THƯ ĐỨC THÁNH CHA GIO-AN PHAOLÔ II GỬI CÁC LINH MỤC
NHÂN NGÀY THỨ NĂM TUẦN THÁNH 1998
Trong lịch sử, Giáo Hội là bí tích phổ quát của ơn cứu độ và của đời sống phát xuất từ Thiên
Chúa. Chính Thiên Chúa nối kết tất cả mọi người và mặc khải mầu nhiệm ý định của Người,
đồng thời cho tất cả mọi người thông phần vào bản tính của Người, nhờ Chúa Thánh Thần và
qua công trình của Con Một Người. Nơi mầu nhiệm này, Đức Ki-tô là Trung Gian, là viên mãn,
là Thượng Tế, là Ngôn Sứ, là Cùng Đích và là Nguyên Thuỷ. Nhờ Người, Thiên Chúa đến với
con người là những bạn hữu, sau khi loan báo về Người qua nhiều lần nhiều cách. Người là
Ngôi Lời của TC, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, qua cuộc nhập thể và cuộc sống
của Người và trên hết là qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Người, toàn thể nhân loại được
sống trong bình an, trong sự hiệp thông thân tình với Thiên Chúa qua giao ước tình yêu phổ
quát bao gồm tất cả các tạo vật.
THIÊN CHÚA MẶC KHẢI VỚI CON NGƯỜI
Thiên Chúa Cha và Con Của Người đã ban tặng Thánh Thần làm trung gian của giao ước với
Thiên Chúa đã được tái lập trong Đức Ki-tô được trao ban cho toàn thể nhân loại như một di
sản để nhờ đó không ngừng thánh hóa Giáo Hội. Chúa Thánh Thần, Đấng luôn hoạt động trong
toàn thể vũ trụ, từ lúc tạo thiên lập địa, từ ngày Lễ Ngũ Tuần trở đi đã luôn cư ngụ trong những
người có niềm tin như thể Người ngự nơi đền thờ vậy. Vì thế Chúa Thánh Thần luôn mang lại
sự hiệp thông phẩm trật, dưỡng nuôi đức ái, đồng thời mang lại ký ức về cuộc sống, về cái chết
và sự phục sinh của Chúa. Nhờ đó, và trên hết là nhờ vào sự công bố LỜi và nghi thức bẻ
bánh Thánh, ơn cứu độ đã được hiển nhiên. Bằng cách đó, Người ban phát và biến đổi những
người có niềm tin làm chứng cho Tin Mừng, để nhờ vào các việc lành của họ mà mọi người làm
vinh danh Chúa Cha.
Đây là mầu nhiệm mà Giáo Hội đang sống, là sứ điệp mà Giáo Hội đóng vai trò là người loan
báo, người cai quản, người giảng dậy; Vì lý do này, Giáo Hội không ngừng làm chứng trong lịch
sử cũng như từng nếm trải và công bố trước thời gian viên mãn của sự sống vĩnh cửu. Tất cả
những người được Chúa Cha mời gọi và được Chúa Thánh Thần thúc đẩy thì tự do đáp trả
bằng tình yêu do Chúa Con mặc khải và thông ban, để làm nên cộng đoàn Giáo Hội đã được
tuyển chọn qua Đức Ki-tô. Mọi người hết tình cộng tác vào công việc mở rộng Giáo Hội để họ
được tháp nhập vào Đức Ki-tô nhờ mối dây tuyên xưng niềm tin, các bí tích, trong việc cai quan
Giáo Hội và trong sự hiệp thông. Trong toàn thể Giáo Hội bằng nhiều cách thế trong cùng một
đức ái, cùng Người Con do Thiên Chúa sai đến, có sứ vụ cứu độ nhân loại. Đó là sứ vụ duy
nhất được lan rộng đến toàn thể nhân loại và trở thành dấu chỉ phổ quát, là công cụ đắc lực
loan báo bình an của Đức Ki-tô. Giáo Hội thi hành sứ vụ của mình qua việc làm chứng và phục
vụ bằng những công việc cùng những ân huệ quý báu do Đức Ki-tô ban qua Chúa Thánh Thần
mà nó thể hiện sứ vụ gồm ba việc: tư tế, ngôn sứ và vương giả. Đây là ba tác vụ trong một sứ
vụ duy nhất của Giáo Hội để liên kết chặt chẽ mọi người với nhau. Tác vụ Lời Chúa mang ý
nghĩa phụng vụ và cai quản. Tác vụ tư tế là tác vụ của người mục tử và ngôn sứ; tác vụ cai
quản mang ý nghĩa phụng vụ và ngôn sứ.
Giáo Hội và Lời Chúa
Thừa tác vụ Lời Chúa là việc thi hành sứ vụ ngôn sứ của Chúa Kitô vẫn tiếp nối trong Giáo Hội.
Thiên Chúa, Đấng đã phán xưa, nay vẫn không ngừng nói với Hiền Thê của Người Con. Chúa
Thánh Thần hướng các tín hữu tới chân lý vẹn toàn và Người ở trong sự phong phú của Lời
Chúa. Nhờ Người, Lời sống động ngân vang trong Giáo Hội và qua Giáo Hội đến với muôn
dân. Giáo Hội gieo vãi Tin Mừng cho người muốn nghe và hạt giống nào nẩy mầm trên đất tốt
được tưới gội sương trời, hấp thụ các nhân tố sống, biến đổi và đồng hoá nó để cuối cùng có
một mùa thu hoặch dồi dào. Nhờ Lời Chúa Giáo Hội qui tụ con cái mình lại để được tái sinh.
Giáo Hội phụ thuộc vào Lời Chúa, và vì thế những người loan báo Lời xem mình như là những
thừa tác viên chính yếu, và là người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa.
Cộng đoàn các Ki-tô hữu là cộng đoàn ngôn sứ. Vì thế Đức Ki-tô đã thông ban quyền ngôn sứ
của Người. Trong Giáo Hội, mỗi tín hữu là mỗi ngôn sứ, vì họ có phần trách nhiệm đối với Lời
Chúa. Mỗi người nhận lãnh Chúa Thánh Thần để công bố Lời Chúa đến cùng tận cùng trái đất.
Để chu toàn sứ mạng ấy, Chúa Thánh Thần tặng ban cho mỗi người ân sủng, các đoàn sủng
và các phận vụ theo chức vụ mà mỗi người lãnh nhận từ Giáo Hội. Các mục tử có sứ vụ công
bố Lời Chúa cách trung thực và được thẩm quyền chấp thuận. Điều này biểu lộ rõ các đặc sủng
ngôn sứ đích thực mà Chúa Thánh Thần đã trao ban cho toàn thể Dân Chúa. Giáo chủ tối cao
được Chúa Ki-tô lập là mục tử và là thầy dạy của toàn thể anh chị em: Phần anh, khi anh đã trở
lại, hãy củng cố lòng tin của anh em. Được xem là thầy dạy. Những người loan báo và những
người kế vị thi hành sứ vụ này cho Giáo Hội và cho muôn dân trong sự hiệp thông phẩm trật
với vị Đại Diện Chúa Ki-tô và trong sự hiệp thông với nhau. Nhờ sức mạnh của mệnh lệnh
Chúa truyền và sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, họ đã thành đạt và bảo đảm cảm thức đức
tin trong lòng các Ki-tô hữu và hướng dẫn niềm tin ấy bằng tình yêu trong đường chân lý. Vì thế
các mục tử luôn quan tâm đến những đóng góp đầy năng động và chuyên chú của các linh
mục, giáo dân, các nhà thần học trong sự hiệp thông của các ân huệ và các đoàn sủng.
Giáo Hội là sứ giả và chứng nhân cho Lời Chúa, vì Giáo Hội là sứ giả và chứng nhân của Đức
Ki-tô và là sự viên mãn của mọi Lời mặc khải. Do đó Giáo Hội rao giảng nhân danh Đức Ki-tô
và lắng nghe cách kính cẩn và trung thực tiếng Chúa qua vạn vật, qua những bất trắc và những
lời vang vọng của Ngôi Lời trong lịch sử và trong nền văn hoá của các dân tộc, qua sự tỏ lộ của
Người về những bí ẩn và về giao ước mà người đã ký kết với dân Ít-ra-en và về giao ước vĩnh
cửu mà Người ký kết với Dân Mới của Chúa, và cuối cùng lắng nghe lời tiên báo về sự bình an
đích thực trong Đức Ki-tô. Trong Thánh truyền và Thánh Kinh Tân Cựu Ước, Giáo Hội tìm được
nguồn và năng lực, cũng như nguyên tắc cho sứ vụ ngôn sứ của mình.
Đức Ma-ri-a không là một huyền thoại nhưng là một phụ nữ thật sự có lịch sử đời tư, mặc dù
qua Tân Ước chúng ta chỉ có thể có được một vài điểm đích xác về cuộc đời của Mẹ và đó hẳn
không phải là tiểu sử tương xứng của Mẹ. Đức Ma-ri-a sống ở Na-gia-rét, thuộc thành phố nhỏ
Ga-li-lê. Mẹ ở một khu dân cư lao động. Mẹ đã đính hôn với Giu-se, người thợ mộc, do đó Mẹ
trở nên một thành viên của dòng tộc Đa-vít. Mẹ để hết tâm trí vào cuộc sống thường nhật, Mẹ
đã từng đi thăm viếng người bà con cao tuổi. Mẹ đi hành hương Giê-ru-sa-lem, Mẹ can thiệp
vào một tiệc cưới. Mẹ biết lắng nghe và suy niệm nhưng cũng biết cách mở lời và có những
quyết định can đảm. Mẹ đã suy niệm những việc lạ lùng của Thiên Chúa với niềm kính sợ và
chờ đợi công lý đến cho người bị áp bức theo cách thức những người nghèo Thiên Chúa vẫn
chờ mong. Mẹ tìm hiểu ý định của Thiên Chúa và sẵn sàng tuân theo thánh ý của Người như
một “nữ tì khiêm hạ của Chúa” (Lu ca 1,38). Chính tước hiệu này biểu trưng cho con người của
Mẹ. Mẹ nỗ lực không biết mệt mỏi trong việc tìm hiểu Chúa Giê-su con Mẹ; Mẹ theo sát con
của Mẹ bằng tình mẫu tử và một niềm tin kiên trung. Mẹ chia sẻ với Người sự nghèo hèn của
Bê-lem, cuộc trốn chạy sang Ai cập, đời sống ẩn dật tại Na-gia-rét, giờ hấp hối trên đồi Can-vê.
Cuối cùng, tại Giê-ru-sa-lem, trung tâm cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, Mẹ cầu nguyện xin Chúa
Thánh Thần ngự đến trong ngày lễ Ngũ tuần: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí chuyên cần
cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria, thân mẫu Đức Giêsu và với anh em của
Đức Giêsu” (Cv 1,14).
Chi tiết mà chúng ta có về Mẹ kết thúc với điều trên đây (Cv 1,14). Chúng ta không thể bàn
nhiều về điều này. Chúng ta không cần bàn thêm nữa. Tuy nhiên, chúng ta thấy Đức Ma-ri-a
hiện diện trong những dịp mang tính quyết định: Sự sinh hạ của Con Thiên Chúa, Phục sinh và
Hiện xuống. Đây là những dịp được tôn kính: như là sự khởi đầu, hoàn tất và chuyển thông của
ơn cứu độ. Qua Con Mẹ là hình ảnh riêng biệt của Thiên Chúa, Mẹ là mẫu mực cho loài người
được cứu độ, một người trong chúng ta nhưng được cứu độ và chia sẻ trong tình bằng hữu duy
nhất với Thiên Chúa. Trong Mẹ, Giáo Hội tìm được nơi mình sự thành toàn hoàn hảo nhất và
trước hết trong thứ tự của lòng tin, lòng mến và sự kết hợp hoàn hảo với Chúa Ki-tô. Thật có
nhiều điều chứ không phải là không có gì khi nói về Mẹ, trong Tin Mừng Lu-ca, Mẹ tượng trưng
cho thành Giê-ru-sa-lem mới, trong Tin Mừng Gio-an, Mẹ như người phụ nữ biểu tượng của
Ít-ra-en; trong khi đó sách Khải Huyền mô tả như người phụ nữ mặc áo mặt trời, sinh hạ Đấng
Mê-si-a và bị con rồng truy đuổi trong sa mạc.
