CHƯƠNG I

“THƯA THẦY, TÔI PHẢI LÀM ĐIỀU TỐT NÀO?”

(Mt 19,16)

ĐỨC KITÔ VÀ LỜI GIẢI ĐÁP CHO VẤN NẠN LUÂN LÝ

Người kia tiến lại gần…” (Mt 19,16)

  1. Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu với người thanh niên giàu có được Tin Mừng thánh Mát-thêu thuật lại trong chương 19, có thể dùng làm khung cửi hữu ích để dệt lại, một cách sống động và trực tiếp, nền giáo huấn luân lý của Đức Giêsu: “Và này có người kia tiến lại gần và hỏi Người: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều tốt nào để đạt được sự sống vĩnh cửu?” Người nói lại: “Sao anh lại hỏi Tôi về điều tốt lành? Chỉ có một Đấng duy nhất Tốt Lành mà thôi. Nếu anh muốn tiến vào sự sống, anh hãy tuân giữ các giới răn”. Người ấy hỏi: “Giới răn nào?”. Đức Giêsu nói tiếp: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, hãy thảo kính cha mẹ và hãy yêu thương tha nhân như chính mình”. Chàng thanh niên nói với Người: “Tất thảy những điều ấy, tôi đã tuân giữ rồi: tôi còn thiếu điều chi nữa?” Đức Giêsu tuyên bố với anh: “Nếu anh muốn nên trọn bảo, hãy về, hãy bán những gì anh có rồi đem tặng cho người nghèo, như thế anh sẽ có được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến và nối gót theo Thầy” (Mt 19,16-21) (13).
  2. “Và này có người kia…”. Ở nơi người thanh niên mà Tin Mừng thánh Mát-thêu không gọi tên, chúng ta có thể nhận ra bất kỳ người nào, hữu ý hoặc vô tình, đang tiến lại gần Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc loài người, và đang nêu lên Người vấn nạn luân lý. Đối với người thanh niên, vấn nạn về các quy luật phải tuân giữ đến sau vấn nạn về ý nghĩa tròn đầy của cuộc sống. Qủa vậy, đó chính là niềm khao khát nằm ở nơi nguồn cội của mọi quyết định và mọi hoạt động thuộc về con người, là cuộc truy tầm thầm kín và là khí phách thẳm sâu vốn tác động đến tự do, xét cho cùng, vấn nạn này phô diễn một khát vọng hướng về Sự Thiện tuyệt đối vốn hằng lôi cuốn chúng ta và mời mọc chúng ta tiến đến: vấn nạn này là tiếng vọng của ơn gọi đến từ Thiên Chúa. Đấng là nguồn cội và là cùng đích của đời sống con người. Cũng trong viễn tượng vừa nêu. Công Đồng Vatican II đã mời gọi đào sâu thần học luân lý phải làm nổi bật được ơn gọi rất cao cả mà các tín hữu đã lãnh nhận trong Chúa Kitô (14), Đấng là giải đáp độc nhất có sức lấp đầy một cách dư tràn nỗi khao khát của con tim nhân loại.

Chính vì muốn cho con người “gặp gỡ” được Đức Kitô trong cuộc sống mà Giáo Hội đã nằm trong ý định của Thiên Chúa. Thật vậy, “Gíao Hội chỉ mong muốn phục vụ có một mục tiêu duy nhất: đó là làm sao cho mọi người có thể gặp thấy Đức Kitô, ngõ hầu Đức Kitô có thể bước đi trên đại lộ sự sống, làm bạn đường với mỗi người “ (15).

 “Thưa Thầy, tôi phải làm điều tốt nào để đạt được sự sống vĩnh cửu? “ (Mt 19.16)

  1. Chính từ nơi đáy lòng mà người thanh niên đã đem vấn nạn này ngỏ với Đức Giêsu Na-gia-rét, một vấn nạn thiết cốt và bất khả tránh né đối với đời sống của bất ký người nào: vấn nạn này thật ra liên quan đến sự thiện luân lý phải thực hành và tới đời sống vĩnh cửu. Người đối thoại với Đức Giêsu linh cảm được rằng có một mối dây liên kết giữa sự thiện luân lý với sự thể hiện trọn vẹn vận mệnh cá nhân của mình. Anh là một người Ít-ra-en đạo đức, có thể nói, đã lớn lên dưới bóng phủ của Luật Chúa. Nếu anh nêu câu hỏi ấy với Đức Giêsu, chúng ta có quyên tưởng tượng rằng đó không phải là vì anh thiếu hiểu biết về câu trả lời đã được ghi khắc trong Lê Luật. Điều cái nhiên hơn, đó là sức thu hút của Đức Giêsu đã làm nảy sinh nơi anh những thắc mắc mới về sự thiện luân lý. Chàng thanh niên như thể cảm nghiệm sự đòi buộc phải tiến lại gần Đấng đã khởi đầu công trình thuyết giảng của mình bằng lới loan báo mới mẻ và quyết liệt này: “Giờ đã điểm và Nước Trời đã gần kề: anh em hãy thống hối và hãy tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).

Thật xứng hợp nếu con người ngày nay lại một lần nữa quay về phía Đức Kitô để đón nhận từ nơi Người lời giải đáp về cái gọi là thiện và về cái gọi là dữ. Đức Kitô là vị Tôn Sư, là Đấng Phục Sinh có sự sống nơi mình và là Đấng luôn mãi hiện diện trong Giáo Hội và trong thế giới. Người mở sách Thánh Kinh ra cho các tín hữu và trong khi mạc khải trọn vẹn thánh ý của Chúa Cha. Người giảng dạy sự thật về hành động luân lý. Ở đầu nguồn và ở nơi đỉnh cao của kế hoạch cứu độ, là Alpha và là Ômêga của lịch sử nhân loại (x. Kh 1, 8; 21,6; 22,13). Đức Kitô mặc khải thân phận của con người và ơn gọi toàn vẹn của con người. Chính vì thế, người nào muốn hiểu chính mình cho tường tận thì không thể nào bằng lòng áp dụng cho bản thân mình những tiêu chuẩn và thước đo vốn chỉ là cấp thời, thiên lệch, rất thường nông cạn và thậm chí chỉ có bè mặt mà thôi: ngược lại người ấy phải mang theo những nỗi băn khoăn, những mối vu vơ, cả đến sự yếu đuối và tội lỗi, sự sống và cái chết và tiến lại gần Đức Kitô. Có thể nói được rằng người ấy phải đi vào trong Chúa Kitô với tất cả hữu thể của mình, người ấy phải “biến hóa thành của mình” và phải thắm nhuần cái thực tại Nhập Thể và Cứu Chuộc trong toàn bộ để có thể tìm gặp chính mình. Nếu để cho tiến trình này được thể hiện một cách sâu đậm nơi mình, người ấy sẽ sản sinh được nhiều thành quả chẳng những về mặt thờ lậy đối với Thiên Chúa, mà còn về mặt ngỡ ngàng thán phục đối với chính mình.” (16)

Bởi vậy, nếu chúng ta muốn tiến vào giữa lòng luân lý Tin Mừng và muốn thâu lượm nội dung sâu xa và bất biến của nền luân lý ấy, chúng ta cần phải điều nghiên kỹ lưỡng ý nghĩa của lời thắc mắc mà người thanh niên giàu có trong Tin Mừng đã nêu, và hơn thế nữa, chúng ta cần phải tìm tòi ý nghĩa nơi lời giải đáp của Đức Giêsu, bằng cách để cho Người hướng dẫn chúng ta, Thật ra, với một mối quan tâm tế nhị mang tính chất sư phạm, Đức Giêsu đã trả lời bằng cách dường như cầm tay người thanh niên mà dắt đi, từng bước một, theo hướng chân lý trọn vẹn.

“Chỉ có một Đấng duy nhất Tốt Lành mà thôi” (Mt 19,17)

  1. Đức Giêsu nói: “Sao anh lại hỏi Tôi về điều tốt lành? Chỉ có một Đấng duy nhất Tốt Lành mà thôi. Nếu anh muốn tiến vào sự sống, anh hãy tuân giữ các giới răn” (Mt 19,17). Dưới ngòi bút của các tác giả Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca, câu hỏi đã được diễn đạt như sau: “Tại sao anh gọi Tôi là tốt lành? Không có ai tốt lành ngoại trừ một mình Thiên Chúa” (Mc 10, 18; x. Lc 18,19).

Trước khi đáp lại vấn nạn, Đức Giêsu muốn người thanh niên phải minh giải cho chính anh đâu là động lực thúc đẩy anh xử trí như thế. Vì “Thầy Tốt Lành” chứng tỏ cho người đối thoại – và cho tất cả chúng tằng chỉ tìm gặp được lời giải đáp cho thắc mắc: “tôi phải làm điều tốt nào để đạt được sự sống vĩnh cửu?” nếu biết qui hướng trí tuệ và tâm hồn về Đấng “duy nhất Tốt Lành”: Không có ai tốt lành ngoại trừ một mình Thiên Chúa” (Mc 10, 18; x. Lc 18,19). Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể giải đáp vấn nạn về điều thiện, bởi vì Ngài là Sự Thiện.

