I.  NHỮNG HIỆU QUẢ BỞI BỨC THÔNG ĐIỆP “RERUM NOVARUM”

13. Trước khi nhập đề tìm giải quyết điều thứ nhất theo ý Ta đã định, Ta không khỏi quên lời thánh Ambrôsiô khuyên rằng: Trọng nhất trong những phận sự của Ta là tạ ơn Chúa liên lỉ. Nhớ đến những ân huệ quý hóa bức thông điệp của Đức Lêô XIII đã đem lại cho giáo hội và cả nhân loại; trước tiên Ta phải đội ơn Chúa không ngừng, dầu chỉ muốn lược thảo những ân huệ đó sơ qua, thì thật Ta cũng phải thuật lại lịch sử xã hội, trải qua bốn mươi năm vừa rồi. Nhưng Ta có thể tóm tắt mọi điểm chính, tùy theo ba phương dược, mà Đức tiên giáo hoàng đã đề nghị để hoàn tất công việc canh tân xã hội, ngài đã đảm nhiệm.

  1. Sự can thiệp của giáo hội

14. Trước tiên Đức Lêô XIII đã định rõ những điều thế giới có quyền đòi ở giáo hội. Ngài viết: (x. Rerum Novarum 13)

a) Phần lý thuyết:

Những tài liệu quý giá này, giáo hội không bao giờ bỏ hoang đâu. Mà cứ khai khẩn mãi, để gây thái bình cho xã hội. Đức Lêô XIII, và những giáo hoàng kế tiếp Người đã dùng lời nói và bút mực mà nhiệt thành truyền bá học thuyết kinh tế xã hội tóm tắt trong bức thông điệp “Rerum Novarum”; các ngài không bao giờ ngừng thúc đẩy dân nước thực hành và áp dụng học thuyết ấy, vào thời thế hoàn cảnh xã hội hiện tại. Lúc nào các ngài cũng tỏ lòng nhiệt thành và tỏ tình nghĩa phụ tử với những người bần cùng yếu đuối. Vì các ngài là chúa chiên dũng cảm, thì các ngài cũng mạnh sức bảo vệ các dân đen. Theo bản ý của Tòa Thánh, cũng đã không thiếu gì những giám mục sáng suốt nhiệt thành vừa trình bày giải pháp vừa áp dụng học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII cho các dân nước đều hưởng lợi.

15. Bởi thế ta không ngạc nhiên gì khi thấy bao người trí thức, giáo sĩ và giáo hữu hết sức quý chuộng và nhiệt tâm phổ biến những kỷ luật kinh tế xã hội của giáo hội tùy theo những đòi hỏi của thời thế. Mục đích của họ là áp dụng vào những trường hợp hằng thay đổi những nguyên tắc bất di bất dịch của giáo hội về đời sống cộng đồng của nhân loại.

16. Lấy bức thông điệp của Đức Lêô XIII làm căn bản và tỏa sáng học thuyết xã hội công giáo, hiện ra và phát triển càng ngày càng phong phú hơn. Những người ưu tú, đêm ngày lưu tâm đến việc tối hệ trọng này, buộc ta phải gọi họ là những người phụ tá của giáo hội. Học thuyết xã hội này không giam kín vào những trường học mờ tối đâu, trái lại nó đã ra mặt trận chiến đấu công khai. Một bằng cớ rõ ràng là những công trình vĩ đại của các đại học công giáo, các hàn lâm viện, các chủng viện các hội nghị thường gọi là “những tuần lễ khảo cứu về xã hội” đã được tổ chức không biết bao lần rồi và đã kết quả bất ngờ. Thêm vào đó là những hội học, những sách vở báo chí muôn mặt đã được phổ biến khắp nơi một cách rất hợp thời.

Bức thông điệp của Đức Lêô XIII hữu ích như vậy, không phải là hết đâu. Những bài học đó, đã dần dần tiêm nhiễm luôn cả tâm hồn những người thiện chí không được hân hạnh hợp nhất với giáo hội, vì chưa phục quyền duy nhất của Người.

