THÔNG ĐIỆP VERITATIS SPLENDOR
(ÁNH RẠNG NGỜI CHÂN LÝ)
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
NGÀY 06 THÁNG 08 NĂM 1993

Chuyển ngữ từ ấn bản tiếng Pháp trong báo L’Osservatore Romano, số 40, ngày 05/10/1993.
MỤC LỤC
– GIỚI THIỆU THÔNG ĐIỆP
– VÀO ĐỀ:
+ Đức Giêsu Kitô. Ánh Sáng Thật Chiếu Soi Mọi Người [số 1-3].
+ Mục tiêu của thông điệp hiện được ban hành [số 4-5]
 CHƯƠNG I
“THƯA THẦY, TÔI PHẢI LÀM ĐIỀU TỐT NÀO?” (Mt 19, 16)
Đức Kitô và Lời Giải Đáp Cho Vấn Nạn Luân Lý
+ “Người kia tiến lại gần…” (Mt 19, 16) [số 6-7]
+ “Thưa Thầy, tôi phải làm điều tốt nào để đạt được sự sống vĩnh cửu?” (Mt 19,16) [số 8]
 + “Chỉ có một Đấng duy nhất Tốt Lành mà thôi” (Mt 19,17) [số 9-11]
+ “Nếu anh muốn tiến vào sự sống, hãy tuân giữ các giới răn” (Mt 19,17) [số 12-15]
+ “Nếu anh muốn nên trọn hảo” (Mt 19,21) [số 16-18]
+ “Hãy đến, hãy nối gót theo Thầy” (Mt 19,21) [số 19-21]
 + “Đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể” (Mt 19,26) [số 22-24]
   + “Và này đây Thầy ở với anh em luôn mãu cho đến tận thế” (Mt 28,20) [số 25-27]
CHƯƠNG II
“ANH EM CHỚ UỐN MÌNH THEO THẾ GIAN NÀY” (Rm 12,2)
Giáo Hội và Phân Định Về Một Số
Khuynh Hướng Thần Học Luân Lý Hiện Nay
+ “Giảng dạy những gì hợp với đạo lý lành mạnh” (x. Tt 2,1) [số 28-30]
+ “Anh em sẽ nhận biết chân lý và chân lý sẽ giải thoát anh em” (Ga 8,32) [số 31-34]
 I. Tự do và Lề Luật
+ “Ngươi chớ có ăn trái nơi cây biết thiện biết dữ” (St 2,17) [số 35-37]
+ “Thiên Chúa đã muốn để cho con người “tự bàn bạc” với chính mình” (Hc 15,14) [số 38-41]
+ “Phúc thay người vui thú với Lề luật Chúa (x. Tv 1.1-2) [số 42-45]
+ “Họ nêu dẫn cho thấy Lề Luật đã được khắc ghi trong lòng họ” (Rm 2,15) [số 46-50]
+ “Nhưng thoạt đầu thì không như thế” (Mt 19,8) [số 51-53]
 II. Lương tâm và chân lý
+ Thánh điện của con người [số 54-56]
+ Phán quyết của lương tâm [số 57-61]
+ Tìm kiếm chân lý và sự thiện [số 62-64]
III. Lựa chọn cơ bản và những hành vi ứng xử cụ thể
+ “Ước chi tự do đừng nên cớ cho người ta thỏa mãn xác thịt” (Gl 5,13) [số 65-68]
+ Tội trọng và tội nhẹ [số 69-70]
 IV. Hành vi luân lý
+ Cứu cánh luận và thuyết duy cứu cánh [số 71-75]+ Đối tượng của hành vi có suy tính [số 76-78]
+ “Điều tự nó là dữ”: không được phép làm điều dữ nhằm mục đích đạt tới điều thiện (x. Rm 3,8) [số 79-83]
CHƯƠNG III
“SAO CHO THẬP GIÁ CỦA ĐỨC KITÔ KHÔNG BỊ GIẢN LƯỢC THÀNH HƯ VÔ”
(1Cr 1,17)
Sự Thiện Luân Lý Đối Với Đời Sống Của Giáo Hội Và Của Thế Giới.
+ “Chính vì để chúng ta được mãi tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5,1) [số 84-87]
+ Bước đi trong ánh sáng (x. Ga 1,7) [số 88-89]
+ Tử đạo, một hình thức tán dương sự thánh thiện bất khả xâm phạm của Luật Thiên Chúa [số 90-94]
+ Những chuẩn mực luân lý phổ quát và bất biến nhằm phục vụ con người và xã hội [số 95-97]
+ Luân lý và cuộc canh tân đời sống xã hội và chính trị [số 98-101]
+ Ân sủng và sự tuân phục Luật Thiên Chúa [số 102-105]
+ Luân lý và công cuộc phúc âm hóa mới [số 106-108]
+ Dịch vụ của các nhà thần học luân lý [số 109-113]
+ Trách nhiệm mục tử của chúng tôi [số 114-117]
KẾT LUẬN
Đức Maria, Mẹ Từ Ái [số 118-120]
CHÚ THÍCH 
GIỚI THIỆU THÔNG ĐIỆP
Mục tiêu của văn kiện
Trong thông điệp này, Đức Gioan Phaolô II bàn về một vài yếu tố cơ bản trong học thuyết luân lý công giáo, như Ngài đã từng báo trước trong Tông thư Spiritus Domini phổ biến ngày 01/8/1987, nhân dịp giỗ 200 năm Thánh An-phong-xô Li-gô-ri, quan thầy của các tiến sĩ và các nhà luân lý.