Mẹ Ma-ri-a là trung tâm của Giáo Hội như một lễ Hiện Xuống luôn mãi: “Không thể nói về Giáo
Hội nếu Mẹ Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa không hiện diện ở đó cùng với anh em của Người (Thánh
Cromatius of Aquileia, Discourses, 30,1). Nơi Mẹ tập trung ân huệ của Thiên Chúa: sự hiện
diện của Thần Khí, nét đẹp thánh thiện nội tâm, niềm tin tinh tuyền, lòng yêu thương mẫu tử,
giao ước tình yêu, vinh quang trên trời và sự cộng tác vào sứ vụ cứu độ của Chúa Giê-su. Mầu
nhiệm của Giáo Hội phản chiếu ánh sáng tinh tuyền nhất trong Mẹ, Mẹ biểu tượng cho Giáo
Hội, Mẹ không phải là huyền thọai, Mẹ là một mẫu gương cụ thể thực sự. Mẹ ở trong Giáo Hội
nhưng gần gũi với Chúa Kitô trong sự kết hiệp vô song hơn những tín hữu khác. Nhìn vào con
đường của Mẹ, trong ánh sáng của cái nhìn đặc biệt, thì đặc quyền của Mẹ được xác định và
được bén rễ sâu trong địa vị là Mẹ Thiên Chúa.
Đức Ki-tô là Thầy và là Đấng Cứu Độ duy nhất, từ nơi Ngài chúng ta nhận được ân sủng để trở
nên môn đệ và là người cộng tác với Ngài, thông phần vào đời sống và sứ vụ của Ngài, được
nên Thánh, và là những người được thánh hoá. Mẹ Ma-ri-a là người theo Đức Ki-tô hoàn hảo
nhất và là người cộng tác đầu tiên trong công trình cứu độ. Hành trình đời sống đức tin của Mẹ,
như được thuật lại trong Tin Mừng, cũng là một sự trải dài tình yêu của Mẹ cho toàn thể nhân
loại và luôn được đồng hành bởi sự liên kết sâu xa trong mầu nhiệm cứu chuộc.
Khi Sứ thần truyền tin, Mẹ Ma-ri-a với niềm tin đã đón nhận Lời Chúa và ngoan nguỳ đặt mình
trong bàn tay Thiên Chúa; Mẹ đón nhận Đấng Cứu Thế và tự hiến mình trở nên sẵn sàng cho
công việc của Người. Sự ưng thuận của Mẹ mang Thiên Chúa đến cho thế giới và khởi đầu
thời gian viên mãn. Sau biến cố trọng đại này, Mẹ Ma-ri-a không sống ẩn dật nhưng đã ra đi
viếng thăm bà chị họ Ê-li-da-bét, do đó người được Phúc Âm hóa đầu tiên chính là Mẹ, và Mẹ
cũng là người đầu tiên đi rao giảng Tin Mừng. Mẹ tuyên xưng những kỳ công cao cả của Chúa
cũng như sự hiện diện thánh thiêng và vui tươi của Người qua bài thánh ca ngợi khen.
Chúa Giê-su sinh ra ở Bê-lem trong hoàn cảnh nghèo hèn và không có vị thế xã hội, Mẹ Ma-ri-a
đã cho các Mục đồng thấy Chúa là Đấng Cứu Thế của người nghèo, chính Ngài cũng nghèo
khó. Bốn mươi ngày sau, Mẹ Ma-ri-a dâng Chúa trong đền thờ cùng với Chúa là lòng tuân phục
của Mẹ. Trong khi ông già Si-mê-on nói với Mẹ rằng: Cuộc đời của Mẹ chìm trong thinh lặng và
sầu khổ. Các nhà Đạo Sĩ là những người đầu tiên trong Dân Ngoại đến với Đấng Cứu Thế;
nhưng Hê-rô-đê đã ra tay bách hại Ngài đầu tiên và cha mẹ Ngài phải đưa Ngài qua Ai cập.
Khi Ngài lên mười hai tuổi, Chúa Giê-su tham gia vào cuộc hành hương lên Giê-ru-sa-lem để
dự lễ Vượt Qua và Ngài đã thi hành một tác vụ ngôn sứ nhiệm mầu tại đây. Khi kết thúc cuộc
hành hương, Ngài vẫn ở lại trong đền thờ mà cha mẹ Ngài không hay biết. Họ đã gặp lại Ngài
sau ba ngày khổ cực tìm kiếm. Mẹ Ma-ri-a diụ dàng thổ lộ sự quan tâm lo lắng của bậc cha mẹ:
Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha và mẹ đây đã phải cực lòng
tìm con “(Lc 2,48). Ngài đã đáp lại bằng một cách khó hiểu: Giê-su còn thuộc về một người cha
khác và có bổn phận phải ở lại với cha Người. Tuy vậy, Ngài vẫn trở về Na-da-rét và vâng phục
cũng như chiụ tùng phục. Vào một lễ Vượt Qua khác khi mà Người hoàn tất cuộc đời dương
thế, Ngài mới tỏ lộ ý nghiã này là ở lại với Cha Người. Lúc đó, Giu-se và Ma-ri-a không hiểu
nên thinh lặng suy niệm. Từ đó cuộc sống ẩn dật cứ lặng lẽ trôi cùng với sinh hoạt hằng ngày:
sự tiếp xúc thân mật với Con Người Bí Nhiệm, trong lúc cần mẫn lao động với niềm tin.
LÁ THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II
GỞI CÁC LINH MỤC
Ngày Thứ Năm Tuần Thánh Năm 2000
Anh em linh mục thân mến!
- Đức Giêsu “yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ
đến cùng (Ga 13,1). Tại thành Giêrusalem này, nơi mà theo truyền thống, Đức Giêsu và nhóm
Mười Hai đã cử hành Lễ Vượt Qua và thiết lập bí tích Thánh Thể, tôi thực sự xúc động mỗi lần
đọc lại những những lời mà thánh sử Gioan tường thuật Bữa Tiệc ly. Tôi tạ ơn Chúa vì Người
ban cho tôi, trong Năm Thánh này mừng biến cố Nhập Thể của Con Thiên Chúa, được lần theo
vết chân trần thế của Đức Kitô, bằng cách bước trên những con đường mà Người đã đi kể từ
khi Người sinh ra tại Bêlem cho đến khi chết trên đồi Gôngôtha. Hôm qua tôi đã ở Bêlem, tại
hang Chúa Giáng Sinh. Trong những ngày sắp tới, tôi sẽ thăm viếng những nơi chốn khác nhau
gắn liền với cuộc đời và sứ mạng của Đấng Cứu Thế, từ nhà Truyền Tin cho đến núi các Mối
Phúc và Vườn Cây Dầu. Cuối cùng vào ngày Chúa nhật tôi sẽ đến đồi Gôngotha và Mộ Thánh.
Hôm nay, cuộc thăm viếng Phòng Tiệc ly này cho tôi một cơ hội để có một cái nhìn toàn diện về
mầu nhiệm Cứu Chuộc. Đây chính là nơi mà Đức Kitô đã ban cho chúng ta món quà to lớn là bí
tích Thánh Thể. Đây cũng chính là nơi mà chức linh mục của chúng ta được sinh ra.
Một bức thư từ Phòng Tiệc ly
- Từ Phòng Tiệc ly, tôi muốn gởi lá thư này đến cho anh em như tôi đã làm cách đây hơn hai
mươi năm vào mỗi dịp Thứ Năm Tuần Thánh, ngày của bí tích Thánh Thể và ngày của “chúng
ta” ở mức độ cao nhất. Quả vậy tôi đang viết cho anh em từ Phòng Tiệc ly, nghĩ lại tất cả những
gì đã diễn ra bên trong những bức tường này, vào đêm tràn ngập mầu nhiệm. Với con mắt
thiêng liêng, tôi nhìn thấy Đức Giêsu và các thánh Tông Đồ đang ngồi bàn tiệc với Người. Tôi
nghĩ về Phêrô cách đặc biệt: dường như là tôi có thể nhìn thấy ngài, cùng với các tông đồ khác,
đang ngạc nhiên nhìn những hành động của Chúa, lắng nghe những lời của Người với niềm
cảm xúc sâu xa và, với tất cả gánh nặng là sự yếu đuối của mình, đang mở lòng đón nhận mầu
nhiệm được công bố ở đây và sớm được hoàn tất. Đây là những giờ phút của trận chiến quyết
liệt giữa tình yêu ban tặng trọn vẹn chính mình với mầu nhiệm của sự gian ác đang bị cầm giữ
trong sự thù hận. Sự phản bội của Giuđa xuất hiện đây như một biểu tượng cho tội lỗi của con
người. “Đó là đêm tối”, dưới cái nhìn của Thánh sử Gioan (Ga 13,30): giờ của bóng tối, giờ của
chia ly và nỗi buồn vô tận. Tuy vậy, trong những lời đầy xúc động của Đức Kitô, ánh bình minh
đã chiếu sáng: “Thầy sẽ gặp lại anh em và lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em
không ai lấy mất được (Ga 16,22).
- Chúng ta phải không ngừng chiêm ngưỡng lại mầu nhiệm của đêm ấy. Chúng ta phải thường
xuyên hướng tâm trí về Phòng Tiệc ly này, nơi mà chúng ta, những linh mục, có thể cảm nhận
một cách đặc biệt “như ở nhà mình” theo một nghĩa nào đó. Những gì vịnh gia nói về các dân
tộc trong mối tương quan với Giêrusalem cũng có thể nói về chúng ta trong mối tương quan với
Phòng Tiệc ly: “Chúa ghi vào sổ bộ các dân: kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó” (Tv 86,6).
Trong căn phòng thánh thiện này, tôi thấy mình đang tự nhiên hình dung ra anh em ở khắp mọi
miền trên thế giới, với vô vàn khuôn mặt, một số người trẻ hơn, một số người có tuổi, với tất cả
các tâm trạng khác nhau mà anh em đang cảm nghiệm: đối với nhiều người, cám ơn Chúa, đó
là niềm vui và phấn khởi, đối với những người khác có lẽ là đau khổ, mệt mỏi hoặc thất vọng.
Trong tất cả anh em, tôi tôn vinh hình ảnh Đức Kitô mà anh em đã nhận lãnh khi được hiến
thánh, “ấn tín” không thể tẩy xoá được ở trên mỗi một anh em. Đây là một dấu chỉ về tình yêu
đặc biệt mà mỗi linh mục đã được nhận biết và có thể luôn cậy dựa vào đó để tiến bước trong
niềm vui hoặc làm một khởi đầu mới với sự hăng say đã được canh tân, trong niềm hy vọng về
một sự trung thành luôn mãi lớn hơn.
Được sinh ra cho tình yêu
- “Đức Giêsu vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương
họ đến cùng”. Khác với các Tin mừng Nhất Lãm, Tin mừng Thánh Gioan không tường thuật
việc thiết lập bí tích Thánh Thể, bí tích này đã được Đức Giêsu nói trong diễn từ tại Caphanaum
(x. Ga 6,26-65); thay vào đó, dừng lại ở biến cố rửa chân. Còn hơn là một tấm gương khiêm
nhường để chúng ta noi theo, hành động này của Đức Giêsu, gây bối rối cho Phêrô, là một mặc
khải về tính cách triệt để của việc Thiên Chúa hạ mình đối với chúng ta. Trong Đức Kitô, Thiên
Chúa đã “trút bỏ chính mình”, và mang lấy “thân nô lệ” cho đến hạ mình tột độ nhất trên Thập
Giá (x. Pl 2,7), để nhân loại có thể tiến vào cõi sâu thẳm là sự sống đích thực của Thiên Chúa.
Những bài diễn từ quan trọng trong Tin mừng thánh Gioan tiếp theo biến cố rửa chân và một
cách nào đó diễn giải việc ấy, được trình bày như là dẫn nhập về mầu nhiệm hiệp thông của Ba
Ngôi mà Chúa Cha mời gọi chúng ta sống, bằng cách tháp nhập chúng ta vào Đức Kitô nhờ ân
huệ của Thánh Thần. Sự hiệp thông này phải được sống bằng cách tuân giữ điều răn mới:
“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 13,34). Không phải ngẫu
nhiên mà lời nguyện hiến tế là cao điểm của “thần bí” này, vì nó tỏ lộ cho chúng ta Đức Kitô
trong sự hiệp nhất với Chúa Cha, sẵn sàng trở về với Cha qua sự hiến tế chính mình, và chỉ
muốn rằng các môn đệ biết thông phần vào sự hiệp nhất của Người với Chúa Cha: “Như, lạy
Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta (Ga 17, 21).
