KẾT LUẬN

Đức Maria, Mẹ Từ Ái

  1. Vào chặng cuối của những suy niệm này, chúng ta hãy phó thác cho Đức Maria. Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Từ Ái, bản thân chúng ta, những thử thách và những niềm vui của cuộc đời chúng ta, đời sống luân lý của các tín hữu và của những người thành tâm thiện chí cũng như những công trình nghiên cứu của các nhà luân lý.

Đức Maria là Mẹ Từ Ái bởi vì Đức Giêsu Kitô. Con Mẹ được Chúa Cha sai đến để trở thành mạc khải về Lượng Từ Ái của Thiên Chúa (x. Ga 3, 16-18). Người đã đến không phải để kết án nhưng để tha thứ, để đem lượng từ ái ra phân phát (x Mt 9, 13). Lượng Từ Ái lớn lao nhất đối với Người, đó là ở giữa chúng ta và cất tiếng mời gọi chúng ta đến với Người và, cùng hiệp nhất với thánh Phêrô, nhận ra Người là “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Không có tội nào do con người phạm mà lại triệt tiêu được Lượng Từ Ái của Thiên Chúa, mà lại có thể cản ngăn không để cho Lượng Từ Ái của Thiên Chúa thì thổ toàn bộ quyền năng hiển thắng của Ngài ngay tức khắc một khi chúng ta kêu cầu. Ngược lại, chính lỗi phạm còn làm rực chiếu hơn nữa tình yêu của Chúa Cha, Đấng đã hiến tế Con Ngài để cứu chuộc nô lệ (181): lượng từ ái của Ngài đối với chúng ta, đố là công trình Cứu Chuộc. Lượng từ ái đấy đạt tới tầm vóc viên mãn nhờ ơn của Thần Khí, Đấng tác sinh sự sống mới và kêu mời sống đời sống mới. Cho dầu những trở ngại do sự yếu đuối và do tội lỗi con người gieo rắc có nhiều đến mấy và có lớn lao đến đâu đi nữa. Chúa Thánh Thấn, Đấng canh tân bộ mặt trái đât (x. Tv 104/103, 30), vẫn làm cho phép lạ có thể thành hiện thực, đó là sự thiện được chu toàn một cách trọn hảo. Vốn mang lại khả năng làm điều tốt, điều cao thượng,điều diễm lệ, điều đẹp lòng Thiên Chúa về phù hợp với thánh ý Ngài, một cuộc canh tân như thế có thể được coi như là tình trạng triển nở của phúc lộc tứ ái, nhờ đó mà ách nô lệ đã được giải thoát và sức mạnh được tặng ban để không còn phạm tội nữa. Nhờ hồng ân sống đời sống mới, Đức Giêsu làm cho chúng ta được thông chia tình yêu của Người và dẫn chúng ta đến Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.