Nếu như một văn kiện đã từng được mong đợi và đã dày công soạn thảo như văn kiện này mà mãi tới nay mới được phổ biến, đó là bởi vì theo thẩm định chung nên để nó ra sau sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo trong đó nền luân lý Kitô giáo được trình bày đầy đủ và có hệ thống. Như vậy thông điệp này nại tới sách Giáo Lý “bản văn qui chiếu vững chắc và chính qui để giảng dạy về học thuyết công giáo” và thông điệp có thể chủ tâm bàn luận một vài vấn đề cơ bản trong giáo huấn luân lý của Giáo Hội, dưới dạng phán quyết của Huấn Quyền Giáo Hội về một số đề tài hiện đang được tranh cãi trong thần học luân lý.
Những đối tượng được nhắm đến
Đức Giáo Hoàng ngỏ lời một cách trực tiếp và trước hết với các Giám Mục vì các ngài, cùng với Vị Kế Nhiệm thánh Phêrô và dưới quyền tối thượng của vị này có bổn phận gìn giữ “học thuyết lành mạnh” (2Tm 4,3) bằng cách chăm lo cho Lời Chúa vốn cần được tin và đem ra thực hành, được giảng dạy một cách trung thành. Điều này nằm trong khuôn khổ của sứ mệnh tông đồ được Đức Giêsu trao ban ngay từ buổi đầu (Mt 28, 16-20), sứ mệnh cần được tiếp nối vào mọi thời đại, nhờ vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần, ngõ hầu phát triển mối hiệp thông Giáo Hội, việc Phúc âm hóa và cuộc đối thoại về chân lý và về sự thiện mà Giáo Hội bảo tồn cùng với mọi người và mọi dân tộc.
Các nguyên do và động lực
Di sản phong phú gồm những suy tư luân lý như đã được trải dài một cách đặc biệt nơi Huấn Quyền Giáo Hoàng trong hai thế kỷ vừa qua về những phương diện khác biệt của đời sống nhân linh, hiện nay đang phải đương đầu với thách đố của một tình huống mới đã từng xuất hiện trong xã hội cũng như trong chính cộng đoàn Kitô hữu. Đã có những nỗ lực lớn lao và đáng ca ngợi được thi thố nhằm canh tân luân lý, như Công Đồng Vatican II đã từng mong ước, thế nhưng cũng một lúc người ta chứng kiến cảnh lan tràn, ngay cả trong thần học luân lý công giáo, những hình thức nghi hoặc và bình phẩm đối với các giáo huấn luân lý của Giáo
Hội: càng ngày càng lộ rõ hơn điều này là những làn sóng phản bác không chỉ mang tính chất phiếm diện và tùy cơ về một số chuẩn mực luân lý đặc thù nào đó mà thôi, nhưng đã trở thành một cuộc xét lại trọn khối và có hệ thống đối với di sản luân lý như hiện có, là di sản xây trên những quan điểm nhân học và đạo đức nhất định.
Cách riêng, một số trào lưu thần học loại bỏ học thuyết cổ truyền về luật tự nhiên, về tính phổ quát và về uy thế bền vững của những mệnh lệnh phát xuất từ luật tự nhiên. Người ta đặt lại vấn đề về thế giá của Huấn Quyền những khi Huấn Quyền can thiệp vào lãnh vực luân lý để dùng quyền giảng dạy về những đòi buộc bất khả tránh né nơi các giới răn của Thiên Chúa. Ngoài ra người ta còn cho rằng có thể yêu mến Thiên Chúa và tha nhân mà không nhất thiết luôn luôn và trong mọi trường hợp phải tuân thủ những giới răn mà Giáo Hội truyền dạy. Người ta đặt nghi vẫn về mối liên kết nội tại và bất khả phân chia giữa đức tin và luân lý, đến độ vạch ra lý thuyết cho rằng có thể đi tới nhiều hình thức đa nguyên vốn không thể dung hợp với sự hiệp thông Giáo Hội.
Trước tình trạng lan tràn của các lập trường nói trên, ai ai cũng nhận thức được rằng nhữngvấn đề hiện nay mang tầm mức quan trọng tột bậc đối với Giáo Hội, đối với đời sống của các tín hữu và cả đối với tình hữu nghị và mối giáo hảo nhân loại nói chung. Những khó khăn về mục vụ và xã hội vì những lý do trên đã xẩy ra trên mọi bình diện và đã tạo thành một cuộc khủng hoảng thực sự đến độ Huấn Quyền Gíao Hoàng không thể không cảm thấy trách nhiệm phải xác định những khía cạnh giáo thuyết cần thiết để có thể giải quyết tình huống một cách tích cực.
Tâm điểm của vấn đề
Phăng ngược lên tận cội nguồn của những phản bác và những giải pháp bất dung hợp với học thuyết công giáo ấy, người ta nhận ra tầm ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng cuối cùng đã dẫn đến chỗ cắt đứt mối tương giao mang tính chất cấu tạo và thuộc về yếu tính giữa tự do nhân linh, khi được hành xử, với chân lý. Một quan niệm thái quá như thế về tính tự lập của tự do (autonomie de la liberté) sẽ tán dương tự do đến độ biến tự do thành cái tuyệt đối và coi tự do là nguồn phát sinh các giá trị, vượt qua mọi lệ thuộc đối với chân lý.