Thật ra, thắc mắc về điều thiện thì cung qui lại có nghĩa là quay về phía Thiên Chúa, nơi trào tràn lòng nhân hậu. Đức Giêsu tỏ cho thầy yêu cầu của người thanh niên thật ra là một yêu cầu tôn giáo và sự tốt lành nhân hậu vốn lôi cuốn con người và đồng thời khiến con người phải dấn thân thì bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa, và hơn thế nữa, sự tốt lành nhân hậu là chính Thiên Chúa. Đấng duy nhất đáng được yêu mến “hết lòng, hết tâm hồn và hết trí khôn” (Mt 22,37). Đấng là cội nguồn hạnh phúc của con người. Đức Giêsu đưa vấn nạn về hành động tốt theo nghĩa luân lý lại gần những cội rễ tôn giáo của vấn nạn và lại gần sự nhìn nhận Thiên Chúa, sự tốt lành duy nhất, sự sống viên mãn, cùng đích tối hậu của hành động nhân linh, cõi phúc trọn hảo.

  1. Nhớ lời Thầy chỉ dạy, Giáo Hội tin tưởng rằng con người, được tạo dựng theo hình ảnh của Tạo Hóa, được sự cứu chuộc nhờ máu Đức Kitô và được thánh hóa nhờ sự hậu này là làm sao để: “ca ngợi vinh quang “Thiên Chúa” (x. Ep 1,12), làm sao để cho mỗi một hành động của mình đều là hình ảnh phản chiếu ánh ngời của Thiên Chúa. Thánh Ambrôsiô viết: “Bởi vậy, hỡi linh hồn đẹp xinh, hãy nhận biết chính mình ngươi: ngươi là hình ảnh của Thiên Chúa. Hỡi con người, hãy nhận biết chính mình ngươi: ngươi là vinh quang của Thiên Chúa (1Cr 11, 7). Hãy lắng nghe cho biết ngươi là vinh quang của Ngài như thế nào. Đây là lời của ngôn sứ: Sự khôn ngoan của ngươi đã nên kỳ diệu bởi vì nó phát xuất từ nơi Ta (Tv 138, 6), nghĩa là, trong các công trình của Ta, vẻ huy hoàng của ngươi là kỳ diệu nhất, sự khôn ngoan của ngươi được tán dương trong tâm tưởng con người. Trong khi Ta nhìn ngắm chính mình và trong khi ngươi dò thấy những tư tưởng thầm kín và những tình cảm thẳm sâu của Ta. Ta nhận ra những mầu nhiệm của trí tri ngươi. Vì vậy, hởi con người, hãy nhận biết chính mình ngươi rồi ngươi sẽ khám phá ra rằng ngươi cao cả biết mấu, hãy chú tâm đến ngươi…” (17).

Con người là gì và con người phải làm gì, đó là những điều được khám phá vào lúc Thiên Chúa tự tỏ lộ chính mình. Thật vậy, Thập Giới dựa trên những lời này: “Ta là Chúa, là Thiên Chúa ngươi, chính Ta đã đưa ngươi ra khỏi xư sở Ai Cập, ra khỏi căn nhà nô lệ. Ngươi chớ đem những thầm minh khác ra trước mặt Ta.” (Xh 20, 2-23). Trong “mười lời” Giao Ước với Ít-ra-en, và trong toàn thể Lề Luật. Thiên Chúa tự xưng mình và được nhìn nhận là Đấng “duy nhất Tốt Lành”; là Đấng, bất kể tội con người, cứ tiếp tục làm “mẫu mực” cho hành động luân lý theo như lời kêu gọi Ngài xướng lên: “Các ngươi hãy nên thánh bởi vì Ta, Chúa và Thiên Chúa các ngươi là thánh” (Lv 19, 2): là Đấng, một mực trung thành với tình yêu của Ngài đối với con người, ban tặng Lề Luật cho con người (x. Xh 19, 9-24; 20, 18-21) để tái lập sự hòa diệu nguyên thủy với Đấng Tạo Hóa và với công trình tạo dựng, và hơn thế nữa, để đưa con người vào trong tình yêu của Ngài: “Ta sẽ sống giữa các ngươi, Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi và các ngươi sẽ là dân Ta” (Lv 26,12).

Đời sống luân lý được coi như là lời giải đáp do bởi những sáng kiến hào phóng mà tình yêu Thiên Chúa đã không ngừng gia tăng trong những mối quan hệ của Ngài với con người. Đó là một lời giải đáp tình yêu, theo như giới răn cơ bản trong sách Đệ Nhị Luật phát biểu: “Hỡi Ít-ra-en hãy nghe đây: Đức Chúa Thiên Chúa ngươi là Chúa duy nhất. Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi. Hãy tâm niệm những lời Ta tuyên xướng cho ngươi hôm nay. Hãy lặp lại những điều này cho con cái ngươi” (Đnl 6, 4-7). Bởi đó, vì nối liền với sự hào phóng trong tình yêu của Thiên Chúa, đời sống luân lý được kêu mời phản chiếu vinh quang: “Đối với người yêu mến Thiên Chúa thì chỉ cần làm vừa lòng Đấng mình yêu mến là đủ: Bởi vì người ta không còn mong chờ một phần thưởng nào lớn hơn là tình yêu ấy: thật vậy, tình yêu đến từ Thiên Chúa bởi vì Thiên Chúa chính là tình yêu” (18).

  1. Lời khẳng định “chỉ có một Đấng duy nhất Tốt Lành” đưa chúng ta về với “tấm bia thứ nhất” chứa đựng các giới răn, nơi đó có lời mời gọi nhận biết Thiên Chúa là Chúa duy nhất và tuyệt đối, và có lời mời gọi chỉ tôn thờ một mình Ngài mà thôi, do sự thánh thiện vô biên của Ngài (x. Xh 20, 2-11). Sự thiện, đó là thuộc về Thiên Chúa, đó là vâng phục Ngài, là khiêm tốn bước đi với Ngài đồng thời thực thi công chính và yêu quý lòng từ ái (x. MK 6,8). Nhìn nhận Chúa là Thiên Chúa: đó là hạt nhân cơ bản, là tâm điểm của Lề Luật, từ đó phát xuất những mệnh lệnh đặc thú và dựa vào đó mà các mệnh lệnh đặc thí được phối trí. Do việc thực hành luân lý qua các giới răn mà tỏ lộ sự kiện này là dân Ít-ra-en thuộc về Chúa, bởi vì chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng Tốt Lành mà thôi. Thánh Kinh làm chứng về điều đó với từng trang sách thấm nhuần cảm thức sắc bên về sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa: “Thánh, Thánh, Thánh, Chúa của vũ hoàn là Đấng Thánh “ (Is 6,3).

Nhưng nếu chỉ một mình Thiên Chúa là Sự Thiện, không có bất cứ nỗ lực nhân linh nào, kể cả việc tuân giữ giới răn một cách chi li nhất, có thể đạt tới chỗ “chu toàn” Lề Luật, nghĩa là tới chỗ nhận biết Chúa là Thiên Chúa và dâng lên Ngài sự thờ lạy mà chỉ mình Ngài đáng được hưởng (x. Mt 4,10). “Sự chu toàn” chỉ có thể đạt được nhờ ơn Thiên Chúa: Nó là quà tặng do tham dự vào lòng nhân hậu thần thiêng được tỏ lộ và được thông chuyển nơi Đức Giêsu; Đấng mà người thanh niên gọi là “Thầy Nhân Lành” (Mc 10, 17; Lc 18, 18). Điều mà có lẽ lúc này người thanh niên mới chỉ linh cảm được mà thôi thì về sau sẽ được vén mở một cách tràn đầy nhờ chính Đức Giêsu qua lời mời của Người: “Hãy đến và nối gót theo Ta” (Mt 19, 21).

“Nếu anh muốn liền vào sự sống, hãy tuân giữ các giới răn” (Mt 19, 17).