  1. Đó chính là xác quyết đầy khích lệ của đức tin Kitô giáo, mang lại cho đức tin Kitô giáo một chiều kích nhân linh sâu xa và một tính chất đơn giản phi thường. Một đôi khi, trong những cuộc tranh luận về các vấn đề mới mẻ và phức tạp trong địa hạt luân lý, có thể luân lý Kitô giáo xem ra quá khó, quá gay go để có thể hiểu và hầu như không thể nào đem ra áp dụng được. Nghĩ như vậy là sai, bởi vì, nếu đem ra diễn tả một cách đơn sơ bằng ngôn ngữ Tin Mừng, luân lý Kitô giáo hệ tại chỗ nối gót theo Đức Kitô, phó thác chính mình cho Người, để cho mình được biến đổi và được canh tân nhờ vào ân sủng của Người và nhờ vào lượng từ ái của Người, ân sủng và lượng từ ái vốn đạt thấu chúng ta trong đời sống thông hiệp với Giáo Hội Người. Thánh Augustinô gợi nhắc cho chúng ta rằng: “Người nào muốn sống thì cũng biết sống ở đâu và đặt nền móng cho cuộc sống nơi nào. Người ấu hãy cứ tiến lại gần, cứ tin tưởng, cứ để cho mình được nhập hầu được tăng cường sức sống! Mong sao người ấy không e ngại phải cùng sát cánh với các anh em mình!” (182). Với ánh sáng của Chúa Thánh Thần, tất cả mọi người, ngay cả người kém thông thái nhất, và nhất là người biết giữ cho mình một “tấm lòng đơn thành” (Tv 86/85), đều có thể nắm bắt được chất thể tràn đầy sức sống của luân lý Kitô giáo. Đàng khác, sự đơn thánh Tin Mừng ấy không miễn trừ cho khỏi phải đương đầu với sự phức tạp của hiện thực, tuy nhiên có thể đưa dẫn tới chỗ hiểu được hiện thực với nhiều chân lý hơn, bởi vì cứ tiến bước theo Đức Kitô thì dần dà những đường nét của luân lý Kitô giáo chính tông sẽ được đưa ra ánh sáng và đồng thời chìa khóa sống còn để thực hành luân lý ấy sẽ được ban tặng. Bổn phận của Huấn Quyền Giáo Hội là phải chăm lo sao cho đà năng động nơi việc đáp trả lại lời mời của Đức Kitô được phát triển một cách hữu cơ mà các đòi buộc chân lý, cùng với mọi hệ quả của chúng, không hề bị bóp méo hoặc bị che dấu. Ai yêu mến Đức Kitô thì tuân giữ các giới răn của Người (x. Ga 14, 15).
  2. Đức Maria cũng đồng thời là Mẹ Từ Ái bởi vì Đức Giêsu đã giao phó Giáo Hội của Người và toàn thể nhân loại cho chính Đức Maria. Dưới chân Thập Gía, khi đón nhận Gioan làm con mình, khi cùng với Đức Kitô cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những người không hiểu biết việc họ làm (x. Lc 23, 34), Đức Maria, hoàn toàn ngoan ngùy đối với Thần Khí, đã làm một cuộc thí nghiệm về nguồn phong phú và về tầm mức phổ quát của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu đã làm giãn nở con tim của Mẹ và làm cho Mẹ nên đủ sức ôm lấy toàn thể nhân loại. Bởi thế, Đức Maria trở thành Mẹ của tất cả mọi người, và của từng người trong chúng ta, một người Mẹ đoạt lấy Lượng Từ Ái của Thiên Chúa cho chúng ta.

Đức Maria là một dấu chỉ sáng ngời và là một gương mẫu cuốn hút cho đời sống luân lý: “ Nguyên chỉ đời sống của Mẹ thôi đã là một giáo huấn dành cho mọi người”, thánh Ambrôsiô đã viết như thế (183) và, khi ngỏ lời cách riêng với các trinh nữ, trong một nhãn quan mở rộng cho hết mọi người, thánh nhân tuyên bố: “Niềm khao khát học hỏi nồng nhiệt ban đầu, đó là do sự cao thượng của người thầy mang lại cho bạn… Hỏi còn có ai cao thượng hơn Mẹ Thiên Chúa? Nào có ai rạng rỡ hơn người nữ đã được chính Ánh Rạng Ngời tuyển chọn?” (184). Đức Maria cưu mang trong cung lòng trinh nữ của mình Con Thiên Chúa làm người cho đến khi Người hạ sinh, nuôi nấng Người, làm cho Người lớn lên và cùng sát cánh với Người trong hành vi tự do tột cùng là hoàn toàn hy sinh mạng sống. Nhờ hiến dâng chính mình. Đức Maria gia nhập trọn vẹn vào trong kế hoạch của Thiên Chúa là Đấng tự hiến cho nhân loại. Khi đón nhận và suy niệm trong lòng những biến cố mà không phải lúc nào mình cũng hiểu (x. Lc 2, 19), Đức Maria trở thành mẫu mực cho tất cả những ai lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa (x. Lc 11, 28), xứng đáng mang tước hiệu là “Ngai Tòa Khôn Ngoan”. Khôn Ngoan ở đây là chính Đức Kitô, Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng mạc khải và thi hành thánh ý Chúa Cha một cách trọn hảo (x. Dt 10, 5-10). Đức Maria mời gọi mọi người đón nhận Khôn Ngoan ấy. Mệnh lệnh đã ban hành cho những người giúp việc tại Cana ở Galilê trong bữa tiệc cưới, Đức Maria cũng đang ngở với chúng ta đó: “Ngài bảo sao thì hãy làm y như vậy” (Ga 2, 5).