Chắc chắn người ta phải công nhận rằng trong nền thần học công giáo người ta không gặp thấy những lập trường quá mức như thế và đồng thời cũng cần phải công nhận rằng, với một lối tư duy vốn đề cao ngôi vị, nên thần học công giáo đã lặp lại và khai triển một cách tích cực hơn học thuyết cổ điển hoàn thiện nhất mà truyền thống để lại về giá trị của tinh thần trách nhiệm cá nhân, về vai trò của lý trí và của lương tâm trong quan niệm về bổn phận luân lý. Dầu vậy, trong một số trường hợp, người ta đã đi tới chỗ tư duy lại tận căn những vai trò hỗ tương giữa lý trí và đức tin, để rồi lập nên những chuẩn mực luân lý liên quan tới những cách cư xử nhất định “giữa đời”, bằng cách giao công việc xác định những chuẩn mực liên quan tới “thiện ích nhân linh” cho lý trí tự lập (độc lập đối với Mạc Khải, đối với Truyền Thống, đối với Huấn Quyền, và ngay cả đối với Chân Lý vốn hiện hữu trước lý trí), để cho lý trí được sáng tạo theo cách riêng của mình.
Có khi còn triệt để hơn như thế nữa, người ta ngả theo một quan niệm nào đó về tính tự lập và người ta đòi xét lại mối liên kết nội tại giữa đức tin và luân lý. Dầu thế nào đức tin vẫn không là một sự gắn bó thuần túy trí thức vào những chân lý trừu tượng. Đức tin còn mang một nội dung luân lý: đức tin khơi dậy và đòi buộc một sự dấn thân nhất quán trong đời sống; đức tin bao gồm việc tuân giữ các giới răn và kiện toàn việc tuân giữ ấy… “Không phải cứ thốt lên: Lạy Chúa, Lạy Chúa là được vào Nước Trời đâu, nhưng là phải thực hiện ý Cha Ta ở trên trời “ (Mt 7,21).
Đức Kitô, ánh sáng muôn dân.
Đứng trước những vấn nạn như vừa trình bày và nhằm mục đích đưa ra sự phân định cần thiết để bảo tồn kho tàng học thuyết công giáo. Đức Giáo Hoàng quay về Đức Giêsu Kitô, “ánh sáng muôn dân” (Cộng đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, GH, số1). Chính Đức Kitô đã dậy cho chúng ta con đường tự do đích thực: “Chân lý sẽ giải thoát anh em” (Ga 8, 32) và cùng lúc Người đã công bố: “Thầy là Đường, là Chân lý và là Sự Sống” (Ga 14,6). Trái ngược hẳn với tất cả những hình thức biến dạng và tất cả những hình thức ngụy tại xem ra tăng giá trị cho tự do, những kỳ thực tước bỏ hết ý nghĩa của tự do, tự do chỉ trọn vẹn là tự
do một khi được nối liền với chân lý, với Chân lý “nguyên thủy” vốn chiếu tỏa một cách tuyệt mỹ (Veritatis spendor) trên dung nhan của Đức Kitô (x. 2Cr 3. 5 – 18). Như vậy, thông điệp không chỉ nhắm mục đích duy nhất và thiết yếu là kêu gọi cảnh giác
trước những sai lầm, trên tất cả, thông điệp nhằm một lần nữa, với tất cả khí phách của mình, công bố nguyên lý trung tâm là nguyên lý xác định tính chất cho sứ điệp về tự do Kitô giáo: chỉ trong chân lý thì tự do của con người mới có được một phẩm chất gọi là nhân bản và có trách nhiệm. Đúng vậy, thông điệp khởi đi từ tâm điểm của sứ điệp Kitô giáo và đồng thời mong muốn ngỏ lời với tất cả mọi người thành tâm thiện chí để dùng ánh sáng nền tảng phát triển từ đức tin, trong giai đoạn lịch sử hiện tại, mà soi đường cho tự do hướng đền điều thiện, chiếu dọi lối nẻo cho một đời sống nhân bản, cá vị và xã hội, thật sự tốt đẹp. Những đường nét lớn của văn kiện. Diễn tiến của thông điệp gồm ba giai đoạn:
– Thông điệp mở đầu bằng việc suy niệm Thánh Kinh dựa trên cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với người thanh niên giàu có (Mt 19,16-22), để nhờ đó mà nêu bật những yếu tố then chốt trong nền luân lý Kitô Giáo.
– Tiếp diễn, trong chương giữa mang tầm vóc giáo thuyết, thông điệp thực hiện công việc phân định và phê phán (discernement critique) trước một số khuynh hướng thần học luân lý hiện đại, dưới ánh sáng Thánh Kinh và Truyền thống sống động của Giáo Hội, đặc biệt dưới ánh sáng Công Đồng Vatican II.
– Sau cùng, trong chương ba mang tính chất mục vụ, thông điệp nêu lên tầm lợi ích mà học thuyết luân lý Công giáo có thể và phải tạo được đối với đời sống Giáo Hội và đời sống nhân loại trên lãnh vực thiện bảo luân lý.
Suy niệm Tin Mừng về cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với người thanh niên giàu có Đoạn văn khởi đầu bằng một câu hỏi do người đối thoại trẻ tuổi của Chúa Giêsu nêu lên, nhưng đó cũng là câu hỏi tiềm năng nơi con tim của mọi người: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều tốt nào để đạt được cuộc sống vĩnh cửu ?”. Đặt câu hỏi về điều thiện và về điều dữ thì, xét theo cấp độ thâm sâu nhất, cũng là truy tìm ý nghĩa tròn đầy trong cuộc sống, truy tìm sự sống và hạnh phúc. Sở dĩ Giáo hội đã được cưu mang trong ý muốn của người thuộc mọi thời đại có thể gặp được Người và tìm được nơi Người câu trả lời duy nhất khả dĩ thỏa mãn họ một cách trọn vẹn và khả dĩ vượt xa hơn cả cuộc truy tìm sự sống của họ đến độ làm họ phải ngỡ ngàng.