  1. Chỉ một mình Thiên Chúa là có thể giải đáp vấn nạn về điều thiện, bởi vì Ngài là Sự Thiện. Mà Thiên Chúa đã giải đáp vấn nạn này rồi: Ngài đã giải đáp bằng cách tạo dựng con người và qui hướng con người một cách khôn ngoan và trong tình yêu về phía cứu cánh của con người, với phương thể là lề luật khắc ghi trong lòng con người (x. Rm 2,1), tức “luật tự nhiên”. Luật này “không là gì khác hơn ánh sáng phát xuất từ trí tuệ, được Thiên Chúa phú bẩm trong chúng ta. Nhờ ánh sáng ấy, chúng ta biết được điều chúng ta phải thực hiện và điều chúng ta phải tránh. Ánh sáng ấy và luật ấy, Thiên Chúa đã ban tặng trong công trình tạo dựng” (19). Sau đó Thiên Chúa đã tiếp tục ban tặng theo dòng lịch sử Ít-ra-en, cách riêng qua “thập ngôn”, nghĩa là qua các giới răn ở Sinai, mà Ngài đã dùng để xây dựng nền tảng cho cuộc sống của dân Giao Ước (x. Xh 24) và để kêu gọi dân ấy trở nên “sự thiện đặc biệt của Ngài giữa muôn dân”, “một dân tộc thánh thiện” (Xh 19, 5-6) khả dĩ tỏa chiếu sự thánh thiện của Ngài ở giữa mọi dân (x. Kn 18,4: Ed 20, 41). Qùa tặng Thập Giới là lời hứa và là dấu chỉ của Tân Ước, lúc mà Luật mới sẽ được ghi tạc vĩnh viễn trong quả tim con người (x. Gr 31, 31-34) thay thế cho luật tội lỗi đã phá hỏng bản chất của quả tim ấy (x. Gr 17, 1). Lúc ấy con người sẽ được ban tặng “một quả tim mới”, bởi vì “một thần khí mới” sẽ cư ngụ nơi quả tim ấy, đó là Thần Khí của Thiên Chúa (x. Ed 36, 24-28) (20).

Chính vì thế, sau khi xác định điều quan trọng rằng “chỉ có một Đấng duy nhất Tốt Lành”. Đức Giêsu đáp lại người thanh niên: “Nếu anh muốn tiến vào sự sống, hãy tuân giữ các giới răn” (Mt 19,17). Điều được phát biểu qua cách thức này, đó là mối liên kết chặt chẽ giữa đời sống vĩnh cửu với việc tuân phục các giới răn của Thiên Chúa: chính các giới răn của Thiên Chúa chỉ cho con người thấy con đường sự sống và dẫn đến sự sống. Qua miệng của Đức Giêsu, là Môisê mới, các giới răn của Thập Giới lại một lần nữa được ban tặng cho loài người: chính Người xác quyết các giới răn ấy một cách dứt khoát và đề nghị chúng làm đường nẻo và làm điều kiện cứu độ cho chúng ta. Giới răn gắn liền với một lời hứa: trong Cựu Ước, đối tượng của lời hứa là sự chiếm hữu một vùng đất để cho dân có chỗ mà sống cuộc đời mình trong tự do và theo đức công chính (x. Đnl 6, 20-25): trong Tân Ước, đối tượng của lời hứa là “Nước Trời” theo như Đức Giêsu quả quyết trong phần đầu của “Bài Giảng trên Núi” – bài giảng trong đó Luật mới được phát biểu một cách rộng rãi nhất và đầy đủ nhất (x. Mt 5-7) –, chắc hẳn trong tương quan với Thập Giới đã được Thiên Chúa giao phó cho Môisê trên núi Si-nai. Thành ngứ “sự sống đời đời” được nối liền với thực tại Nước Thiên Chúa và có nghĩa là tham gia vào chính sự sống của Thiên Chúa: sự sống này chỉ sau cái chết mới được thể hiện hòan toàn, thế nhưng trong đức tin, ngay tự bây giờ đã là ánh sáng chân lý, đã là nguồn mạch ý nghĩa cho cuộc sống và đã là bước đầu thông phần vào sự viên mãn trong cuộc nốu gót theo Chúa Kitô. Thật ra, sau cuộc gặp gỡ với người thanh niên giàu có, Đức Giêsu nói với các môn đệ của Người: “Những ai bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái hoặc ruộng đồng vì danh Thầy thì sẽ nhận được gấp bội và sẽ có sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp “ (Mt 19,29).

  1. Câu trả lời của Đức Giêsu chưa đủ cho người thanh niên và người thanh niên còn nhấn mạnh để hỏi Thầy thêm về những giới răn phải tuân giữ, anh hỏi Người: “Giới răn nào?” (Mt 19, 18). Anh hỏi xem anh phải làm gì trong cuộc sống để chứng tỏ anh nhận biết sự thánh thiện của Thiên Chúa. Sau khi đã hướng ánh mắt của người thanh niên về phía Thiên Chúa, Đức Giêsu nhắc lại cho anh những giới răn trong Thập Giới liên quan tới tha nhân: “Đức Giêsu nói tiếp: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, hãy thải kính cha mẹ, hãy yêu tha nhân như chính mình” (Mt 19, 18-19).

Trong bối cảnh của cuộc trao đổi, đặc biệt khi đem đối chiếu bản văn của Mátthêu với những đoạn song song trong Mác-cô và Luca, điều nổi bật là Đức Giêsu không cố ý liệt kê danh sách gồm tất cả mọi giới răn cần thiết để “tiến vào sự sống” nhưng đúng hơn Người cố ý đưa người thanh niên quay về với cái gọi là “trung tâm điểm” của Thập Giới sánh với mọi mệnh lệnh khác, nghĩa là quay về với lời khẳng định “Ta là Chúa, là Thiên Chúa ngươi” là lời mang ý nghĩa đặc biệt đối với con người. Như thế chúng ta không thể không chú tâm đến các giới răn của Lề Luật mà Chúa Giêsu nhắc nhở cho người thanh niên, đó là những giới răn nằm trong cái gọi là “tấm bia thứ hai” của Thập Giới mà tóm tắt lại (x. Rm 13, 8-10) và tự nền tảng chỉ là giới răn tình yêu đối với tha nhân: “Hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi” (Mt 19, 19; x. Mc 12, 31). Trong giới răn này điều được diễn tả là phẩm giá riêng biệt của con người, “tạo vật duy nhất trên mặt đất mà Thiên Chúa muốn dựng nên để làm đối tượng cho tình yêu Ngài” (Seule créature que Dieu a voulue pour elle-même). Những giới răn khác nhau trong Thập Giới thật ra chỉ là tiếng vang dội của giới răn duy nhất về sự thiện của con người, ở nơi từng cấp độ của nhiều điều thiện tạo thành tính chấy cho căn tính con người là hữu thể vừa thiêng liêng vừa có thân xác trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với thế giới vật chất. Như chúng ta đọc thấy trong Sách Giáo lý Công giáo. “mười giới răn thuộc về những gì được Thiên Chúa mạc khải. Mười giới răn đồng thời dạy cho chúng ta về nhân tính đích thực của con người. Mười giới răn nêu rõ những bổn phận cốt yếu và do đó, một cách gián tiếp, nêu rõ những quyền lợi căn bản, mật thiết gắn liền với bản chất của con người” (22).

Những giới răn mà Đức Giêsu nhắc nhở cho người đối thoại trẻ tuổi nhằm vào mục đích bảo tồn sự thiện của con người, hình ảnh của Thiên Chúa, bằng việc bênh vực những điều thiện của con người. “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian”, đó là những chuẩn mực luân lý được phát biểu thành những điểu ngăn cấm. Những mệnh lệnh tiêu cực này diễn tả một cách mạnh mẽ sự cần thiết khôn lường đối với việc bảo vệ sự sống con người, bảo vệ mối dây hiệp thông liên vị trong hôn nhân, bảo vệ tư hữu, bảo vệ sự thật và bảo vệ danh thơm tiếng tốt.

Như vậy, các giới răn nêu lên điều kiện làm nền cho tình yêu tha nhân, đồng thời các giới răn là phương cách kiểm nghiệm tình yêu tha nhân. Các giới răn là giai đoạn cần thiết đầu tiên trên nẻo đường tiến đến tự do, là bước đầu, như thánh Augustinô viết: “Tự do đệ nhất, đó là không phạm tội trọng… như giết người, ngoại tình, dâm ô, trộm cắp, lừa đảo, phạm thánh và mọi thứ tội khác đại loại như thế. Khi một con người nào đó nhất quyết từ chối vi phạm những thứ tội ấy – thật ra bất cứ Kitô hữu nào cũng có bổn phận không được vi phạm những thứ tội ấy – thì người ấy khởi sự ngước đầu về phía tự do, nhưng đó mới chỉ là bước đầu của tự do chớ chưa phải là tự do hoàn toàn… “ (23).

  1. Tuy nhiêm điều này không có nghĩa là Đức Giêsu muốn đặc biệt chú trọng tình yêu tha nhân, lại càng không có nghĩa là Người cố ý tách tình yêu tha nhân ra khỏi tình yêu Thiên Chúa: cuộc đối thoại giữa Người với vị tiến sĩ luật, đã chứng tỏ cho thấy: vị này, sau khi đặt một câu hỏi rất giống với câu hỏi của người thanh niên, đã nhận ra rằng Đức Giêsu đưa mình quay về với hai giới răn yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân (x. Lc 10, 25 – 27) và đã được mời gọi để ghi nhớ rằng chỉ có việc tuân giữ các giới răn ấy mới dẫn đến sự sống vĩnh cửu: “Cứ làm như vậy thì người sẽ được sống” (Lc 10, 28). Điều đáng nói đó là chính giới răn thứ hai đã khơi dậy tính tò mò và mối thắc mắc nơi vị tiến sĩ luật: “Ai là tha nhân của tôi?” (Lc 10, 29). Đấng là Thầy đã trả lời bằng dụ ngôn người Samaria nhân hậu, dụ-ngôn-mấu-chốt giúp nắm bắt trọn vẹn giới răn yêu thương tha nhân (x. Lc 10, 30-37).

