi người tội lỗi hối cải” (Lc 5,31-32).
Trái lại, người bắt chước anh nông dân giàu có trong dụ ngôn Tin Mừng, tưởng mình có thể bảo đảm cuộc sống chỉ bằng tài sản vật chất của mình, thì thực ra đã sai lầm, sự sống đã vụt tắt khỏi anh ta, anh ta mất nó rất nhanh, không nhìn ra được ý nghĩa thực của sự sống: “Đồ ngu ngốc, ngay đêm nay người ta sẽ đòi hồn ngươi, mọi thứ ngươi tích trữ sẽ về tay ai?” (Lc 12,20).
34. Chính trong cuộc đời của Chúa Giêsu từ đầu tới cuối, mà ta tìm gặp được “biện chứng” lạ lùng giữa kinh nghiệm về sự bấp bênh của sự sống con người và sự khẳng định của sự sống ấy. Quả thật, sự sống của Chúa Giêsu đã được ghi dấu bằng sự bấp bênh ngay từ khi Ngài sinh ra. Quả thực Chúa đã gặp được sự đón tiếp thuận lợi của những người công chính, họ hiệp ý với lời “xin vâng” nhanh nhẹn và vui vẻ của Đức Maria (x. Lc 1,38). Nhưng cũng chính ngay từ đầu đã có sự từ chối của một thế giới tỏ ra thù địch và tìm hài nhi để giết đi (Mt 2,13), hoặc là dửng dưng, không quan tâm tới việc hoàn tất mầu nhiệm sự sống đã vào nơi trần thế: “Không còn chỗ nào trong quán cho hai ông bà (Lc 2,7). Sự tương phản giữa một đàng là những đe doạ bất an, một đàng là quyền năng của ơn Thiên Chúa ban làm rạng ngời lên, hết sức mạnh mẽ, chính vinh quang toát ra từ máng cỏ Bêlem và từ căn nhà Nazareth: sự sống sinh ra đây là ơn cứu độ cho nhân loại. (x. Lc 2,14).
Những mâu thuẫn, những rủi ro trong cuộc sống Chúa Giêsu nhận cả: “Giàu có như Ngài, mà vì anh em, Ngài đã nên nghèo khổ, ngõ hầu anh em nên giàu có, nhờ sự khó nghèo của Ngài” (2Cr 8,9). Sự nghèo khó mà Thánh Phaolô nói, không chỉ là trút bỏ mọi đặc ân của thần tính, mà còn là chia sẻ mọi cảnh sống thấp hèn nhất, bấp bênh nhất của đời người, (x. Pl 2,6-7). Chúa Giêsu sống cảnh nghèo trong suốt cuộc đời trần thế, tới giây phút cuối cùng trên Thập Giá: “Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở nên vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá. Bởi vậy, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và trao Ngài danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu”. (Pl 2,8-9). Chính trong cái chết của mình mà Chúa Giêsu mạc khải tất cả sự cao cả và giá trị của sự sống, bởi vì việc Ngài tự hiến dâng trên Thập giá đã trở nên nguồn sống mới cho mọi người (x. Ga 12,32) khi Ngài đối diện với những chống đối và những cái tiêu diệt sự sống của Ngài, Chúa Giêsu đi thẳng tới vì nắm chắc bảo đảm rằng sự sống của Ngài ở trong tay Chúa Cha. Vì thế, trên cây Thập Tự, Ngài thân thưa: “Lạy Cha, Con ký thác hồn Con trong tay Cha” (Lc 23,46) tức là Chúa Giêsu phó thác sự sống cho Chúa Cha. Quả thực là cao cả, giá trị của sự sống con người, vì Con Thiên Chúa đã lãnh nhận sự sống ấy và làm cho trở nên dụng cụ để Cứu độ toàn thể nhân loại!
Vinh Quang Thiên Chúa rạng ngời trên khuôn mặt của con người
“Được gọi… để nên người đồng hình đồng dạng với hình ảnh Con của Người (Rm 8,28-29)
34. Sự sống bao giờ cũng là điều thiện hảo. Đó là điều ta trực giác thấy, mà cũng là một dữ kiện của kinh nghiệm mà con người được gọi để thấu hiểu lý do sâu xa của nó.
Tại sao sự sống là một thiện hảo? – Câu hỏi được đặt ra trong toàn bộ Kinh Thánh và ngay những trang đầu, đã tìm ra được câu giải đáp mạnh mẽ tuyệt vời. Sự sống mà Thiên Chúa ban cho con người thì khác với và tách biệt khỏi sự sống của bất cứ sinh vật nào, bởi vì, dù vẫn “thân thích” với bụi đất (x. St 2,7; 3,19; G 34,15; Tv 103 (102),14; 104(103),29), con người trên trái đất là sự biểu lộ Thiên Chúa, một dấu chỉ cho sự hiện diện của Ngài, một vết tích của vinh quang Ngài (x. St 1,26-27; Tv 8,6). Đó là điều Thánh Irênê thành Lyon muốn nhấn mạnh bằng định nghĩa thời danh: “Vinh quang Thiên Chúa là con người đang sống” (23). Con người đã được trao ban một phẩm giá cao sang mà căn nguyên bám sâu trong liên hệ thân thiết nối kết con người với Đấng Tạo Thành nên họ: nơi con người, toả sáng chính thực tại của Thiên Chúa.
Đấy là khẳng định của sách Sáng thế ký, trong trình thuật thứ nhất về nguồn gốc các sự vật, trình thuật này đặt con người trên đỉnh cao trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa, như một kết thúc cho khối hỗn mang vô dạng, sau thời kỳ phát triển, đã đạt tới tạo vật hoàn thành nhất. Trong tạo vật tất cả đều được hướng tới con người và tất cả luỵ thuộc con người: “Hãy nên đầy dẫy trên đất, hãy bá chủ nó! Hãy cai trị …trên mọi loài sinh vật” (St 1,28). Thiên Chúa đã truyền lệnh cho người nam và người nữ như vậy. Trình thuật này thuộc về nguồn gốc các vật, đưa ra một sứ điệp tương tự: “Giavê Thiên Chúa đã đem con người đặt trong vường Eden để canh tác và giữ vườn” (St 2,15). Như vậy là quyền bá chủ của con người trên các vật được tái khẳng định: mọi vật được dành cho con người, được giao cho con người chịu trách nhiệm, trong khi con người không vì một lý do gì mà có thể bị nô lệ cho đồng loại mình, cũng không bị liệt một cách nào đó vào hàng sự vật.
Trong trình thuật Thánh Kinh, sự phân biệt giữa con người và các thụ tạo khác được bày tỏ hiển nhiên qua sự kiện việc sáng tạo nên con người được trình bày như kết quả do một quyết định đặc biệt của Thiên Chúa, do một thảo luận để đặt mối dây liên hệ riêng và đặc biệt với Đấng Tạo Hoá: “Ta hãy làm ra người theo hình ảnh Ta, giống như ta” (St 1,16), sự sống mà Thiên Chúa ban tặng con người là một hồng ân, qua đó Thiên Chúa làm cho thụ tạo của Ngài tham dự vào cái gì đó của chính Ngài.
Israel tự hỏi mình rất lâu về ý nghĩa của mối liên hệ riêng đặc biệt giữa con người với Thiên Chúa. Sách Giảng Viên cũng nhận rằng khi Thiên Chúa dựng nên loài người, “Ngài mặc cho họ bộ áo sức mạnh và dựng nên họ theo hình ảnh Ngài” (Gv 17,3). Tác giả Thánh Kinh nối kết với điều đó không những việc con người cai trị thế giới, mà cả những tài năng tinh thần đặc thù của con người nữa, như lý trí, khả năng phân biệt tốt xấu, ý chí tự do: “Ngài ban cho họ được đầy trí thức và thông minh, và cho họ biết được điều thiện điều ác” (Gv 17,7). Khả năng đạt tới chân lý và tự do là những đặc ân của con người xét theo sự kiện con người được tạo thành theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá, Thiên Chúa chân thật và công minh (x. Đnl 32,4). Trong các tạo vật hữu hình, chỉ con người có được “khả năng nhận biết và yêu mến Đấng Sáng Tạo nên mình” (24). Sự sống mà Thiên Chúa ban cho con người còn hơn cả một cuộc hiện hữu trong thời gian. Đây là việc vươn tới sự sống sung mãn; đây là mầm của sự sinh tồn vượt ra khỏi giới hạn thời gian. “Phải, Thiên Chúa đã dựng nên con người để không hư nát, Ngài làm ra nó như hình ảnh của bản tính Ngài”. (Kn 2,23).
