
“Ngày sabát được tạo nên cho con người,
chứ không phải con người cho ngày sabát”. (Mc 2,27)
Bài Ðọc I: (Năm I) Dt 6, 10-20
“Chúng ta có một niềm tin đặt trước mặt như chiếc neo chắc chắn và bền vững”.
Trích thư gửi tín hữu Dothái.
Anh em thân mến, Thiên Chúa không bất công đến nỗi quên công trình của anh em và lòng bác ái anh em đã tỏ ra vì danh Người, anh em là những người đã phục vụ và hiện đang phục vụ các thánh. Chúng tôi mong ước mỗi người anh em thi thố cũng một lòng hăng hái đó để giữ vững niềm hy vọng đến cùng, ngõ hầu anh em không trễ nải, nhưng sẽ noi gương những kẻ nhờ tin tưởng và kiên nhẫn mà hưởng thụ các điều đã hứa.
Quả thật, khi Thiên Chúa hứa cùng Ápraham, Người không dựa vào ai lớn hơn mà thề, nhưng dựa vào chính Mình mà thề rằng: “Ta sẽ chúc phúc cho ngươi và sẽ cho ngươi sinh sản ra nhiều”. Do đó, Ápraham kiên nhẫn chờ đợi, nên được hưởng lời hứa. Vì chưng, loài người dựa vào kẻ lớn hơn mình mà thề, và lời thề được coi như bảo chứng chấm dứt mọi tranh tụng. Cũng vậy, vì Thiên Chúa muốn minh chứng cho những kẻ hưởng thụ lời hứa ý định bất di bất dịch của Người, nên đã làm lời thề, để nhờ hai điều bất di bất dịch mà Thiên Chúa không thể sai lời, thì chúng ta là những người tìm ẩn náu nơi niềm hy vọng đã ban cho chúng ta, chúng ta có một nguồn yên ủi chắc chắn. Trong niềm hy vọng đó, linh hồn chúng ta có một chiếc neo chắc chắn và bền vững, cắm vào tận bên trong bức màn, nơi Ðức Giêsu đã vào như vị tiền phong của chúng ta, Người được phong làm Thượng tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê.
Ðáp Ca: Tv 110, 1-2. 4-5. 9 và 10c
Ðáp: Cho tới muôn đời Chúa vẫn nhớ lời minh ước (c. 5b).
Xướng: Tôi sẽ ca tụng Chúa hết lòng, trong nhóm hiền nhân và trong Công hội. Vĩ đại thay công cuộc của Chúa tôi, thực đáng cho những người mến yêu quan tâm học hỏi.
Xướng: Chúa đã làm những điều lạ lùng đáng nhớ, Người thật là Ðấng nhân hậu từ bi. Chúa đã ban lương thực cho những ai tôn sợ Người, cho tới muôn đời Người vẫn nhớ lời minh ước.
Xướng: Chúa đã gởi tặng ơn giải phóng cho dân Người, đã thiết lập lời minh ước tới muôn đời, danh Người thực là thánh thiện và khả uý. Lời khen ngợi Chúa còn tồn tại đến muôn đời.
Bài Ðọc I: (Năm II) 1 Sm 16, 1-13
“Samuel xức dầu cho Ðavít trước mặt các anh em ngài; và Thánh Thần ngự xuống trên ngài”.
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Samuel rằng: “Ta đã loại bỏ Saolê không cho cai trị Israel nữa, thế mà ngươi còn thương khóc nó đến bao giờ? Ngươi hãy đổ dầu cho đầy bình và lên đường; Ta sai ngươi đến nhà Isai dân thành Bêlem. Vì Ta chọn một người con của ông ấy lên làm vua”. Samuel thưa: “Làm sao mà đi được? Vì nếu Saolê hay biết việc đó, ông sẽ giết con”. Chúa nói: “Ngươi hãy tự tay bắt một con bê trong đàn, và nói: ‘Tôi đến để dâng lễ tế lên cho Chúa’. Ngươi sẽ mời Isai đến để dự lễ tế, Ta sẽ tỏ cho ngươi biết việc phải làm, và sẽ chỉ cho ngươi biết phải xức dầu cho ai?”