Đức Maria chia sẻ với chúng ta thân phận làm người, nhưng với một sự xuyên thấu hoàn toàn đối với ân sủng của Thiên Chúa. Mặc dầu không phạm tội. Đức Maria đủ sức đồng cảm với mọi nỗi yếu đuối. Đức Maria thấu hiểu con người tội nhân và yêu thương tội nhân bằng một mối tình từ mẫu. Đó chính là lý do tại sao Đức Maria đứng về phía chân lý và chia sớt gánh nặng của Giáo Hội trong khi Giáo Hội nhắc nhở những đòi buộc luân lý cho hết thảy mọi người trong khắp mọi thời đại. Cũng vì cùng một lý do ấy, Đức Maria không chấp nhận để cho con người tội nhân bị lọc lừa bởi bất cứ ai tự hào yêu mến tội nhân bằng cách thanh minh tội lỗi cho người ấy, bởi lẽ Đức Maria ý thức rằng nếu như thế thì hy lễ của Đức Kitô, Con Mẹ, sẽ ra vô ích. Cho dầu là do những chủ thuyết triết học hoặc thần học đầy cảm kích tuyên xướng, không có một sự tha bổng nào có thể làm cho con người nên hạnh phúc thật sự: chỉ có Thập Gía và vinh quang của Đức Kitô Phục Sinh mới có thể mang lại bình an cho lương tâm con người và cứu thoát sự sống con người mà thôi.

Ôi Maria, Mẹ Từ Ái.

Xin hãy để tâm tới hết mọi người,

sao cho Thập Gía của Đức Kitô

đừng trở thành hão huyền,

sao cho con người đừng lạc bước

ra khỏi lối nẻo của điều thiện,

sao cho con người đừng đánh mất cảm thức về tội,

sao cho con người tăng trưởng

trong niềm cậy trông vào Thiên Chúa,

Đấng “giàu lòng từ ái” (Ep 2, 4),

sao cho con người biết tự ý

tự nguyện thực thi những công trình tốt đẹp

mà chính Thiên Chúa đã chuẩn bị trước

(x. Ep 2, 10)

và sao cho con người

nhờ đó mà dùng toàn thể đời sống mình

để trở nên “lời ca ngợi vinh quang Ngài” (Ep 1, 12).

[1]. Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, Gaudium et spes, MV 22.

[2]. x. Cđ Vat. II. Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, GH, 1.

[3]. x. nt, s.9.

[4]. Cđ Vat II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV, s.4.

[5]. Huấn Từ của Đức Phaolô VI nhân dịp Hội Nghị khoáng đại của Liên Hiệp Quốc (4-10-1965) s.1: AAS 57 (1965), tr. 878. x. Tđ Populorum Progressio (26-3-1967), s.13: AAS 59 (1967). Tr.263-264.

[6]. x. Cđ Vat.II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes. MV, s.33.

[7]. Hiến Chế Tín Lý Lumen gentium, GH, s.16.

[8]. Đức Piô XII đã từng nêu bật phần khai triển giáo thuyết này. X. Sứ điệp truyền thanh nhân dịp kỷ niệm 50 năm Thông Điệp Rerum novarum của Đức Lêô XIII (1/6/1941): AAS 33 (1941), tr. 195-205. Xem thêm Đức Gioan XXIII. Tđ Mater et magistra (15-5-1961): AAS 53 (1961)tr. 410-413.

[9]. Tông thư Spiritus Domini (1-8-1987): AAS 79 (1987), tr. 1374.

[10]. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo, s. 1692.

[11]. Tông Hiến Pidel dépositum (11-10-1992), s. 4.

[12]. x. Cđ Vat. II, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải Dei Verbum. MK. S. 10.

[13]. x. Tông Thư Parati semper gởi cho tất cả những người trẻ trên thế giới nhân dịp Năm Quốc Tế Giới Trẻ (31-3-1985), s. 2-8: AAS 71 (1985), tr. 581-600.

[14]. x. Sắc lệnh Optatam totius. ĐT. S. 16.

[15]. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979) s. 13: AAS 71 (1979), tr. 282.

[16]. nt. S. 10: 1.c.. tr. 274.

[17]. Hexameron, ngày thứ VI, bài giảng số IX, 8, 50: CSEL 32, 241.

[18]. Thánh Lêô Cả, Bài giảng XCII, ch. 3: PL 54, 454.

[19]. Thánh Tôma Aquinô, In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta. Prologus: Opuscula theologica. II., s.1129, Turin, Marietti (1954), tr.245:x. Tổng luận thần học, I-II. q. 91,a.2: Giáo Lý của Giáo Hội công giáo, s.1955.

[20]. x. Thánh Tiến sĩ Maximô. Quaestiones ad Thalassium, q. 64: PG 90, 723-728.