35. Trình thuật Giavít về nguồn gốc các sự vật cũng diễn tả xác tín ấy. Quả vậy câu chuyện kể xa xưa nói về hơi thở thần linh được thổi vào con người để con người bước vào sự sống. “Giavê Thiên Chúa đã nắn hình người bằng đất bùn nhuyễn và Ngài đã hà hơi sống vào mũi nó và người đã thành một hữu thể sống động” (St 2,7)
Nguồn gốc thần linh của tinh thần sự sống ấy giải thích tại sao có sự triền miên không thoả mãn đi theo con người suốt cuộc đời. Được Thiên Chúa dựng nên, mang trong mình một dấu ấn thần linh không thể xoá được, tự nhiên con người vươn lên với Chúa. Khi lắng nghe khát vọng sâu xa của lòng mình, con người không thể không coi như của chính mình, lời chân thật này của Thánh Augustinô “Lạy Chúa, Chúa tác thành chúng con cho Chúa, và lòng chúng con không an nghỉ được, cho tới khi nó ở trong Ngài” (25)
Càng có ý nghĩa hơn nữa, khi thấy cái không thoả mãn này xâm nhập sự sống của con người trong vườn Eđen, bao lâu người chỉ quan hệ với thế giới thực vật và động vật mà thôi (x. St 2,20). Mãi tới khi xuất hiện người nữ, một hữu thể là thịt của thịt mình, là xương của xương mình (x. St 2,23) và nơi nàng cũng có thần khí sống của Thiên Chúa sáng tạo, bấy giờ người mới có thể thoả mãn nhu cầu đối thoại giữa các nhân vị, là điều sinh tử trong cõi nhân sinh. Trong kẻ khác là người nam hay nữ đó, Thiên Chúa đã giải toả hình ảnh Ngài, Đấng là cùng đích làm thoả mãn mọi con người.
“Con người là chi mà Chúa tưởng nghĩ đến, loài người là gì mà Chúa phải chăm lo?” Tác giả thánh vịnh tự hỏi như vậy (Tv 8,5). đứng trước cảnh vũ trụ bao la, con người quả là một vật bé nhỏ, nhưng chính nét tương phản này làm nổi bật sự cao cả của con người: “Người đã dựng nên con người kém thiên thần một chút, (cũng có thể dịch: “kém Thiên Chúa một chút”) danh dự và vinh quang, Ngài ban tặng con người” (Tv 8,6). Vinh quang Thiên Chúa rực rỡ trên nét mặt con người. Nơi con người, Thiên Chúa gặp được chốn nghỉ ngơi, như Thánh Ambrôsiô đã thán phục và cảm kích chú giải: “Ngày thứ sáu đã kết thúc; công trình sáng tạo thế giới đã hoàn thành với việc dựng nên kiệt tác là con người, còn con người thì hành xử quyền bính trên mọi sinh vật, vì người là tột đỉnh của vũ trụ và là nét đẹp cao quý nhất của mọi hữu thể đã được tạo thành. Thật vậy, lẽ ra chúng ta phải tôn kính mà im lặng, vì Chúa đã nghỉ ngơi sau khi sáng tạo thế giới. Sau đó Ngài nghỉ ngơi trong sâu thẳm của con người, Ngài nghỉ ngơi trong tâm trí và tư tưởng của con người: Quả vậy, Ngài đã dựng nên con người có lý trí, có thể bắt chước Ngài, noi theo các nhân đức của Ngài, khát vọng những hồng ân thiên giới. Trong những ân huệ đó là ơn ban của Ngài, Thiên Chúa nghỉ ngơi, Ngài phán: “Ta sẽ nghỉ ngơi trên ai,… nếu không phải trên con người khiêm tốn, người yên hàn và run sợ trước lời Ta” (Is 66,1-2). Tôi cảm tạ Chúa là Thiên Chúa chúng ta, Ngài dựng nên một công trình kỳ diệu quá đỗi để nơi đó Ngài gặp được chốn nghỉ ngơi” (26)
36. Rủi thay kế hoạch lạ lùng của Thiên Chúa lại bị phản ngược vì tội lỗi đã xâm nhập vào lịch sử. Bởi tội lỗi, con người khởi loạn chống lại Đấng tạo thành nên mình, để sau đó thờ các thụ tạo, thờ ngẫu tượng: “Họ đã tôn thờ và phụng sự tạo vật hơn là thờ Đấng Tạo Hoá” (Rm 1,25). Như vậy, làm dơ bẩn nơi mình chính hình ảnh của Thiên Chúa vẫn chưa đủ, con người còn dám xúc phạm hình ảnh ấy nơi những người khác nữa, bằng cách thay thế nhiều quan hệ hiệp thông bằng những thái độ khinh thường dửng dưng, thù nghịch tới mức ghen ghét sát nhân. Khi người ta không nhận biết Thiên Chúa như là Thiên Chúa, người ta sẽ phản bội ý nghĩa sâu xa về con người và vi phạm sự hiệp thông giữa loài người.
Trong đời sống con người, hình ảnh Thiên Chúa lại sáng ngời và bộc lộ với tất cả sự sung mãn khi Con Thiên Chúa xuống mang lấy thân xác con người: “Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), là “ánh rạng ngời vinh quang của Thiên Chúa, là ảnh đúc bản thể của Người” (Dt 1,3). Ngài là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha.
Sau cùng kế hoạch về sự sống được trao phó cho Ađam thứ nhất cũng hoàn tất trong Chúa Kitô. Khi sự bất tuân của Adam nhận chìm và làm sai lệch ý định của Thiên Chúa trên cuộc sống của con người, và làm cho sự chết len lõi vào thế gian, thì sự tuân phục của Chúa Kitô Cứu Thế là nguồn ơn lại tràn đổ trên mọi người, khi mở cửa vương quốc sự sống cho tất cả (x. Rm 5,12-21). Thánh Phaolô tông đồ khẳng định điều đó: “Người đầu tiên là Ađam đã thành hồn sống, còn Ađam cuối cùng đã nên thần khí tác sinh (1 Cr 15,45).
Tất cả những ai chấp nhận đi theo Chúa Kitô, sẽ được sống sung mãn, nơi họ, hình ảnh Thiên Chúa được phục hồi, đổi mới, đưa tới mức hoàn thiện. Đấy là ý định của Thiên Chúa trên tất cả mọi người: Họ hãy nên “đồng dạng với hình ảnh con của Ngài” (Rm 8,29). Chỉ có như thế, trong ánh sáng ngời của hình ảnh này, con người mới có thể được cứu thoát khỏi vòng nô lệ của việc thờ ngẫu tượng, mới có thể xây dựng tình huynh đệ đã bị gãy đổ và tìm lại được căn tính của mình.