Câu trả lời của Đức Giêsu, dưới một hình thức vắn gọn, đã nói lên chính tâm điểm và chính guồng năng động của nền luân lý Kitô Giáo: câu trả lời này đã làm nổi bật nội dung chính trong Mạc Khải của Cựu Ước và Tân Ước về hành động luân lý. Điểm đầu điêm đó là sự tuân phục của hanh động nhân linh đối với Thiên Chúa, đối với “Đấng tốt lành duy nhất”. Điểm thứ hai đó là mối quan hệ chặt chẽ nối kết sự thiện chân lý của các hành vi nhân linh với đời sống vĩnh cửu: các giới răn của Thiên Chúa mà Đức Giêsu xác quyết lặp lại trong luật yêu thương mới của Người chính là đường dẫn đến sự sống. Điểm thứ ba, đó là Đức Giêsu nêu dẫn con đường trọn hảo với tư thế ứng sẵn, bỏ hết mọi sự mà theo Người, noi gương Người để trao hiến chính mình như Người đã trao hiến mình cho Chúa Cha và cho anh em của Người trong tình yêu và trong phục vụ. Như thế, có thể nhận ra rằng luân lý Kitô giáo chính là sự chu toàn lề luật một cách trọn vẹn, và đây là điều có thể thực hiện nhờ ơn huệ hào phóng của Chúa Thánh Thần, là nguồn cột và chỗ dựa luân lý cho “cuộc tạo dựng mới”.
Truyền Thống sống động của Giáo Hội, gồm Huấn Quyền, công việc đào sâu giáo thuyết, phụng vụ và gương sống thánh thiện, đã luôn luôn duy trì sự hoàn thiện giữa đức tin với đời sống. Cách riêng, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Huấn Quyền do những mục tử đã cắt nghĩa Lề Luật của Chúa một cách trung thực cho các thế hệ nối tiếp nhau trải qua những hoàn cảnh đổi thay của lịch sử.
Công việc phân định và phê phán đối với một số khuynh hướng thần học
Tiếp nối trách vụ cắt nghĩa này. Đức Giáo Hoàng thực hiện một cuộc phân định và phê phán
đối với một số khuynh hướng ngày nay trong thần học luân lý hiện đại. Trên tất cả, cần phải nhắc lại mối tương quan mang tính chất cấu tạo giữa tự do và chân lý. Tính tự lập đích thực về mặt luân lý, khả dĩ dung hợp với học thuyết công giáo, là tĩnh chất mà tùy theo đó tự do của con người và lề luật của Thiên Chúa gặp gỡ nhau và xâm nhập vào với nhau. Là sự hiện diện của lề luật vĩnh cửu của Thiên Chúa nơi tạo vật có lý trí, luật “tự nhiên” thật ra bao băm sự tuân phục thiết yếu của lý trí và của các mệnh lệnh phát sinh từ lý trí với sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Ngược lại với hết mọi chủ nghĩa tương đối, tính chất phổ quát và trường tồn của các mệnh lệnh thuộc lề luật luân lý được khẳng định, vì các mệnh lệnh này biểu lộ chân lý nguyên thủy về thiện ích của con người và nêu lên đường nẻo để tự do được thể hiện một cách đích thực. Nền tảng tối hậu của các mệnh lệnh này nhằm ở nơi Đức Kitô. Đấng mãu mãi là một, hôm qua, hôm nay và mọi thời (x. Dt 13,8; Hiến chế Gaudium et Spes, MV, số 10).
Bằng chứng từ ngữ của Công Đồng Vatican II (x. Hiến chế Gaudium et spes, MV, số 16) lương tâm luân lý lại một lần nữa được định nghĩa như là “thánh điện của con người” ở đó tiếng Thiên Chúa dội lên và không ngừng kêu mời yêu mến, làm điều lành, tránh điều dữ. Dầu vậy, ngược lại với mọi thứ chủ trương duy chủ thể, có sự tái khẳng định rằng lương tâm không phải là một bộ phận có sức sáng tạo đối với điều thiện, nhưng lương tâm cần phải được đào luyện dưới ánh sáng của chân lý. Phán quyết tội cùng của lương tâm cần phải để cho luật Thiên Chúa soi sáng vì luật Thiên Chúa là chuẩn mực phổ quát và khách quan trong địa hạt chân lý.
Dầu vẫn công nhận tính chất nền tảng của một chọn lựa trong đời sống, cách riêng chọn lựa sống đức tin thông điệp từ chối tất cả mọi hình thức tách lìa giữa một bên là “lựa chọn cơ bản” (option fondamentale) mang tính chất siêu nghiệm với bên kia là những chọn lựa có suy tình gắn liền với những hành vi cụ thể. Lựa chọn cơ bản đánh dấu và nâng đỡ đời sống luân lý của người Kitô hữu, lựa chọn này bị kháng cự mỗi lần mà con người để cho tự do của mình can dự vào những lựa chọn cố tình và tự ý theo hướng đối nghịch và bao hàm những chất thể luân lý trầm trọng (tội nặng).