- Khởi từ nhóm nhỏ các môn đệ nghe các lời này, toàn thể Hội thánh được hình thành, bằng
cách lớn lên qua thời gian và không gian như “một dân tộc được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất
giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần” (Thánh Cyprianô, De Orat. Dom., 23). Sự hiệp
nhất sâu xa của dân tộc mới này không có nghĩa là không có những nhiệm vụ khác nhau và bổ
túc cho nhau trong đời sống. Như thế những người có nhiệm vụ nhân danh Đức Kitô làm lại cử
chỉ mà Đức Giêsu đã làm trong Bữa Tiệc Ly khi Người thiết lập Hi Tế Thánh Thể, “nguồn gốc và
đỉnh cao của toàn bộ đời sống Kitô hữu (Lumen Gentium, 11), được nối kết cách đặc biệt với
các Tông Đồ tiên khởi. Tính bí tích làm cho họ khác biệt do việc nhận lãnh Chức thánh, bảo
đảm rằng sự hiện diện và sứ vụ của họ là duy nhất, không thể thiếu và không thể thay thế
được.
Gần hai ngàn năm đã trôi qua kể từ lúc ấy. Biết bao nhiêu linh mục đã lập lại điều Đức Giêsu đã
làm! Thường họ là những môn đệ, những vị thánh, những vị tử đạo gương mẫu. Làm sao
chúng ta có thể quên, trong Năm Thánh này, nhiều linh mục đã làm chứng cho Đức Kitô bằng
cuộc sống của họ, thậm chí đến đổ máu đào? Việc tử đạo của họ đã đồng hành với toàn bộ lịch
sử của Giáo hội; nó cũng đã đánh dấu thế kỷ vừa qua, một thế kỷ với đặc điểm là có nhiều chế
độ độc tài khác nhau và chống đối Giáo hội. Từ Phòng Tiệc ly, tôi muốn cảm tạ Chúa vì lòng
can đảm của những linh mục này. Chúng ta hãy hướng nhìn về họ và noi theo họ bước theo vết
chân của Người Mục Tử Nhân Lành, “Đấng hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga
10,11).
Kho tàng đựng trong những chiếc bình sành
- Quả thật là trong lịch sử chức linh mục cũng như trong lịch sử của toàn thể Dân Chúa, người
ta đều nhận thấy sự hiện diện tăm tối của tội lỗi. Nhiều lần, sự yếu hèn của con người linh mục
đã che khuất khuôn mặt Đức Kitô trong con người họ. Tại Phòng Tiệc ly đây, tại sao điều đó lại
làm ta ngỡ ngàng? Ở đây không chỉ sự phản bội của Giuđa đạt đến cao điểm, nhưng chính
Phêrô phải đối diện với yếu đuối của mình khi nghe lời tiên báo chua xót về sự khước từ của
ông. Khi chọn những con người giống như nhóm Mười hai, quả thực Đức Kitô không có ảo
tưởng: chính trên sự yếu đuối này của con người mà Người đã đóng ấn bí tích sự hiện diện của
Người. Thánh Phaolô tỏ cho chúng ta biết lý do: “Những kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng
trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ
không phải từ chúng tôi (2Cr 4,7).
Vì thế, dù tình trạng yếu đuối của các linh mục, Dân Thiên Chúa không ngừng đặt niềm tin vào
quyền năng của Đức Kitô đang hoạt động qua thừa tác vụ của họ. Làm sao ta quên không nhắc
lại đây chứng tá rạng ngời của thánh Phanxicô Assisi? Vì lòng khiêm hạ, ngài không muốn trở
nên linh mục, nhưng trong Di chúc, ngài diễn tả niềm tin vào mầu nhiệm Đức Kitô hiện diện
trong các linh mục, khi tuyên bố rằng ngài vẫn chạy đến với các linh mục dầu họ có bách hại
ngài, mà không xét đến tội lỗi của họ. Ngài diễn giải: “Tôi hành động như thế vì tôi không thấy
có gì cụ thể trong thế gian này về Người con tối cao của Thiên Chúa, ngoài Mình và Máu rất
thánh của Người, mà chính các ngài nhận lấy và chỉ các ngài mới được ban phát cho kẻ khác
(Các Nguồn tài liệu phan sinh, số 113).
- Từ nơi này, nơi mà Đức Kitô đã nói những lời thiết lập bí tích Thánh Thể, tôi mời gọi anh em,
hỡi các linh mục thân mến, anh em hãy tái khám phá “quà tặng” và “mầu nhiệm” mà chúng ta
đã lãnh nhận. Để đi vào tâm điểm của nó, chúng ta phải suy niệm chức vụ tư tế của Đức Kitô.
Thật thế, toàn thể Dân Chúa tham dự vào chức tư tế nhờ Phép Rửa. Nhưng Công Đồng
Vaticanô II nhắc nhở chúng ta rằng, thêm vào việc tham dự riêng của mọi người đã chịu phép
rửa, còn có một sự tham dự đặc biệt, có tính cách thừa tác, dầu được liên kết sâu sắc với sự
tham dự thứ nhất, nhưng lại khác biệt trong bản chất (x. Hiến Chế về Hội Thánh, 10). Trong bối
cảnh của Năm Thánh mừng biến cố Nhập Thể, chúng ta có thể đề cập đến chức tư tế của Đức
Kitô từ một viễn cảnh đặc biệt. Năm Thánh mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng mối dây liên kết
chặt chẽ giữa chức tư tế của Đức Kitô và mầu nhiệm con người của Người. Chức tư tế của
Đức Kitô không phải là “ngẫu nhiên”, một nhiệm vụ mà Người đã có thể hoặc không đảm
nhiệm: nhưng nó nằm trong căn tính của Người là Người Con Nhập Thể, là Thiên
Chúa-làm-người. Từ nay trở đi, mối tương quan giữa loài người và Thiên Chúa thông giao một
cách trọn vẹn nhờ Đức Kitô: “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Đây
là lý do tại sao Đức Kitô là một tư tế của một chức linh mục vĩnh cửu và phổ quát, được chức
tư tế của Giao ước thứ nhất tiên báo và chuẩn bị (x. Dt 9,9). Người đã thi hành chức vụ đó một
cách đầy đủ từ giây phút Người ngồi lên ngai của vị Thượng Tế “ngự bên hữu ngai Đấng uy
linh ở trên trời” (Dt 8,1). Từ đó trở đi, chính bản chất của chức tư tế nhân loại đã thay đổi: bây
giờ chỉ có một chức tư tế duy nhất, chức tư tế của Đức Kitô; chức tư tế đó có thể được chia sẻ
và thực thi dưới những cách thức khác nhau.
Sacerdos et Hostia
- Cùng lúc đó, ý nghĩa của hy tế, một hành động tư tế ở mức cao nhất, được đưa đến chỗ
hoàn hảo. Trên đồi Gôngôtha, Đức Kitô đã biến chính cuộc sống mình thành một quà tặng có
giá trị muôn đời, một quà tặng “cứu chuộc” đã mở lại mãi mãi một con đường hiệp thông với
Thiên Chúa, con đường đã bị đóng lại vì tội lỗi. Thư gởi tín hữu Do thái soi sáng mầu nhiệm
này bằng cách đặt lên môi miệng của Đức Kitô những lời thánh vịnh 40: “Chúa đã không ưa hy
lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể… Lạy Thiên Chúa, này con đây… con đến để
thực thi ý Ngài (Dt 10,5-7; x. Tv 40,7-9). Theo tác giả của lá thư, những lời tiên tri này được
Đức Kitô nói khi Người đến thế gian lần thứ nhất. Những lời này diễn tả mầu nhiệm và sứ mạng
của Người. Chúng bắt đầu được thực hiện kể từ chính giây phút Nhập Thể và đạt đến sự hoàn
tất trong hy tế ở Gôngôtha. Kể từ lúc đó trở đi, mọi lễ dâng của linh mục là sự dâng hiến lên
Chúa Cha lễ tế duy nhất của Đức Kitô, đã dâng một lần cho tất cả.
Sacerdos et Hostia! Linh mục và Hy lễ! Khía cạnh hy lễ này là một ấn tín sâu xa của Bí Tích
Thánh Thể; nó cũng là một chiều kích căn bản của chức tư tế của Đức Kitô và vì thế mà cũng
là của chức tư tế của chúng ta. Trong ánh sáng này, chúng ta hãy đọc lại một lần nữa những lời
mà chúng ta đọc mỗi ngày, những lời ấy đã vang lên lần đầu tiên trong Phòng Tiệc Ly này: “Tất
cả các con cầm lầy mà ăn: này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con… Tất cả các con cầm lấy mà
uống: này là chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới, Giao ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và
mọi người được tha tội”. Những lời này chúng ta gặp thấy trong các sách Tin mừng và trong
thư Phaolô, với những hình thức soạn thảo rất tương đồng. Chúng được nói lên trong Phòng
này vào đêm khuya thứ Năm Tuần Thánh. Khi trao ban cho các môn đệ Thân Thể của Người
để ăn và Máu Người để uống, Đức Giêsu đã công bố một sự thật sâu xa về điều mà Người sẽ
phải thực hiện chẳng bao lâu sau đó trên đồi Gôngôtha. Vì trong Tấm Bánh Thánh Thể, chính
Thân Thể được Đức Maria sinh ra và được dâng hiến trên Thập Giá hiện diện.
Ave verum Corpus natum de Maria Virgine,
Vere passum, immolatum in cruce pro homine.
- Làm sao chúng ta lại không quay về với mầu nhiệm này, mầu nhiệm chứa đựng toàn bộ đời
sống Hội thánh? Hai ngàn năm qua, Bí Tích này đã ban lương thực nuôi sống vô vàn tín hữu.
Đó là nguồn suối lớn ban ân phúc. Biết bao vị thánh đã tìm thấy nơi đó không chỉ sự bảo đảm,
mà còn sự nếm trước Nước Trời! Chúng ta hãy để tâm hồn chúng ta bay bổng theo hứng khởi
chiêm ngắm, nhiều tính thi ca và súc tích thần học, đã thúc đẩy thánh Tôma Aquinô ca hát mầu
nhiệm bằng những lời trong bài thánh ca Pange Lingua. Hôm nay trong Phòng Tiệc Ly này,
vang vọng đến tai tôi những tiếng nói của rất nhiều cộng đồng kitô hữu trên toàn thế giới, của
rất nhiều linh mục, những người thánh hiến và những giáo dân trung thành, những người mỗi
ngày đến thờ phượng mầu nhiệm Thánh Thể:
Verbum caro, panem verum verbo carnem efficit,
fitque sanguis Christi merum, et, si sensus
ad firmandum cor sincerum sola fides sufficit.
Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy
- Mầu nhiệm Thánh thể, vì loan truyền và cử hành cái Chết và sự Phục sinh của Đức Kitô
cho đến khi Người lại đến, là trung tâm của đời sống Hội thánh. Đối với chúng ta, nó cũng
mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt, bởi vì nó nằm ở trung tâm thừa tác vụ của chúng ta. Lẽ dĩ
nhiên thừa tác vụ của chúng ta không giới hạn vào việc cử hành bí tích Thánh Thể: đó là một
việc phục vụ bao gồm việc loan báo Lời Chúa, thánh hoá các tín hữu qua các bí tích, và lãnh
đạo Dân Thiên Chúa trong sự hiệp thông và phục vụ. Nhưng bí tích Thánh Thể là điểm mà từ
đó mọi sự phát xuất và mọi sự quay về. Chức linh mục của chúng ta được sinh ra tại Phòng
Tiệc ly cùng với bí tích Thánh Thể. “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Dù được
nói với toàn thể Hội thánh, những lời Đức Giêsu được giao phó như một nhiệm vụ đặc biệt cho
những ai tiếp tục sứ vụ của các Tông đồ đầu tiên. Chính với họ mà Đức Giêsu chuyển trao
hành động mà Người vừa thực hiện – biến bánh thành Mình Người và rượu thành Máu Người-
hành động qua đó Người xuất hiện như là Tư Tế và Hi Lễ. Chính do ý muốn của Đức Kitô mà
kể từ này về sau hành động của Người cũng sẽ trở thành một cách bí tích hành động của Hội
thánh qua bàn tay của các linh mục. Khi nói “hãy làm việc này”, Người không chỉ ám chỉ đến
hành động, nhưng còn đến người được mời gọi hành động; nói cách khác, Người thiết lập chức
linh mục thừa tác. Vì thế chức linh mục trở thành một trong những yếu tố thiết yếu của Hội
thánh.