Hai giới răn mà “toàn thể Lề Luật cũng như các ngôn sứ đều qui về đó” (Mt 22, 40) lại nối kết với nhau một cách sâu đậm và xen chặt vào nhau. Bằng lời nói và bằng cuộc sống. Đức Giêsu làm chứng cho mối hiệp nhất bất khả phân chia của hai giới răn này: sứ mệnh của Người đạt tới đỉnh cao là Thập Gía cứu chuộc (x. Ga 3, 14-15), dấu chỉ của tình yêu không thể tách rời đối với Chúa Cha và đối với nhân loại (x. Ga 13,1).

Cựu Ước và Tân Ước quả quyết một cách rõ rệt rằng, không yêu thương tha nhân mà cụ thể là tuân giữ các giới răn thì không thể thực sự yêu mến Thiên Chúa được. Thánh Gioan viết điều này với một sức mạnh phi thường: “Nếu ai nói “tôi yêu Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, thì người ấy là kẻ dối trá: người anh em mình xem thấy mà người ấy không yêu thương thì làm sao người ấy yêu mến được Thiên Chúa mà mình không xem thấy” (1 Ga 4,20). Thánh Gioan đã để cho vang vọng lại lời thuyết giảng luân lý của Đức Kitô, được diễn tả một cách tuyệt vời và xác đáng trong dụ ngôn người Samaria nhân hậu (x. Lc 10, 30-37) và trong “diễn tử” ngày phát xét cuối cùng (x. Mt 25, 31-46).

  1. Trong “Bài Giảng trên Núi” vốn được coi là đạt hiến chương (magna carta) của nền luân lý Tin Mừng (24). Đức Giêsu nói: “Các anh em đừng tưởng rằng tôi đến để phá hủy Lề Luật và các Ngôn Sứ: tôi không đến để phá hủy nhưng để hòan thành “ (Mt 5, 17). Đức Kitô là chìa khó giúp mở Thánh Kinh: “Các anh em dò tìm Thánh Kinh, […] chính Thánh Kinh làm chứng về Tôi” (Ga 5, 39). Người là trung tâm của kế hoạch cứu độ, là Đấng thâu gồm Cựu Ước và Tân Ước, thâu gồm những lời hứa do bởi Lề Luật và sự ứng nghiệm những lời hứa ấy trong Tin Mừng. Người là mối dây hằng sống và vĩnh cửu nối liền Cựu Ước và Tân Ước. Khi chú giải lời khẳng định của Thánh Phaolô “cùng đích của lề luật chính là Đức Kitô”, thánh Ambrôsiô viết: “Cùng đích, không phải xét theo nghĩa lề luật không còn hiện diện nữa, nhưng xét theo nghĩa lề luật trong tình trạng viên mãn: lề luật được hòan thành nơi Đức Kitô (plenitudo legis in Christo est), do bởi Người đến không phải để xóa bỏ Lề Luật nhưng để đưa Lề Luật đến chỗ hòan thành. Cũng giống như có một Cựu Ước nhưng toàn bộ chân lý lại nằm trong Tân Ước, đối với Lề Luật cũng vậy: lề luật đã được ban qua trung gian Môsê là hình bóng của Luật đích thực. Vậy, Luật Môisê là bản gốc (prototype) của chân lý (25).

Đức Giêsu đưa các giới răn của Thiên Chúa đến chỗ hoàn thành, cách riêng giới răn yêu thương tha nhân, bằng cách nội tâm hóa và triệt để hóa những đòi buộc của giới răn; tình yêu tha nhân tuôn ra từ một con tim đang yêu,một con tim, bởi vì đang yêu, chực sẵn để sống những đòi buộc cao xa nhất. Đức Giêsu nêu rõ rằng không được coi các giới răn như một giới hạn tối thiểu cấm vượt qua, đúng hơn phải coi các giới răn là đại lộ rộng mở cho một cuộc hành trình luân lý và thiêng liêng tiến tới sự trọn hảo, mà trung tâm là tình yêu (x. Cl 3, 14). Như thế giới răn “chớ giết người” trở thành lời mời yêu thương để rồi mau mắn nâng đỡ và thăng tiến đời sỗng của tha nhân; mệnh lệnh ngăn cấm ngoại tình trở thành lời mời thanh luyện ánh mắt, đạt tới khả năng tôn trọng ý nghĩa phu thuê của thân xác: “Anh em đã biết cha ông chúng ta được dạy rằng: “Chớ giết người”: và nếu có người nào giết người, người ấy sẽ phải biện bạch trước tòa án. Còn tôi, tôi bảo anh em: Ai nổi giận với anh em mình sẽ phải trả lẽ trước tòa án: […] Anh em đã nghe người xưa được dạy rằng: “Chớ ngoại tình”. Còn tôi, tôi bảo anh em: Ai nhìn phụ nữ mà thèm muốn thì đã phạm tội ngoại tình trong lòng rồi” (Mt 5, 21-22. 27-28). Đức Giêsu là “sự chu toàn” Lề Luật một cách sống động xét theo nghĩa là Người thể hiện ý nghĩa đích thực của Lề Luật bằng việc trao hiến chính mình hòan toàn: chính Người trở thành Luật hằng sống đồng hóa với ngôi vị, Người mời gọi nối bước theo Người và, nhờ Thần Khí, Người ban cho ơn thông chia sự sống của Người và thông chia cả tình yêu của Người, Người ban cho sức mạnh cần có để làm chứng về sự thông chia ấy bằng những lựa chọn và những hành vi (x. Ga 13, 34-35).

“Nếu anh muốn nên trọn hảo” (Mt 19,21)

  1. Bằng cách nhắc lại các giới răn, câu trả lời chưa làm người thanh niên thỏa mãn, người ấy hỏi Chúa Giêsu: “Tất cả những giới răn ấy, tôi đều đã tuân giữ; vậy tôi còn thiếu điều chi nữa?” (Mt 19, 20). Không dễ dầu gì mà một lương tâm tốt cho phép tuyên bố “tất cả những giới răn ấy, tôi đều đã tuân giữ” nếu chỉ mới hiều sơ sài tầm mức hữu hiệu của những đòi buộc gồm chứa trong Luật của Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu người thanh niên giàu có đã có thể đưa ra câu đáp tương tự, nếu người thanh niên giàu có đã theo đuổi lý tưởng luân lý một cách nghiêm minh và quảng đại ngay từ thời thơ ấu, người ấy biết rằng mình còn xa mới tới đích: đứng trước Đức Giêsu, anh nghiệm ra rằng anh còn thiếu một điều chi đó. Chính khi người thanh niên ý thức về tình trạng bất túc của anh mà Chúa Giêsu mới ngỏ với anh câu trả lời cuối cùng: Khi nhận thấy có nỗi hoài vọng hướng đến một sự viên mãn vượt trên cách giải thích vị luật về các giới răn. Vị Thầy Tốt Lành mời người thanh niên tiến vào con đường trọn hảo: “Nếu anh muốn nên trọn hảo, hãy về, hãy bán những gì anh có và đem tặng cho người nghèo, anh sẽ có được kho tàng trên trời: rồi sau đó hãy đến và nối gót theo Thầy” (Mt 19, 21).

Như đã làm đối với phần đầu của lời Đức Giêsu giải đáp, chúng ta cũng phải đọc và cắt nghĩa phần này trong khuôn khổ của toàn bộ sứ điệp luân lý Tin Mừng và một cách đặc biệt, trong khuôn khổ của Bài Giảng Trên Núi, của các Mối Phúc Thật (x. Mt 5, 3-12), mà mỗi phúc đầu tiên là dành cho người nghèo, những “người có tinh thần nghèo khó” theo kiểu xác định của thánh Mát-thêu, hoặc cho những người bé mọn. Trong chiều hướng này có thể nói được rằng các Mối Phúc Thật cũng chiếm vị trí trong khoảng không gian được mở ra do lời giải đáp Đức Giêsu đưa ra trước vấn nạn của người thanh niên: “Tôi phải làm điều tốt nào để đạt được sự sống vĩnh cửu?”. Thật vậy, hẳn nhiên mỗi mối phúc thật, theo từng viễn tượng riêng, đều hứa hẹn một điều “thiện” sẽ mở lối vĩnh cửu cho sự sống con người, và hơn thế nữa, sẽ chính là sự sống vĩnh cửu.