Ngược lại với những chủ thuyết luân lý có thể mệnh danh là “thuyết duy cứu cánh”, “thuyết duy hiệu quả” hoặc “thuyết cân xứng”, văn kiện của Đức Giáo Hoàng khẳng định rằng việc thẩm định giá trị luân lý của các hành vi nhân linh không chỉ độc nhất bắt nguồn từ việc đánh giá những hậu quả tiên liệu trước hoặc đánh giá tỷ lệ cân xứng giữa những điều thiện hay những điều dữ “tiền-luân-lý” phát sính từ đó. Ý hướng ngay thẳng mà thôi thì không đủ để biện minh cho sự hoàn chỉnh của một lựa chọn. Ngay cả khi chú trọng đến ý hướng chủ quan và đến những hậu quả, tính chất luân lý của hành vi trước tiên phải nẩy sinh từ đối tượng lựa chọn mà lý trí cưu mang và đề nghị cho ý chí. Bởi đó, người ta quả quyết rằng có thể đánh giá một số hành vi ứng xử vốn đối nghịch lại với chân lý và với thiện ích của con người là “xấu tự bên trong” bản chất. Lựa chọn nào nghiêng về những hành vi ấy sẽ không bao giờ là tốt ngay cả khi đi kèm với ý tưởng tốt lành xét về phía chủ quan và nhắm tới những hậu quả tích cực. Ngay cả với những nguyên do rất nghiêm trọng, không thể nào được phép làm điều dữ nhằm mục đích đạt tới điều thiện (x. Rm 3,8: Thông Điệp Sự Sống Con Người, Humanae Vitae, số 14). Chính vì thế màcó những mệnh lệnh luân lý “tiêu cực” (nghĩa là những mệnh lệnh nhằm ngăn cấm một số hành vi ứng xử nào đó) vốn mang giá trị phổ quát và không bao giờ được phép miễn trừ.
Sự thiện luân lý nhằm phục vụ cho đời sống Giáo Hội và đời sống nhân loại

Đưa mắt nhìn về Chúa Giêsu, Giáo Hội khám phá ra ý nghĩa thực sự của tự do: trao hiến chính mình vì tình yêu nhằm phục vụ Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Giáo Hội khám phá ra rằng, trong các giới răn và trong tính chất tuyệt đối của các giới răn, Luật Thiên Chúa diễn đạt những đòi buộc tình yêu. Những chuẩn mực luân lý phổ quát và bất biến là nhằm phục vụ con người và xã hội. Cuộc canh tân sâu rộng về đời sống xã hội và chính trị mà nhân loại hiện nay ngày càng dần đến chỉ có thể thực hiện nếu tự do nối liền với chân lý. Thật vậy, cho dẫu bề ngoài có như thế nào, chủ thuyết tương đối về luân lý không thể nào không dẫn đến một thể chế chuyên quyền để rồi hủy diệt con người. Đem luân lý ra phản xử chính là đem con người và tự do của con người ra phân xử, không thể nào đứng về phía bênh vực nếu chống lại chân lý và chống lại Thiên Chúa. Trong lịch sử cứu độ các anh hùng tử đạo đã thà chết hơn phạm tội, đã làm chứng cho sự thánh thiện bất khả xâm phạm của luật Thiên Chúa và đã làm chứng cho sự tôn trọng vô điều kiện mà bất cứ ai là con người đều đáng được hưởng do những đòi buộc của nhân phẩm. Trong địa hạt làm chứng này, không những chỉ có người Kitô hữu mà thôi: cảm thức luân lý của các dân tộc, những truyền thống lớn về đạo giáo và minh triết ở Tây Phương và Đông Phương cũng mang nhiều xác quyết cho lập trường của các Kitô hữu.
Cho dấu tự do của con người vốn mỏng manh, con người có những khả năng cụ thể để hành động theo sự thật luân lý và tất cả những khả năng ấy đều nằm trong mầu nhiệm cứu chuộc nhờ Đức Kitô. Trong Đức Kitô, chẳng những Chúa Cha ban cho chúng ta chân lý về điều thiện (giới răn yêu thương xét cho cùng cũng lập lại mười giới răn), nhưng còn ban cho chúng ta “Luật mới” là Thần Khí trong chúng ta và Ân Sủng của Thần Khí, để nhờ đó chúng ta mới có khả năng yêu thương và làm điều thiện. Trong Đức Kitô, lượng từ ái của Thiên Chúa đạt thấu chúng ta, hết mực cảm thông đối với sự yếu đuối của con người nhưng không bao giờ xê xích cỡ của điều thiện và điều dữ bằng những thỏa nhượng hòng thích nghi với từng hoàn cảnh.
Chính vì thế, vốn mật thiết gắn liền với công cuộc Phúc âm hóa mới, việc rao giảng luân lý Kitô giáo đáp lại lời cảnh cáo của Thánh Tông Đồ Phaolô: “Chớ để cho Thập Gía Đức Kitô bị giản lược thành hư vô” (1Cr 1,17). Đối với trách nhiệm loan báo không khinh giảm về sự công chính và lượng từ ái vốn rực chiếu trên Thập Gía, tác vụ của các thần học gia luân lý mang tính chất định đoạt, bởi vì họ thi hành một sứ mệnh thực sự mang chiều kích Giáo Hội, trong nỗi hiệp thông với các mục tử. Các mục tử có trách nhiệm chăm lo sao cho Lời Chúa được công bố và áp dụng vào đời sống một cách trung thành trong việc giảng thuyết cho các tín hữu, trong công cuộc Phúc âm hóa, trong lãnh vực giảng dạy thần học và nền đào tạo do các chủng viện ban hành, hoặc cả trong sinh hoạt của các tổ chức công giáo.
Cậy dựa vào Mẹ Từ Ái
Để kết thúc thông điệp, Đức Thánh Cha hướng về phía Đức Maria. Mẹ Từ Ái và biểu tượng của tự do Kitô giáo chân chính. Đức Thánh Cha cầu xin với Mẹ Maria để cho trong đời sống luân lý của các tín hữu ngời chiếu Chân Lý của Con Ngài, “nhằm làm vinh danh Thiên Chúa”. Trong đoạn cuối này, Đức Giáo Hoàng nhắc lại lần nữa “sự đơn giản lạ thường” của nền luân lý Kitô giáo, đó là “đi theo Chúa Kitô”, đó là để cho mình được ân sủng Người biến đổi và được lượng từ ái Người canh tân: đây chính là những hồng ân mà chúng ta lãnh nhận trong đời sống hiệp thông với Giáo Hội của Người.