- Hành động này cần được thực hiện “mà nhớ đến Thầy”: những từ này rất quan trọng. Hành
động Thánh Thể do các linh mục cử hành sẽ làm cho hiện diện trong mọi thế hệ kitô giáo, tại
mọi nơi trên thế giới, hành động được Đức Kitô hoàn tất. Tại bất cứ nơi nào bí tích Thánh Thể
được cử hành, hi tế đổ máu tại Gôngôtha sẽ được làm cho hiện diện trong một cách thức
không đổ máu; nơi đây chính Đức Kitô, Đấng Cứu chuộc trần gian, sẽ hiện diện. “Hãy làm việc
này mà nhớ đến Thầy”. Lắng nghe lại một lần nữa những lời nầy ở bên trong bức tường của
phòng Tiệc ly, thật là tự nhiên khi cố gắng tưởng tượng đến cảm xúc của Đức Kitô. Đây là
những giờ phút bi thảm trước cuộc khổ nạn. Thánh sử Gioan gợi lên sự xúc cảm mãnh liệt
trong những lời của vị Thầy khi chuẩn bị cho các Tông đồ về sự ra đi của Người. Bao buồn bã
trong đôi mắt của họ: “Vì Thầy nói ra các điều ấy, nên lòng anh em tràn ngập nỗi ưu phiền” (Ga
16,6). Nhưng Đức Giêsu lại đoan chắc cùng họ: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy sẽ
đến cùng anh em” (Ga 14,18). Dù Mầu Nhiệm Vượt Qua sẽ đem Người ra khỏi tầm nhìn của
họ, Người sẽ trở nên hiện diện sâu đậm hơn bao giờ hết trong đời sống của họ, “luôn mãi, cho
đến ngày tận thế” (Mt 28,20).
Một cuộc tưởng niệm làm cho hiện diện
- Sự hiện diện của Đức Kitô sẽ được diễn tả bằng nhiều cách thức. Nhưng trong số những
sự hiện diện đó, sự hiện diện của Người trong bí tích Thánh Thể chắc chắn sẽ là cao trọng:
không chỉ là việc hồi tưởng, nhưng là một “tưởng niệm làm cho điều nó tưởng nhớ trở nên hiện
diện; không phải là một sự gợi lên có tính cách biểu tượng của quá khứ, nhưng là sự hiện diện
sống động của Chúa ở giữa các môn đệ của Người. Sự bảo đảm vĩnh viễn cho điều này sẽ là
Chúa Thánh Thần, bởi vì Người luôn tuôn đổ quyền năng trong cuộc cử hành bí tích Thánh Thể
để bánh và rượu có thể trở nên Mình và Máu Đức Kitô. Người cũng chính là Thần Khí, vào buổi
tối ngày Phục Sinh, trong Phòng Tiệc ly này, đã được “thổi hơi” trên các Tông đồ (x. Ga 20,22),
và thấy họ vẫn ở nơi đây, cùng với Đức Maria, vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Rồi chính lúc đó, Người
đã ngự xuống trên họ như tiếng gió mạnh và lưỡi lửa (x. Cv 2,1-4), và đã thúc đẩy họ đi đến tận
cùng trái đất để loan truyền Lời và quy tụ dân Thiên Chúa lại với nhau trong việc “bẻ bánh (x.
Cv 2,42).
- Hai ngàn năm sau khi Đức Kitô ra đời, trong Năm Thánh này, chúng chúng ta đặc biệt cần
nhớ lại và suy niệm chân lý về điều mà chúng ta có thể gọi là sự “sinh ra bí tích Thánh Thể”.
Phòng Tiệc Ly là nơi của sự phát sinh này. Nơi đây đã khởi đầu một sự hiện diện mới của Đức
Kitô cho thế gian, một sự hiện diện diễn ra thường xuyên ở bất cứ nơi nào bí tích Thánh Thể
được cử hành và một linh mục cho Đức Kitô mượn tiếng nói của mình, khi lập lại những lời
thiêng liêng của việc thiết lập này. Sự hiện diện Thánh Thể này đã đồng hành suốt hai ngàn
năm của lịch sử Giáo hội, và nó sẽ thực hiện như vậy cho đến ngày tận thế. Gắn bó chặt chẽ
với mầu nhiệm này đối với chúng ta vừa là niềm vui vừa là nguồn trách nhiệm. Hôm nay chúng
ta muốn ý thức sâu xa hơn về sự hiện diện này, tâm hồn tràn ngập ngưỡng mộ và lòng biết ơn,
và trong tinh thần ấy để bước vào Tam Nhật Phục Sinh cử hành cuộc khổ nạn, cái chết và sự
phục sinh của Đức Kitô.
Điều mà Phòng Tiệc Ly trao ban cho chúng ta
- Các anh em linh mục thân mến của tôi, là những người qui tụ quanh vị mục tử của mình
vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh trong các Nhà Thờ Chính toà, cũng như linh mục đoàn của
Giáo Hội Rôma qui tụ quanh Người Kế Vị của Thánh Phêrô, xin đón nhận những suy tư này,
suy niệm của tôi trong khung cảnh đầy gợi hứng của Phòng Tiệc Ly! Thật khó tìm ra một nơi tốt
hơn để có thể khơi dậy những ý tưởng về cả mầu nhiệm Thánh Thể lẫn mầu nhiệm về chức
linh mục của chúng ta. Chúng ta hãy luôn trung thành với điều mà Phòng Tiệc Ly “trao ban cho
chúng ta, với quà tặng lớn lao của Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Ước gì chúng ta luôn cử hành
bí tích Thánh Thể với lòng sốt sắng. Ước gì chúng ta ở lại thờ phượng lâu giờ và thường xuyên
trước Đức Kitô hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Ước gì chúng ta ngồi học hỏi nơi “trường
học” của bí tích Thánh Thể. Qua nhiều thế kỷ, vô số các linh mục đã tìm được nơi bí tích Thánh
Thể niềm an ủi mà Đức Giêsu đã hứa ban vào buổi tối trong bữa tiệc ly, bí quyết để vượt thắng
sự cô đơn, sức mạnh để gánh vác những đau khổ, lương thực để làm một khởi sự mới sau mỗi
lần nản chí, và nội lực để nâng đỡ quyết định sống trung thành. Chứng tá mà chúng ta trao cho
Dân Thiên Chúa trong việc cử hành Thánh Thể phụ thuộc phần lớn vào mối tương quan cá vị
của chúng ta với bí tích Thánh Thể.
- Chúng ta hãy tái khám phá chức linh mục của chúng ta trong ánh sáng của bí tích Thánh
Thể! Chúng ta hãy trợ giúp các cộng đoàn của chúng ta tái khám phá kho tàng này trong việc
cử hành Thánh Lễ hàng ngày, và đặc biệt trong buổi tụ họp long trọng Ngày Chúa Nhật. Qua
những hoạt động tông đồ của anh em, ước gì tình yêu đối với Đức Giêsu hiện diện trong bí tích
Thánh Thể tăng trưởng mạnh mẽ hơn. Đây là một mục tiêu đặc biệt quan trọng hơn trong Năm
Thánh này. Tôi nghĩ về Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế được tổ chức tại Rôma từ ngày 18 đến 25
tháng sáu, với chủ đề là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian, Tấm Bánh cho
Đời Sống chúng ta. Đại hội sẽ là biến cố trung tâm của Đại Năm Thánh, phải là “một năm đặc
biệt hướng về bí tích Thánh Thể” (Tông thư Tiến về Ngàn Năm thứ ba, số 55). Đại Hội sẽ nhấn
mạnh đến sự liên hệ sâu xa giữa mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời và bí tích Thánh Thể, Bí
tích về Sự Hiện Diện Thực Sự của Đức Kitô. Từ Phòng Tiệc Ly, tôi ôm hôn anh em trong bí tích
Thánh Thể. Ước gì hình ảnh Đức Kitô được các môn đệ bao quanh trong Bữa tiệc ly ban cho
mỗi người chúng ta một sự rung động về tình huynh đệ và sự hiệp thông. Các hoạ sĩ nổi tiếng
đã dùng những tài năng tuyệt vời nhất của mình để vẽ nên gương mặt của Đức Kitô giữa các
Tông Đồ trong cảnh Bữa tiệc ly: làm sao chúng ta có thể quên được kiệt tác của Leonardo?
Nhưng chỉ có các Thánh, bằng sức mạnh mãnh liệt là tình yêu của họ, mới có thể đi vào chiều
sâu của mầu nhiệm này, khi dựa đầu vào ngực Chúa, giống như Gioan đã làm (x. Ga 13,25).
Thực ra ở đây chúng ta vươn đến đỉnh cao của tình yêu: “yêu thương các môn đệ của Người
còn ở trong thế gian, người đã yêu thương họ cho đến cùng”.
- Tôi muốn kết thúc những suy tư này, mà tôi thân ái trao phó cho anh em suy gẫm, bằng
những lời của một kinh cổ xưa:
“Lạy Cha, chúng con cảm tạ Cha,
vì sự sống và hiểu biết
mà Cha đã mạc khải cho chúng con
qua Đức Giêsu, người tôi tớ của Cha.
Vinh danh Cha đến thiên thu vạn đại!
Như tấm bánh chúng con bẻ ra
được gieo vãi khắp nơi trên nương đồng,
nhưng khi thu hoạch lại trở nên một,
cũng vậy, ước gì Giáo Hội được tập hợp lại
vào Vương Quốc của Cha
từ những biên cương xa xôi nhất của địa cầu…
Lạy Chúa toàn năng, Ngài đã tạo dựng vũ trụ
vì vinh quang danh Ngài;
Ngài đã ban cho con người của ăn và của uống
để tăng sức mạnh cho họ
nhờ đó họ có thể dâng lời cảm tạ Ngài;
nhưng Cha đã ban cho chúng con
của ăn và của uống thiêng liêng,
và sự sống muôn đời qua Con của Cha…
Vinh danh Cha đến thiên thu vạn đại!”
(Điđakê 9,3-4; 10,3-4)
Các anh em linh mục thân mến, từ Phòng Tiệc Ly, tôi ôm hôn tất cả anh cách thiêng liêng, và
thân ái ban phúc lành cho anh em.
Giêrusalem, ngày 23 tháng 03 năm 2000.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
THƯ CỦA ĐTC GIOAN PHAOLÔ II GỞI CÁC LINH MỤC
NHÂN THỨ NĂM TUẦN THÁNH 2001
Anh em rất thân mến trong chức linh mục,
Trong ngày Chúa Giêsu trao ban cho Giáo Hội hồng ân bí tích Thánh Thể và cùng với bí tích
nầy Chúa đã thiết lập chức tư tế của chúng ta, tôi không thể nào không gởi đến anh em – theo
như thói quen hiện có – một lời của tình bạn và, tôi có thể nói, một lời của tình thân, với ước
muốn chia sẻ với anh em tâm tình cảm tạ và chúc tụng. Hỡi Sion, hãy chúc tụng Đấng cứu thế;
hãy chúc tụng Đấng là thủ lãnh và là chủ chăn, với những bài ca ngợi ! Đây thật là cao cả mầu
nhiệm mà chúng ta được trở nên thừa tác viên. Mầu nhiệm của tình thương yêu không giới
hạn, bởi vì “sau khi đã yêu thương các môn đệ còn ở trần gian, Người yêu thương họ cho đến
cùng” (Ga 13,1); mầu nhiệm của sự hiệp nhất, một mầu nhiệm từ nguồn mạch sự sống Ba Ngôi
Thiên Chúa đổ xuống trên chúng ta, để làm cho chúng ta được nên “một” trong hồng ân Chúa
Thánh Thần (x. Ga 17); mầu nhiệm của việc phục vụ (diakonia), một việc phục vụ đã đưa Ngôi
Lời làm người cúi xuống rửa chân cho tạo vật, vừa chỉ cho thấy việc phục vụ là con đường
chính của mọi tương quan đích thực giữa con người với nhau : “Như Thầy đã làm gương, anh
em cũng phải làm như vậy…” (x. Ga 13, 15). Một cách đặc biệt, chúng ta đã được biến đổi trở
nên những chứng nhân và những thừa tác viên của mầu nhiệm cao cả nầy.