Ơn ban của sự sống vĩnh cửu
“Ai Sống và tin Ta sẽ không chết bao giờ” (Ga 11,26)
37. Sự sống mà Thiên Chúa đã ban cho loài người không chỉ giới hạn ở cuộc sinh tồn trong thời gian. Sự sống, vốn từ muôn thuở ở “trong Ngài” và là “ánh sáng cho loài người” (Ga 1,4), sự sống ấy hệ tại việc được sinh ra bởi quyền năng Thiên Chúa và tham dự bởi tình yêu sung mãn của Ngài: “Còn những ai đón nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa, cho những kẻ tin vào Danh Ngài, họ không do máu huyết mà sinh ra, cũng không phải do ý xác thịt, cũng không phải do ý của nam nhân, nhưng chính do bởi Thiên Chúa mà được sinh ra” (Ga 1,12-14)
Đôi khi, Chúa Giêsu gọi sự sống Ngài mang đến bằng danh từ đơn giản “sự sống” và Ngài trình bày sự sinh ra bởi Thiên Chúa như điều kiện tất yếu để có thể đạt cùng đích mà vì đó Chúa đã sáng tạo con người: “Ai không bởi trên mà sinh ra, thì không thể thấy được Nước Thiên Chúa” (Ga 3,3). Ơn ban sự sống này làm nên đối tượng riêng của sứ mệnh Chúa Giêsu: Ngài là “Đấng từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian” (Ga 6,33) đến độ Ngài đã hết sức chân thật khẳng định: “Ai theo Ta …sẽ có ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12)
Vào những dịp khác, Chúa Giêsu nói tới sự sống vĩnh hằng bằng cách dùng một tính từ không nguyên chỉ nhắm về một nhãn giới siêu thời gian. “Sự sống được hứa và được trao ban nhờ Chúa Giêsu là sự sống vĩnh hằng bởi vì nó là sự tham dự sung mãn vào sự sống của Đấng Vĩnh Hằng. Ai tin Chúa Giêsu và hiệp thông với Ngài, là có sự sống vĩnh hằng, vì chính bởi Ngài mà người ấy hiểu được những lời có thể mạc khải và thông ban sự sống đời đời” mà Phêrô đã nhận ra trong lời tuyên tín: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy có những lời đem đến sự sống đời đời. Và chúng con đã tin cùng nhận biết Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69). Sự sống đời đời được Chúa Giêsu định nghĩa khi Ngài thân thưa với Cha trong lời nguyện tư tế: “Sự sống đời đời là chúng nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai đến là Chúa Giêsu Kitô!” (Ga 17,3). Nhận biết Thiên Chúa và Con của Ngài, là tiếp nhận mầu nhiệm hiệp thông tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần vào đời sống của ta mà ngay bây giờ đã hướng mở về cuộc sống vĩnh cửu trong việc thông phần vào sự sống Thiên Chúa.
38. Vậy sự sống đời đời là chính sự sống của Thiên Chúa cũng như sự sống của những con cái Thiên Chúa. Người tín hữu không thể không càng ngày càng sửng sốt bỡ ngỡ và không thể không tri ân vô hạn trước chân lý lạ lùng khôn tả từ Thiên Chúa mà đến với ta trong Chúa Kitô. Người tín hữu sẽ mượn lời Thánh Gioan tông đồ mà kêu lên: “Hãy coi tình yêu Chúa Cha ban cho ta lớn lao dường nào, để ta được gọi là con Thiên Chúa. Và thực chúng ta là con Thiên Chúa!… Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa, ta sẽ là gì thì chưa được tỏ hiện. Ta biết rằng một khi điều ấy tỏ hiện, thì ta sẽ được giống như người, vì Người thế nào, ta sẽ được thấy như vậy” (1 Ga 3,1-2). Chính như thế mà chân lý Kitô giáo về sự sống đạt tới mức tràn đầy. Giá trị sự sống không chỉ gắn liền với nguồn cội của nó, theo như nó được trao ban từ Thiên Chúa, mà còn nối kết vào cùng đích, vào vận mệnh của nó là được hiệp thông với Thiên Chúa, để nhận biết và yêu mến Ngài: Chính qua ánh sáng chân lý này mà Thánh Irênê xác định và bổ túc việc tuyên dương con người: “Vinh quang của Thiên Chúa đúng là “con người đang sống”, “nhưng sự sống của con người” là được “hưởng kiến Thiên Chúa” (27).
Từ đó, ta rút ra những hệ quả trực tiếp cho sự sống con người ngay trong thân phận trần thế của họ, nơi đó sự sống đời đời đã nảy mầm và tăng trưởng. Nếu con người tự bản năng vốn yêu sự sống vì sự sống là một thiện hảo, thì tình yêu này còn tìm thấy ra một động lực và một sức mạnh khác, một mức độ sâu rộng mới trong những chiều kích thần linh của thiện hảo này. Theo viễn ảnh ấy, tình yêu của bất cứ người nào đối với sự sống không chỉ hạn hẹp vào việc tìm một không gian để bày tỏ chính mình họ và để tương giao với những người khác mà thôi, nhưng tình yêu ấy còn mở rộng trong ý thức hân hoan rằng họ có thể làm cho cuộc sống họ trở nên “nơi chốn” Thiên Chúa tỏ mình ra, nơi được gặp Ngài và hiệp thông với Ngài. Sự sống mà Chúa Giêsu trao ban cho ta không làm giảm giá trị cuộc sống ta trong thời gian, nhưng đón nhận giá trị ấy và dẫn đưa nó tới vận mệnh cánh chung: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai sống và tin Ta sẽ không chết bao giờ” (Ga 11,25-26)
Tôn trọng và yêu quý sự sống của mọi người
“Với từng người, Ta sẽ đòi trả lẽ về sự sống của anh em mình” (St 9,5)
39. Sự sống của con người từ Thiên Chúa mà đến, đó là ân huệ của Ngài, là hình ảnh, dấu ấn của Ngài. Thiên Chúa là Đức Chúa duy nhất của sự sống này: Con người không thể định đoạt về nó. Chính Thiên Chúa đã nhắc lại cho Noe sau đại hồng thuỷ: “Từ máu ngươi, là chính mạng sống ngươi, Ta sẽ đòi trả lẽ … với mọi người: với từng người, Ta sẽ đòi trả lẽ về mạng sống anh em mình” (St 9,5). Bản văn Kinh Thánh đã cẩn thận nhấn mạnh rằng tính cách thánh thiêng của sự sống có cơ sở nơi Thiên Chúa và nơi hành động sáng tạo của Ngài: “Vì con người được tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa” (St 9,6).
Vậy sự sống và sự chết của con người ở trong bàn tay Thiên Chúa, ở trong quyền năng Ngài: “Chính Chúa nắm trong tay hồn của mọi sinh linh và hơi thở của mọi xác thịt người phàm” ông Job đã kêu lên như vậy (G 12,10).”Giavê làm cho chết và làm cho sống, người đày xuống âm phủ và lại đưa lên” (1 Sm 2,6). Chỉ có Ngài mới có quyền phán: “Chính Ta làm cho chết và làm cho sống” (Đnl 32,39).
Thiên Chúa không thực hiện uy quyền một cách tùy nghi hay tàn ác, nhưng với sự ân cần và chăm sóc đầy yêu thương đối với các tạo vật của Ngài. Nếu quả thật đời sống con người ở trong tay Thiên Chúa, thì cũng rất thật là đôi tay ngài đầy dịu hiền, như đôi tay người mẹ đón nhận, nuôi nấng và chăm sóc con mình: “Con giữ hồn con bình an im lặng, hồn con ở trong con, như bé thơ trong lòng mẹ hiền” (Tv 131/139,2; x. Is 49,15; 66,12-13; Hs 11,4). Như thế, trong lịch sử các dân tộc và trong cảnh đời từng các nhân, Israel không thấy có hậu quả do ngẫu nhiên thuần tuý hay do vận mệnh mù quáng, nhưng nhìn ra kết quả do một ý định yêu thương, qua đó Thiên Chúa khôi phục mọi tiềm năng của sự chết do tội lỗi gây ra: “Thiên Chúa không làm ra sự chết, Ngài không vui khi mất một sinh linh, Ngài dựng nên tất cả để tồn tại” (Kn 1,13-14).
40. Sự sống là thánh thiêng, nó mang tính bất khả xâm phạm được khắc ghi từ ban đầu trong lòng người, trong lương tâm con người. Câu hỏi: “Ngươi đã làm gì?” (St 4,10) mà Thiên Chúa hỏi Cain, sau khi hắn ta đã giết Abel em mình, diễn tả kinh nghiệm của mọi người: trong đáy sâu lương tâm mình, con người vẫn được nhắc nhở về tính bất khả xâm phạm của sự sống, sự sống mình cũng như sự sống của người khác, như một thực thể không thuộc con người, vì nó là sở hữu và ân ban của Đấng Tạo hoá và cũng là Cha của họ.
Giới răn liên hệ tới tính bất khả xâm phạm của sự sống vang lên giữa “mười lời” trong giao ước Sinai. (x. Xh 20,13). “Ngươi đừng giết kẻ vô tội, người ngay lành” (Xh 23,7). Giới răn ấy còn cấm gây thương tích cho người khác, như bộ luật của Israel về sau đã giải thích: cấm gây thương tích cho người khác (x. Xh 21,12-27).