THÔNG ĐIỆP
ÁNH RẠNG NGỜI CỦA CHÂN LÝ
VERITATIS SPLENDOR
CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II GỞI TẤT CẢ CÁC GIÁM MỤC THUỘC
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BÀN VỀ MỘT VÀI VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG GIÁO HUẤN LUÂN
LÝ CỦA GIÁO HỘI.
Xin gửi đến Chua Huynh Khả Kính trong hàng Giám Mục lời chào và lời chúc lành của Tôi với tư cách tông đồ.

VỀ RẠNG NGỜI CỦA CHÂN LÝ phản chiếu nơi tất cả mọi công trình của Đấng Tạo Hóa và, một cách đặc biệt, nơi con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa (x. St 1.26): chân lý soi sáng trí khôn và tạo hình dạng cho tự do của con người và con người, nhờ đó, được dẫn đến chỗ nhận biết và yêu mến Chúa. Tác giả thánh vịnh chắc hẳn nhắm đến điều này khi cầu nguyện rằng: “Xin tỏa ánh tôn nhan Ngài trên chúng con” (Tv 4.7)
VÀO ĐỀ
ĐỨC GIÊSU KITÔ,
ÁNH SÁNG THẬT CHIẾU SOI MỌI NGƯỜI
1. Được mời gọi hưởng ơn cứu độ nhờ đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, “Ánh sáng đích thực chiếu soi mọi người” (Ga 1,9), loài người trở thành “ánh sáng trong Chúa” và “con cái sự sáng” (Ep 5,8), và loài người được thánh hóa nhờ “tuân phục luân lý” (1Pr 1,22). Việc tuân phục chân lý không phải lúc nào cũng dễ. Từ khi phạm nguyên tội bí nhiệm, do sức quyến rũ của Satan, “tên lường gạt và tổ sư dối trá” (Ga 8,44), con người liên lỉ bị cám dỗ rời ánh mắt mình khỏi Thiên Chúa hằng sống và chân thật để quay sang các ngẫu tượng (x. Tx 1,9), đem “chân lý của Thiên Chúa đổi lấy dối trá” (Rm 1,25): từ đó cả đến khả năng nhận biết chân lý cũng bi suy yếu. Và cứ thế, con người để mình buông theo chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa hoài nghi (x. Ga 18,38) để rồi đi tìm cầu một thứ tự do tạm bợ ở bên ngoài chân lý tự thân.
Tuy nhiên, những bóng tối do lầm lạc và do tội không thể nào hoàn toàn xóa tan ánh sáng của Thiên Chúa Tạo Hóa nơi con người. Do sự kiện này, nơi tâm khãm của con người luôn luôn tồn tại một hoài niệm về chân lý tuyệt đối và một khát vọng đạt tới mức nhận biết chân lý một cách viên mãn. Bằng chứng hùng hồn, đó là sự truy tầm bất tận của con người trong mọi lãnh vực và địa hạt. Rõ hơn nữa, đó là sự truy tầm của con người về ý nghĩa của cuộc đời. Là chứng từ tuyệt hảo cho thấy những khả năng của trí thông minh và sức dai dẳng của loài người, sự phát triển khoa học và kỹ thuật vẫn không miễn trừ cho nhân loại khỏi phải nêu lên những vấn nạn thiết yếu mang chiều kích tôn giáo: đúng hơn sự phát triển này thúc đẩy nhân loại đương đầu với những đấu tranh đau xót nhất và quyết liệt nhất, đó là những đấu tranh của con tim và của lương tâm luân lý.
2. Không một người nào có thể trốn tránh những vấn nạn như: Tôi phải làm gì? Làm sao để phân định điều thiện với điều dữ? Lời giải đáp chỉ có thể có được nhờ vào vẻ rạng ngời của chân lý vốn soi chiếu những vùng thâm sâu của trí óc con người, đúng như lời xác nhận của tác giả thánh vịnh: “Biết bao kẻ nói rằng: “Ai sẽ cho ta thấy hạnh phúc?” Lạy Chúa, xin tỏ ánh tôn nhan Ngài trên chúng con” (Tv 4,7). Ánh sáng nơi dung nhan Thiên Chúa chiếu dọi toàn bộ vẻ rạng rỡ lên khuôn mặt của Đức Giêsu Kitô, “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), “sự tỏa rạng của vinh quang Ngài” (Dt 1,3). Đấng “tràn đầy ân sủng và chân lý” (Ga 1,14): Người là “đường, là chân lý và là sự sống” (Ga 14,6). Do vậy, lời giải đáp dứt khoát cho mọi nỗi băn khoăn thắc mắc của con người, đặc biệt cho những vấn nạn của con người về phương diện tôn giáo và luân lý, đã được Đức Giêsu Kitô ban tặng: hơn thế nữa, lời giải đáp ấy chính là đích thân Chúa Giêsu Kitô, như Công Đồng Vatican II đã từng nhắc nhở: “Thật ra, mầu nhiệm con người chỉ thực sự được soi sáng trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Qủa vậy, Ađam, con người tiên khởi, chính là hình bóng của Đấng phải đến là Chúa Kitô. Đức Kitô là Ađam mới và trong khi mạc khải mầu nhiệm của Cha Người và của tình yêu Người, Người tỏ lộ trọn vẹn con người cho con người và giúp con người khám phá ra sự cao cả của ơn gọi mình” (1)
Là “ánh sáng muôn dân”, Đức Kitô chiếu sáng khuôn mặt Giáo Hội mà Người sai đi khắp thế giới để loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật (x. Mc 16,15) (2). Bởi thế, là dân Chúa giữa muôn dân, hằng chú tâm đến những thách đố mới của lịch sử và đến những nỗ lực mà loài người thể hiện trong cuộc truy tâm ý nghĩa cho cuộc đời. Giáo Hội đề nghị với mọi người lời giải đáp phát xuất từ chân lý của Đức Giêsu Kitô và từ Tin Mừng của Người. Giáo Hội luôn ý thức thắm thiết về “bổn phận của mình vào mọi lúc, là dò thấu những dấu chỉ thời đại và cắt nghĩa những dấu chỉ ấy dưới ánh sáng của Tin Mừng sao cho Giáo Hội có thể vận dụng phương cách thích ứng với từng thời đại mà giải đáp những vấn nạn muôn thủa của con người về ý nghĩa của cuộc sống hiện tại và tương lai và về những tương quan hỗ tương giữa hai cuộc sống ấy” (4)
3. Hiệp thông với Vị Kế Nhiệm Thánh Phêrô, các mục tử trong Giáo Hội kề cận với các tín hữu trong nỗ lực này, sánh bước với họ và hướng dẫn họ bằng quyền giáo huấn, luôn tìm ra những lối diễn rả mới mẻ về tình yêu và lượng từ ái để chẳng những quay về phía những kẻ có đức tin mà còn quay về phía mọi người thành tâm thiện chí. Cộng Đồng Vatican II vẫn luôn là chứng từ phi thường cho tháo độ rộng mở của Giáo Hội vốn là “chuyên gia về vấn đề con người” (5) và vốn dấn thân phục vụ mọi người và toàn thể thế giới (6).