Thứ Năm Tuần Thánh năm nay là thứ năm tuần thánh đầu tiên sau Năm Đại Toàn Xá. Kinh
nghiệm chúng ta đã trải qua cùng với cộng đoàn chúng ta, trong việc cử hành đặc biệt Tình
Thương Nhân Từ, vào 2000 năm sau khi Chúa Giêsu sinh ra, (kinh nghiệm đó) giờ đây trở
thành sức thức đẩy cho một cuộc hành trình mới. Duc in altum ! Hãy ra khơi ! Chúa mời gọi
chúng ta hãy ra khơi, với lòng tin tưởng vào lời ngài. Chúng ta hãy sử dụng kho tàng quý báu
của kinh nghiệm Năm Thánh, và chúng ta tiến tới trong dấn thân làm chứng cho Phúc Âm với
lòng hăng say mà sự chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô đang khơi dậy trong chúng ta! Như tôi
đã nhấn mạnh trong tông thư “Khởi đầu ngàn năm mới”, cần phải bắt đầu lại từ Chúa Kitô, để
có thể mở rộng tâm hồn chúng ta trong Người, với những tiếng nói “không thể diễn tả được”
của Chúa Thánh Thần (x. Roma 8,26), trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa Cha : “Abba,
lạy Cha!” (Gl 4,6). Cần phải bắt đầu lại từ Chúa Kitô, để khám phá lại nguồn mạch và ý nghĩa
sâu xa của tình huynh đệ : “Như Ta đã yêu thương chúng con, thì chúng con cũng phải yêu
thương nhau như vậy” (Ga 13,34)
Hôm nay, Tôi muốn cám ơn từng người trong anh em vì tất cả những gì anh em đã làm trong
suốt Năm Thánh, ngõ hầu dân Chúa được trao phó cho anh em chăm sóc, có thể ý thức một
cách mạnh mẻ hơn sự hiện diện cứu rỗi của Chúa Phục Sinh. Trong giây phút nầy, tôi cũng
nghĩ đến công việc anh em chu toàn hằng ngày, thường là công việc ẩn khuất, nhưng là công
việc, dù không được đưa lên các trang báo, nhưng làm cho Nước Chúa ngự đến trong các
lương tâm. Tôi xin bày tỏ cùng anh em lòng khâm phục của tôi vì thừa tác vụ tế nhị, kiên trì, đầy
sáng kiến, và cả đôi khi được tưới gội bằng những giọt nước mắt của tâm hồn mà chỉ mình
Thiên Chúa mới nhìn thấy được và “hứng lấy trong chậu” của Ngài (x. Tv 56,9). Tác vụ nầy
càng xứng đáng được kính trọng, khi càng bị thử thách bởi những chống đối của một môi
trường bị trần tục hóa trong nhiều lãnh vực, và đưa hoạt động của linh mục vào cạm bẩy của
sự mệt mỏi và ngả lòng. Anh em biết rõ: sự dấn thân hằng ngày nầy là thật quý giá trước nhan
Thiên Chúa. Nhưng đồng thời, tôi cũng muốn nói lên tiếng nói của Chúa Kitô, Đấng mời gọi
chúng ta hãy phát triển càng ngày càng nhiều hơn mối tương quan của chúng ta với Chúa.
“Đây ta đứng ngoài cửa và gõ” (Kh 3,20). Như những kẻ rao giảng Chúa Kitô, chúng ta được
mời gọi trước hết sống trong sự kết hiệp mật thiết với Người : không thể nào trao ban cho kẻ
khác điều mà chính chúng ta lại không có ! Hiện đang có sự khao khát Chúa Kitô, mặc cho biết
bao hình thức bên ngoài ngược lại, còn phát sinh trong xã hội hiện đại ; sự khao khát nầy xuất
hiện giữa những điều còn rời rạc với nhau của những hình thức tu đức mới, và được ghi nhận
cả khi, trong những vấn đề luân lý quan trọng, chứng tá của Giáo Hội trở thành dấu chỉ gây
mâu thuẫn. Sự khao khát Chúa Kitô nầy dù có ý thức hay không – không thể nào được thỏa
mãn bởi nhữnglời nói trống rỗng. Chỉ những chứng nhân đích thật mới có thể thông truyền một
cách đáng tin lời có sức cứu rỗi.
- Trong tông thư “Khởi đầu ngàn năm mới”, tôi đã nói rằng phần gia tài đích thực của Năm
Thánh là kinh nghiệm của một cuộc gặp gỡ mạnh mẽ hơn với Chúa Kitô. Giữa biết bao khía
cạnh của cuộc gặp gỡ nầy, hôm nay tôi muốn chọn ra, cho những dòng suy tư đây, khía cạnh
sự hòa giải qua bí tích: đây là một khía cạnh nằm ở trung tâm của Năm Toàn Xá, bởi vì được
liên kết chặt chẽ với hồng ân ơn đại xá. Tôi chắc chắn rằng anh em cũng đã kinh nghiệm được
điều nầy tại những giáo hội địa phương. Tại Roma nầy, hiện tượng đông người đến lãnh nhận
bí tích của lòng thương xót, chắc chắn đã là một trong những hiện tượng thấy rõ nhất của Năm
Toàn Xá. Cả những quan sát viên đời thường cũng hết sức bị đánh động bởi điều nầy. Những
tòa giải tội trong Đền Thờ Thánh Phêrô, cũng như tại những Đền Thờ khác, đều được vây
quanh bởi những anh chị em hành hương, đôi khi bị bắt buộc phải đứng cả hàng dài, trong sự
chờ đợi đầy kiên nhẫn cho đến phiên mình được lãnh nhận bí tích. Điều đặc biệt có ý nghĩa là
các bạn trẻ trong tuần lễ họ cử hành Toàn Xá, cũng đã tỏ ra hết sức quan tâm đến với bí tích
nầy.
- Anh em biết rõ rằng, trong những thập niên qua, bí tích hòa giải nầy, vì nhiều lý do, đã phải
trải qua cuộc khủng hoảng. Chính để đối diện với cuộc khủng hoảng nầy mà vào năm 1984 một
THĐGM đã được cử hành; và những kết quả của khóa họp nầy được ghi vào trong Tông Huấn
hậu THĐGM có tựa đề là “Hòa Giải và Đền Tội”. Có lẽ là điều ngây thơ mà nghĩ rằng chỉ gia
tăng việc thực hành Bí Tích của sự tha thứ trong năm Toàn Xá, là đủ bằng chứng cho việc phục
hồi bí tích nầy. Tuy nhiên, đây cũng là một dấu hiệu đáng mừng. Dấu hiệu nầy thôi thúc chúng
ta nhìn nhận rằng những đòi hỏi sâu xa của tâm hồn con người, mà ý định cứu rỗi của Thiên
Chúa muốn đáp lại những đòi hỏi đó không thể nào bị xóa bỏ bởi những khủng hoảng nhất thời.
Cần phải đón nhận dấu hiệu của năm Toàn Xá nầy, như là một dấu chỉ từ trên cao, và xem đó
như là một lý do cho lòng can đảm mới để đề nghị lại ý nghĩa và việc thực hành bí tích Hòa
Giải.
- Nhưng đây không phải chỉ là vấn đề mục vụ mà tôi muốn đặt ra. Thứ năm Tuần Thánh, ngày
đặc biệt của ơn gọi chúng ta, mời gọi chúng ta hãy suy nghĩ trước hết về “thực thể chính mình”,
và nhất là về con đường nên thánh của chúng ta. Chính từ đây mà sẽ được phát sinh sức hăng
say tông đồ. Như thế, khi nhìn vào Chúa Kitô trong bửa Tiệc Ly, nhìn vào việc Người trở nên
“bánh được bẻ ra cho chúng ta, nhìn vào việc Người cúi mình xuống thực hiện việc khiêm tốn
rửa chân cho các môn đệ, thì làm sao chúng ta không cảm nghiệm, như thánh Phêrô xưa, cùng
tâm tình về sự bất xứng trước sự cao cả của hồng ân lảnh nhận? “Chúa sẽ không bao giờ rửa
chân cho con ! (Ga 13,8). Thánh Phêrô đã lầm, khi chối từ cử chỉ của Chúa. Nhưng thánh nhân
có lý khi cảm thấy mình không xứng đáng. Trong ngày tuyệt hảo của tình thương nầy, điều
quan trọng là chúng ta cảm nghiệm được ân sủng chức tư tế, như một sự tràn đầy lòng nhân
từ. Lòng nhân từ là cho đi nhưng không một cách tuyệt đối mà nhờ đó Thiên Chúa đã chọn
chúng ta: “Không phải chúng con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn chúng con (Ga 15,
16). Lòng nhân từ là hạ mình mà nhờ đó Thiên Chúa mời gọi chúng ta hãy hành động như
những đại diện của Ngài, dù biết rằng chúng ta là những kẻ tội lỗi. Lòng nhân từ là sự tha thứ
mà Thiên Chúa không bao giờ từ chối ban cho chúng ta, cũng như xưa Chúa đã không từ chối
ban cho thánh Phêrô, sau lần chối Chúa. Cũng đúng cho chúng ta lời quả quyết của Chúa rằng
“trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn trở lại, nhiều hơn là 99 người công chính
không cần ăn năn” (Lc 15, 7).
- Vậy chúng ta hãy khám phá lại ơn gọi của chúng ta như là “mầu nhiệm của lòng nhân từ”.
Trong Phúc Âm, chúng ta gặp thấy rằng chính với thái độ thiêng liêng nầy mà thánh Phêrô lảnh
nhận tác vụ đặc biệt riêng của ngài. Kinh nghiệm sống của ngài soi sáng cho tất cả những ai đã
lãnh nhận trách vụ tông đồ, trong những cấp bậc khác nhau của Bí Tích Chức Thánh. Chúng ta
nghĩ đến Mẻ Lưới lạ lùng, như được mô tả trong phúc âm theo thánh Luca (5, 1-11). Chúa
Giêsu yêu cầu Phêrô tin tưởng vào Lời Ngài, khi mời Phêrô hãy ra khơi để thả lưới. Trên bình
diện nhân loại, đây là một đòi hỏi gây ngỡ ngàn: làm sao có thể tin được nữa, sau một đêm
không ngủ và mệt nhọc, tiêu hao năng lực để thả lưới mà không thu lượm kết quả nào cả ?
Nhưng cố gắng thi hành lại “theo Lời Chúa chỉ dạy” đã thay đổi tất cả. Cá lưới được thật nhiều,
đến độ gần rách đi cả lưới. Lời Chúa mạc khải quyền năng của Ngài. Sự kinh ngạc phát sinh từ
đó, và cùng đồng thời cũng phát sinh sự lo sợ và hồi hộp, giống như khi chúng ta bất ngờ bị
một luồng sáng cực mạnh chiếu dọi vào, phơi bày mọi giới hạn của mình. Thánh Phêrô thốt lên:
“Lạy Chúa, xin hãy xa con, vì con đây là một người tội lỗi”. Nhưng Phêrô chưa dứt lời thú nhận,
thì lòng nhân từ của Thầy đã mở ra một khởi đầu mới cho Phêrô : “Đừng sợ! từ nay, con sẽ là
kẻ lưới cá con người” (Lc 5,10). Người đánh cá trở thành thừa tác viên của lòng nhân từ. Từ
người đánh cá, trở thành kẻ lưới cá con người !
- Anh em rất thân mến, đó là mầu nhiệm cao cả: Chúa Kitô đã không sợ chọn những thừa tác
viên của Ngài từ những kẻ tội lỗi. Thử hỏi, đây không phải là kinh nghiệm của chính chúng ta
đấy sao ? Chính Phêrô sẽ ý thức mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc đối thoại nóng bổng với Chúa
Giêsu, sau biến cố Phục sinh. Trước khi trao cho Phêrô sứ mạng chăn dắt, Thầy Giêsu đã hỏi
thẳng như sau: Simon con Ông Gioan, con có thương Thầy nhiều hơn những người nầy không
? (Ga 21,15) Người được hỏi là kẻ trước đó vài ngài đã chối Chúa đến ba lần. Người ta hiểu
được giọng khiêm tốn của câu trả lời : “Lạy Chúa, chúa biết tất cả, Chúa biết con yêu mến
Chúa” (Ga 21,17). Chính dựa trên tình thương nầy, một tình thương biết quá rõ về sự mỏng
giòn yếu đuối của mình, một tình thương được tuyên xưng với lòng tin tưởng vừa lo sợ, mà
Thánh Phêrô lảnh nhận tác vụ : “Hãy chăn dắt các chiên Ta” “Hãy chăn dắt các chiên con của
Ta” (Ga 21,15.16.17). Sau nầy, chính dựa trên tình yêu nầy, một tình yêu được Lửa Chúa
Thánh Thần của Ngày Hiện Xuống cũng cố, mà tông đồ Phêrô có thể chu toàn tác vụ đã lãnh
nhận.