Đối tượng riêng của các Mối Phúc Thật không phải là những chuẩn mực đặc thù giúp ứng xử, các Mối Phúc Thật gợi lên những thái độ và những tư thế cơ bản cho cuộc sống và vì thế chúng không hoàn toàn trùng hợp với các giới răn. Đàng khác, không hề có tách biệt hoặc đối chọi giữa các mối phúc thật và các giới răn: cả hai đều qui về điều thiện và qui về sự sống vĩnh cửu. Bài Giảng trên Núi mở đầu bằng việc công bố các mối phúc thật nhưng cũng gồm chứa sự qui chiếu về các giới răn (x. Mt 5, 20-48). Đồng thời. Bài Giảng trên Núi cho thấy các giới răn mở lối và nhắm hướng tiến đến sự trọn hảo, cũng là hướng của các Mối Phúc Thật. Các Mối Phúc Thật trước tiên là những lời hứa, nhưng một cách gián tiếp, những lời hứa ấy cũng khơi nguồn cho những chỉ dẫn mang tính chuẩn mực dành cho đời sống luân lý. Trong chiều sâu nguyên thủy, các mối phúc thậy có thể ví như bức chân dung tự họa của Đức Kitô và chính vì lẽ ấy, các mối phúc thật là những lời mời nối gót theo Người và sống Hiệp thông với Người (26).

  1. Chúng ta không biết được người thanh niên trong Tin Mừng đã hiểu đến mức độ nào nội dung sâu sắc và khắt khe trong câu trả lời thứ nhất mà Chúa Giêsu đưa ra. “Nếu anh muốn tiến vào sự sống, hãy tuân giữ các giới răn”, tuy nhiên điều chắc chắn là người thanh niên đã bày tỏ sự cam kết tuân thủ tất cả mọi đòi buộc luân lý phát xuất từ các giới răn và bởi đó đã tạo nên mảnh đất cần thiết để cho khát vọng trọn hảo có thể nẩy mầm và mọng chín trong đó, nghĩa là để có thể thực hiện những gì mà các giới răn chỉ dẫn và để chu toàn những điều ấy bằng nối gót theo Chúa Kitô. Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu với người thanh niên giúp chúng ta năm bắt những điều kiện giúp cho con người được mời gọi sống trọn hảo có thể tăng trưởng về mặt luân lý; cho dầu đã tuân giữ tất cả các giới răn, người thanh niên đã tỏ ra bất lực, không thể tự sức mình cất thêm bước nữa, Để có khả năng nầy rất cần đến một tự do nhân linh chín muồi. “Nếu anh muốn” và rất cần đến quà tặng ân sủng của Thiên Chúa, “hãy đến, hãy nối gót theo Thầy”.

Sự trọn hảo đòi buộc phải chín chắn trong việc trao chính mình, trong đó tự do con người được mời gọi can dự. Đức Giêsu nêu các giới răn cho người thanh niên làm điều kiện tiên quyết không thể không truyền khiến để có được sự sống vĩnh cửu: ngược lại, việc từ bỏ những gì người thanh niên sở hữu và việc nối gót theo chân Chúa Kitô lại mang tính chấy của một lời đề nghị: “Nếu anh muốn…”. Lời của Đức Giêsu vén mở cho thấy sự năng động đặc biệt của tự do trong đà tăng triẻn tiến đến trưởng thành và, đồng thời, tỏ lộ mối tương quan cơ bản giữa tự do và Luật Thiên Chúa. Tự do con người và Luật Thiên Chúa không hề đối chọi nhau nhưng, ngược lại, nại đến nhau một cách hỗ tương.

Người môn đệ của Đức Kitô biết rằng ơn gọi của mình là ơn gọi hướng đến tự do. Thánh Phaolô đã công bố một cách vui mừng và kiêu hãnh: “Thật vậy, anh em thân mến, anh em đã được kêu gọi hưởng nếm tự do”. Thế nhưng, ngay tức khắc thánh nhân xác định: “anh em đừng lấy tự do ấy làm cớ để thỏa mãn xác thịt, nhưng hãy lấy đức ái mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5, 13). Thái độ kiên quyết của Thánh Tông Đồ khi phản đối những ai tưởng rằng mình có thể nên công chính hóa tự sức mình thì không liên can chút nào đến tình trạng con người “được giải thoát” do bởi các mệnh lệnh, ngược lại, vốn dùng làm phương tiện phục vụ để thực hành tình yêu: “Ai yêu mến tha nhân thì kể như đã chu toàn lề luật. Thật ra, mệnh lệnh: Chớ ngoại tình, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ tham lam ganh tị và tất cả các mệnh lệnh khác đều gồm tóm trong công thức này: Hãy yêu thương tha nhân như chính mình “(Rm 13, 8-9). Sau khi đã đề cập đến sự tuân giữ các giới răn như là tự do bất toàn buổi đầu, thánh Augustinô nối tiếp như sau: “Có người hỏi tại sao đó lại không phải là tự do hoàn hảo? Bởi vì tôi nhìn thấy trong các chi thể tôi trổi dậy một luật khác chống lại luật của trí tuệ tôi […]. Đó là tự do một phần nào đó và là nô lệ một phần nào đó: đó chưa phải là tự do hòan toàn, tự do thuần túy, tự do tràn đầy bởi vì đó chưa phải là vĩnh cửu. Thật ra sự yếu đuối một phần nào đó đè nặng lên chúng ta nhưng chúng ta cũng đã lãnh nhận một phần tự do nào đó rồi. Tất cả những gì là tội chúng ta đã phạm trước đây thì nay đã được xóa sạch nhờ bí tích rửa tội. Có phải vì sự bất chính được được tẩy xóa hòan toàn cho nên không còn chút yếu đuối nào nữa chăng? Nếu không còn yếu đuối nữa thì chúng ta đã chẳng còn phạm tội trên cõi đời này. Thế nhưng nào ai dám tự hào đến thế nếu không là kẻ kiêu căng, nếu không là kẻ bất xứng trước lượng từ ái của Đấng Giái Thoát? […]. Do vậy, bởi vì chúng ta vẫn còn một nỗi yếu đuối nào đó, tôi dám nói rằng chúng ta được tự do tùy theo mức độ mà chúng ta phụng sự Thiên Chúa và rằng chúng ta vẫn còn bị nô lệ tùy theo mức độ mà chúng ta lụy phục lề luật của tội” (27).

  1. Ai sống “theo xác thịt” thì cảm nhận Luật Thiên Chúa như một gánh nặng và thậm chí như một sự chối bỏ hoặc ít ra một sự hạn chế tự do của riêng mình. Ngược lại, ai được thôi thúc bởi tình yêu, ai để cho “Thần Khí hướng dẫn” (Gl 5, 16) và mong ước phục vụ tha nhân thì tìm gặp nơi Luật Thiên Chúa con đường cơ bản và cần thiết để có thể thực thi tình yêu mình đã tự do lựa chọn và đón nhận trong cuộc sống. Hơn nữa, người ấy nhận ra được sự khẩn cấp ở bên trong tâm hồn – một “nổi cấp bách” thật sự chớ không phải một sự cưỡng bức – đòi không được dừng lại ở những bó buộc tối thiểu của Luật nhưng phải sống những bó buộc ấy cho tới mức “viên mãn”. Đó vẫn còn là một con đường bất trắc và mỏng manh bao lâu chúng ta còn ở dương thế, nhưng là con đường chúng ta có thể tiến bước nhờ ân sủng được ban cho chúng ta để chúng ta có tràn đầy tự do của những người làm con Thiên Chúa (x. Rm 8, 21) và do đó để chúng ta dùng đời sống luân lý mà đáp lại ơn gọi cao cả của chúng ta: làm “con trong Con”.

Ơn gọi hướng đến tình yêu trọn hảo không phải chỉ dành riêng cho một nhóm người nào đó mà thôi. Lời mời “hãy về. hãy bán những gì anh có và hãy đem tặng cho người nghèo” cùng với lời hứa “anh sẽ có được kho tàng trên trời” là lời mời được ngỏ với mọi người, bởi vì đó chỉ là giới răn yêu thương tha nhân được triệt để hóa, cũng như lời mời “hãy đến”, hãy nối gót theo Thầy” chỉ là một hình thức mới và cụ thể của giới răn yêu mến Thiên Chúa. Các giới răn và lời mời Đức Giêsu ngỏ với người thanh niên đều nhằm phục vụ một đức ái độc nhất bất khả phân chia, một đức ái đương nhiên hướng đến sự trọn hảo mà chỉ có Thiên Chúa mới là thước đo: “Bởi đó, anh em hãy nên trọn hảo như Cha của anh em trên trời là Đấng trọn hảo “ (Mt 5, 48). Trong Tin Mừng thánh Luca, Đức Giêsu diễn giải tầm vóc của sự trọn hảo này như sau: “Anh em hãy có lòng tư ái như Cha của anh em là Đấng từ ái” (Lc 6, 36).