Giáo Hội hiểu rõ rằng vấn đề luân lý chạm tới chốn sâu thẳm của bất cứ người nào và bao hàm tất cả mọi người, kể cả những người không nhận biết cả Đức Kitô lẫn Tin Mừng của Người và thậm chí không nhận biết Thiên Chúa. Giáo Hội hiểu rõ rằng chính ngay trên lối nẻo của đời sống luân lý mà con đường cứu độ được mở ra cho tất cả mọi người, như Công Đồng Vatican II đã nhắc nhở một cách rõ rệt: “Những ai không vì lỗi của mình mà vô tri đối với Tin Mừng của Đức Kitô và đối với Giáo Hội Người nhưng dẫu vậy vẫn tìm kiến Thiên Chúa với lòng chân thành và vẫn cố gắng, dưới ảnh hưởng của ân sủng Người, hành động bằng cách thực hành ý Chúa theo như lương tâm tỏ lộ và chỉ vẽ cho họ, những người ấy có thể đạt tới ơn cứu độ vĩnh cửu”. Và Công Đồng còn nói thêm: “Cả đối với những ai, không vì lỗi tự mình, chưa đạt tới nhận thức minh thị về Thiên Chúa nhưng ra sức, dĩ nhiêm với ân sủng của Thiên Chúa, sống một cuộc đời ngay thẳng, Thiên Chúa Quan Phòng không từ chối những trợ giúp cần thiết cho ơn cứu độ của họ. Thật vậy, tất cả những gì nơi họ là tốt lành và chân thật, Giáo Hội đều coi như là một sự chuẩn bị cho Tin Mừng và như là hồng ân của Đấng vốn soi chiếu mọi người, để chung qui, mọi người được có sự sống” (7).
MỤC TIÊU CỦA THÔNG ĐIỆP ĐƯỢC BAN HÀNH
4. Từ trước tới nay, nhưng cách riêng từ hai thế kỷ vừa qua, các vị Giáo Chủ, hoặc đích thân hoặc cùng với Giám Mục Đoàn đã khai triển và đề xướng một nền giáo huấn luân lý về các khía cạnh đa tạp và khác biệt của đời sống nhân linh. Nhân danh Chúa Kitô và với uy quyền của Người, các vị ấy đã khuyến dụ, tố cáo và giải thích: một mực trung thành với sứ mệnh của mình, trong những đấu tranh vì lợi ích cho con người, các vị ấy đã bổ sức, nâng đỡ và an ủi: với niềm xác quyết về sự trợ giúp của Thánh Thần Chân Lý, các vị ấy đã góp phần để có được một nhận thức hoàn bị hơn về những đòi buộc luân lý trong lãnh vực tính dục con người, lãnh vực gia đình, lãnh vực đời sống xã hội, kinh tế và chính trị. Trong truyền thống Giáo Hội và trong lịch sử nhân loại, giáo huấn của các vị ấy không ngừng mang lại một nhận thức luân lý ngày càng sâu rộng hơn (8).