- Và thử hỏi cũng không phải trong kinh nghiệm về lòng nhân từ mà ơn gọi của Thánh Phaolô
Tông Đồ được phát sinh, hay sao ? Không ai hơn ngài đã cảm nghiệm sự tuyển chọn nhưng
không của Chúa Kitô. Quá khứ của ngài như là kẻ hung hăng bách hại Giáo Hội, luôn luôn còn
đó trong tâm hồn ngài : “Thật vậy, tôi là kẻ chót cùng nhất trong các tông đồ, và cả không xứng
đáng được gọi là tông đồ, bởi vì tôi đã bách hại giáo hội Chúa (1 Co 15, 9). Tuy nhiên, ký ức
nầy, thay vì làm cho sự hăng say của ngài bị giảm xuống, thì lại như gắn thêm cánh cho nó.
Thánh Phaolô càng được ôm ấp trong lòng nhân từ của Thiên Chúa, thì ngài càng cảm thấy
nhu cầu phải làm chứng cho lònGahân từ đó, và phổ biến nó. Tiếng Nói chạm đến ngài trên con
đường Damas, dẫn đưa ngài vào trung tâm Phúc Âm, và giúp ngài khám phá ra tiếng nói đó
như là tình thươing nhân từ của Thiên Chúa Cha, Đấng hòa giải thế gian lại với mình trong
Chúa Kitô. Trên căn bản nầy, thánh Phaolô sau nầy sẽ hiểu công việc phục vụ tông đồ như là
tác vụ hóa giải. “Tất cả những điều nầy đến từ TC, Đấng đã hòa giải chúng ta lại với Người qua
trung gian Chúa Kitô, và là Đấng đã trao ban cho chúng tôi tác vụ hòa giải. Chính Thiên Chúa là
Đấng đã hòa giải thế gian lại với Ngài trong Chúa Kitô, qua việc không quy trách cho con người
về những lỡi lầm của họ và trao phép cho chúng tôi Lời Hòa Giải” ( 2 Cr 5, 18-19).
Anh em linh mục rất thân mến, chứng tá của hai thánh Phêrô và Phaolô có tích chứa những chỉ
dẫn quý báu cho chúng ta. Những chứng tá nầy mời gọi chúng ta hãy sống hồng ân tác vụ với ý
thức cảm tạ tri ân khôn cùng. Chúng ta không có công gì cả, tất cả đều là ân sũng! Kinh nghiệm
sống của hai thánh tông đồ, đồng thời, dẫn đưa chúng ta đến việc phó thác cho lòng nhân từ
của Thiên Chúa, để với lòng thống hối chân thành, chúng ta dâng cho ngài những sự mỏng
giòn của chgúng ta, và cùng với ơn sũng ngài mà đi lại con đường thánh tiện của chúng ta.
Trong tông thư “Khởi đầu ngàn năm mới”, tôi đã đề nghị sự dấn thân sống thánh thiện như là
điểm đầu tiên của một chương trình khôn ngoan về mục vụ. Dấn thân sống thánh thiện là một
sự dấn thân căn bản của tất cả mọi tín hữu, và đối với chúng ta thì lại càng là một dấn thân căn
bản hơn nữa (x. các số 30-31).
Vì thế, điều quan trọng là chúng ta khám phá lại bí tích hòa giải như là phương thế căn bản cho
sự thánh hóa chúng ta. Đến với anh em linh mục khác, để xin ban cho chúng ta sự xá giải, mà
biết bao lần chính chúng ta đã trao ban cho các giáo dân, việc đó làm cho chúng ta sống sự
thật cao cả và đầy sức an ủi, sự thật được là thành phần của một dân tộc duy nhất, một dân tộc
bao gồm “những kẻ đã được ơn cứu rỗi”, trước khi là một thừa tác viên. Điều mà Thánh
Augustino nói về trách vụ giám mục của ngài, cũng còn có giá trị cho công việc phục vụ của linh
mục. “Nếu thực thể làm kẻ phục vụ cho anh chị em, làm cho tôi lo sợ, thì thực thể làm kẻ sống
cùng với anh chị em, lại an ủi tôi. Tôi là giám mục, để phục vụ anh chị em. Tôi là người kitô để
cùng sống với anh chị em. Danh gọi Giám mục là danh gọi của nguy hiểm; danh gọi kitô là danh
gọi của ơn cứu rỗi. (Bài diễn văn 340,1). Thật là đẹp thay được xưng thú những tội lỗi của
chúng ta, và được nghe những lời dịu dàng, Lời ban cho chúng ta được tràn đầy tình thương
nhân từ và giúp chúng ta bắt đầu lại. Chỉ những ai đã cảm nghiệm được sự dịu dàng của vòng
tay ôm ấp của Thiên Chúa Cha, Đấng được phúc âm mô tả trong sụ ngôn về đứa con đi hoang
– “người cha chạy đến ôm cổ con và hôn”—( Lc 15,20).. chỉ những ai đã cảm nghiệm được điều
đó, thì mới có thể thông truyền cho kẻ khác cùng một sức nóng ấm, khi từ một kẻ lảnh nhận sự
tha thứ, chúng ta được trở thành thừa tác viên trao ban sự tha thứ.
- Chúng ta hãy cầu xin cùng Chúa Kitô, trong ngày thứ năm tuần thánh nầy, giúp chúng ta
khám phá lại, cho chính bản thân chúng ta, cách trọn đầy, khám phá nét đẹp của bí tích Hòa
Giải. Thử hỏi không phải Chúa Giêsu đã giúp cho Phêrô khám phá ra điều nầy hay sao? “Nếu
Thầy không rửa cho con, thì con sẽ không có phần nào với Thầy” (Ga 13, 8). Chắc hẳn, Chúa
Giêsu không quy chiếu trực tiếp về bí tích Hòa Giải, nhưng cách nào đó ngài nhắc đến bí tích
nầy, vừa nhắc đến tiến trình thanh tẩy, mà cái chết cứu rỗi của ngài, có thể mở ra và nhắc đến
nhiệm cuộc bí tích được áp dụng cho mỗi người qua các thời đại. Anh em linh mục thân mến,
chúng ta hãy năng đến với bí tích nầy, ngỏ hầu Chúa có thể thanh luyện liên lỉ tâm hồn chúng
ta, vừa làm cho chúng ta trở nên ít bất xứng hơn với những mẫu nhiệm, mà chúng ta cử hành.
Được gọi trình bày dung mạo của Đấng là Chủ chăn nhân lành, và do đó, có cùng một tâm hồn
của Chúa Kitô, hơn ai hết, chúng ta phải lấy làm của mình, lời khẩn cầu tha thiết sau dây của
tác giả thánh vịnh 50 : “Lạy Chúa, xin hãy tạo dựng nơi con một quả tin mới, xin hãy canh tân
tinh thần cương nghị trong người con (Tv 51,12). Bí tích Hòa Giải, mà không một người kitô
nào có thể bỏ qua, là sự nâng đỡ, định hướng và thuốc chữa lành của đời linh mục.
- Linh mục nào sống trọn vẹn kinh nghiệm vui tươi của bí tích hòa giải, thì sẽ tự nhiên chia sẻ
với những anh chị em tín hữu lời của thánh tông đồ Phaolô như sau : Chúng tôi hành sử như
những sứ giả của Chúa Kitô, dường như thể Thiên Chúa khuyến dụ qua chúng tôi. Nhân danh
Chúa Kitô, chúng tôi khẩn xin anh chị em : Hãy để cho mình được hòa giải với TC” (2 Co 5, 20).
Nếu cuộc khủng hoảng về bí tích hòa giải, mà tôi mới nhắc đến trên đây, tùy thuộc vào nhiều
yếu tố từ việc giảm bớt ý thức về tội lỗi cho đến nhận thức ít đi về nhiệm cuộc bí tích mà nhờ đó
TC cứu rỗi chúng ta— thì có lẽ chúng ta phải nhìn nhận rằng đôi khi có thể xảy ra điều bất lợi
cho bí tích Hòa Giải, vì do bởi lòng hăng say của chúng ta bị yếu đi, hoặc vì thiếu thái độ sẵn
sàng trong việc thi hành thừa tác vụ tế nhị và đòi hỏi nầy. Hơn bao giờ hết, cần phải làm dân
Chúa khám phá lại điều nầy. Cần phải nói lên với sự cứng rắn và xác tín rằng: chính bí tích Đền
Tội là con đường thông thường, để lảnh nhận sự tha thứ và sự tha các tội nặng đã phạm từ khi
rửa tội về sau. Cần phải cử hành bí tích nầy trong cách thức tốt nhất có thể, trong những hình
thức phụng vụ đã được soạn trước, bởi vì nó duy trì dung mạo trọn vẹn của nó như là việc cử
hành lòng nhân từ của TC.
- Để cho chúng ta có lại niềm tin tưởng vào khả thể của một cuộc phục hưng Bí Tích Hòa
Giải nầy, không những có sự trổ sinh, mặc dù giữa biết bao là điều mâu thuẫn, (không những
có sự trổ sinh) một nhu cầu khẩn thiết mới về tu đức tại nhiều môi trường xã hội, mà còn có cả
nhu cầu sống động cần có gặp gỡ giữa người với người, một nhu cầu gặp gỡ càng ngày càng
trở nên mạnh mẽ hơn nơi nhiều người, như là một phản ứng trước một xã hội vô danh và bỏ
mất cá nhân tính, một xã hội thường làm cho con người sống cô đơn trong nội tâm mình, cả khi
con người đó đang sống giữa những tương quan do địa vị tạo ra. Chắc chắn rằng, việc xưng tội
trong bí tích Hòa Giải không được lẫn lộn với việc thực hành của sự nâng đỡ nhân bản hoặc
của việc chữa trị tâm lý. Tuy nhiên, người ta cũng không nên coi nhẹ sự kiện là, nếu được sống
thực hành cách tốt đẹp, thì bí tích Hòa Giải chắc chắn có chu toàn một vai trò “nhân bản hóa”,
được liên kết với giá trị hàng đầu của việc hòa giải với TC và với Giáo Hội. Điều quan trọng là,
trên bình diện nầy, thừa tác viên của sự hòa giải chu toàn tốt trách vụ của mình. Khả năng của
thừa tác viên trong việc đón nhận, lắng nghe, đối thoại, thái độ sẵn sàng luôn luôn, đó là những
yếu tố thiết yếu ngõ hầu tác vụ hòa giải có thể điuợc thể hiện với trọn cả giá trị của chúng. Việc
rao giảng những đòi hỏi tận căn của Lời Chúa một cách trung thành, và không bao giờ e ngại,
cần luôn được đi đôi với sự thông cảm sâu xa và sự tế nghị, noi theo thái độ của Chúa Giêsu
đối với những kẻ tội lỗi.
- Tiếp thêm, còn cần phải mặc cho việc cử hành phụng vụ Bí Tích hòa giải một tầm quan
trọng cần thiết. Bí Tích Hòa giải nằm bên trong chiều kích sự hiệp thông, đặc tính của giáo hội.
Chính tội lỗi sẽ không được hiểu cho đến tận cùng, nếu nguời ta chỉ hiểu nó một cách “cá nhân
riêng rẽ”, mà quên rằng tội lỗi có liên quan không thể tránh được với toàn thể cộng đoàn và làm
cho mức độ thánh thiện của cộng đoàn bị giảm xuống. Hơn nữa, việc cống hiến sự tha thứ diễn
tả mầu nhiệm của tình liên đới thiêng liêng; và ý nghĩa của bí tích hòa giải dựa trên sự hiệp
nhất sâu xa giữa Chúa Giêsu thủ lãnh và những chi thể của Người. Làm cho người ta khám
phá lại khía cạnh “cộng đồng” của bí tích Hòa Giải, cả nhờ qua những cử hành nghi thức thống
hối cộng đồng với kết thúc bằng việc xưng tội và giải tội cá nhân, là điều thật quan trọng, bởi vì
việc cử hành đó cho phép tín hữu lĩnh hội tốt hơn hai chiều kích của sự hỏa giải và làm cho tín
hữu dấn thân nhiều hơn sống con đường thống hối riêng, với trọn cả sự phong phú đầy sức tái
sinh của nó.