[21]. Cđ Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.24.

[22]. Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo, s.2070.

[23] In Iohannis Evangelicum Tractatus, 41, 10: CCL 36, 363.

[24]. x. Thánh Augustinô, De Sermone Domini in Monte, 1, 1, 1: CCL 35, 1-2.

[25]. In Psalmum CXVIII Expositio, bài giảng 18, 37: PL 15, 1541; x. Thánh Chrômaxiô Aquilêa. Tractatus in Matthaeum, XX, 1, 1-4: CCL 9/A 291-292.

[26]. x.Giáo Lý của Giáo Hội công giáo, s.1717.

[27]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 41, 10: CCL 36, 363.

[28]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 21, 8: CCL 35, 216.

[29]. nt, 82, 3: CCL 36, 533.

[30]. De spritu et littera, 19, 34: CSEL 60, 187.

[31]. Confessions, X. 29, 40: CLL 27, 176; x. De gratia et libero arbitrio, XV: PL 44, 899.

[32]. x. De spiritu et littera, 21, 36; 26, 46: CSEL 60. 189-190; 200-201.

[33]. x. Tổng luận thần học, I-II. Q. 106, a-1, concl. Et ad 2.

[34]. In Matthaeum, hom. 1, 1: PG 57, 15.

[35]. x. Thánh Irênêô, Adversus haereses, IV, 26. 2-5: SC 100/2, tr. 718-729.

[36]. x. Thánh Giustinô. Biện giáo (Apologie). 1, 66: PG 6, 427-430.

[37]. x. 1 Pr 2, 12-13. 17: Didachè. II, 2: SC 248. tr. 148-149; Clêmentê thành Alexandria, Nhà Sư Phạm (Le Pédagogue), I, 10: II, 10: PG 8, 355-364: 497-536: SC 70, tr. 268-279; SC 108, tr. 165-219: Tertullianô, Apologétique, IX, 8: CSEL, 69, 24.

[38] . x. Thánh Inhaxiô thành Antiôkia, Aux Magnésiens, VI, 1-2: SC 10 bis, tr. 82-85; Thánh Irênêô, Adversus haereses. IV, 33, 1.6.7: SC 100/2, tr. 802-805; 814-815; 816-819.

[39] . Hiến Chế Tín Lý Del Verbum, MK, s.8.

[40]. x. nt.

[41]. nt, s.10.

[42]. Bộ Giáo Luật, khoản 747. $ 2.

[43]. Hiến Chế Tín Lý Del Verbum, MK, s.7.

[44]. Cđ Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV s.22.

[45]. Sắc lệnh Optatam totius. ĐT, s. 16.

[46]. Cđ Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes, MV s.62.

[47]. nt.

[48]. x. Cđ Vat. II, Hiến chế tín lý Del Verbum, MK, s.10.

[49]. x. Cđ Vat. I, Hiến chế tín lý về đức tin công giáo Del Filius, ch. 4: DS, s.3018.

[50]. Cđ Vat. II, tuyên ngôn về các mối quan hệ giữa Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo Nostra aetate, NK, s.1.

[51]. X. Cđ Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 43-44.

[52]. Cđ Vat. II, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, TD, s.1, tham chiếu Đức Gioan XXIII, Tđ Pacem in terris (11-4-1963): AAS 55 (1963), tr. 279: nt, tr.265, và Đức Piô XII, Sứ điệp truyền thanh (24-12-1944): AAS 37 (1945), tr. 14.

[53]. Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, TD, s.1.

[54]. x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.17: AAS 71 (1979), tr.295-300: Diễn văn ngỏ với các tham dự viên khóa Hội Thảo Quốc Tế lần thứ 5 về những Nghiên Cứu pháp luật (10-3-1984), s.4: Insegnamenti VII, 1 (1984), tr. 656: Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn Thị về tự do tôn giáo và về giải phóng Libertatis conscientia (22-3-1986), s. 19: AAS 79 (1978), tr. 561.

[55]. X. Vat. II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s.11.

[56]. nt, s.17.

[57]. nt.

[58]. x. Cđ Vat. II, Tuyên ngôn Dignitatis humanae, s.2; x. thêm Grêgôriô XVI. Tđ Mirari vos arbitramur (15-8-1832): Acta Gregorii Papae XVI, I, tr.169-174; Piô IX, Tđ Quanta cura (8-12-1864): Pii IX P.. Acta, I, 3, tr.687-700: Leô XIII, Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta, VIII, Rôma (1889), tr.212-246.