17. Như vậy những nguyên tắc giáo hội đã đề cập về xã hội, đã dần dần hóa nên sản nghiệp chung của nhân loại. Ta hết sức mừng rỡ, khi thấy những chân lý vĩnh cửu Đức Tiên Giáo hoàng đã công bố mỗi ngày một được đề cập và bảo vệ ráo riết hơn trong các sách vở báo chí công giáo và không công giáo, và trong cả các quốc hội và tòa án.

Hơn thế nữa, sau một cuộc thế chiến kinh khủng, các nhà chính trị ở các cường quốc đã quyết định cải tạo đời sống xã hội để xây dựng hòa bình thế giới cho kiên cố. Vậy những nguyên tắc họ đề cập để tu bổ lại nền cần lao cho công bằng và bác ái, đều giống những nguyên tắc và huấn dụ của Đức Lêô XIII, đến nỗi ta có cảm tưởng rằng: những nguyên tắc ấy bởi bức thông điệp “Rerum Novarum” trích ra. Thực sự bức thông điệp ấy đáng ghi nhớ. Ta có thể áp dụng vào nó, lời tiên tri của Isaia đã nói: “Đó là một biệt hiệu đã được dựng lên cho các dân nước thiên hạ”.

b) Phần thực hành:

18. Những nguyên tắc Đức Lêô XIII đã đề cập đến, ai cũng đã tìm hiểu sâu rộng trong phạm vi lý thuyết, và nhờ đó đã tiêm nhiễm tâm trí xã hội. Nhưng quý hơn nữa là những nguyên tắc ấy đã được áp dụng vào thực tế. Trước hết bao người thiện chí đã nỗ lực nâng cao địa vị sinh hoạt của các công nhân. Dẫu giai cấp lao động càng ngày càng thêm đông, dẫu đại kỹ nghệ ngày một phát triển thêm, giới lao động cũng không chiếm lấy được một địa vị khả quan hơn trong xã hội. Nên công nhân vẫn trơ trọi mà lại bị khinh chê nữa. Ta nói về giới lao động mà các linh mục triều hay tu dòng đã tìm giải phóng không cứ gì những công việc mục vụ mà họ gánh vác từ trước dưới quyền chỉ dẫn của các giám mục; những linh mục ấy đã tận tâm với các công nhân, thì công nhân hưởng lợi rất nhiều, vì linh mục bền chí, thì tinh thần công giáo của công nhân lại cao lên. Nhờ đó, công nhân mới ý thức chức vụ. Họ ý thức phận sự và quyền lợi giai cấp của họ. Họ lại đủ năng lực mà tiến bước trên đường công lý, tiến triển, đến nỗi họ đứng dậy hướng dẫn được anh em đồng nghề. Kết quả là các công nhân kiếm được sinh kế dồi dào và vững chắc hơn. Theo lời Đức Tiên Giáo hoàng khuyên nhủ, không những các việc bác ái từ thiện được phát triển, mà lại theo ý sở nguyện của giáo hội, nhờ sự hấp dẫn của các linh mục. Ta đã thấy những công cuộc ủng hộ và viện trợ công nhân càng ngày càng được thiết lập nhiều, và đoàn tụ đủ mọi người nông dân và lao động…

2. Sự can thiệp của chính quyền

19. Chính quyền đã bị chủ nghĩa tự do chế ngự trong phạm vi bảo vệ trật tự và luật pháp. Đức Lêô XIII mạnh bạo phá vỡ những biên giới chật hẹp ấy. Ngài công bố rằng: chính quyền phải lợi dụng luật pháp và mọi cơ cấu xã hội để thiết lập một hiến pháp và một nền hành chánh đủ năng lực để phát triển sự thái bình công và tư. Đã đành chính quyền phải nhường chỗ cho từng cá nhân và từng gia đình đủ quyền tự do hành động. Nhưng với hai điều kiện cần thiết; thứ nhất là giữ công ích nguyên vẹn; thứ hai là giữ quyền bất khả xâm phạm của tư nhân. Đã đành chính quyền phải bảo vệ cả cộng đồng xã hội, nhưng chính quyền cũng phải bảo vệ từng công dân tự nhiên hợp với nhau thành cộng đồng xã hội. Vậy trong việc bảo vệ từng công dân, chính quyền phải săn sóc riêng những người bần cùng và yếu đuối (x. Rerum Novarum 19).