“Hãy đến, hãy nối gót theo Thầy” (Mt 19, 21)

  1. Đường nẻo và đồng thời nội dung của sự trọn hảo hệ tại chỗ nối gót theo chân Chúa Kitô, bước đi theo Đức Giêsu sau khi đã từ bỏ những của cải thuộc về mình và từ bỏ chính mình. Đó đúng là kết luận của cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người thanh niên: “Rồi sau đó hãy đến, hãy nối gót theo Thầy” (Mt 19, 21). Chiều sâu kỳ diệu của lời mời này sẽ được các môn đệ nhận ra một cách trọn vẹn sau biến cố phục sinh của Đức Kitô, khi Chúa Thánh Thần đưa họ vào trong tòan bộ Sự Thật (x. Ga 16, 13).

Chính Đức Giêsu là người khởi xướng và cất tiếng mời gọi theo Người. Lời mời trước hết được ngỏ với những kẻ mà Người giao phó một sứ mệnh đặc biệt, khởi đầu với Nhóm Mười Hai: thế nhưng điều tỏ tường là bất cứ ai tin vào Đức Kitô cũng đều phải thỏa mãn điều kiện làm môn đệ Người (x. Cv 6, 1). Do bởi sự kiện này, nối bước theo Chúa Kitô chính là nền tảng thiết yếu và nguyên sơ của nền luân lý Kitô giáo: tựa như dân Ít-ra-en xưa kia cất bước theo Thiên Chúa và đã được Thiên Chúa dẫn dắt qua hoang địa tiến đến Đất Hứa (x. Xh 13, 21), người môn đệ cũng phải nối bước theo Đức Giêsu và được Chúa Cha lôi kép để tiến đến với Người (x. Ga 6, 44).

Vấn đề ở đây không phải là để tâm lắng nghe một lời giáo huấn hay đón nhận một giới răn trong thái độ vâng phục: một cách triệt để hơn, điều phải làm là gắn bó với chính Đức Giêsu, chia sẻ sự sống và vận mệnh của Người thông phần vào sự vâng phục tự do và đầy tình yêu thương của Người đối với thánh ý của Chúa Cha. Bước theo Đấng Khôn Ngoan đã hóa nên xác phàm, do thái độ đáp trả của đức tin, người môn đệ của Đức Giêsu thực sự trở thành môn đệ của Thiên Chúa (x. Ga 6, 45). Qủa vậy, Đức Giêsu là ánh sáng soi chiếu thế gian, là ánh sáng soi chiếu cuộc đời (x. Ga 8, 12); Người là mục tử dẫn dắt và nuôi dưỡng đàn chiên (x. Ga 10, 11-16); Người là đường, là chân lý và là sự sống (x. Ga 14, 6-10). Do đó, noi gương Chúa Con, “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1, 15) thì có nghĩa là noi gương Chúa Cha.

  1. Đức Giêsu yêu cầu nối bước theo Người và noi gương Người trên con đường tình yêu, một tình yêu tự hiến hoàn toàn cho anh em vì yêu mến Thiên Chúa: “Giới răn của Thầy là thế này: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu anh em” (Ga 15, 12). Tiếng “như” đòi phải noi gương bắt chước Đức Giêsu, bắt chước tình yêu của Người, tình yêu mà việc rửa chân là dấu chỉ: “Nếu Thầy là Chúa và là Tôn Sư mà đã rửa chân cho anh em thì anh em cũng vậy, anh em phải rửa chân cho nhau. Bởi vì đó là tấm gương Thầy nêu cho anh em để cả anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14-15). Hành động của Đức Giêsu và Lời Người, những sinh hoạt của Người và những mệnh lệnh của Người làm thành quy tắc luân lý cho đời sống Kitô hữu. Thật ra, các hoạt động của Người và một cách đặc biệt cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Gía của Người là mạc khải sống động về tình yêu của Người đối với Chúa Cha và đối với loài người Tình yêu ấy, Đức Giêsu yêu cầu những kẻ nối bước theo Người noi gương bắt chước. Đó là giới răn “mới”.Thầy ban cho anh em một giới răn mới: đó là anh em hãy yêu thương nhau: anh em hãy yêu nhau như Thầy đã yêu anh em. Cứ dấu này mà mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy: đó là anh em yêu thương nhau “ (Ga 13, 34 – 35).

Tiếng “như” còn nói lên tầm mức Đức Giêsu đã yêu và các môn đệ Người phải yêu nhau. Sau khi nói: “Giới răn của Thầy là thế nầy: anh em hãy yêu nhau như Thầy đã yêu anh em” (Ga 15, 12). Đức Giêsu tiếp lời bằng cách mạc khải sự trao hiến mạng sống của Ngài làm hy lễ trên Thập Gía, làm chứng cho tình yêu “đến tận cùng” (Ga 13, 1): “không ai có tình yêu nào lớn hơn tình yêu nầy: là hiến mạng sống mình cho bạn hữu “ (Ga 15, 13).

Khi kêu gọi người thanh niên nối bước theo Người trên đường trọn hảo. Đức Giêsu yêu cầu anh sống vẹn toàn giới răn tình yêu, giới răn “của Người”: nhập vào trong chuyển động trao hiến hòan toàn của Người, noi theo và sống chính tình yêu của Vị Thầy “tốt lành”, của Đấng đã yêu mến “cho đến tận cùng”. Đó là điều Đức Giêsu yêu cầu bất cứ ai muốn dân bước theo Người: “Ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ chính mình, hãy vác lấy thập giá của mình và hãy cất bước theo Thầy “ (Mt 16, 24).

  1. Nối gót theo Đức Kitô không thể chỉ là một sự noi gương bắt chước bề ngoài, bởi vì điều này liên can tới con người và tới cõi nội tâm sâu xa của con người. Là môn đệ của Đức Giêsu có nghĩa là được nên đồng hình dạng với Đấng đã tự nguyện làm đầy tớ đến độ hiến dâng chính mình trên Thập Gía (x. Pl 2, 5-8). Nhờ đức tin. Đức Kitô cư ngụ trong lòng người tín hữu (x. Ep 3, 17), và nhờ đó người môn đệ được đồng hòa với Chúa của mình và được nên đồng hình dạng với Người. Đó là hoa trái của ân sủng, của sự hiện diện đầy sức tác động của Chúa Thánh Thần trong chúng ta.

Được tháp nhập vào thân thể Đức Kitô, người Kitô hữu trở thành chi thể của Thân Thể Người là Giáo Hội (x. 1 Cr 12, 13-27). Dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, bí tích Rửa Tội làm cho tín hữu nên đồng hình dạng với Đức Kitô một cách triệt để, trong mầu nhiệm vượt qua gồm cái chết và sự phục sinh: bí tích này làm cho tín hữu “mặc lấy” Đức Kitô (x. Gl 3, 27), như thánh Augustinô đã thốt lên khi ngỏ lời với các thụ nhân bí tích Rửa Tội: “Chúng ta hãy reo vui và hãy tạ ơn, chúng ta chẳng những đã trở nên Kitô hữu nhưng còn trở nên chính Đức Kitô. […] Hãy ngạc nhiên và mừng rỡ. Chúng ta đã trở nên chính Đức Kitô!” (28). Chết cho tội, người thụ tẩy lãnh nhận đời sống mới (x. Rm 6, 3- 11): sống cho Chúa trong Đức Giêsu Kitô, người ấy được kêu gọi tiến bước dựa theo Thần Khí và biểu lộ những hoa trái của Thần Khí ra trong đời sống mình (x. Gl 5, 16-25). Thêm vào đó, việc tham dự vào bí tích Thánh Thể, bí tích của Giao Ước mới (x. 1 Cr 11, 23-29), là cấp độ cao nhất trong tiến trình đồng hóa với Đức Kitô, Đấng là nguồn mạch “sự sống vĩnh cửu” (x. Ga 6, 51-58), là nguyên lý và là sức mạnh cho sự tự hiến hòan toàn, sự tự hiến mà Đức Giêsu, theo lời chứng Phaolô truyền đạt lại, yêu cầu phải tưởng niệm trong nghi thức cử hành cũng như trong cuộc sống: “Thật vậy, mỗi lần ăn bánh này và uống chén này, anh em loan báo sự chết của Chúa Kitô cho tới khi Người đến “ (1 Cr 11, 26).

“Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể” (Mt 19, 26).

  1. Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người thanh niên giàu có đã kết thúc một cách chua xót: “nghe lời ấy người thanh niên bỏ đi với vẻ mặt sầu não, bởi vì anh em có những tài sản kếch sù” (Mt 19, 22). Chẳng những người giàu mà thôi nhưng cả các môn đệ nữa cũng hoảng hốt trước lời mời gọi đi theo Người của Đức Giêsu, lời mời gọi mà những đòi buộc vượt quá những khát vọng và những sức lực của con người: “Nghe nói thế, các môn đệ hết sức cuống cuồng: “Thế thì nào còn ai có thể được cứu thoát?”, họ buột miệng như vậy “ (Mt 19, 25). Thế nhưng Đấng là Thầy nại tới quyền năng của Thiên Chúa: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể” (Mt 19, 26).