[59] A letter Addressed to His Grace the Duke of Nerfolk: Certain difficulties felt by Anglicans in Catholic teaching (Uniform Edition: Longman, Green and Company, London, 1868-1881, tập 2, tr.250.

[60]. X. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, số 40 và 43.

[61]. X. Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận thần học, I-II, q.71, a.6, xem thêm ad 5.

[62]. x. Đức Pio XII, Tđ Humani generis (12-8-1950): AAS 42 (1950), tr 561-562.

[63]. x. Cđ Trentô, khóa VI, sắc lệnh về sự công chính hóa Cum hoc tempore, giáo luật khoản 19-21: DS. S. 1569-1571.

[64]. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV s.17.

[65]. De hominis opificio, ch. 4: PG 44, 135-136.

[66]. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s.36.

[67]. nt

[68]. nt

[69]. Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận thần học. I II, q. 93, a.3, ad 2 do Đức Gioan XXIII trung dẫn. Tđ Pacem in terris (11-4-1963): AAS 55 (1963), tr.271.

[70]. Cđ Vat II, Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 41.

[71]. Thánh Tôma Aquinô, In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta Prologus: Opuscula theologica, II, s. 1129, Turin, Marietti (1954), tr. 245.

[72]. x. Diễn văn ngỏ với một nhóm giám mục Hoa Kỳ nhân dịp các vị viếng thăm ad limina (15-10-1988), s.6: Insegnamenti, XI, 3 (1988), tr. 1228.

[73]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV, s. 47.

[74]. Thánh Augustinô, Enarratio in psalmum LXII, 16: CCL 39, 804.

[75]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.17.

[76]. Tổng luận thần học, I-II, q. 91. a.2.

[77]. x. Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo, s. 1955.

[78]. Tuyên ngôn Dignitatis humanae, TD. S.3.

[79]. Contra Faustum, XXII, 27: PL 42, 418.

[80]. Tổng luận thần học. I-II, q. 93, a. 1.

[81]. X. nt, I-II, q.90, a.4 ad.1.

[82]. nt, q. 91, a.2.

[83]. Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta, VIII, Roma (1889), tr. 219.

[84]. In Epistulam ad Romanos, ch. VIII, lect. 1.

[85]. Khóa VI, Sắc Lệnh Cum hoc tempore, ch. 1: DS. S. 1521.

[86]. Cđ Vienne, Hiến chế Fidel catholicae: DS, s.902: Cđ Latêranô V, Sắc chỉ Apostolici regimints: DS. S.1440.

[87]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.14.

[88]. X. Khóa VI, Sắc lệnh Cum hoc tempore, ch. 15: DS, s. 1544. Tông huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia trưng dẫn nhiều văn bản khác trong Cựu Ước, những bản văn này loại bỏ và lên án như là tội trọng một số hành vi ứng xử liên hệ với thân xác (x. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), số 17: AAS 77 (1985), tr.218-223).

[89]. X. Cđ Vat II, Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.51.

[90]. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Huấn thị về sự sống con người đang hình thành và về sự cao cả của việc truyền sinh Donum vitae (22-2-1987), nhập đề, số 3: AAS 80 (1988), tr.74; x. Đức Phaolô VI, Tđ Humanae vitae (25-7-1968), số 10: AAS 60 (1968), tr.487-488.

[91]. Tông Huấn Familiaris consortio (22-11-1981), s.11: AAS 74 (1982), tr.92.

[92]. De Trinitate, XIV, 15, 21: CCL 50/A, 451.

[93]. X. Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận thần học, I-II. q.94, a.2.

[94]. x. Cđ Vat II. Hiến Chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.10: x. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn về một số vấn đề thuộc luân lý tính dục Persona humana (29-12-1975), s.4: AAS 68 (1976), tr.80: “Trong thực tế, Mạc Khải Thiên Chúa và, trong cấp trật riêng biệt của mình, sự khôn ngoan triết học, khi nêu bật những đòi buộc chính tông của bản tính nhân linh, thì cũng bởi đó mà nhất thiết biểu lộ sự hiện hữu của những lề luật bất biến được ghi khắc trong những yếu tố cấu thành bản tính con người vốn là những lề luật đồng nhất nơi tất cả những hữu thể được phú bẩm lý trí”.

[95]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s. 29.

[96]. nt. s.16.

