TỨ THẬP NIÊN

Về việc xây dựng trật tự xã hội

15-05-1931

DÀN BÀI

Dẫn nhập:

Vận hội của thông điệp “Tân Sự” (Rerum Novarum). Những điểm chính yếu của thông điệp. Nội dung của thông điệp hiện nay (số 1-16).

I. Những hoa trái của thông điệp “Tân Sự” (17)

  1. Công trình của Giáo hội về lãnh vực giáo thuyết và về lãnh vực áp dụng (18-26).

  2. Hành động của nhà nước (27-31).

  3. Hành động của chính những người quan tâm đến vấn đề. Các hiệp hội công nhân. Các hiệp hội giữa các giai cấp khác. Các hiệp hội chủ nhân (32-41). Tân Sự: hiến chương vĩ đại của những người lao động (42-43).

II. Học thuyết của Giáo hội về kinh tế và xã hội (44-47)

  1. Về quyền sở hữu. Đặc tính cá nhân và xã hội của quyền sở hữu. Những nghĩa vụ về quyền sở hữu. Quyền hạn của nhà nước. Những nghĩa vụ liên quan đến thu nhập khi tạm nghỉ việc (những tiêu đề chứng minh sự công nhận quyền sở hữu) (48-57).

  2. Tư bản lao động. Những tham vọng vô căn cứ của Tư bản. Những tham vọng vô căn cứ của người lao động. Nguyên tắc phân phối công bình (58-64).

  3. Sự nổi lên của tầng lớp vô sản. Việc đạt tới quyền sở hữu của người vô sản (65-69).

  4. Đồng lương chính đáng. Đặc tính cá nhân và xã hội của người lao động. Ba điểm cần xem xét: sinh kế của người công nhân và gia đình của họ; hoàn cảnh của xí nghiệp; những đòi hỏi của công ích (70-82).

  5. Thiết lập trật tự xã hội. Sự hợp tác của những đoàn thể nghề nghiệp. Thiết lập một nguyên tắc hướng dẫn đời sống kinh tế (83-106).

III. Những biến chuyển sâu sắc nổi lên kể từ thời Đức Lêô XIII

  1. Những biến đổi về chế độ kinh tế. Nền độc tài kinh tế. Những hậu quả tai hại của nó. Các phương thuốc chữa trị (107-118).

  2. Biến chuyển của chủ nghĩa xã hội. Đảng phái bạo động hay chủ nghĩa Cộng sản. Đảng phái ôn hòa hơn hay chủ nghĩa xã hội khoan nhượng hơn; người ta có thể thỏa hiệp với nó chăng? Quan niệm của nó rất trái ngược với chân lý Kitô giáo. Công giáo và chủ nghĩa Xã hội là những hạn từ mâu thuẫn nhau. “Chủ nghĩa xã hội giáo dục”. Những người công giáo chuyển qua chủ nghĩa xã hội. Lời mời gọi trở lại (119-137).

  3. Cải cách phong hóa. Chế độ kinh tế hiện thời và sự sụp đổ các linh hồn. Những nguyên nhân của sự dữ. Các phương thuốc chữa trị: hợp lý hóa theo tinh thần Kitô giáo và vai trò của đức ái (138-148).

Kết luận:

Một nhiệm vụ khó khăn. Phương pháp theo đuổi. Mong cho mọi người hiệp nhất và hợp tác với nhau chặt chẽ (149-159).

LỜI MỞ ĐẦU

1. Bức thông điệp RN (Rerum Novarum) đã xuất hiện được bốn mươi năm rồi. Thế giới công giáo chuẩn bị mừng kỷ niệm một cách hết sức long trọng. Ai cũng đầy lòng biết ơn Tòa Thánh vì sự kiện đáng ghi nhớ này. Một văn kiện minh chứng lòng nhiệt thành của Đức Tiên Giáo hoàng đối với giáo mục của Ngài. Một văn kiện rất quan trọng đã được chuẩn bị từ trước, trong bao bức thông điệp khác: về gia đình, về phép hôn phối, về nền tảng xã hội nhân quyền, về nguồn gốc chính quyền, về những mối tương quan giữa giáo hội và xã hội quốc gia, về nghĩa vụ công dân của giáo dân, về cách biện bác chủ nghĩa xã hội, về các tà thuyết do chủ nghĩa tự do cá nhân và bao nhiêu tài liệu khác, giãi bày lý tưởng xã hội của ngài.

Nhưng bức thông điệp “RN” trội vượt mọi văn kiện khác, vì hai lý do: thứ nhất vì là một bức thông điệp rất hợp thời, không đời nào cần thiết bằng đời ta bây giờ. Thứ hai vì bức thông điệp ấy giải quyết mọi vấn đề đời sống cộng đồng nêu lên. Là những vấn đề tóm tắt trong “vấn đề xã hội.”

i. Một bức thông điệp rất hợp thời.