Cũng trong chương trình này của Tin Mừng Thánh Mát-thêu (19, 3-10), khi chú giải luật Môisê về hôn nhân. Đức Giêsu phủ nhận quyền rẫy vợ bằng cách nại tới “nguyên lý” cổ nhất và có uy thế nhất so với luật Môisê: kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa về con người là kế hoạch trong đó con người đã trở nên bất tương ứng (non conforme) do hậu quả của tội: “chính vì lòng anh em ra chai cứng mà Môisê đã cho phép anh em rẫy vợ, nhưng ngay từ đầu thì không như thế” (Mt 19, 8). Việc nại tới “nguyên lý” làm cho các môn đệ hoảng sợ và các môn đệ đã bình luận với những lời này: “Nếu điều kiện của đàn ông đối với đàn bà là như thế, thà đừng kết hôn thì hơn” (Mt 19, 10). Khi quy chiếu cách riêng đến đặc sủng sống độc thân “vì Nước Trời” (Mt 19, 12), đồng thời vẫn nêu lên một qui tắc chung. Đức Giêsu đưa trở về với một sự khả thi mới mẻ và đáng kinh ngạc mà ân sủng Thiên Chúa cống hiến cho con người: “Người nói với họ: “Không phải mọi người đều hiểu được ngôn ngữ này, chỉ những ai được ban cho mới hiểu thôi” (Mt 19, 11).

Con người không thể noi gương bắt chước và sống mô phỏng tình yêu của Đức Kitô bằng sức lực đơn phương của mình. Con người chỉ có khả năng đối với tình yêu ấy một khi cậy dựa vào ân huệ của Thiên Chúa mà thôi. Như đã lãnh nhận tình yêu từ Cha Người. Chúa Giêsu, đến lượt Người, cũng thông truyền tình yêu ấy một cách hào phóng cho các môn đệ của Người: “Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em. Anh em hãy ở trong tình yêu của Thầy” (Ga 15, 9). Ân huệ của Đức Kitô, đó là Thần Khí Người mà “hoa trái” đầu tiên (x. Gl 5, 22) là lòng yêu thương: “Nhờ Chúa Thánh Thần được ban cho chúng ta mà tình yêu Thiên Chúa đã tuôn đổ tràn đầy tâm hồn chúng ta” (Rm 5,5). Thánh Augustinô tự hỏi: “có phải tình yêu thúc đẩy tuân giữ các giới răn hay là nhờ tuân giữ các giới răn mà tình yêu mới nảy sinh?”, và thánh nhân trả lời: “Nhưng nào ai dám nghi ngờ rằng tình yêu có trước rồi mới có tuân giữ? Qủa thế, au không yêu thì không có lý do để phải tuân giữ các giới răn” (29).

  1. Luật của Thần Khí vốn mang lại sự sống trong Đức Giêsu Kitô đã giải phóng ngươi khỏi luật của tội và của sự chết” (Rm 8,2). Với những lời này, thánh Tông Đồ đưa chúng ta đi vào viễn tượng của lịch sử cứu độ được hoàn thành trong Đức Kitô để nhận định về mối tương quan giữa Luật (cũ) và ân sủng (Luật mới).Thánh nhân công nhận vai trò sư phạm của Luật: nhờ giúp con người tôi cảm nghiệm tầm mức bất lực của mình và nhờ cắt khỏi con người kỹ vọng chỉ cậy dựa vào mình. Luật mở lối cho con người đi vào thái độ khẩn cầu và tiếp nhận “sự sống trong Thần Khí”. Chỉ có thể thực hành các giới răn của Thiên Chúa trong đời sống mới này mà thôi. Qủa vậy, chính nhờ đức tin vào nơi Đức Kitô mà chúng ta được nên công chính (x. Rm 3, 28): Sự “công chính” mà Luật đòi buộc nhưng lại không thể ban cho một ai,sự công chính ấy bất cứ ai là tín hữu cũng đều nhận thấy được tỏ lộ và được ban cho mình nhờ Chúa Giêsu. Biện chứng Phaolô về Luật và ân sủng lại còn được thánh Augustinô tổng hợp lại, cũng không kém phần tuyệt diệu: “Như vậy Luật đã được ban tặng để cho người ta cầu xin ân sủng: ân sủng đã được ban tặng để cho người chu toàn những điều Luật buộc” (30).

Mới đầu mà đã nhìn tình yêu và sự sống được đề cập trong Tin mừng dưới lãng kính mệnh lệnh thì thật không đúng bởi vì những đòi buộc của chúng vượt xa sức lực con người. Chỉ có thể sống tình yêu và sự sống ấy như là hoa trái của hồng ân Thiên Chúa, Đấng dùng ân sủng cứu chữa và biến đổi lòng người: “Bởi Lề Luật đã được ban hành do Môisê, còn ân sủng và chân lý thì đến từ Đức Giêsu Kitô” (Ga 1, 17). Do vậy, lời hứa về sự sống vĩnh cửu gắn liền với quà tặng ân sủng và ơn Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận đã là “ bảo chứng cho gia nghiệp của chúng ta” (Ep 1, 14).

  1. Như thế chúng ta được mạc khải về khía cạnh đích thực và nguyên tuyền của giới răn yêu thương và của đườn trọn hảo mà giới răn yêu thương được phối trí để đạt tới: ở đây là một sự khả thi được cung cấp cho con người một cách tuyệt nhiên nhờ vào ân sủng, nhờ hồng ân Thiên Chúa, nhờ tình yêu của Ngài. Đàng khác, nhờ ý thức mình đã lãnh nhận hồng ân ấy, nhờ ý thức mình chiếm hữu tình yêu Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô mà có sự nảy sinh và có nguồn nâng đỡ cho thái độ đáp trả có trách nhiệm của một tình yêu hoàn toàn đối với Thiên Chúa và đối với anh em, như thánh Tông Đồ Gioan thiết tha nhắc nhở trong Thư thứ nhất của ngài: “Này các con yêu dấu, chúng ta hãy yêu thương nhau, bởi vì tình yêu từ Thiên Chúa mà đến, ai yêu mến thì sinh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa. Ai không yêu mến thì không nhận biết Thiên Chúa, bởi lẽ Thiên Chúa là Tình Yêu […]. Các con yêu dấu, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải yêu thương nhau […]. Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu mến, bởi vì Ngài đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4, 7-8.11.19).

Mối liên kết không thể tách rời giữa ân sủng của Chúa với tự do của con người, giữa ân huệ với bổn phận, đã được thánh Augustinô diễn tả bằng những lời lẽ đơn giản và sâu sắc với tâm tình cầu khẩn như sau “Da quod jubes et jube quod vis” (Hãy cho điều Người truyền khiến và hãy truyền khiến điều Người ước mong ) (31).

Ân huệ không khinh giảm nhưng tăng cường đòi buộc luân lý của tình yêu: “Mà giới răn của Ngài là thế này: tin vào Danh của Con Ngài là Đức Giêsu Kitô và yêu thương nhau như chúng ta đã được Ngài truyền lệnh” (1Ga 3, 23). Người ta chỉ có thể “ở lại” trong tình yêu với điều kiện tuân giữ các giới răn, như lời quả quyết của Đức Giêsu: “Nếu anh em tuân giữ giới răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã tuân giữ những giới răn của Cha Thầy và Thầy ở lại trong tình yêu của Cha” (Ga 15, 10).

Khi tóm tắt những gì nằm ở tâm điểm sứ điệp luân lý của Đức Giêsu và tâm điểm thuyết giảng của các Tông Đồ, và khi lặp lại truyền thống lớn mạnh của các Nghị Phụ Đông Phương và Tây Phương – đăc biệt của Thánh Augustinô (32) – trong một tổng luận tuyệt vời, Thánh Tôma đã có thể viết lên rằng: Luật Mới là ân sủng của Chúa Thánh Thần được ban cho nhờ đức tin vào Chúa Kitô (33). Những giới răn bên ngoài mà Tin Mừng cũng đề cập tới dọn đường cho ân sủng ấy và trải rộng những hiệu quả của ân sủng ấy trong đời sống. Thực ra Luật Mới không chỉ dừng lại ở chỗ mách bảo điều phải làm nhưng còn ban sức mạnh để “thể hiện chân lý” (x. Ga 3, 21). Trong cùng chiều hướng ấy, thánh GioanKim Khẩu đã giúp nhận định rằng Luật Mới được ban hành đúng vào lúc Chúa Thánh Thần từ trời đến trong ngày lễ Ngũ Tuần và rằng các Tông Đồ “đã không như Môisê từ trên núi đi xuống tay mang những bia đá, nhưng đã quay trở về mang Chúa Thánh Thần trong lòng và nhờ ơn Chúa Thánh Thần mà trở thành luật sống động và sách sống động” (34).