Phải nhìn nhận rằng trong Cựu Ước, việc quan tâm tới giá trị của sự sống, dù được khẳng định rõ ràng, nhưng chưa đạt tới nét tinh vi của Bài giảng trên núi, như ta thấy trong một số Bộ luật hình sự có hiệu lực vào thời ấy, trong đó đã qui định những hình phạt nặng nề trên thân thể, có khi còn có án tử hình. Nhưng sứ điệp tổng quát mà Tân ước sẽ phải đưa tới mức hoàn hảo, vốn đã là lời kêu gọi khẩn thiết phải tôn trọng tính bất khả xâm phạm của sự sống thể lý và sự toàn vẹn nơi con người; giới luật ấy đạt tới cao độ trong điều răn tích cực bắt buộc lãnh trách nhiệm về người lân cận như về chính mình: “Ngươi sẽ yêu mến người lân cận như chính mình” (Lv 19,18).
41. Giới luật: “Ngươi sẽ không giết người”, được bao hàm và được đào sâu trong giới luật tích cực về tình yêu đối với người lân cận, được Chúa Giêsu tái khẳng định trong tất cả ý lực của giới răn ấy. Với chàng thanh niên giàu sang đến hỏi: “Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sống đời đời? Chúa Giêsu đáp: Nếu anh muốn vào trong sự sống, anh hãy giữ các giới luật” (Mt 19,16-17). Rồi Chúa nêu lên như điều thứ nhất trong những giới luật này: “ngươi chớ giết người” (câu 18). Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ một sự công chính cao hơn sự công chính của giới Ký lục và Biệt phái, trong mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực tôn trọng sự sống: “Các ngươi đã nghe bảo người xưa: chớ giết người; kẻ giết người thì sẽ can án. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: phàm ai tức giận anh em mình thì sẽ can án”. (Mt 5,21-22).
Sau đó bằng những lời nói và hành vi của mình, Chúa Giêsu đòi hỏi những tích cực của giới luật này về tính bất khả xâm phạm của sự sống. Những đòi hỏi ấy đã có trong Cựu Ước, trong đó luật lệ quan tâm đến việc bảo hộ và cứu trợ những người có cuộc sống yếu kém và bị đe doạ: ngoại kiều, bà goá, kẻ mồ côi, bệnh tật, nói chung là kẻ nghèo, cả đến sự sống trước khi sinh ra nữa (x. Xh 21,22; 22,20-26). với Chúa Giêsu, những đòi hỏi tích cực này mang một sức mạnh và một đà tiến mới, cũng như chúng được biểu lộ hoàn toàn sâu rộng: chúng đi từ sự cần thiết phải săn sóc đời sống của người anh em (người cùng một gia đình, thuộc cùng một dân tộc, người ngoại kiều ở trên đất Israel) tới việc gánh trách nhiệm về người ngoại quốc, cho tới cả việc yêu thương kẻ thù.
Người ngoài sẽ không còn là người ngoài nữa đối với kẻ tự làm cho mình gần gũi những ai cần được giúp đỡ, đối với kẻ cảm thấy mình có trách nhiệm về sự sống của họ, như Chúa Giêsu dạy rất hùng hồn trong dụ ngôn người Samari nhân hậu (x. Lc 10,25-37). Cả kẻ thù cũng không còn là kẻ thù nữa đối với ai quyết tâm yêu thương họ (x. Mt 5,38-40; Lc 6,27-35) lại còn “làm ơn” cho họ (x. Lc 6, 27.33-35). Tình yêu này khi đạt tới tột đỉnh trong việc cầu nguyện cho kẻ thù sẽ làm cho ta được hoà nhịp với tình yêu khoan dung của Thiên Chúa: “Còn Ta, Ta bảo các con: hãy mến yêu thù địch và khẩn cầu cho những kẻ bắt bớ các con, ngõ hầu các con nên những người con của Cha các con, Đấng ở trên trời, vì Ngài cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác” (Mt 5, 44-45; Lc 6,28-35).
Như vậy, lệnh truyền của Thiên Chúa, chủ tâm bảo vệ đời sống con người, đã đi tới mức sâu xa trong sự đòi hỏi tôn trọng và thương mến mọi người cũng như mọi sự sống. Giáo huấn của Thánh Phaolô cũng vang vọng lời Chúa Giêsu đã dạy, Thánh tông đồ viết cho các Kitô hữu Roma: “những giới luật: chớ ngoại tình, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ tham muốn, và mọi lệnh truyền nào khác đều tóm lại nơi một lời này: Ngươi hãy yêu đồng loại như chính mình. Yêu mến hẳn không làm hại người đồng loại. Vậy yêu mến là chu toàn cả lề luật” (Rm 13,9-10).
Những trách nhiệm của con người đối với sự sống
“Hãy nên phong phú, sinh sôi nảy nở, đầy dẫy trên đất và bá chủ nó (St 1,28)
42. Bảo vệ và thăng tiến sự sống, tôn trọng và yêu mến sự sống, đó là nhiệm vụ Thiên Chúa trao cho mọi người, khi kêu gọi họ, vốn là hình ảnh sống động của Chúa, tham dự vào quyền làm chủ mà Ngài đang thực hiện trên thế giới: “Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng và phán bảo chúng: Hãy sinh sôi nảy nở đầy dẫy trên đất và bá chủ nó! Hãy cai trị trên các biển chim trời và mọi loài sinh vật bò trên đất” (St 1,28).
Bản văn Kinh Thánh làm sáng tỏ chiều rộng của quyền làm chủ mà Chúa ban cho con người. Trước hết đây là việc cai trị trên mặt đất và trên mọi sinh vật, như sách Khôn ngoan nhắc nhở: “Lạy Thiên Chúa của tổ tiên, là Chúa đầy thương xót…Chúa đã dùng sự khôn ngoan Chúa mà tạo nên con người để cai trị các tạo vật mà Chúa làm ra, để cai trị chúng trong thánh thiện công bình” (Kn 9,1-3). Tác giả Thánh vịnh cũng đề cao việc làm chủ của con người như dấu chỉ của Vinh quang và Danh dự được Đấng Tạo hoá ban cho: “Chúa cho con người thống trị các kiệt tác tay Ngài làm muôn sự, Ngài đã đặt dưới chân (con người) chiên, dê, bò, ngựa hết thảy, lại thêm các thú rừng, chim trời, cá biển, những vật ngang dọc trên đại dương…(Tv 8,7-8).
Được gọi để trồng trọt và giữ vườn thế giới (x. St 2,15) con người có trách nhiệm riêng đối với môi trường sự sống, nghĩa là đối với thiên nhiên mà Chúa đã dựng và sắp đặt để phục vụ phẩm giá cá vị của con người, phục vụ sự sống con người, và Ngài làm như vậy không những cho hiện tại, mà cho các thế hệ tương lai nữa. Đó là vấn đề môi sinh- từ việc bảo quản “nơi ở” tự nhiên của mọi loài động vật và nhiều hình thức sống khác cho đến “môi sinh của con người” nói riêng (28)- đều thấy trong trang Kinh Thánh này một lời linh hứng rõ ràng và mạnh mẽ mang tính đạo đức, để mọi giải pháp phải tôn trọng điều thiện hảo lớn lao nhất, là sự sống, mọi sự sống. Thực ra, “Quyền bá chủ mà Đấng Tạo Hoá ban cho con người, không phải là tuyệt đối, và người ta không thể nói đến tự do “sử dụng hay lạm dụng”, hoặc đặt để mọi cái theo như mình muốn được. Giới hạn mà Thiên Chúa đặt ra ngay từ đầu và được diễn tả biểu trưng bằng việc “cấm ăn trái Cây” (St 2,16-17), giới hạn đó cho thấy rõ ràng rằng, trong khung cảnh thiên nhiên hữu hình, chúng ta vẫn phải tuân phục các định luật không những về sinh học mà còn về luân lý, những định luật không thể vi phạm cách vô tội vạ”. (29)
43. Việc con người tham dự phần nào đó vào quyền Chủ Tể của Thiên Chúa cũng được biểu lộ rõ ràng, do sự kiện họ được trao phó trách nhiệm đặc thù đối với sự sống con người nói riêng. Đó là một trách nhiệm sẽ đạt tới đỉnh cao khi người nam và người nữ, trong bậc hôn nhân, ban tặng sự sống qua việc sinh sản, như công đồng Vatican II nhắc lại: “Chính Thiên Chúa, Đấng đã phán: “người ta ở một mình không tốt” (St 2,18), và là Đấng ngay từ ban đầu đã dựng nên con người có nam có nữ (x. Mt 19,4), muốn con người đặc biệt tham dự vào công trình sáng tạo, vì thế Ngài chúc phúc cho người nam và người nữ: “Hãy sinh sôi nảy nở thêm nhiều” (St 1,28) (30). Khi nói người nam và người nữ “tham dự đặc biệt” vào “công trình sáng tạo” của Thiên Chúa, Công Đồng muốn nhấn mạnh: sinh được một đứa con là biến cố có tính nhân bản sâu sắc và tính tôn giáo cao cả, vì biến cố này đòi hỏi sự dấn thân của hai người phối ngẫu sau khi họ đã nên “một thân xác” (St 2,24), đồng thời Thiên Chúa cũng hiện diện trong biến cố đó. Như tôi đã viết trong Thư gởi các Gia đình, “khi sự phối hiệp trong hôn nhân của hai người sinh ra người mới, thì em bé này mang trong đời hình ảnh và hoạ ảnh đặc biệt giống như Thiên Chúa: trong môn sinh học về ngành sinh sản, đã ghi khắc gia phả con người. Khi khẳng định rằng đôi vợ chồng, vì là cha mẹ, nên cũng là cộng tác viên của Thiên Chúa Sáng Tạo trong việc nhận mang thai và sinh một người mới, chúng ta không chỉ nhắc tới các định luật sinh học thôi mà đúng hơn chúng ta muốn nhấn mạnh rằng, trong việc làm cha làm mẹ đó của con người, chính Thiên Chúa hiện diện một cách khác với những gì xảy ra trong các loại hình sinh sản khác “trên trái đất”. Quả thế, “hình ảnh” và “hoạ ảnh” của Thiên Chúa chỉ có thể từ Thiên Chúa mà tới, và là điều dành riêng cho con người, như đã xảy ra trong ngày sáng tạo. Sinh sản là tiếp tục sáng tạo.”(31).