Vậy Samuel làm như lời Chúa dạy và đi đến Bêlem. Các vị kỳ lão trong thành bỡ ngỡ chạy đến Samuel mà nói rằng: “Ông đem bình an đến chăng?” Ông đáp: “Phải, bình an! Tôi đến để dâng lễ tế cho Chúa. Các ông giữ mình thanh sạch và cùng tôi đến dâng của lễ”. Vậy ông làm cho Isai và con cái ông ấy được thanh sạch và mời họ đến dâng lễ tế. Khi (họ) vào nhà, Samuel gặp ngay Êliáp và nói: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?” Và Chúa phán cùng Samuel: “Ðừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi; Ta không xem xét theo kiểu con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Isai gọi Abinađáp đến và dẫn đến trước mặt Samuel. Samuel nói: “Cũng không phải Chúa chọn người này”. Isai cho dẫn Samma đến. Samuel lại nói: “Nhưng Chúa cũng không chọn người này”. Isai lần lượt đem bảy đứa con mình ra trình diện với Samuel. Samuel nói với Isai: “Chúa không chọn ai trong những người này”. Samuel nói tiếp: “Tất cả con ông có bấy nhiêu đó phải không?” Isai đáp: “Còn một đứa út nữa, nó đi chăn chiên”. Samuel nói với Isai: “Ông hãy sai người đi gọi nó về, vì chúng ta không ngồi vào bàn ăn trước khi nó về”. Isai sai người đi tìm đứa con út. Ðứa út này có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp. Chúa phán: “Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó”. Samuel lấy bình dầu ra, xức lên nó trước mặt các anh em, và Thánh Thần Chúa ngự trong Ðavít từ ngày đó trở đi. Còn Samuen đứng dậy trở về Rama.
Ðáp Ca: Tv 88, 20. 21-22. 27-28
Ðáp: Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta.
Xướng: Xưa trong cuộc thị kiến, Chúa đã phán cùng bầy tôi Chúa: “Ta đội mão triều thiên cho vị anh hùng, Ta cất nhắc người được kén chọn tự trong dân.
Xướng: Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta. Ta đã xức dầu thánh của Ta cho người, để tay Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng cố thân danh người.
Xướng: Chính người sẽ thưa cùng Ta: “Chúa là Cha tôi, là Thiên Chúa và Tảng Ðá cứu độ của tôi”. Và Ta sẽ đặt người làm trưởng tử, cao sang hơn các vua chúa ở trần gian.
Alleluia: Ga 8, 12
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống”. – Alleluia.
Tin Mừng: Mc 2, 23-28
“Ngày Sabát làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabát”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Máccô.
Vào một ngày Sabát, Chúa Giê-su đi qua đồng lúa, môn đệ Người vừa đi vừa bứt lúa. Tức thì những người biệt phái thưa Người rằng: “Kìa Thầy xem. Tại sao ngày Sabát người ta làm điều không được phép như vậy?” Người trả lời rằng: “Các ông chưa bao giờ đọc thấy điều mà Ðavít đã làm khi ngài và các cận vệ phải túng cực và bị đói ư? Người đã vào nhà Chúa thời thượng tế Abiata thế nào, và đã ăn bánh dâng trên bàn thờ mà chỉ mình thượng tế được ăn, và đã cho cả các cận vệ cùng ăn thế nào?” Và Người bảo họ rằng: “Ngày Sabát làm ra vì loài người, chứ không phải loài người vì ngày Sabát; cho nên Con Người cũng làm chủ cả ngày Sabát”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
GIỮ GIỚI RĂN VỚI TÌNH YÊU MẾN
Đức Giêsu nói tiếp: “Ngày Sabát được lập ra vì loài người, chứ không phải loài người được dựng nên vì ngày Sabát, bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày Sabát.” (Mc 2,27-28)
Suy niệm: Có bạn trẻ than van: “Đạo Chúa sao nhiều luật lệ quá, nhiều cấm đoán quá!” Bạn trẻ ấy quên rằng trong xã hội loài người, bất cứ một cơ cấu nào cũng phải có luật lệ để ổn định và phát triển. Bạn tới một ngôi nhà và thấy dép giày sắp lớp ở cửa, bạn biết rằng nhà này có qui định cởi giày dép trước khi bước vào. Một gia đình nhỏ cũng có luật lệ riêng đấy chứ! Tuy nhiên, luật lệ trong Hội Thánh khác luật lệ của tất cả các cơ chế khác ở điểm này: Đức Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay, “Con Người làm chủ luôn cả ngày Sabát.” Người môn đệ Đức Giêsu không bị chi phối bởi một số điều răn hay một hệ thống luân lý phải giữ, mà là bị chi phối bởi một Đấng, là Đức Kitô. Họ giữ luật vì yêu mến Chúa Kitô, vì biết rằng những điều Ngài muốn họ phải giữ chỉ vì lợi ích thật sự và trường cửu của họ.