[97]. nt. s.10.

[98]. x. Thánh Tôma Aquinô. Tổng luận thần học, I-II, q.108, a.I. Thánh Tôma thiếp lập tính chất cho những chuẩn mực luân lý, được ấn định chẳng những trong hình thức mà cả trong nội dung, kể cả trong khuôn khổ của Luật mới, do bởi sự kiện này là Ngôi Lời mặc lấy bản tính nhân loại.

[99]. Thánh Vincentê thành Lêrins, Commonitorium primum, ch.23: PL 50, 668.

[100]. Phần khai triểm học thuyết luân lý của Giáo Hội cũng giống như phần khai triẻn của học thuyết đức tin: x. Cđ Vat I, Hiến chế tín lý về đức tin công giáo Dei Filius, ch.4: DS, s. 3020: và giáo luật khoản 4: DS, s.3024. Những lời Đức Gioan XXIII tuyên xướng nhân dịp khai mạc Công Đồng Vatican II cũng áp dụng cho học thuyết luân lý (11-10-1962): “Vốn đòi phải tuân giữ một cách trung thành, học thuyết này, vững chắc và bất biến [ = học thuyết Kitô giáo với tầm vóc viên mãn] cần phải được đào sâu và được trình bày bằng phương cách khả dĩ đáp lại những đòi hỏi của thời đại chúng ta. Thật ra, chính kho tàng đức tin là một vấn đề, kho tàng đức tin ở đây tức là những chân lý hàm chứa trong học thuyết khả kính của chúng ta, còn dùng hình thức nào để phát biểu những chân lý ấy mà vẫn duy trì cùng một ý nghĩa và cùng một mức độ thì lại là một vấn đề khác”. AAS 54 (1962), tr.792: x. “L’Osservatore Rornano”. 12-10-1962, tr.2.

[101]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[102]. nt.

[103]. In II Librum Sentent, dist. 39, 1.1. q.3, concl. “ Ad claras Aquas, II, 907 b.

[104]. Buổi Tiếp Kiến Chung (17-8-1983), 2: Insegnamenti. VI, 2(1983), tr.256.

[105]. Tối Cao Quốc Vụ Viện (Suprême S. Congrégration du Saint-Office). Huấn Thị về “luân lý tùy tình huống”. Contra doctrinam (2-2-1956): AAS 48 (1956), tr. 144.

[106]. Tđ Dominum et vivificantern (18-5-1986), s.43: AAS 78 (1986), tr. 859-860: x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16: Tuyên ngôn Dignitatis humanaè. TD. s.3.

[107]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[108]. x. Thánh Tôma Aquinô. De Veritate, q.17, a.4.

[109]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.16.

[110]. x. Thánh Tôma. Tổng luận thần học. II-II, q.45. a.2.

[111]. Tuyên ngôn Dignitatis humanae, s.14.

[112]. Cđ Vat II. Hiến chế tín lý Dei Verbum, MK s.5: x. Cđ Vat I. Hiến chế tín lý Dei Filius ch. 3: DS, s.3008.

[113]. Cđ Vat II, Hiến chế tín lý Dei Verbum, MK, s.5; x. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Tuyên ngôn Persona humana (29-12-1975), s.10: AAS 68 (1976), tr. 88-90.

[114]. X. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1985), tr.218-223.

[115]. Khóa VI. Sắc lệnh Cum hoc tempore. Ch.15: DS s.1544: giáo luật khoản 19: DS, s.1569.

[116]. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1985), tr.221.

[117]. nt: 1.c., tr.223.

[118]. nt: 1.c., tr.222.

[119]. x. Cđ Vat II. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.17.

[120]. x. Thánh Tôma Aquinô. Tổng luận thần học. I-II, q.1. a.3: “Iden\m sunt actes morales et actus humani”.

[121]. Cuộc đời Môsê (Vie de Moise), II, 2-3: PC 44, 327-328: SC 1 ter, tr.106-109.

[122]. x. Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận thần học. II-II, q.148. a.3.

[123]. Trong Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. MV Công Đồng Vatican II xác định: “Điều nói trên không chỉ có giá trị cho những ai tin vào Đức Kitô nhưng cho tất cả những người thiện chí vốn có ân sủng hoạt động một cách vô tình trong lòng. Thật vậy, bởi vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và bởi vì ơn gọi cuối cùng của con người thực ra là độc nhất vô nhị và là ơn gọi thần thiêng, cho nên chúng ta phải vững tin rằng Chúa Thánh Thần ban tặng cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm vượt qua, bằng cách thức mà chỉ có Thiên Chúa biết mà thôi” (s.22).