Đấy là điều bản văn Kinh Thánh dạy bằng ngôn ngữ nói và trực tiếp, bản văn kể lại tiếng reo vui của người nữ đầu tiên, “mẹ của tất cả chúng sinh (St 3,20). Ý thức được sự can thiệp của Thiên Chúa, bà Eva kêu lên: “Tôi đã được một người con nhờ ơn Đức Chúa” (St 4,1). Trong việc sinh sản, khi sự sống được thông truyền từ cha mẹ tới người con, và nhờ sự sáng tạo “linh hồn bất tử (32), thì hình ảnh và hoạ ảnh Thiên Chúa cũng truyền theo. Chính theo nghĩa đó mà “sách gia phả Adam” diễn tả: “Ngày Thiên Chúa dựng nên người, thì Chúa dựng nên người theo hoạ ảnh Thiên Chúa. Chúa dựng nên họ có nam có nữ; Chúa chúc phúc cho họ và cho họ cái tên là “người”, vào ngày họ được tạo thành. Khi Adam được một trăm ba mươi ba tuổi, ông sinh một con trai theo hoạ ảnh ông như hình ảnh ông, và ông đặt tên là Seth” (St 5,1-3). Chính trong vai trò cộng tác viên của Thiên Chúa, là truyền hoạ ảnh cho tạo vật mới, đã thể hiện sự cao cả của đôi vợ chồng, họ được chuẩn bị đủ mà “cộng tác với tình yêu của Đấng Tạo Hoá và Cứu Độ, Đấng muốn nhờ họ mà không ngừng làm cho gia đình Ngài lớn rộng và nên phong phú” (33). Trong viễn ảnh ấy, Đức Giám mục Amphiloque đề cao “hôn nhân là điều thật có giá trị, thật là cao cả hơn hết mọi ân huệ trên trái đất”, bởi vì nó như “một người sáng tạo ra nhân loại, một hoạ sĩ vẽ lên hình ảnh thần linh. (34)
Như vậy khi người nam và người nữ kết hiệp với nhau bằng dây liên kết hôn nhân, họ đã hợp tác với công việc của Thiên Chúa bằng hành vi sinh sản, hồng ân của Thiên Chúa được tiếp nhận và một sự sống mới được mở ra cho tương lai.
Như bên kia sứ mệnh đặc thù của cha mẹ, việc đón nhận và phục vụ sự sống liên hệ tới mọi người và phải biểu lộ nhất là đối với sự sống đang ở trong những điều kiện yếu đuối nhất. Chính Chúa Kitô nhắc nhở ta điều ấy, khi Ngài đòi ta yêu mến và phục vụ Ngài trong anh em Ngài là những kẻ bị thử thách bởi bất cứ đau khổ nào: những kẻ đói khát, những ngoại kiều, kẻ không có áo mặc, người bệnh tật, kẻ bị cầm tù…Điều gì ta làm cho từng người trong họ là làm cho chính Chúa Kitô (x. Mt 25,31-46).
Phẩm giá của hài nhi chưa sinh ra
“Tạng phủ tôi chính Ngài tạo dựng” (Tv 139/138,13)
44. Đời sống con người gặp một tình cảnh thật là bấp bênh, khi nó chào đời, và khi nó ra khỏi thời gian để tới cõi vĩnh hằng. Lời Chúa không thiếu những tiếng mời gọi ta chăm sóc và kính trọng sự sống, nhất là sự sống mang dấu bệnh tật hoặc già yếu. Nếu không có những lời mời gọi trực tiếp và minh nhiên phải cứu vãn sự sống con người, cũng như sự sống gần tàn lụi, thì điều ấy thật dễ giải thích, do sự kiện là khả năng xúc phạm, tấn công, hay tệ hơn nữa, phủ định sự sống trong những điều kiện như thế, là xa lạ đối với viễn ảnh tôn giáo và văn hoá của dân Chúa.
Trong Cựu Ước, người ta sợ việc không có con như sợ một sự chúc dữ, trong khi đó người ta cảm thấy như được Chúa chúc lành nếu có nhiều con cái: “Con cái là gia nghiệp mà Chúa ban và hoa quả lòng dạ là phần thưởng” (Tv 126,3; x. Tv 127,3-4). Cùng với xác tín ấy, lại thêm tác dụng của ý thức rằng Israel là dân của Giao Ước, được gọi để sinh ra nhiều, theo lời Chúa hứa với Abrraham: “Hãy nhìn lên trời và hãy đếm các ngôi sao, xem ngươi có thể đếm được không… Dòng dõi ngươi sẽ đông như thế” (St 15,5). Nhưng điều đáng kể nhất, là xác tín rằng sự sống được cha mẹ truyền cho có nguồn gốc từ nơi Thiên Chúa, như nhiều trang Thánh Kinh đã chứng thực, khi trân trọng và thân thương nói về việc thụ thai, việc sự sống thành hình trong lòng mẹ, việc chào đời và mối dây liên hệ chặt chẽ giữa giây phút đầu tiên của sự sống và tác động của Thiên Chúa , Đấng Tạo Thành. “Trước khi Ta nắn ra ngươi trong lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi” (Gr 1,5): Cuộc đời mỗi cá nhân, ngay từ đầu, đã ở trong kế hoạch của Thiên Chúa. Trong đáy vực đau khổ, ông Job vẫn nán lại để chiêm ngắm kỳ công của Thiên Chúa trong cách thức lạ lùng Chúa tác tạo nên thân ông trong lòng mẹ, từ đó ông rút ra lý do để tin cậy và bày tỏ niềm xác tín về dự tính của Chúa trên đời ông: “Tay Ngài đã nặn và tạo nên tôi, rồi đổi ý, Ngài muốn huỷ tôi! Xin hãy nhớ, Ngài đã dựng nên tôi từ đất sét, rồi Ngài sẽ đưa tôi về đất bụi. Ngài đã chẳng đổ tôi như sữa, và làm tôi đặc lại như sữa đặc lên men sao? Ngài chẳng đã lấy da thịt mặc cho tôi và dệt tôi bằng gân cốt sao? Ngài đã cho tôi sự sống và máu nóng, và ân cần săn sóc hơi thở tôi” (G 10,8-12). Những âm điệu ngạc nhiên và tôn thờ sự can thiệp của Thiên Chúa vào sự sống đang thành hình trong lòng mẹ vang lên trong các Thánh vịnh. (35)
Làm sao tưởng tượng được rằng chỉ một khoảnh khắc thôi trong quá trình huyền diệu của việc xuất hiện sự sống có thể tách khỏi hành động khôn ngoan và nhân hậu của Thiên Chúa, và bị bỏ mặc cho độc quyền của con người? Điều ấy chắc chắn không phải là ý nghĩ của bà mẹ bảy người con tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng là nguyên lý và bảo đảm sự sống ngay từ lúc được thụ thai, và đồng thời là nền tảng của niềm hy vọng về một đời sống mới sau khi chết: “Mẹ không biết làm sao các con xuất hiện trong lòng mẹ, không phải mẹ đã cho các con tinh thần và sự sống, cũng không phải mẹ đã tổ chức các yếu tố tạo nên từng đứa chúng con. Vì thế, Đấng Tạo Thành vũ trụ, Đấng đã dựng nên loài người và là nguồn mọi vật, sẽ trả lại cho các con cả “tinh thần cả sự sống, theo lòng thương xót của Ngài, vì bây giờ các con biết khinh thường chính mình vì yêu mến Lề Luật của Ngài” (2 Mcb 7,22-23).