20. Ta không dám chối rằng, trước khi bức thông điệp của Đức Lêô XIII xuất hiện, thì bao chính phủ cũng đã cung cấp những sự cần thiết thượng khẩn của giới lao động rồi; họ đã bài xích những tai hại các công nhân dẫu vô tội cũng đã phải chịu từ trước. Nhưng chỉ có khi nào Tòa Thánh can thiệp, tiếng Đức Giáo hoàng vang dội khắp thiên hạ, là khi ấy các nhà cầm quyền ý thức sứ vụ và tận tâm hiệp lực mới bắt đầu thực hành một chính sách xã hội rộng rãi hơn.

21. Những định lý của chủ nghĩa tự do đã từ lâu năm làm cho chính quyền tỏ ra bất lực. Vậy đang lúc những định lý giả dối này bắt đầu lung lay, bức thông điệp Rerum Novarum hiện ra. Ngay từ ở trong đại chúng, một phong trào mãnh liệt bùng nổ, vừa đòi hỏi vừa ủng hộ một chính sách xã hội hiệu lực hơn. Chính quyền lại được những giáo dân ưu tú mạnh sức chống đỡ, vì chính họ đã đề cập bộ luật mới này trong các quốc hội xưa nay. Hơn nữa, nhờ bao linh mục thấu triệt học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII can thiệp, thì mới có nhiều luật lệ xã hội được đưa ra cho các quốc hội phê chuẩn. Cũng vì các linh mục ấy ân cần thúc đẩy, những luật lệ ấy đã được thi hành vẹn toàn.

22. Nhờ những người thiện chí tận tâm hiệp lực như vậy, một bộ pháp luật mới đã xuất hiện. Đời trước không ai biết đến, ngày nay ai cũng hưởng lợi. Những quyền lợi bất khả xâm phạm công nhân đã có sẵn, vì nhân phẩm hay chức vị Kitô hữu của họ, được tôn trọng cho cân xứng. Những điều luật bảo vệ giới lao động ấy, thì bao quát cả địa vị sinh hoạt của công nhân nam nữ; tuổi trẻ, sức khỏe, năng lực, gia đình, nhà ở, xưởng máy, tiền lương và bảo hiểm những sự rủi ro của cần lao.

23. Ta không nói được những điều luật ấy lúc nào và nơi nào cũng hoàn toàn thích ứng với những nguyên tắc Đức Lêô XIII đề cập. Nhưng không ai chối được rằng bức thông điệp Rerum Novarum đã có ảnh hưởng đến. Thành ra sự cải thiện địa vị sinh hoạt của công nhân, phần lớn là do bức thông điệp quý giá của Đức Lêô XIII, là một bức thông điệp đáng ghi nhớ muôn đời.

3. Sự cộng tác của chủ nhân và công nhân

24. Đức Tiên Giáo hoàng lại sáng suốt chứng minh rằng: chính các chủ nhân và công nhân có thể góp phần hiệu nghiệm trong việc giải quyết vấn đề xã hội, nhờ những công cuộc vừa để nâng đỡ kẻ bần cùng vừa tìm hòa giải hai giai cấp. Trong những công cuộc ấy, cần thiết nhất theo ý Ngài là những nghiệp đoàn hoặc riêng cho công nhân, hoặc chung cho cả công nhân và chủ nhân. Đức Giáo hoàng viết vài lời hoặc ca tụng hoặc củng cố những hội đoàn ấy. Ngài định nghĩa bày tỏ lý do, sự hợp thời, quyền lợi, nghĩa vụ và các luật lệ vốn điều khiển những tổ chức như vậy.

Những huấn thị này quả thực là rất hợp thời. Thời kỳ đó, ở nhiều quốc gia, chính quyền thụ hưởng chủ nghĩa tự do, nên ác cảm với những hội đoàn bảo vệ lao động, nhiều khi họ lại phản đối công khai nữa. Họ tình nguyện chuẩn y ủng hộ những hội đoàn tương đương được sáng lập trong những giai cấp xã hội khác. Nhưng nhất định chối không cho lao công hợp đoàn, đó là một thái độ bất công rõ ràng, vì quyền họp đoàn là quyền tự nhiên của con người mà họ chối không cho lao động là kẻ cần phải họp đoàn mới tự cứu mình khỏi bị những người mạnh quyền áp bức.