[124]. Tractatus ad Tiberium Diaconum II. Responsiones ad Tiberium Diaconum sociosque suos: Thánh Cyrillô thành Alexandria, In D. Johannis Evangelium, III.Ed. Philip Edward Pusey, Bruxelles, Văn hóa và Văn minh (1965), tr.590.

[125]. x. Cđ Trentô, Khóa VI, Sắc lệnh Cum hoc tempore giáo luật 19: DS, s.1569. Xem thêm: Clèmentê XI. Hiến chế Unigenitus Dei Filius (8-9-1713) chống lại những sai lầm của Pasquier Quesnel. s.53-56: DS, s.2453-2456.

[126]. x. Tổng luận thần học, I-II, q.18, a.6.

[127]. Giáo lý của Giáo Hội công giáo, s.1761.

[128]. In duo praecepta caritatis et in decem legis praecepta. De dilectione Dei: Opuscula theologica.II.s.1168: Turin, Marietti (1954), tr.250.

[129]. Thánh Alphongsô Maria Liguori, Cách thức yêu mến Đức Giêsu Kitô (Manière d’aimer Jésus Christ). VII. 3. (130) x. Tổng luận thần học. I-II, q.100. a.1.

[131]. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.17: AAS 77 (1983), tr.221.x. Đức Phaolô VI, Huấn từ ngỏ với các thành viên Tổng Công Hội Dòng Chúa Cứu Thế (tháng 9 năm 1967): AAS 59 (1967), tr.962: “Cần phải tránh đẩy các tín hữu tới chỗ suy nghĩ cách khác, như thể sau Công Đồng có một số hành vi ứng xử mà trước đây Giáo Hội công bố là xấu tự chúng nay lại được phép làm. Ai mà lại không nhận ra rằng làm như vậy là dẫn tới một chủ nghĩa tương đối đáng tiếc về luân lý, để rồi toàn bộ di sản học thuyết của Giáo Hội sẽ dễ dàng bị đưa ra tranh cãi? “.

[132]. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.27.

[133]. Tđ Humanae vitae (25-7-1968), s.14: AAS 60 (1968), tr.490-491.

[134]. Contra mendacium, VII, 18: PL 40M 528; x. Thánh Tôma Aquinô, Quaestiones quodlibetales. IX, q.7, a.2: Giáo lý của Gíao Hội công giáo, s.1753-1755.

[135]. Cđ Vat II. Tuyên ngôn Dignitatis humanae. TD, s.7.

[136]. Diễn văn ngỏ với các tham dự viên Hội Nghị Quốc Tế về Thần học luân lý (10-4-1986), s.1: Insegnamenti IX, 1 (1986), tr.970;

[137]. nt. s.2: 1.c., tr.970-971.

[138]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.24.

[139]. x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.12: AAS 71 (1979), tr.280-281.

[140]. Enarratio in Psalmum XCIX, 7: CCL 39. 1397.

[141]. x. Cđ Vat II, Hiến chế tín lý Lumen gentium. GH, s.36: x. Tđ Redemptor hominis (4-3-1979), s.21: AAS 71 (1979), tr.316-317.

[142]. Missale Romanum lời nguyện ngày lễ thánh Gioan Tẩy Giả tử đạo, lễ nhớ, 29-8.

[143]. Thánh Bêđa khả kính. Homeliarum Evangelii Libri, II, 23: CCL 122, 556-557.

[144]. x. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.27.

[145]. Gởi tín hữu Rôma, VI, 2-3: SC 10 (1969), tr.115.

[146]. Moralia in Job. VII, 21, 24: PL 75, 778.

[147]. “Summum crede nefas animam praeferre pudori / et propter vitam vivendi perdere causas”: Satires. VIII, 83-84.

[148]. Apologie II, 8: PG 6, 457-458.

[149]. Tông Huấn Familiaris consortio (22-11-1981). s.33: AAS 74 (1982), tr.120.

[150]. x. nt, s. 34: 1.c.. tr.123-125.

[151]. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2-12-1984), s.34: AAS 77 (185), tr.272.

[152]. Tđ Humanae vitae (25-7-1968). S.29: AAS 60 (1968), tr.501.

[153]. Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, MV, s.25.