2. Thế kỷ mười chín xế chiều, sự phát triển kinh tế, sự tiến hóa của kỹ nghệ ở hầu hết các dân tộc đã phân chia xã hội thành hai giai cấp. Giai cấp này gồm thiểu số, nhưng toàn những người giàu sang tha hồ hưởng dụng mọi sáng kiến khoa học tiên tiến. Giai cấp kia gồm đa số, nhưng toàn công nhân khốn cực, không thoát được cảnh bần cùng. Tình trạng thê thảm ấy, kẻ dư của thì chịu đựng một cách rất dễ dàng, họ cho rằng: Đó là hậu quả không tránh được của những luật kinh tế tự nhiên. Nên họ lầm tưởng công cuộc bác ái san bằng được mọi bất công, mà những pháp luật nhân tạo thường bỏ mặc và nhiều khi lại còn che chở nữa.

3. Nhưng công nhân đã quá khổ cực vì tình trạng ấy. Sau một thời gian cam chịu, họ quyết trút bỏ gánh nặng nề ấy, không muốn gánh vác lâu hơn nữa.

Người thì sôi nổi lên vì những lời thúc đẩy họ trỗi dậy, mà đảo lộn xã hội từ ở tận nền móng. Người thì không chịu trôi theo những phong trào ấy, vì họ đã được giáo dục theo đạo Chúa Kitô. Nhưng dầu sao họ cũng đồng ý về một điểm khẩn cấp là “phải cải hóa xã hội tận cội rễ”.

4. Đó cũng là ý chí của bao nhiêu Kitô hữu, của giáo sĩ hay giáo dân đã đem lòng bác ái dũng cảm mà tìm trăm ngàn phương cách, làm giảm bớt sự khốn cực bất công của dân chúng. Họ không chịu nhận sự chênh lệch quá đổi trong cách phân công chia của, như là sự tự nhiên Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan đã tiền định cho nhân loại. Thành ra họ cứ thành thực tìm những môn thuốc linh nghiệm hoặc để sửa chữa những tệ đoan của xã hội hiện tại, hoặc để đề phòng cho xã hội khỏi lâm vào những tai hại khủng khiếp hơn nữa.

5. Nhưng lý trí con người mù mịt yếu đuối. Những người thiện chí hoặc bị xua đuổi như thể họ chỉ là những nhà cách mạng đáng sợ; hoặc bị chia rẽ vì có sự bất đồng ý ngay giữa họ, nên họ cứ lưỡng lự giữa những lập trường khác nhau. Như vậy họ không biết phải chọn lấy đường nào? Trong những sự mâu thuẫn khiến mọi người không ai đồng ý với ai thì hòa bình thế giới lâm nguy. Thành ra lần nữa họ đưa mắt nhìn về Tòa Thánh Phêrô là kho lãm chân lý, tự nhiên phát ra những lời cứu chuộc hằng chảy tràn khắp thiên hạ. Một phong trào rộng lớn chưa bao giờ từng thấy, lôi cuốn họ về với “Đấng đại diện Chúa Kitô ở dưới thế”. Vô số người trí thức, kỹ nghệ, công nhân tha thiết đòi hỏi những nguyên tắc vững chắc, họ có thể thích dụng để thoát khỏi mọi sự thắc mắc mà đứng một mình không ai giải quyết được.

6. Vì trí khôn ngoan Đức Giáo hoàng đã gẫm thế sự trước mắt Chúa lâu năm, Ngài cũng cầu vấn bao nhiêu nhân vật lỗi lạc, Ngài cũng chăm chú tìm hiểu vấn đề đủ mọi mặt. Rồi ý thức sứ vụ tông đồ Ngài đảm nhiệm; thì Ngài mới sợ nếu im tiếng mãi là tỏ mình chểnh mảng trong phận sự.

Ngài dùng linh quyền giáo huấn Chúa đã ủy thác cho mà quyết định ban huấn dụ này cho giáo hội Chúa Kitô nói riêng, và cho toàn thể nhân loại nói chung.

7. Ngày 15 tháng 5 năm 1891, tiếng Tòa Thánh mà cả thế giới đã mong nghe từ lâu, đã vang dội khắp cả thiên hạ; một tiếng vang không chút run rẩy trước thời cuộc gay go, mà lại không yếu đi chút nào vì tuổi tác cao; một tiếng vang mạnh bạo đã định hướng mới cho cả nhân loại phải noi theo trên địa vực xã hội hiện tại.

ii. Học thuyết xã hội gồm tóm trong bức thông điệp RN.

8. Anh em thừa biết học thuyết khả kính, đã được giãi bày trong bức thông điệp “RN” rồi chứ! Bức thông điệp ấy thật đáng ghi nhớ muôn đời.

Đại Đức Tiên giáo hoàng, động lòng trước thân phận bao nhiêu người hạ lưu trong xã hội, nói được là đa số; nhưng dầu vô tội cũng phải sống trong cảnh khốn cực đầy rủi ro. Ngài dũng cảm quyết chí bênh vực công nhân tội nghiệp sống trơ trọi, không ai bảo vệ mà lại bị thời thế vô tình đẩy vào tay những chủ nhân vô nhân đạo, chỉ biết cạnh tranh đua giàu khoe sang. Ngài chẳng tin tưởng ở chủ nghĩa tự do, và cũng không hy vọng nơi chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tự do đã tỏ mình hoàn toàn bất lực, không giải quyết được vấn đề xã hội. Còn chủ nghĩa xã hội lại đề nghị một giải pháp còn tệ hơn cả tật nạn nó tìm sửa chữa. Vì nó mà xã hội nhân loại càng ngày càng lâm nguy.