- Còn một vấn đề căn bản khác nữa là việc giảng dạy giáo lý về ý thức luân lý và về tội lỗi ;
đây là một việc giảng dạy giáo lý làm cho người ta ý thức rõ ràng hơn về những đòi hỏi của
phúc âm trong đặc tính tận căn của nó. Buồn thay có một khuynh hương muốn giảm nhẹ tới
mức tối thiểu, cản trở không cho Bí Tích mang lại tất cả những kết quả mong muốn. Đối với
nhiều tín hữu, nhận thức về tội không được căn cứ trên phúc âm, nhưng trên những “ước lệ
chung”, trên quy phạm của xã hội học, làm cho ngưởi ta nghĩ rằng mình không có trách nhiệm
riêng về những điều mà tất cả đều làm, nhất là khi những điều đó được luật dân sự cho phép.
Công việc rao giảng phúc âm của ngàn năm thứ ba cần phải lưu ý đến tính cách khẩn thiết phải
trình bày sứ điệp phúc âm cách sống động, trọn đủ, và đòi hỏi. Đời sống kitô mà chúng ta nhắm
đến, không thể nào được rút gọn về việc dấn thân bình thường sống liêm chính theo những tiêu
chuẩn xã hội học, nhưng cần phải là một cố gắng thật sự tiến đến sự thánh thiện. Chúng ta cần
phải đọc lại với niềm hăng say mới, chương V của hiến chế tín lý Ánh Sáng muôn dân, nói về
ơn gọi phổ quát mọi tín hữu sống thánh thiện. Sống làm người kitô, có nghĩa là lãnh nhận món
quà của “ân thánh hóa”, một ơn không thể nào không được thực hiện ra trong sự dấn thân của
cá nhân sống phù hợp với ơn ban nầy trong cuộc sống hằng ngày. Không phải là việc ngẫu
nhiên, khi tôi cố gắng trong những năm qua cổ võ trên bình diện rộng rãi hơn, việc nhìn nhận
sự thánh thiện, trong mọi môi trường trong đó sự thánh thiện được thể hiện, ngỏ hầu có thể
cống hiến cho tất cả mọi nguời kitô những kiểu mẫu sống thánh thiện khác nhau, và ngõ hầu tất
cả được nhớ lại là mình đã được đích danh gọi sống theo cùng một lý tưởng thánh thiện.
- Anh em rất thân mến, chúng ta hãy bước tới, trong niềm vui của thừa tác vụ của chúng ta,
vừa biết rõ rằng có hiện diện bên cạnh chúng ta Đấng đã mời gọi và không bỏ rơi chúng ta.
Niềm xác tín về sự hiện diện của Người nâng đỡ và an ủi chúng ta. Trong ngày thư năm tuần
thánh, chúng ta còn cảm thấy sự hiện diện nầy cách sống động hơn nữa, và với niềm cảm
động, chúng ta chiêm ngắm Giờ mà Chúa Giêsu, nơi phòng Tiệc Ly, trao ban cho chúng ta
chính Người trong hình bánh và hình rượu, vừa thực hiện trước, một cách bí tích, hy tế của
thập giá. Năm 2000 vừa qua, tôi đã viết thơ cho anh em từ nơi Phòng Tiệc Ly, nhân dịp viếng
thăm Thánh Địa. Làm sao có thể quên được giây phút cảm động đó ? Hôm nay, Tôi sống lại
điều đó, với sự ưu buồn vì hoàn cảnh đau thương như thế của miền đất của Chúa Kitô. Cuộc
hẹn thiêng liêng của chúng ta vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh còn nơi đó, nơi Phòng Tiệc Ly,
trong khi mà quanh những vị giám mục, trong những nhà thờ chính toà trên khắp thế giới,
chúng ta sống mầu nhiệm của Mình và Máu Chúa Kitô, và chúng ta tưởng nhớ đến những
nguồn gốc của chức tư tế của chúng ta, với lòng biết ơn. Trong niềm vui của hồng ân bao la mà
chúng ta đã cùng nhận lãnh chung, Tôi ôm hôn anh em tất cả và chúc lành cho anh em.
Từ Vatican, ngày 25 tháng 3,
Chúa nhật IV Mùa Chay, năm 2001,
Năm thứ 23 triều đại giáo hoàng của tôi.
Gioan Phaolô II (ký tên).
(Bản chuyển ngữ Đài CLAC) Msgr. Peter NGUYỄN VĂN TÀI
Bài Giáo Lý ĐTC ngày Thứ Tư Tuần Thánh 11/04/2001
MỘT THỜI GIAN ĐỂ HỌC YÊU NHƯ CHÚA GIÊSU ĐÃ YÊU
- Chúng ta đang sống trong ngày áp Tam Nhật Vượt Qua, đã trầm mình trong bầu khí thiêng
liêng của Tuần Thánh. Từ ngày mai cho đến Chúa Nhật, chúng sẽ sống những ngày phụng vụ
nhắc chúng ta về mầu nhiệm thương khó, chết và sống lại của Chúa. Trong các bài giảng của
mình, các Giáo Phụ qui chiếu cách riêng tới những ngày này, những ngày mà, như thánh
Athanase nhận xét, đưa chúng ta vào “trong thời gian này, thời gian dẫn dắt và làm cho chúng
ta biết một khởi đầu mới, đó là ngày Vượt Qua thánh, ngày Chúa bị giết”. Như vậy ngài diễn tả
thời gian chúng ta đang sống, trong các Thơ phục sinh của ngài (Lett. 5, 1-2; PG 26, 1397).
Kinh Tiền Tụng Chúa Nhật Phục Sinh tới chúng ta sẽ hát to “đã sống lại để phục hồi sự sống
cho chúng con”. Tại trung tâm của Tam Nhật thánh này là “mầu nhiệm của một tình yêu không
bờ bến”, nghĩa là, mầu nhiệm Chúa Kitô Đấng, “vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở
thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1). Tôi đã đề nghị lần nữa mầu nhiệm áp
đảo và dịu ngọt với các linh mục trong thơ tôi đã gởi cho họ, như tôi làm hằng năm, nhân dịp
ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Tôi cũng mời anh chị em suy nghĩ về cũng một tình yêu, dọn mình
sống xứng đáng những giây phút cuối cùng của Chúa Giêsu ở trần gian. Ngày mai chúng ta sẽ
vào phòng Tiệc Ly để lãnh hồng ân đặc biệt Thánh Thể, chức Linh Mục và điều răn mới. Trong
ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta sẽ đi trên con Đường Thương Khó, dẫn chúng ta tới núi
Sọ nơi Chúa Kitô sẽ hoàn tất hy tế của Người. Trong ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta sẽ
thinh lặng chờ đợi được dẫn vào giờ Canh thức trọng thể Phục Sinh.
- “Người thương yêu họ đến cùng”. Những lòi nói này của thánh Gioan Tin mừng diễn tả và
định tính chất cách đặc biệt cho phụng vụ ngày mai, ngày Thứ Năm Thánh, phụng vụ gồm có
việc cử hành lễ Dầu buổi sáng và Thánh Lễ Tiệc Ly của Chúa buổi chiều mở màn Tam Nhật
Thánh. Thánh Thể là dấu chỉ hùng hồn của tình yêu trọn vẹn, tự nguyện, quảng đại này, và
cung cấp cho mỗi một người hưởng niềm vui sự hiện diện của Người, Đấng ban cho chúng ta
cũng được khả năng yêu “cho đến cùng” như Người. Tình yêu mà Chúa Giêsu đề nghị với các
môn đệ Người thì có tính đòi hỏi. Trong cuộc họp mặt này của chúng ta, chúng ta lại nghe tiếng
vọng trong các lời nói của thánh Matthêô Tin Mừng: “Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người
ta xỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng
dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt. 5, 11-12). Cho dù ngày này, yêu “cho tới cùng” có
nghĩa là sẵn sàng giáp mặt với sự kiệt sức và khó nhọc vì Danh Chúa Kitô. Điều đó có nghĩa là
không sợ những sỉ nhục và bắt bớ, và sẵn sàng “thương yêu kẻ thù anh em và cầu nguyện cho
những kẻ bắt bớ anh em” (Mt. 5. 44). Tất cả những sự này là một hồng ân của Chúa Kitô, Đấng
đã dâng hiến mình cho mọi người như vật bị hy sinh trên bàn thờ thập giá.
3.” Người thương họ cho đến cùng”. Từ phòng Tiệc Ly cho tới đồi Golgotha: Suy tư của chúng
ta đưa chúng ta tới núi Sọ, nơi chúng ta chiêm ngắm một tình yêu mà sự hoàn thành là hồng ân
sự sống. Thập giá là dấu rõ ràng của mầu nhiệm này, nhưng đồng thời, và vì điều này, Thập giá
trở nên một biểu tượng thách đố và quấy rầy các lương tâm. Khi chúng ta cử hành sự Thương
Khó của Chúa ngày Thứ Sáu sắp tới, và tham gia đi Đàng Thánh Giá, chúng ta sẽ không thể
quên quyền lực của tình yêu này, tình yêu tự trao mình không hạn định. Trong Tông thư kết
thúc Đại Năm Thánh năm 2000, tôi đã viết: “Khi chiêm ngắm gương mặt Chúa Kitô, chúng ta
đối diện với một phương diện nghịch lý nhất của mầu nhiệm Người, khi mầu nhiệm ấy xuất hiện
trong giờ sau hết của Người, trên Thập giá. Mầu nhiệm trong mầu nhiệm, trước mầu nhiệm
này, chúng ta chỉ phải sắp mình thờ lạy” (Khởi đầu Thiên Niên kỷ Mới,” (25). Và đây là một thái
độ nội tâm hợp lý nhất để chuẩn bị sống cái ngày kỷ niệm sự thương khó, sự đóng đinh và sự
chết của Chúa Kitô.
- “Người thương yêu họ cho đến cùng”. Hy sinh cho chúng ta trên Thập Giá, Chúa Giêsu sống
lại và trở thành hoa quả đầu mùa của tạo vật mới. Chúng ta sẽ sống ngày thứ Bảy Tuần Thánh
trong sự chờ đợi im lặng để gặp được Đấng Phục Sinh, đang khi suy gẫm về những lời thánh
Phaolô Tông đồ: “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, […] rồi Người
được mai táng, […] và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh” (1 Cr 15, 3-4). Như
vậy, chúng ta mới có khả năng chuẩn bị tốt hơn để mừng trọng thể Vọng Phục Sinh, khi ánh
sáng chiếu sáng của Chúa phục sinh sẽ bừng sáng lên giữa đêm. Xin Đức Maria, Nữ Đồng
Trinh luôn trung thành bên Con mình, đồng hành với chúng ta trong quãng cuối cùng của đoạn
đường sám hối, cách riêng trong những ngày Thương Khó. Xin Mẹ dạy chúng con yêu “cho
đến cùng”, đi theo những bước chân Chúa Giêsu, Đấng cứu thế gian bằng sự chết và phục
sinh của Người.
Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ.
Thơ gởi các linh mục của Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II
ngày thứ Năm Tuần Thánh – 28-3-2002.
Thưa các anh em linh mục quý mến.
- Cha cảm động sâu xa gởi tới anh em lá thơ truyền thống Thứ Năm Tuần Thánh này, khi cha
ngồi bên anh em như ngày xưa bên bàn tiệc ly ở phòng trên lầu Chúa Giêsu đã cử hành với
các Tông đồ bí tích Thánh Thể đầu tiên. Bí tích này là một quà tặng cho toàn thể Hội Thánh,
quà tặng đó cho phép Ngài hiện diện thực sự trong các nhà chầu trên toàn thế giới, mặc dầu
còn bị che khuất bởi các dấu chỉ nhiệm màu. Trước sự hiện diện độc nhất này, Hội Thánh cúi
đầu thờ lạy mà đọc rằng : “Con thành tâm thờ lạy Chúa. Thiên Chúa ẩn mình (Adoro te devote,
latens Deitas). Hội Thánh không ngừng xúc động ngây ngất tinh thần như các thánh xưa. Và
như cô dâu, Hội Thánh quây quần bên nhau, tuyên xưng lòng tin và lòng yêu mến thiết tha :
“Kính chào, Thân thể chân thật đã được sinh ra bởi Đức Trinh nữ Maria (Ave, verum Corpus
natum de Maria Virgine). Chúa Giêsu trong phòng tiệc ly đã liên kết một bổn phận riêng cho các
Tông đồ và các Đấng kế vị với món quà hiện diện của Ngài. Món quà biến Ngài thành bánh
nuôi sống chúng ta trong hiến tế cao cả. Từ lúc ấy trở đi, là Tông đồ của Chúa Giêsu, các Giám
mục và linh mục chia sẻ sứ vụ, tham dự vào khả năng hành xử trong Ngôi vị Chúa Giêsu là
Đầu (in persona Christi Capitis). Khả năng này tỏ hiện rõ ràng nhất khi chúng ta cử hành bữa
ăn hy sinh Mình và Máu Thánh Chúa. Lúc ấy Linh mục cho Chúa Giêsu mượn dung mạo và
tiếng nói mà rằng : “Hãy làm việc này mà nhớ đến ta (Lc 22,19). Anh em linh mục thân mến, ơn
gọi này của chúng ta lạ lùng biết bao. Thực sự chúng ta có thể nhắc lại với tác giả thánh vịnh :
“Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho ? Tôi xin nâng chén mừng
ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa” (Τν 116,12-13).