45. Mặc khải trong Tân Ước lại kiện chứng việc nhìn nhận không chối cãi được giá trị của sự sống từ khi nó bắt đầu hình thành. Những lời bà Isave tả nỗi vui mừng được mang thai cũng đề cao việc có đứa con và hăm hở đón chào một người con: “Chúa đã khấng cất nỗi hỗ nhục của tôi” (Lc 1,25). Nhưng giá trị của con người ngay từ khi thành thai, càng được tôn trọng hơn nữa trong dịp Đức Maria gặp bà Isave, cũng như việc gặp gỡ giữa hai hài nhi còn trong lòng hai bà mẹ. Chính hai người con ấy tiết lộ sự đăng quang của thời đại Messia: trong cuộc gặp gỡ giữa hai hài nhi, sức mạnh cứu độ do việc hiện diện của Con Thiên Chúa ở giữa loài người bắt đầu tác động. Thánh Ambrôsiô viết: “Ngay lập tức, người ta cảm thấy những ơn lành do Đức mẹ mang tới và do việc Chúa hiện diện… Bà Isave là người đầu tiên nghe lời chào, nhưng Gioan là người đầu tiên cảm nhận được ân sủng: người mẹ nghe, theo trật tự thiên nhiên, người con đã nhảy mừng vì mầu nhiệm; người mẹ thấy Đức Maria đến, nhưng người con nhận ra Đức Chúa đến. Người phụ nữ thấy người phụ nữ, nhưng con của bà nhận ra Đức Chúa Con. Hai phụ nữ trao nhau những lời ân sủng, hai hài nhi tác động ở trong lòng hai bà mẹ và bắt đầu thực hiện mầu nhiệm từ bi thương xót làm cho hai người mẹ được tiến lên trong mầu nhiệm ấy. Sau cùng, qua hai phép lạ, hai người mẹ nói tiên tri dưới sự cảm ứng của con mình. Người con nhảy mừng, thì người mẹ được đầy Chúa Thánh Thần; người mẹ đã không đầy Chúa Thánh Thần trước con bà, nhưng khi con bà được đầy Thánh Thần, thì cũng làm bà được đầy Thánh Thần.
Sự sống trong tuổi già và trong đau khổ
“Tôi vẫn tin, ngay cả khi tôi nói: Ôi, khổ thân tôi quá!” (Tv 115,10)
46. Về những gì liên quan tới khoảnh khắc cuối cùng của đời người, sẽ là sai lầm nếu chờ đợi từ Mặc Khải Thánh Kinh một chỉ dẫn minh nhiên về vấn đề hiện nay, là sự tôn trọng người già cả, người bệnh tật, hay việc minh nhiên lên án những thử nghiệm nhằm dùng bạo lực để chấm dứt sớm sự sống; quả vậy, ta đã ở ngay đó rồi, ở trong một bối cảnh văn hoá và tôn giáo không hề có nguy cơ bị những cám dỗ tương tự, mà còn nhìn nhận nơi người cao niên, cùng với sự khôn ngoan và kinh nghiệm, còn có sự phong phú không thể thay thế được cho gia đình và cho xã hội.
Tuổi già là tuổi có uy tín và được người chung quanh kính trọng (x. 2 Mcb 6,23). Người công chính không xin được cất đi tuổi già hay gánh nặng cuộc sống, trái lại người già cầu xin: “Lạy Chúa, Ngài là niềm hy vọng của con, nâng đỡ con từ lúc thanh xuân… Mãi tới ngày già nua tóc bạc, xin ngài đừng bỏ con, để con loan báo cho người thời nay biết quyền lực của Ngài, và những kỳ công của Ngài cho những người sẽ đến” (Tv 71,5.18). Lý tưởng của thời Đấng Messia được đề ra như một thời gian sẽ không còn “người nào không đạt tuổi thọ” (Is 65,20).
Nhưng đến tuổi già, làm sao đối phó với sự suy tàn không thể tránh được? Cư xử ra sao trước sự chết? Người tín hữu biết rằng sự sống mình ở trong tay Chúa: “Lạy Chúa, số phận con lệ thuộc vào ngài” (Tv 16,5) và họ chấp nhận sự chết từ nơi Chúa: Đó là định luật Chúa mang đến cho mọi xác phàm: Sao lại phản nghịch Thánh ý của Đấng Tối Cao?” (Gv 41,4).
Con người chẳng làm chủ được sự sống, cũng chẳng làm chủ được sự chết: trong khi sống cũng như trong khi chết, con người phải hoàn toàn tuân theo “thánh ý Đấng Tối Cao”, tuân theo ý định tình thương của Ngài.
Khi bệnh tật cũng vậy, con người cũng được gọi để phó thác cho Chúa như thế, và nhắc lại lòng cậy trông bền vững nơi Ngài, Ngài có thể “chữa mọi bệnh tật” (Tv 103,3). Khi mọi viễn ảnh về sức khoẻ như khép lại trước con người đến mức phải kêu van: “Những ngày sống của con như chiều nghiêng bóng, và thân con như cây cỏ héo tàn” (Tv 102,12), cả những lúc như thế người tín hữu được sinh động bằng đức tin vững mạnh vào quyền năng tác sinh của Thiên Chúa. Tật bệnh không xúi con người thất vọng và đi tìm cái chết, nhưng khiến họ kêu xin với lòng tin tưởng: “Tôi vẫn tin ngay cả khi tôi nói: ôi khổ thân tôi quá” (Tv 116,20) “Khi con kêu lên Chúa, Chúa của con, Ngài đã chữa con; Lạy Chúa, Ngài đã đưa con lên khỏi vực sâu và cho con sống, lúc con đã xuống mồ” (Tv 30,3-4).
47. Sứ mệnh của Chúa Giêsu, kèm theo nhiều lần chữa bệnh, chứng tỏ Thiên Chúa cũng để tâm đến đời sống thân xác của con người. “Là lương y chữa thân xác và tinh thần” (37) Chúa Giêsu được Cha sai đến mang Tin Mừng cho người nghèo khó, băng bó những tấm lòng bị thương (x Lc 4,18, Is 61,1). Về sau, khi sai môn đệ đi khắp thế giới, Ngài trao sứ mệnh cho họ, trong sứ mệnh ấy có việc chữa trị bệnh tật kèm theo việc loan báo Tin Mừng: “Hãy đi và loan báo rằng: Nước Trời đã gần bên. Hãy chữa lành bệnh nhân, phục sinh kẻ chết, tẩy sạch người phong cùi, hãy xua đuổi ma quỷ.” (Mt 10,7-8; Mc 6,13; 16,18).