“Và này đây Thầy ở với anh em luôn mãi cho đến tận thế” (Mt 28, 20)

  1. Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người thanh niên giàu có đã có nối tiếp, một cách nào đó, trong mọi giai đoạn lịch sử và hôm nay vẫn còn tiếp diễn. Vấn nạn “Thưa Thầy, tôi phải làm điều tốt nào để đạt được sự sống vĩnh cửu? “ vẫn nảy sinh trong lòng mọi người và lúc nào cũng là Đức Kitô, và chỉ một mình Người, mới mang lại lời giải đáp trọn vẹn và chung kết. Đấng là Thầy, Đấng giảng dạy các giới răn, Đấng mời gọi nối bước theo Người. Đấng ban ân sủng cho một đời sống mới, Đấng ấy vẫn luôn hiện diện và hành động ở giữa chúng ta theo như Người đã hứa: “Và này đây Thầy ở với anh em luôn mãi cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Sự hiện diện của Đức Kitô với mọi người thuộc mọi thời đại được diễn ra trong thân thể Người là Giáo Hội. Để thực hiện điều ấy. Người đã hứa ban Thánh Thần cho các môn đệ để Thánh Thần “nhắc nhở” cho họ và giúp họ hiểu các giới răn của Người (x. Ga 14, 26) và để Ngài làm nguyên lý và nguồn cội cho một đời sống mới trên thế gian (x. Ga 3, 5-8; Rm 8, 1-13). Được Thiên Chúa ban trong Cựu Ước, đạt tới mức trọn hảo trong Giao Ước mới và Giao Ước Vĩnh Cửu, nơi chính Ngôi Con làm người, các lệnh truyền luân lý phải được bảo tồn một cách trung thành và phải được hiện đại hóa liên lỉ trong các nền văn hóa khác nhau theo dòng lịch sử. Nhiệm vụ giải thích các lệnh truyền ấy đã được Đức Giêsu giao phó cho các Tông Đồ và những người kế nhiệm các ngài, được Thánh Thần Chân Lý trợ giúp đặc biệt: “Ai nghe anh em là nghe Thầy” (Lc 10, 16). Với ánh sáng và với sức mạnh của Thần Khí, các Tông Đồ đã thực thi sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và chỉ vẽ “đường nẻo” của Chúa (x. Cv 18, 25), bằng cách trước tiên dạy người ta nối bước theo chân và noi gương bắt chước Đức Kitô: “Đối với tôi, sống chính là Đức Kitô” (Pl 1, 21).
  2. Trong giáo huấn luân lý của các Tông Đồ, song song với các lời khuyên răn và các chỉ dẫn liên quan đến bối cảnh lịch sử và văn hóa, có một giảng trình đạo đức với những chuẩn mực xử sự chính xác. Giảng trình bày cũng có chỗ đứng trong các Thư, vốn chứa đựng phần giải thích, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, về những mệnh lệnh của Chúa phải thi hành trong những tình cảnh văn hóa khác nhau (x. Rm 12-15; 1Cr 11-14; Gl 5-6; Ep 4-6; Cl 3-4; 1Pr; Gc). Vào buổi đầu của Giáo Hội, với trọng trách rao giảng Tin Mừng, các Tông Đồ đã chăm lo cho hạnh kiểm của các Kitô hữu được hoàn chỉnh (35), bằng cách dựa vào trách nhiệm mục vụ của các ngài, như các ngài đồng thời cũng chăn lo cho đức tin được tinh tuyền và cho các ân huệ thần thiêng được chuyển thoiong nhờ các bí tích (36). Xuất thân từ dân Do Thái hoặc từ các quốc gia khác, các Kitô hữu tiên khởi khác với lương dân chẳng những ở nơi đức tin và phụng vụ của họ, nhưng còn ở nơi việc làm chứng bằng hạnh kiểm luân lý, bắt nguồn từ Luật Mới (37). Qủa vậy, Giáo Hội cùng một lúc là mối hiệp thông đức tin và sự sống; chuẩn mực của Giáo Hội là “đức tin tạo hiệu quả nhờ đức ái” (Gl 5,6).

Không được để cho bất cứ nạn rứt nào phá vỡ mối hòa điệu giữa đức tin và sự sống: sự hiệp nhất Giáo Hội chẳng những bị đả thương do những Kitô hữu từ chối hoặc bóp méo chân lý đức tin, nhưng còn do những người không biết gì về các đòi buộc luân lý mà Tin mừng kêu mời đón nhận (x. 1Cr 5, 9-13). Một cách kiên quyết, các Tông Đồ đã từ chối bất cứ sự tách biệt nào giữa cam kết bên trong với những hành vi bên ngoài biểu lộ và củng cố cam kết ấy (x. 1Ga 2, 3-6).

Và kể từ thời các tông đồ, các Mục Tử trong Giáo Hội đã tố giác một cách minh bạch phương cách hành động của những người đã reo giắc chia rẽ, bằng những lời giảng dạy và bằng những cách ứng xử sự của các ngài (38).

  1. Trong mối hiệp nhất Giáo Hội, cổ võ và gìn giữ đức tin và đời sống luân lý, đó là trách vụ Đức Giêsu đã giao cho các Tông Đồ (x. Mt 28, 19-20), trách vụ được tiếp nối trong thừa tác vụ của những người kế nhiệm các Tông Đồ. Đây là điều gặp thấy trong Truyền Thống sống động là truyền thống, theo như lời giảng dạy của Công Đồng Vatican II, nhờ đó “Giáo Hội cứ tiếp tục trường tồn trong đạo lý, đời sống và phượng tự, và Giáo Hội lưu truyền cho từng thế hệ tất cả những gì Giáo Hội đang là và tất cả những gì Giáo Hội tin. Xuất phát từ các Tông Đồ, Truyền Thống này được nối tiếp trong Giáo Hội, dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần” (39). Trong Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tiếp nhận và lưu truyền Thánh Kinh như là chứng từ của “những sự việc cao cả” mà Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử (x. Lc 1,49); qua môi miệng các Nghị Phụ và các Tiến sĩ, Giáo Hội tuyên xưng chân lý của Ngôi Lời Nhập Thể: Giáo Hội thực hành các giới mệnh và đức ái nơi đời sống của các thánh nam thánh nữ và nơi hy lễ của các vị tử đạo: Giáo Hội cử hành niềm trông cậy trong phụng vụ: nhớ truyền thống này, các Kitô hữu đón nhận “tiếng nói sống động của Tin Mừng” (40), coi đó là biểu hiện trung thành của sự khôn ngoan và của thánh ý Thiên Chúa.

Giữa lòng Truyền Thống, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, công việc diễn giải một cách chính qui Luật Chúa được phát triển. Là Đấng hiện hữu ngay từ cội nguồn của Mặc Khải, của các giới răn và của các giáo huấn do Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần chăm lo cho Mạc Khải, các giới răn và những lời giáo huấn ấy được gìn giữ một cách thánh thiện, được trình bày một cách trung thực và được áp dụng một cách chuẩn xác trong mọi thời đại và trong mọi tình huống. Các giới răn được “hiện đại hóa” như thế là dấu chỉ và là thành quả của một sự hiểu biết sâu xa về Mặc Khải và của một sự thấu suốt đáng đề cao, dưới ánh sáng đức tin, về những tình huống lịch sử và văn hóa mới. Dầu vậy, công việc hiện đại hóa chẳng qua cũng chỉ xác quyết giá trị vững bền của Mạc Khải và cũng chỉ là lồng vào trong đường hướng diễn giải mà Truyền Thống lớn mạnh của Giáo Hội để lại qua giáo huấn và đời sống của mình. Truyền Thống đã được minh chứng bằng học thuyết của các Nghị Phục, đời sống của các thánh, phụng vụ của Giáo Hội và giáo huấn của Huấn Quyền.

Đặc biệt, như Công Đồng quả quyết, “trách vụ diễn giải Lời Chúa một cách chính qui, thành văn hoặc truyền khẩu, đã được giao phó cho riêng Huấn Quyền sống động của Giáo Hội, uy thế của Huấn Quyền vốn được phô diễn nhân danh Đức Giêsu Kitô” (41). Như thế, trong đời sống cũng như trong công việc giảng dạy, Giáo Hội được coi như “trụ cột và giá đỡ nâng chân lý” (1Tm 3, 15), kể cả chân lý trong lãnh vực hành động luân lý. Thật vậy, “Giáo Hội có thẩm quyền công bố các nguyên tắc luân lý vào mọi thời và khắp mọi nơi, cả khi liên hệ đến trật tự xã hội.Giáo Hội cũng có thẩm quyền phán quyết về tất cả các vấn đề nhân linh, tùy theo mức độ đòi hỏi do những quyền lợi cơ bản của con người hay do ơn cứu độ của các linh hồn” (42).

Hẳn nhiên là về những vấn đề hiện nay đang là đối tượng của cuộc tranh cãi luân lý và đã gây ra nhiều khuynh hướng mới cũng như nhiều lý thuyết mới. Huấn Quyền, một mực trung thành với Đức Giêsu Kitô và trong dòng liên tục của Truyền Thống Giáo Hội, xét thấy bổn phận cấp bách của mình là đưa ra lời phân định và lời giáo huấn, hầu giúp đỡ con người trên bước đường tiến tới chân lý và tiến tới tự do.