Dẫu vậy, ngày nay, thiết tưởng cần phải đọc lại toàn bộ giáo huấn luân lý của Giáo Hội, với mục đích chính xác là nhắc nhở một vài chân lý cơ bản, trong học thuyết Công giáo xét thấy đang có nguy cơ bị lệch lạc hoặc bị loại bỏ trong bối cảnh hiện nay. Thật ra, một tình huống mới đã ló dạng ngay trong cộng đoàn Kitô hữu, ở đó người ta gieo rắc nhiều nghi hoặc và nhiều công kích, thuộc cấo trật nhân bản và tâm lý, xã hội và văn hóa, tôn giáo và ngay cả thần học thuần túy, về vấn đề các giáo huấn luân lý của Giáo Hội. Ở đây không còn phải là những đối kháng hạn hẹp và tùy cơ, nhưng là đem di sản luân lý ra tranh cãi một cách trọn
khối và có hệ thống, dựa vào những quan niệm nhân học và đạo đức học nhất định. Ở nơi khởi điểm của những quan niệm này, người ta ghi nhận tầm ảnh hưởng vốn đi tới chỗ tách lìa tự do nhân linh ra khỏi mối tương quan man tính chất cấu tạo và thiết yếu của nó với chân lý. Từ đó, người ta loại bỏ học thuyết cổ truyền về luật tự nhiên: một số giáo huấn luân lý của Giáo Hội chỉ đơn giản bị tuyên bố là không thể chấp nhận; người ta lượng định rằng Huấn Quyền nếu có quyền can thiệp vào trong lãnh vực luân lý thì chỉ là để “ khuyên nhủ các lương tâm” và để “đề nghị các giá trị” rồi tiếp đến mỗi người sẽ dựa vào đó để đi vào những quyết định và những lựa chọn sống của mình. Một cách đặc biệt, cần phải ghi nhận tình trạng lạc điệu giữa lời giải đáp cổ truyền của Giáo Hội với một số lập trường thần học, hiện đang lan tràn ngay cả trong các chủng viện và trong các phân ban khoa thần học, về những vấn đề mang tầm quan trọng bậc nhất đối với Giáo Hội và đối với đời sống đức tin của các Kitô hữu, cũng như đối với tình hữu nghị và mối giao hảo nói chung của nhân loại. Người ta thường thắc mắc như sau: những giới răn của Thiên Chúa vốn được ghi khắc trong lòng con người và vốn thuộc về Giao Ước, những giới răn ấy có thực sự có khả năng soi sáng cho những lựa chọn thường nhật của từng người và của toàn bộ các xã hội không? Có thể vâng lời Thiên Chúa được không và bởi đó; có thể yêu mến
Thiên Chúa và tha nhân mà không tôn trọng các giới răn ấy trong mọi tình huống được không? Hoài nghi về mối liên kết nội tại và bất khả phân ly giữa đức tin và luân lý với nhau, đó cũng là một quan điểm khá phổ biến, như thể nếu có quyết định về tình trạng thuộc về Giáo Hội và về tình trạng thống nhất nội tại của Giáo Hội thì chỉ cần quyết định trong tương quan với đức tin mà thôi, còn trong địa hạt luân lý có thể chấp nhận tính đa nguyên đối với những quan điểm và những cách thế ứng xử, mặc cho lương tâm chủ quan của từng cá nhân phán đoán và tùy vào sự khác biệt của những bối cảnh xã hội và văn hóa.
5. Trong một bối cảnh như thế, ngày càng như thế, quyết định đã từ lâu ấp ủ của Tôi – như Tôi đã loan báo trước đây trong Tông Thư Spiritus Domini phổ biến ngày 1/8/1987 nhân dịp kỷ niệm 200 qua đời của thánh Anphongsô Liguori – nay chín muội và Tôi viết thông điệp này nhằm mục đích bàn luận “sâu xa hơn và rộng rãi hơn về những vấn đề liên quan tới chính các nền tảng trong thần học luân lý” (9), những nền tảng hiện đang bị một số trào lưu hiện đại tấn công.
Tôi xin ngỏ lời với các chư huynh, những người anh em khả kính của Tôi trong hàng Giám mục đang cùng Tôi chia sẻ trách nhiệm bảo vệ “học thuyết lành mạnh” (2Tm 4,3), với ý hướng xác định một số khía cạnh đạo lý được kể là mấu chốt để đương đầu với cái tình huồng chắc hẳn có thể gọi là một cuộc khủng hoảng thực sự, một cuộc khủng hoảng đã gây ra biết bao khó khăn nghiêm trọng biết mấy cho đời sống luân lý của các tín hữu, cho mối dây hiệp thông trong Giáo Hội cũng như cho một cuộc sống công bằng và liên đới trong xã hội.
Nếu như một thông điệp được mong chờ từ bấy lâu nay như thế mà mãi tới giờ này mới được phổ biến, đó là vì để cho nó ra sau cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo trong đó có phần trình bày đầy đủ và có hệ thống về học thuyết Luân Lý Kitô giáo, thì xem ra thích hợp hơn. Sách giáo lý trình bày đời sống luân lý của các tín hữu, trong các nền móng và các khía cạnh đa phúc gồm chứa trong đời sống ấy, coi đời sống ấy như là đời sống của “con cái Thiên Chúa”: “Trong đức tin các Kitô hữu nhận ra được phẩm vị mới của mình, và từ nay các Kitô hữu được mời gọi “sống sao cho xứng đáng với Tin Mừng” (Pl 1,27). Nhờ các bí tích và kinh
nguyện, các Kitô hữu lãnh nhận ơn phúc của Chúa Kỉô và các ân huệ của Chúa Thánh Thần nhờ đó họ có đủ khả năng sống theo lời mời gọi”. (10). Như thế, thông điệp này nại tới Sách Giáo Lý “như là bản văn qui chiếu vững chắc và chính qui để giảng dạy về học thuyết công giáo” (11), và thông điệp sẽ đặt giới hạn cho mình ở chỗ khai triển một vài vấn đề cơ bản trong giáo huấn luân lý của Giáo Hội, bằng cách đưa ra một sự phân định cần thiết về những đề tài hiện đang được tranh cãi giữa các nhà chuyên môn đạo đức học và thần học luân lý. Đó là mục tiêu chính xác của thông điệp hiện được ban hành, trong đó có khi đề cập đến các đề tài đang gây tranh luận có phần trình bày về những nguyên do của một nền giáo huấn luân lý bên rề trong Thánh Kinh và trong Truyền Thống sống động của các tông đồ (12), đồng thời đưa ra ánh sáng những tiền đề cũng như những hậu quả mà khi nhắm vào nền giáo huấn này các luồng công kích đã nêu lên hoặc dẫn đến.