Mời Bạn: Thử lượng giá lại cách giữ luật thánh hoá ngày Chúa Nhật của mình: nặng nề, miễn cưỡng hay vui tươi vì biết rằng luật thánh hoá ngày Chúa Nhật ấy cũng vì yêu mến, vì con người.
Chia sẻ: Tôi sẽ làm gì để sống tâm tình mến Chúa yêu người đặc biệt trong ngày Chúa nhật ?
Sống Lời Chúa: Chương trình của tôi mỗi ngày Chúa Nhật sẽ là tham dự thánh lễ, đọc Lời Chúa, làm việc tông đồ, bác ái và nghỉ ngơi.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con hiểu rằng Chúa là Đấng chi phối tất cả cuộc đời chúng con, chứ không phải các điều răn này nọ. Xin cho chúng con, vì yêu mến Chúa, vui tươi và sẵn sàng tuân giữ mọi điều răn ấy. Amen.
B/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
TRANH LUẬN VỀ NGÀY HƯU LỄ
- Chúa Giêsu đi ngang đồng lúa với các môn đệ. Các ông đói nên bứt lúa ăn. Nhóm biệt phái thấy vậy thì trách các ông làm việc cấm trong ngày hưu lễ. Chúa hỏi họ: Các ông có biết vua Đavít và bạn hữu vua làm gì khi đói không ? Vua đã vào đền thờ lấy bánh ăn, thứ bánh mà không ai được ăn chỉ trừ các tư tế. Ngày hưu lễ được lập ra vì loài người, chớ không phải loài người được dựng nên vì ngày hưu lễ. Và chính tôi là chủ của ngày hưu lễ. Tôi có quyền trên ngày hưu lễ.
- Để hiểu luật nghỉ làm việc trong ngày hưu lễ (Sabbat) được ghi trong Xh 20,8-11), linh mục Carôlô đã giải thích như sau: Nhóm biệt phái chỉ để ý đến mặt chữ, cho nên họ suy nghĩ nông cạn rằng nghỉ là nghỉ. Thậm chí họ còn đưa thêm đến 39 việc không được làm trong ngày sabát, trong đó có việc mót lúa và bứt vài bông lúa. Bởi đó họ phản đối Chúa Giêsu về việc làm của các môn đệ Ngài./Còn Chúa Giêsu thì để ý đến tinh thần của khoản luật ấy, tức là nhằm phục vụ con người. Ngày xưa khi còn ở bên Ai cập, dân Do thái phải làm nô lệ cực nhọc. Bởi đó khi họ ra khỏi Ai cập, Maisen đã ra luật nghỉ ngày Sabat, trước hết là nhằm phục vụ cho chính những người Do thái: đó những người chủ Do thái phải để cho các tôi tớ và nô lệ được nghỉ ngơi, đừng tái phạm điều mà người Ai cập trước kia đã phạm đối với họ.
Theo tinh thần ấy, Chúa Giêsu dám tuyên bố 2 câu “nảy lửa”:
a/ Ngày Sabat được lập ra vì con người, chứ không phải con người được tạo nên vì ngày sabbat;
b/ Con người (tức là Chúa Giêsu) là chủ của ngày sabbat.
- Khi muốn hình thành dân Israel, Chúa đã ban cho họ một bộ luật gồm 10 điều răn, nhưng rồi với thời gian, cùng với sự tiếp xúc với các nền văn hoá chung quanh, người Do thái đã từ từ hình thành một bộ luật rất chi tiết. Bộ sách Luật ấy người Do thái gọi là Torah. Sách gồm 5 quyển, dày 250 trang, chứa 613 khoản luật, chia ra 365 khoản cấm và 248 khoản buộc.