Ngay trong những giới công giáo, những cố gắng hợp đoàn của công nhân cũng bị tình nghi là những mưu mô của phái xã hội và bọn cách mạng.

a) Hội đoàn lao công:

25. Những huấn lệnh uy quyền của Đức Lêô XIII, đã có công phá mọi trở lực, giải tán mọi tình nghi. Nhưng vinh hạnh nhất là theo những huấn lệnh ấy, bao nhiêu người lao công Kitô hữu đã đua nhau tổ chức nghiệp đoàn, theo lời Đức Lêô XIII đã chỉ dạy cho. Nhờ đó họ giữ lại trên đường chính những công nhân bị lôi cuốn quyết ghi tên vào những tổ chức do chủ nghĩa xã hội lập ra rồi tự đắc chỉ có họ mới bảo vệ và ủng hộ người bần cùng, kẻ bị áp bức.

26. Về việc lập các hội đồng công nhân Kitô hữu, bức thông điệp “Rerum Novarum” có câu rằng: (Rerum Novarum 42,43). Đâu đâu cũng có linh mục hợp tác với giáo dân lập các nghiệp đoàn nói trên. Các ngài đáng khen vì đông mà lại rất tận tâm với học thuyết của Đức Lêô XIII mà họ đã quyết thực hành. Nhờ những hội đoàn ấy, có cả một thế hệ công nhân Kitô hữu được huấn luyện chu đáo, tìm hòa nhịp trong đời sống những đòi hỏi công nghề với những tín ngưỡng công giáo của họ. Nhờ đó họ được đủ sức mạnh để bảo vệ phận sự và quyền lợi thế tục của họ một cách cương quyết vừa thích hợp với công lý. Họ lại đem lòng thành thực hợp tác với các giai cấp xã hội khác để phục hưng lại xã hội theo lý tưởng phúc âm.

Học thuyết và huấn lệnh của Đức Lêô XIII nhờ đó mà được thực hiện theo trăm ngàn thể thức tùy thời thế hoàn cảnh đòi hỏi bắt buộc. Chỗ này thì chỉ lập ra một tổng hội theo đuổi mục đích của Đức Lêô XIII đề cập, nơi khác vì hoàn cảnh cần lao chuyên biệt, hội đoàn này thì bảo vệ quyền lợi và bổn phận công nhân trong phạm vi cần lao; hội đoàn kia thì lại chuyên lo tổ chức việc công nhân nâng đỡ nhau trong phạm vi kinh tế. Còn về tôn giáo và luân lý hay những sự cần tương đương như vậy thì có những hội đoàn khác chuyên lo.

27. Tổ chức thứ hai này ưu thắng hoặc ở những chỗ luật pháp kinh tế hay xã hội nghiêm khắc bắt buộc, hoặc ở những chỗ công nhân phải đối phó với những phong trào phá rối trật tự bằng một mặt trận thống nhất, cấm ngặt không được lập nghiệp đoàn lao công Kitô hữu công khai. Trong những trường hợp ấy, công nhân công giáo hầu như bắt buộc phải nhập vào những nghiệp đoàn trung lập, nhưng tôn trọng công bằng bác ái và quyền tự do sống theo lương tâm và luật giáo hội. Các giám mục phải kiểm soát và quy định các hội đoàn ấy có thích hợp với thời thế hoàn cảnh, mà có nguy hiểm gì cho đạo công giáo chăng. Nếu có đủ điều kiện các ngài có quyền rộng phép cho các công nhân công giáo nhập vào tùy theo những luật lệ và những huấn lệnh của Đức Piô X, Đức Tiên Giáo hoàng khả kính của chúng ta. Theo những huấn lệnh ấy, điều cần thiết nhất là bên cạnh các công đoàn này, phải lập những hội đoàn công giáo luôn luôn tận tâm huấn luyện công nhân cho họ chóng trở nên những Kitô hữu thấu đạo, thông luân lý, và hằng tiêm nhiễm tinh thần phúc âm vào mọi hành động sinh hoạt của họ. Nhờ vậy các hội đoàn kia có lẽ sẽ gây ảnh hưởng rộng ra ngoài cả phạm vi đời sống riêng của các cá nhân.