Quả thực, đời sống thân xác trong điều kiện trần thế, không phải là tuyệt đối cho người tín hữu: Có thể có việc yêu cầu họ phải bỏ mạng sống vì sự thiện cao hơn, như Chúa Giêsu đã dạy: “Ai cứu mạng mình thì sẽ mất, nhưng ai mất mạng mình vì Ta và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được nó” (Mt 8,35). Về vấn đề này ta có một số chứng từ trong Tân Ước. Chúa Giêsu không ngại hy sinh chính mình và tự do lấy mạng sống làm của lễ dâng lên Chúa Cha (x. Ga 10,17) vì bạn hữu mình (x. Ga 10,15). Cái chết của Gioan tẩy giả, vị tiền hô của Chúa Cứu Thế, cũng chứng nhận sự sống trần gian không phải là tuyệt đối: việc trung thành với lời Chúa còn quan trọng hơn, ngay cả nếu làm cho sự sống ấy bị lâm nguy (x. Mc 6,17-29). Và Stephanô, khi con người cướp sự sống trần thế của ông, vì ông là chứng nhân kiên quyết về việc Chúa Phục sinh, thì ông đã đi theo bước chân của Thầy và đáp trả bằng lời tha thứ cho những người ném đá ông (Cv 7,59-60), như thế ông đã mở đường cho đoàn lớp đông vô kể các vị tử đạo đã được Giáo Hội tôn kính ngay từ những buổi đầu.
Tuy nhiên không ai được phép tự ý muốn sống hay chết; quả vậy, chỉ một mình Đấng Tạo Hoá là chủ thể mới có quyền cho chết hay sống,vì nơi Ngài mà “ta sống, cử động và hiện hữu” (Cv 17,28).
Từ lề luật Sinai tới ơn ban Thánh Thần
“Kẻ giữ lề luật sẽ sống” (Br 4,1)
48. Sự sống mang chân lý được ghi khắc trong mình không thể bị xoá bỏ được. Khi đón nhận ân huệ của Thiên Chúa, con người phải cam kết giữ sự sống ấy trong chân lý, chân lý này là điều thiết yếu cho sự sống. Tách rời khỏi chân lý tức là liều mình rơi vào cái vô nghĩa và khốn khổ, mà hậu quả là trở nên mối đe doạ cho sự sống của kẻ khác, do việc phá đổ các rào chắn bảo đảm lòng tôn trọng và bênh vực sự sống trong mọi tình huống.
Chân lý về sự sống được mạc khải qua giới răn của Thiên Chúa. Lời Chúa đã cụ thể vạch ra con đường mà sự sống phải theo để có thể tôn trọng chân lý và cứu lấy phẩm giá mình. Không chỉ có giới răn riêng biệt “ngươi chớ giết người” (Xh 20,13; Đnl 5,17) mới đảm bảo việc bênh vực sự sống: Toàn thể luật của Chúa đều phục vụ cho việc bảo vệ sự sống, vì luật Chúa mạc khải chân lý trong đó sự sống tìm được ý nghĩa đầy đủ của mình.
Vậy không lạ gì mà Giao Ước của Thiên Chúa với dân Ngài được gắn chặt với viễn ảnh sự sống, ngay cả trong thành phần cơ thể. Giới răn ấy được biểu lộ nơi thành phần cơ thể như con đường dẫn tới sự sống: “Hãy coi! Ta đặt trước mặt ngươi hôm nay sự sống và sự lành, sự chết và sự dữ. Điều Ta truyền dạy ngươi hôm nay là yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, là đi theo đường lối của Người, tuân giữ các lệnh truyền và luật điều cùng phán quyết của Người, ngươi sẽ được sống và nên đông đảo, và Thiên Chúa, Chúa của ngươi sẽ chúc phúc cho ngươi trên đất mà ngươi sẽ vào chiếm lấy” (Đnl 30,15-16). Đây không chỉ là đất Canaan và cuộc sinh tồn của dân Israel, mà là thế giới hôm nay và tương lai, là cuộc sinh tồn của nhân loại. Quả vậy, tuyệt đối sự sống không phải là chân thực và đầy đủ nếu nó tách rời khỏi sự thiện, và về phần mình, sự thiện được căn bản gắn liền với các giới răn của Chúa, có nghĩa là với “luật về sự sống” (Gv 17,11). Điều thiện cần được hoàn thành không phải là phụ thêm vào sự sống như một sức nặng làm khổ sự sống, bởi vì ngay lý hữu của sự sống lại chính là sự thiện, và sự sống chỉ được xây dựng bằng việc hoàn thành sự thiện.
Vậy chính toàn thể lề luật bảo đảm cách đầy đủ sự sống con người. Điều ấy có nghĩa là rất khó trung thành tuân giữ lệnh “ngươi chớ giết người” khi ta không giữ “những lời sự sống” khác (Cv 7,38) mà giới luật trên có liên hệ. Ngoài viễn ảnh này, cuối cùng thì giới luật đi từ việc bắt buộc đơn thuần từ bên ngoài mà người ta mau chóng muốn đặt ra những giới hạn và người ta sẽ tìm ra những cách giảm khinh hay nhưng khoản luật trừ. Chỉ khi nào ta mở lòng đón nhận toàn bộ chân lý về Thiên Chúa, về con người, về lịch sử, thì mệnh lệnh “ngươi chớ giết người” mới rực rỡ như một điều tôt lành cho con người, trong mọi chiều kích và quan hệ của con người. Trong nhãn giới nay ta mới hiểu được sự sung mãn của chân lý chứa đựng trong đoạn sách Đệ Nhị Luật mà Chúa Giêsu nhắc tới khi Ngài chống lại cơn cám dỗ thứ nhất: “Con người không sống chỉ bằng cơm bánh, mà còn bằng mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3; x. Mt 4,4).
Chính khi nghe Lời Chúa mà con người có thể sống đầy đủ theo phẩm giá và công lý; chính khi giữ luật Chúa, con người mới có thể sinh được hoa trái sự sống và hạnh phúc: “Ai giữ lề luật Chúa sẽ sống, ai bỏ lề luật sẽ chết” (Br 4,1).
49. Lịch sử Israel cho thấy quả là khó trung thành với lề luật về sự sống mà Chúa đã ghi khắc trong trái tim con người, và đã ban hành trên núi Sinai cho dân của Giao Ước. Trước việc người ta tìm những kế hoạch sống khác với kế hoạch của Thiên Chúa, các ngôn sứ đặc biệt nhắc lại mạnh mẽ rằng chỉ có Đức Chúa là nguồn chính thực của sự sống. Giêrêmia viết: “Dân của Ta đã phạm hai tội ác: họ đã bỏ Ta, là nguồn nước sự sống, để đào những cái giếng, những cái giếng nứt nẻ không giữ nước” (Gr 2,13). Các Ngôn sứ giơ tay chỉ vào những kẻ khinh thường sự sống và vi phạm quyền lợi con người mà tố cáo: “Họ giày đạp lên đầu kẻ yếu trên bụi đất” (Am 2,7); “Họ làm đầy máu vô tội lên nơi này” (Gr 19,4). Trong số các ngôn sứ, Êzêkiel nhiều lần ghi dấu cả trên Giêrusalem và gọi là “thành vấy máu” (Ed 22,2; 24,6.9), “thành đã đổ máu giữa ngươi” (Ed 22,3).
Nhưng khi tố cáo những vi phạm sự sống, các Ngôn sứ đặc biệt có ý khơi lên việc chờ đợi một nguyên lý sự sống mới xứng hợp để thiết lập những quan hệ được đổi mới giữa con người với Thiên Chúa và với anh em, mở ra những khả năng chưa từng thấy và rất khác thường, để hiểu và thực hành những đòi hỏi của Tin Mừng về sự sống. Việc này chỉ có thể làm được nhờ ơn Chúa, Đấng thanh tẩy và canh tân tất cả: “Và trên các ngươi, ta sẽ rảy nước sạch trong, Ta sẽ làm cho các ngươi sạch mọi uế nhơ. Ta sẽ cho các ngươi một quả tim mới, Ta sẽ đặt trong các ngươi một tinh thần mới” (Ed 36,25-26; x.Gr 31,31-34). Nhờ “trái tim mới” này, người ta có thể hiểu và thực hiện ý nghĩa thật và sâu xa nhất của sự sống: là ân huệ được hoàn chỉnh trong sự trao tặng chính mình. Đó là sứ điệp rạng ngời về giá trị của sự sống, sứ điệp đến với ta từ dung mạo người tôi tớ Thiên Chúa: “Nếu người đã hiến mình làm hy sinh đền tội, người sẽ thấy một dòng giống, sẽ được trường thọ… chính vì cảnh lao đao mạng người phải chịu, người sẽ thấy sự sáng” (Is 53,10-11).