Ngoài bộ luật chính ra, còn rất nhiều khoản khác được thêm vào. Đây không phải là luật mà là những tập tục được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Các tập tục này được truyền lại cho những thế hệ mai sau. Và sau cùng thì người chép lại và đóng lại thành tập gọi là Talmud. Talmud là bộ sách giải thích Luật của Do thái giáo. Bộ sách này được chia thành 2 loại: một là Mishna và hai là Gemara. Bộ sách này có tới 523 quyển (Wim Barclay).
- Nguyên nhân cuộc xung đột này chỉ là việc các môn đệ ngắt mấy bông lúa khi đi qua cánh đồng lúa. Một sự việc tầm thường không đáng kể. Luật chỉ cấm gặt và trục lúa thôi, nhưng ở đây các người biệt phái coi đó như việc gặt hái, là một trong những việc cấm trong ngày sabat. Sở dĩ người biệt phái xét nét khắt khe như vậy là cái tính ghen tương nghi ngờ, cái thói hay vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết của người biệt phái, đã gây nên cớ xung đột giữa họ với Chúa Giêsu về việc kiêng việc xác ngày sabat. Tính ghen tương hay soi mói và nghi ngờ thường xảy ra những xung đột, cãi vã, và chia rẽ nhau trong đời sống cộng đoàn và xã hội./Chúa Giêsu lưu ý chúng ta phải hiểu biết ý nghĩa và mục đích của lề luật. Tất cả mọi khoản luật của Giáo hội cũng như trong cộng đoàn đều nhằm giúp ta thêm mến Chúa yêu người. Giữ những luật đó mà lòng không mến Chúa và yêu người thì vô ích. Dựa vào những khoản luật đó để làm khổ người khác là phản lại luật.
Maurice Zundel trong quyển “Sự hiện diện khiêm hạ” có viết: “Việc gặp gỡ Thiên Chúa chỉ có thể thực hiện nếu có tình thân với con người, tình thân ấy sẽ biến thành tình trong suốt. Hình thức mục vụ duy nhất có giá trị là biết cảm xúc trước giá trị con người. Chỉ kẻ biết tôn trọng con người mới làm chứng được cho Thiên Chúa”.
- Truyện: Luật là để yêu thương
Một người thợ xây đang ở trên giàn dáo cao thì bị sẩy chân rơi xuống, chẳng may trúng phải một người đang đi bộ ngang qua phía dưới. Điều oái oăm là anh thợ chỉ bị xây xát qua loa, còn người khách bộ hành thì bị chấn thương nặng, hôn mê rồi chết khi người ta đưa vào bệnh viện.
Chiếu theo luật “Mắt đền mắt, răng đền răng” của miền này, gia đình nạn nhân đưa nội vụ ra tòa đòi anh thợ xây phải đền mạng. Vị quan toà từ lâu đã thấy cái vô lý trong bộ luật địa phương, nhưng truyền thống và hủ tục xưa rất khó thay đổi. Cuối cùng, để cứu người thợ xây oan ức, ông tuyên bố:
– Việc gia đình nạn nhân đòi mạng người thợ xây theo truyền thống là chính đáng, nhưng tôi thấy phải nói rõ. Nếu anh ta đã giết người nhà của các ông bằng cách nào, thì các ông cũng phải giết anh ta bằng cách đó, nghĩa là một người trong gia đình các ông phải trèo lên giàn ráo, nhảy xuống đúng vào đầu anh thợ xây lúc anh đang đi ở phía dưới.