[154]. x. Tđ Centesimus annus (1-5-1991), s.24: AAS 83 (1991), tr.821-822.

[155]. nt. s.44: 1.c.. tr.848-849. x. Đức Lêô XIII. Tđ Libertas praestantissimum (20-6-1888): Leonis XIII P.M. Acta. VIII, Roma (1889), tr.224-226.

[156]. Tđ Sollicitudo rei socialis (30-12-1987), s.41: AAS 80 (1988), tr.571.

[157]. Giáo lý của Giáo Hội công giáo. s.2407.

[158]. x. nt. s.2408-2413.

[159]. nt.s.2414.

[160]. x. Tông Huấn hậu thượng hội đồng Christifideles laici (30-12-1988), s.42: AAS 81 (1989), tr.472-476.

[161]. Tđ Centesimus annus (1-5-1991), s.46: AAS 83 (1991), tr.850.

[162]. Khóa VI. Sắc lệnh Cum hoc tempore, ch.11: DS, s.1536; x. giáo luật khoản 18: DS, s. 1568. Đoạn văn nổi tiếng của thánh Augustinô, do Công Đồng trưng dẫn trong bài thuật lại ở đây, được rút ra từ De natura et gratia, 43. 50: CSEL 60, 270.

[163]. Oratio I: PG 97, 805-806.

[164]. Diễn văn ngỏ với các tham dự viên khóa học hỏi về việc sinh sản có trách nhiệm (1-3-1984), s.4: Insegnamenti VII, 1 (1984), tr.583.

[165]. De interpellatione David IV, 6, 22: CSEL 32/2, 283-284.

[166]. Diễn văn ngỏ với các Giám mục CELAM (9-3-1983), III: Insegnamenti. VI, 1 (1983), tr.698.

[167]. Tông Huấn Evangelii nuntiandi (8-12-1975), s.75: AAS 68 (1976), tr.64.

[168]. De Trinitate, XXIX. 9-10: CCL 4, 70.

[169]. Cđ Vat II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, GH. 12.

[170]. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Huấn thị về ơn gọi mang chiều kích Giáo Hội của thần học gia. Donum veritatis (24-5-1990), s.6: AAS 82 (1990), tr. 1552.

[171]. Huấn từ ngỏ với các giáo sư và sinh viên thuộc Đại Học Giáo Hoàng Grêgôriô (15-12-1979), s.6: Insegnamenti II, 2 (1979), tr.1424.

[172]. Thánh Bộ Gíao Lý Đức Tin, Huấn thị Donum veritatis (24-5-1990), s.16: AAS 82 (1990), tr.1557.

[173]. x. C.I.C., Giáo Luật, khoản 252, 1; 659, 3.

[174]. x. Cđ Vat I, Hiến chế tín lý Dei Filius, ch.4: DS, S.3016.

[175]. x. Đức Phaolô VI, Tđ Humanae vitae (25-7-1968). S.28: AAS 60 (1968), tr.501.

[176]. Thánh Bộ Giáo Dục, Đào tạo thần học cho các linh mục tương lai (22-2-1976), s.100. Documentation catholique. 1698 (1976), tr.472. Xem các số 95-101 trong đó có trình bày những viễn tượng và những điều kiện để cho công cuộc canh tân thần học và luân lý được sai nở: 1.c., tr.471-472.

[177]. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum veritatis (24-5-1990), s.11: AAS 82 (1990), tr. 1554; đặc biệt xem các số 32-39 dành cho vấn đề bất đồng: nt. 1.c., tr.1562-1568.

[178]. Hiến chế tín lý Lumen gentium. GH. S.25.

[179]. x. C.I.C., Giáo Luật, khoản 802, 3.

[180]. x. C.I.C., Giáo Luật, khoản 808.

[181]. “O inaestimabilis dilectio caritatis: ut servum redimeres. Filium tradidisti!”: Missale Romanum, in Resurrectione Domini. Praeconium paschale.

[182]. In Iohannis Evangelium Tractatus, 26, 13: CCL, 36, 266.

[183]. De Virginibus, II, 2, 15: Pl 16, 222.

[184]. nt, II, 2, 7: PL 16, 220.

Ban hành tại Rôma, gần đền thờ Thánh Phêrô,

Ngày 6 tháng 8 năm 1993, nhân dịp lễ Chúa Hiển Dung,

Vào năm thứ mười lăm trong chức vụ Giáo Hoàng của Tôi.

 Joannes Paulus II