Lề luật đã hoàn thành trong lịch sử của Đức Giêsu thành nazareth, và trái tim mới đã được Thánh Thần trao ban. Quả vậy, Chúa Giêsu không chối bỏ nhưng hoàn chỉnh Lề Luật (x. Mt 7,17); Lề Luật và Ngôn sứ gồm tóm trong điều luật này của tình yêu thương nhau (x. Mt 7,12). Nơi Chúa Giêsu, Lề Luật biến hẳn thành “Tin Mừng”, tin vui của quyền Chủ Tể của Thiên Chúa trên thế giới, đưa mọi sự sống về nguồn cội và về viễn ảnh nguyên thuỷ của nó. Đó là Lề Luật mới. “luật của Thánh Thần ban sự sống, trong Chúa Giêsu Kitô” (Rm 8,2), là hiến ban chính mình trong tình yêu thương anh em: “Phần chúng ta, chúng ta biết rằng chúng ta sẽ từ cõi chết qua cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em” (1 Ga 3,14). Đó là lề luật của tự do, của niềm vui và phúc lộc.
Tin Mừng về sự sống hoàn tất trên thập giá
“Chúng sẽ trông lên Đấng chúng đã đâm thâu” (Ga 19,37)
50. Đến cuối chương này, trong đó chúng ta đã suy gẫm sứ điệp Kitô giáo về sự sống, tôi muốn được cùng với từng người trong anh em dừng lại ngắm nhìn Đấng mà họ đã đâm, Đấng đã kéo mọi người lên với Ngài (x. Ga 19,37; 12,32). Nhìn tấm thảm kịch Thánh Giá (x. Lc 23,48) chúng ta đã khám phá trên cây vinh quang này việc hoàn tất và sự mạc khải đầy đủ toàn bộ Tin Mừng về sự sống.
Vào những giờ đầu của buổi chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Mặt trời bị che lấp, tối tăm xảy ra trên khắp địa cầu… bức màn trong thánh điện bị xé ra ở chính giữa” (Lc 23,44-45). Đó là biểu tượng một việc đảo lộn mang tính vũ trụ và cuộc đấu tranh hãi hùng giữa các lực lượng của sự thiện và sự ác, giữa sự sống và sự chết. Ngày nay cũng thế, chúng ta đang ở giữa cuộc đấu tranh thảm khốc giữa “văn hoá sự chết” và “văn hoá sự sống”.
Nhưng ánh sáng rạng ngời của Thánh Giá đã không bị cái tối tăm này che khuất. Thánh Giá càng nổi bật rõ nét và sáng tỏ hơn, và xuất hiện như một trung tâm, một định hướng, một mục đích của cả lịch sử và của từng sự sống con người.
Chúa Giêsu bị đóng đinh vào Thánh giá và được đưa lên cao khỏi mặt đất. Chúa sống giây phút của sự bất lực hoàn toàn và mạng sống Ngài như phải hứng lấy tất cả mọi sự chế giễu của kẻ thù địch và bị nộp vào tay những lý hình. Chúa Giêsu bị mỉa mai, chế giễu, sỉ nhục (x. Mc 15,24-36).
Tuy nhiên, trước tất cả những điều ấy, và “thấy Ngài đã tắt thở như thế”, viên sĩ quan La mã kêu: “Thật người nầy là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Như vậy là vào lúc yếu nhược cùng cực, căn tính của con Thiên Chúa được mạc khải: vinh quang tỏ hiện trên thập giá.
Qua sự chết của Ngài, Chúa Giêsu soi chiếu cho ý nghĩa sự sống và sự chết của từng con người chúng ta. Trước khi chết, Chúa Giêsu cầu khẩn Cha Ngài, xin tha thứ cho những người bách hại (x. Lc 23,34) và với kẻ tội phạm xin ngài nhớ đến anh ta khi Ngài về nước của Ngài, Chúa đáp: “Thật tôi bảo anh, hôm nay anh sẽ ở cùng tôi trên thiên đàng” (Lc 23,43). Sau khi Chúa chết, “các mồ mả mở ra, nhiều xác các thánh đã sống lại” (Mt 27,52). Ơn cứu độ do Chúa Giêsu thực hiện là ân ban sự sống và sự sống lại.. Trong cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu cũng đã ban ơn cứu độ bằng cách chữa bệnh, làm ơn lành cho mọi người. (x. Cv 10,38). Nhưng những phép lạ, những việc chữa trị và cho sống lại, chính chúng là dấu chỉ của một ơn cứu độ khác, hệ tại của việc tha thứ tội lỗi, tức là giải phóng con người khỏi cơn bệnh sâu xa nhất và đưa họ lên tới sự sống của chính Thiên Chúa.
Trên Thập giá, được canh tân và thực hiện một cách trọn vẹn hoàn hảo và dứt khoát điều kỳ diệu về con rắn đồng mà Môsê treo lên trong hoang địa (x. Ga 3,14-15, Ds 21,8.9). Cả ngày nay, khi nhìn về Đấng đã bị đâm thâu, bất kỳ người nào bị đe doạ về sự sống, cũng tìm được niềm hy vọng vững chắc đạt tới ơn giải thoát và cứu chuộc.
51. Nhưng còn một biến cố chính xác nữa thu hút cái nhìn của tôi và khơi lên một suy niệm nồng nhiệt: “khi đã uống giấm, Chúa Giêsu nói: “mọi sự đã hoàn tất, và gục đầu xuống, Ngài tắt hơi thở” (Ga 19,30). Rồi người lính La mã: “lấy đòng đâm cạnh sườn Ngài và tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34).
Từ nay, tất cả đã đạt tới mức hoàn chỉnh đầy đủ. Kiểu nói: “ tắt thở” diễn tả cái chết của Chúa Giêsu, giống như cái chết của mọi người khác, nhưng hình như còn ám chỉ “ơn ban Thánh Thần”, qua Người, Chúa Giêsu dùng sự chết của mình mà cứu chuộc ta khỏi chết và mở cửa cho ta vào sự sống mới.
Con người được ơn tham dự vào sự sống của chính Thiên Chúa. Đó là sự sống, nhờ Bí Tích của Giáo Hội – mà máu cùng nước từ cạnh sườn Chúa Kitô là biểu tượng – được luôn luôn thông ban cho con cái Thiên Chúa, nhờ đấy họ trở nên dân của giao ước mới. Từ nơi Thánh Giá, là nguồn sống, phát sinh và phát triển “dân của sự sống”.
Việc chiêm ngắm Thánh Giá dẫn ta đến cội rễ sâu xa nhất của những việc đã xảy ra. Khi đến thế gian Chúa Giêsu đã nói: “Này con đến để thi hành ý Cha” (x. Dt 10,9). Ngài muốn vâng lời Chúa Cha trong mọi sự và “vì đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), bằng cách nộp mình hoàn toàn vì họ.
Ngài đã ‘không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và trao nộp mạng sống làm giá cứu chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45), trên Thánh Giá, Chúa đạt đỉnh cao của tình yêu: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13). Và chính Chúa đã chết cho chúng ta khi ta còn là tội nhân (x. Rm 5,8).
Bằng cách này, Ngài tuyên bố rằng sự sống đạt tới tâm điểm, ý nghĩa và độ sung mãn khi nó được trao ban.
Đến đây việc suy gẫm biến thành lời ngợi khen và cảm tạ, đồng thời việc ấy thúc giục chúng ta bắt chước Chúa Giêsu và đi theo vết chân Ngài. (x. 1 Pr 2,21).
Chúng ta cũng vậy, chúng ta được gọi để hiến ban sự sống mình vì anh em, nhờ thế mà trở thành hiện thực. trong sự sung mãn của chân lý, chính ý nghĩa ấy và vận mạng của đời ta.
Lạy Chúa, chúng con có thể làm điều ấy, bởi vì Chúa đã làm gương cho chúng con, Chúa đã thông ban cho chúng con sức mạnh Thánh Thần của Chúa. Chúng con sẽ có thể làm được, nếu mỗi ngày chúng con cùng với Chúa và bắt chước Chúa mà vâng lời Chúa Cha và thi hành thánh ý Cha. Xin Chúa ban cho chúng con được ơn lắng nghe, với tấm lòng ngoan ngoãn và quảng đại, mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra; và như thế chúng con biết rằng chúng con không được giết sự sống, mà còn phải tôn trọng và mến yêu, yểm trợ sự sống.