9. Vậy căn cứ vào giáo quyền và thiên chức đặc biệt Ngài được Thiên Chúa ủy cho, là bảo vệ tôn giáo và mọi quyền lợi liên quan đến tôn giáo, thì Ngài đã tin chắc rằng vấn đề xã hội không thể nào giải quyết được một cách phải lẽ “ngoài ảnh hưởng giáo hội và tôn giáo, nhờ những nguyên tắc bất di bất dịch của đạo nghĩa chính trực, và đạo Chúa mc khải”. Đức Tiên Giáo hoàng đem hết linh quyền vững chắc của Ngài mà ấn định và tuyên bố công nhiên:

  1. Nghĩa vụ và quyền lợi riêng của chủ nhân và công nhân: của tư bản và cần lao trong xã hội.

  2. Phận sự riêng của giáo hội, của chính phủ và của mọi công nhân, trong việc giải quyết vấn đề xã hội tương tranh này.

Tiếng của Ngài đã vang dội khắp thiên hạ không phải là vô ích đâu.

10. Thiên hạ nghe đến thì cảm phục tạ ơn. Giáo dân phục quyền giáo hội đã đành. Nhưng còn bao nhiêu người khác, hoặc vô tín ngưỡng, hoặc đã lạc đường chính, cũng đã nêu lên vấn đề kinh tế xã hội, trong phạm vi tìm hiểu (speculation) và pháp lý.

Mừng nhất là các công nhân Kitô hữu. Họ cảm thấy giáo quyền tri vượt mọi thế quyền trên mặt đất, đã thông cảm và bênh vực quyền lợi của họ. Những người vị tha đã tìm cải thiện công nhân từ lâu, nhưng đã bị chế nhạo, ngờ vực, nhiều khi lại bị phản đối công khai nữa, nay đã lại phấn khởi lên.

Bức thông điệp đã được ai nấy đua nhau đón nhận một cách long trọng nghiêm chỉnh. Đến nỗi dân nào nước ấy cũng tìm trăm cách kỷ niệm hằng năm bằng những lễ ghi ơn lừng lẫy.

11. Những huấn thị của Đức Lêô XIII thì rất cao thượng và khả kính; nên mới được thiên hạ đồng thanh nghênh tiếp như thế.

Nhưng tiếc thay cũng đã từng có những nhà trí thức, gồm có cả giáo dân, náo động bất mãn. Người thì sinh lòng hoài nghi, người thì vấp ngã trước một học thuyết mới lạ như vậy. Những ngẫu nhiên do chủ nghĩa tự do dựng lên, đều bị lật đổ. Bức thông điệp ấy không quản ngại gì đến những thành kiến quá khứ. Còn đối với tương lai nó khởi xướng một phong trào chưa có ai nghĩ tới. Những người còn giữ óc tôn cổ, thì đều khinh chê học thuyết xã hội, và những học thuyết cao siêu này. Kẻ khác thì cảm phục lý tưởng xã hội của Đức giáo hoàng là một lý tưởng rực rỡ, nhưng lại cho rằng chỉ là một ảo tưởng không thể nào thực hành được. Ai cũng có thể mong chờ, nhưng không ai hy vọng thực hiện nó được.

iii. Mục đích bức thông điệp mới.

12.thế anh em khả kính đang khi thế giới náo nhiệt mừng lễ “đệ tứ thập chu niên” của bức thông điệp “RN”, thấy các công nhân Kitô hữu ở khắp tứ phương tuôn đến thành thánh La Mã, thì Ta thừa dịp rất thuận tiện này mà nhắc lại những ân huệ phi thường mà bức thông điệp ấy đã đem lại cho cả nhân loại nói chung. Học thuyết canh tân kinh tế xã hội của Đức Lêô XIII thì thật vĩ đại, nên đã bị bao người ngờ vực cảnh cáo. Vậy kèm theo sau, Ta sẽ bênh vực và giảng giải một vài điểm chính chưa được hiểu rõ. Sau hết, Ta sẽ luận xét chế độ kinh tế hiện tại và pbác chủ nghĩa xã hội. Đã định rõ tệ đoan xã hội ngày nay phát nguồn tại đâu, thì Ta sẽ chỉ vạch đường lối duy nhất, ai cũng phải theo để tu bổ lại xã hội cận kim, tức là cải tạo phong tục thế giới theo lý tưởng phúc âm.

Bức thông điệp này sẽ chia ra làm ba phần tùy theo các vấn đề ta mới nêu lên. rồi ta sẽ dành toàn thư để tìm một giải pháp hợp lý hợp thời.

THIÊN –  ÂN