Nghe tòa phân xử, bên gia đình kiện cáo bèn vội vàng xin bãi nại. Anh thợ xây được tha bổng. Sau đó, nhận thức được sự tàn nhẫn phi lý và mù quáng của bộ luật địa phương mình, dân chúng trong vùng quyết định loại bỏ hẳn tính cách “mắt đền mắt, răng đền răng” trong quan hệ xử thế giữa con người với nhau.
c/ Lm. Phaolô Phạm Công Phương
Ngày 26/11/21, bà Truyện, một người dân xã Tam Phú, tỉnh Quảng Nam, nhận được giấy mời lên xã nhận tiền hỗ trợ do bão lụt gây thiệt hại năm 2020. Đợi mãi đến chiều, bà nhận được vỏn vẹn hai ngàn đồng (2000đ). Bà than phiền giả như xã ghi số tiền nhận hỗ trợ vào giấy mời thì bà không vất vả như vậy. Về phần xã Tam Phú cho biết xã làm đúng quy trình của cấp trên. Theo quy định 1 hecta chuối bị thiệt hại do bão lũ được hỗ trợ 4 triệu đồng. Nhà bà Truyện có 10 mét vuông chuối nên mức đền bù là 2150 đ, nhưng xã không có tiền lẻ 150đ nên chỉ giao cho bà chẵn 2000đ. Sở dĩ xã không ghi số tiền lên giấy mời là vì muốn mọi người dân đều được nhận tiền hỗ trợ, dù ít hay nhiều cũng đến tay người dân.
Đến khi chuyện vỡ lở trên báo chí thì cấp trên phê bình cấp dưới: sự việc không sai về bản chất như cách làm tắc trách, phản cảm. Như thế đấy, … cứ theo luật mà làm mà chẳng cần biết luật vì con người hay con người vì lề luật. Đó là điều mà Đức Giêsu trách cứ những người thông luật Do Thái trong bài Tin Mừng hôm nay.
Trong đời sống công khai của Chúa Giêsu, các hoạt động của Ngài nhằm mục đích đem lại cho con người hạnh phúc và niềm vui. Vậy mà không biết bao nhiêu lần, Chúa Giêsu đã phải đối đầu với các đối thủ Pharisiêu nệ luật bắt bẻ không cho phép làm gì trong ngày Sabát, ngay cả khi đó là một việc lành phúc đức. Chúa Giêsu đã làm gì để đối thoại với hạng người này?
Chúa Giêsu cho thấy Ngài là người biết rõ ý định của họ: “Họ rình xem Đức Giêsu có chữa người bị bại tay vào ngày Sabát không”. Trước đó – trong câu chuyện “các môn đệ bứt lúa” – Chúa Giêsu đã khẳng định với họ về ngày Sabát: ngày đó “được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabát”. Có lẽ vì thấu rõ lòng chai dạ đá của họ mà Chúa Giêsu đã muốn cho anh bại tay ra đứng giữa họ để cật vấn họ: “Ngày sabát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi?”. Câu hỏi của Chúa Giêsu đặt họ vào tình trạng suy nghĩ để thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của ngày Sabát, nhưng “họ làm thinh không trả lời”.
Chúng ta cứ tưởng tượng một bệnh nhân đang quằn quại trong đau khổ cần được một bàn tay săn sóc chữa trị, thì người ta lại nại đến luật ngày Hưu lễ để bắt bẻ và cấm chế. Thánh sử Marcô như muốn tô đậm phản ứng của Chúa trước thái độ mù quáng như thế, khi viết: “Chúa Giêsu giận dữ rảo mắt nhìn họ, buồn khổ vì lòng chai đá của họ“. Chúa Giêsu vốn là Ðấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng nhưng Ngài cũng phải lên tiếng chỉ trích họ
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta cũng thường gặp những trường hợp tương tự. Những người có trái tim quảng đại, tốt lành, thánh thiện, sẵn sàng giúp đỡ người khác hơn là giữ luật vì lề luật thì cũng bị những kẻ xấu chơi khăm, lên án và tìm cách loại trừ ra khỏi sân chơi. Họ còn xấu đến nỗi cấu kết với những người khác để cố tình tẩy chay, gây hại cho đối phương chỉ vì sự ganh tị, ghen tương, bất đồng… Nếu tôi gặp trường hợp như thế thì tôi sẽ làm gì?
Lời Chúa hôm nay cật vấn lương tâm mỗi chúng ta. Liệu có khi nào vì ích kỷ, ghen tương và vụ luật mà chúng ta không thể có một cái nhìn tích cực hay nhìn đúng sự việc tốt lành của anh chị em mình? Hay là chúng ta chỉ tìm cơ hội để thọc gậy bánh xe, làm cho người anh chị em khó lòng thi hành điều tốt đẹp mà họ được thúc đẩy để làm?