b) Những hội đoàn hành động trong các giai cấp khác:

28. Hơn thế nữa, những huấn dụ khôn ngoan, những huấn lệnh rõ rệt của Đức Lêô XIII về quyền tự do hội họp, đã được thích dụng trong những giai cấp không phải là lao động. Bức thông điệp của ngài đã gây dịp rất thuận tiện cho bao nhiêu hội đoàn hữu ích khác được thành lập và phát triển mạnh trong giới nông dân. Giới trung lưu và nhiều tổ chức tương đương khác, hằng dung hòa nguồn lợi kinh tế với phận sự giáo dục con người.

c) Công đoàn chủ nhân:

29. Nhưng ta không thể nào nói thế về các hội đoàn chủ nhân hay chủ nghiệp mà Đức Tiên Giáo hoàng đã hết sức mong ước. Ta cũng rất tiếc vì những hội đoàn ấy còn hiếm quá. Cái đó không phải là chỉ lỗi tại người ta đâu. Về đàng ấy đời ta đầy những trở lực chẳng mấy ai thắng nổi. Ta biết những trở lực ấy, mà lại lượng giá cho cân xứng nữa. Nhưng ta cũng mong ước những trở lực ấy trong một ngày gần đây sẽ tan đi. Ta đón mừng và thành thực ca tụng những cố gắng hùng dũng của bao người thiện chí, đáng rút kinh nghiệm về đàng ấy. Chắc thế nào chẳng bao lâu nữa, họ sẽ được hái quả tốt đẹp hơn cả những hoa quả họ đang mong.

II. Bức thông điệp Rerum Novarum là hiến chương của lao động

30. Những ân huệ bởi bức thông điệp Rerum Novarum Ta chỉ lược qua vậy thôi, không diễn tả hết được. Những hiệu quả vô số và quan trọng do bức thông điệp ấy gây nên chứng tỏ rõ rằng chủ nghĩa xã hội của Đức Lêô XIII không phải chỉ là một ảo tưởng rực rỡ nhưng không ai thực hành được đâu. Đó là một lý tưởng rất đẹp. Đức Tiên Giáo hoàng đã rút sẵn ở trong nguồn sống của phúc âm, một học thuyết hiệu lực có lẽ chưa giải quyết hết mọi vấn đề xã hội hiện tại, nhưng ít nhất cũng giảm bớt được tai hại của một xã hội tương tranh kịch liệt gây nên. Bức thông điệp của Đức Lêô XIII là một hạt giống đã được gieo rắc một phần nào trong những đồng ruộng phì nhiêu. Bằng chứng rõ ràng là những hiệu quả rất đẹp mà nhờ ơn Chúa giáo hội và cả nhân loại đã gặt hái trong 40 năm vừa qua.

31. Với thời gian, bức thông điệp Rerum Novarum đã dần dần hiện ra là hiến chương của mọi hành động công giáo trong phạm vi xã hội. Ai khinh thường bức thông điệp được cả thế giới long trọng kỷ niệm năm nay, thì rõ ràng là kẻ khinh thường những sự mà họ chưa biết. Hoặc kẻ ấy chưa hiểu những điều tai đã nghe, hoặc là người hiểu biết hết, nên đáng bị kết án là kẻ vong ân và bất công.

Cũng với thời gian, đã có những đoạn trong bức thông điệp, hoặc bị người ta hồ nghi không biết phân giải thế nào, hoặc khiến người ta hoang mang không biết áp dụng làm sao cho hợp lý. Thỉnh thoảng cũng đã từng có những cuộc bàn luận sôi nổi giữa giáo dân về những vấn đề đó. Ngoài ra những đòi hỏi của đời ta bây giờ, những biến cố lớn đã xảy ra trong phạm vi quốc tế cũng buộc ta lên tiếng, hoặc để chỉ lối áp dụng học thuyết xã hội của Đức Lêô XIII, hoặc bổ khuyết những quan điểm còn thiếu. Vậy cứ theo sứ vụ tông đồ buộc ta phải phụng sự toàn thể nhân loại, ta hân hạnh nhân dịp rất thuận tiện này để giải quyết những điều còn khắt khe và giải đáp những vấn đề mới được nêu lên.

(còn tiếp…)