- Lại một lần nữa, khi vui mừng suy niệm hồng ân này, năm nay cha nói với anh em về một
khía cạnh đặc biệt của sứ vụ chúng ta, mà năm trước Cha đã lưu ý anh em cũng vào khoảng
thời gian này. Cha tin rằng nó đòi hỏi suy tư nhiều hơn. Cha có ý nói về sứ vụ mà Thiên Chúa
đã trao cho chúng ta để trình bày Ngài không chỉ trong bí tích Thánh Thể, nhưng còn trong bí
tích Hòa Giải. Giữa hai bí tích này có mối tương quan sâu thẳm. Bí tích Thánh Thể, chóp đỉnh
của nhiệm cục bí tích đồng thời là nguồn mạch chung : một nghĩa nào đó, mọi bí tích đều chảy
ra từ bí tích Thánh Thể và quy hướng về bí tích này. Điều này đúng đặc biệt đối với bí tích
tưởng nhớ về sự tha thứ của Thiên Chúa, Người đón mời tội nhân trở về trong vòng tay ôm ấp
của Người. Đúng thật rằng như là sự tái diễn hy lễ của Đức Kitô, bí tích Thánh Thể cũng phục
vụ ơn giải thoát chúng ta khỏi tội. Giáo lý Giáo Hội Công Giáo nhắc nhớ chúng ta : “Bí tích
Thánh Thể không thể kết hợp chúng ta với Đức Kitô mà lại không đồng thời thanh tẩy chúng ta
khỏi các tội đã phạm, và giữ ta khỏi tội về sau (x. GLGHCG số 1303). Tuy thế, trong nhiệm cục
cứu độ theo ước nguyện của Đức Kitô, quyền năng này, trong khi trực tiếp thanh tẩy chúng ta
khỏi các tội nhẹ thì chỉ gián tiếp thanh tẩy các tội trọng, mà nó làm tổn thương tận gốc rễ mối
tương giao của người Kitô hữu với Thiên Chúa và với sự hiệp thông của người đó với Giáo
Hội. Giáo lý Giáo Hội Công Giáo nói tiếp, bí tích Thánh Thể “không được dành để tha thứ tội
trọng. Đây là việc riêng của bí tích Hòa Giải. Bí tích Thánh Thể là bí tích của những người đang
hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội” (x. GLGHCG số 1395). Khi nhấn mạnh về sự thật này, Giáo
Hội không có ý đi lạc khỏi vai trò của bí tích Thánh Thể. Ý định của Giáo Hội là giữ lấy ý nghĩa
của bí tích này trong mối tương quan với nhiệm cục bí tích như sự khôn ngoan cứu độ của
Thiên Chúa thiết lập. Đó là điều mà thánh Phaolô Tông đồ xác quyết rõ ràng khi người viết cho
tín hữu Côrintô : “Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng
phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật
vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình.” (1
Cr 11,27-29). Hợp ý với lời khuyên nhủ của thánh Phaolô là nguyên tắc này : “người nào biết
mình phạm tội trọng, phải lãnh nhận bí tích hòa giải trước khi tiến lên rước lễ” (x. GLGHCG số
1385).
- Anh em thân mến trong chức linh mục. Cha cảm thấy nhu cầu khẩn thiết phải thúc bách anh
em như cha đã làm năm qua, là khám phá lại cho chính mình cũng như giúp những anh em
khác nhận ra cái đẹp của bí tích Hòa Giải. Trong các thập niên gần đây, vì nhiều lý do khác
nhau, bí tích này đã trải qua cơn khủng hoảng. Hơn một lần, cha đã kêu gọi sự chú tâm đến sự
kiện này, thậm chí làm một đề tài về bí tích này cho Thượng hội đồng giám mục, và suy tư của
các giám mục, cha đã trình bày trong tông huấn “sám hối và hòa giải” (Reconciliatio et
Paetitentia) sau đó. Mặt khác, cha không thể không vui mừng khi nhận thấy có những dấu hiệu
tích cực, dấu hiệu đặc biệt trong Năm thánh, đã cho thấy bí tích này khi được trình bày và cử
hành cách thích hợp sẽ gây sự thu hút rộng lớn, ngay cả trong giới trẻ. Sự thu hút của bí tích
này được tăng lên bởi nhu cầu tiếp xúc cá nhân, nhu cầu này ngày càng hiếm trong không gian
nhộn nhịp của xã hội kỹ thuật hôm nay, nhưng chính vì lý do này mà nhu cầu tiếp xúc cá nhân
ngày càng được kinh nghiệm như một nhu cầu sống còn. Chắc chắn, nhu cầu này có thể được
đáp ứng bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng chúng ta chẳng thể thất bại khi nhận ra rằng bí
tích Hòa Giải sẽ là câu trả lời tuyệt vời cho nhu cầu này – nếu như chúng ta không lầm lẫn nó
với các hình thức chữa bệnh tâm lý khác ? Nó được thực hiện bằng cách đưa hối nhân tiếp xúc
với lòng thương xót Chúa thông qua gương mặt thân ái của một người anh em. Vâng, sự khôn
ngoan của Chúa thật vĩ đại, khi thiết lập bí tích này, Ngài đã thỏa mãn nhu cầu liên lỉ và sâu xa
của trái tim con người. Chúng ta được tuyển chọn để làm những kẻ diễn dịch đầy yêu thương
và thông tuệ của sự khôn ngoan này, qua tiếp xúc ngôi vị với các anh chị em chúng ta trong bí
tích Hòa Giải. Về phương diện này, cha ước mong lặp lại rằng hình thức thông thường khi cử
hành bí tích là cử hành cá nhân, việc xưng tội chung theo hình thức cộng đồng chỉ hợp pháp
trong những trường hợp hết sức cá biệt. Hình thức giải tội chung này đòi hỏi những điều kiện
nào thì đã quá rõ, nhưng có lẽ chúng ta nên nhớ rằng để việc xưng tội chung được thành sự thì
các tín hữu phải có ý xưng riêng các tội trọng của mình ngay sau đó (x. GLGHCG 1483).
- Với sự vui mừng và tin tưởng, chúng ta hãy tái khám phá bí tích này. Trước hết hãy kinh
nghiệm cho chính mình, như là một nhu cầu sâu sắc và như là một ơn thánh mà chúng ta hằng
tìm kiếm để phục hồi sức lực và nhiệt tâm trong hành trình thánh thiện và sứ vụ của mình.
Cùng lúc, chúng ta hãy cố gắng hết sức để trở nên các thừa tác viên thực sự của lòng thương
xót Chúa. Chúng ta biết rằng trong bí tích này, cũng như trong các bí tích khác, chúng ta được
kêu gọi để làm tác nhân của ơn thánh, ơn thánh không phải từ chúng ta, mà từ trời và hoạt
động do sức mạnh riêng của nó. Nói cách khác – và đây cũng là một trách nhiệm lớn – Thiên
Chúa tin cậy vào chúng ta, vào khả năng và sự trung tín của chúng ta, để thực hiện những kỳ
quan của Ngài trong trái tim con người. Điều quan trọng là tín hữu phải có kinh nghiệm cao độ
về diện mạo Chúa Kitô, Đấng chăn chiên lành trong bí tích Hòa Giải hơn bất kỳ bí tích nào
khác. Vì thế, cho phép cha nói rõ hơn với anh em về đề tài này. Hãy liên tưởng đến hết mọi nơi
– Nhà thờ chánh tòa, nhà thờ xứ, đền thánh hay bất kỳ nơi đâu – anh em hằng ngày đang cử
hành bí tích này. Cha nhớ đến các trang sách Phúc âm mạc khải trực tiếp nhất dung mạo
thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta chẳng thể bỏ qua cuộc gặp gỡ đầy cảm động giữa người
cha tha thứ và đứa con hoang đàng. Hay hình ảnh con chiên lạc đã được tìm thấy mà người
chủ chăn vui mừng vác trên vai ? Cái ôm hôn của người cha và nỗi vui mừng của người chủ
chiên phải được tỏ hiện rõ nét nơi mỗi anh em, anh em thân mến, khi hối nhân đến xin anh em
ban bí tích hòa giải cho họ. Để đưa ra một vài khía cạnh đặc thù của cuộc đối thoại có tính cứu
độ duy nhất, đó là bí tích Giải Tội, Cha thích sử dụng hình ảnh Thánh kinh về cuộc gặp gỡ giữa
Chúa Giêsu và ông Gia-kêu (Lc 19,1 -10). Đối với Cha, có sự giống nhau giữa cuộc gặp gỡ này
và việc cử hành bí tích của lòng thương xót Chúa. Khi theo dõi câu chuyện ngắn ngủi nhưng
mạnh mẽ này, chúng hãy cố gắng nắm bắt lấy trong diện mạo và lời nói của Chúa Giêsu, tất cả
mọi sắc thái khôn ngoan tự nhiên cũng như siêu nhiên. Để rồi đến lượt chúng ta cũng phải cố
gắng chuyển thông cho hối nhân, nếu như bí tích hòa giải được cử hành cách hoàn hảo nhất
có thể được.
- Cứ như Kinh thánh trình bày, cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông Gia-kêu xem ra ngẫu
nhiên. Chúa Giêsu vào thành Jerico, qua các đường phố với đám đông theo sau (Lc 19,3). Ông
Gia-kêu trèo lên cây Sung vì tò mò để xem cho tỏ hơn. Đôi khi việc Chúa gặp gỡ con người
cũng dường như bất ưng. Nhưng trong chương trình của Thiên Chúa, chẳng có chi là tình cờ.
Bị bao vây bởi những cảnh huống mục vụ rất đa dạng, đôi khi chúng ta mất kiên nhẫn bởi các
tín hữu rất ít quan tâm đến đời sống bí tích, và ngay cả khi họ xin lãnh nhận, họ cũng rất hời
hợt. Những ai từng nghe giải tội nhiều, từng gặp người ta đến xưng tội thì hẳn đã bực bội bởi
một số hối nhân đến tòa cáo giải mà chẳng có ý tưởng chi về điều họ xin lãnh nhận. Một số đến
chỉ để được lắng nghe. Một số khác xin lời khuyên về vấn đề chi đó trần tục. Số khác nữa vì
nhu cầu tâm lý để giải tỏa gánh nặng tội lỗi. Nhưng đa phần là để lập lại mối tương giao với
Thiên Chúa, tuy nhiên họ lại không ý thức những bổn phận sau đó. Họ xét mình sơ sài bởi họ
chẳng có mấy kiến thức về giáo lý mà Phúc âm đòi buộc. Cha giải tội nào mà đã chưa từng có
kinh nghiệm như vậy ? Đúng đây là trường hợp của ông Gia-kêu. Mọi sự xảy đến cho ông ta thì
hoàn toàn mới mẻ. Nếu không có sự cố Chúa Giêsu bất ưng nhìn lên ông ta, thì ông ta mãi mãi
là một khán giả im lặng lúc Chúa Giêsu đi qua các đường phố của Jerico ! Có lẽ Chúa chỉ vượt
qua, chứ không thâm nhập vào đời sống của ông Gia-kêu. Ông ta chẳng có ý tưởng gì về điều
mà sự tò mò đã gây nên cho ông : Lòng thương xót Chúa đã đi trước ông, lôi cuốn ông và thay
đổi đến tận đáy trái tim ông. Anh em linh mục thân mến. Với các hối nhân trong tâm trí, chúng
ta hãy đọc lại trình thuật lạ lùng của thánh Luca về việc Chúa Giêsu hành xử : “Khi Đức Giêsu
tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông : “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi
phải ở lại nhà ông !” (Lc 19,5). Bất cứ một cuộc gặp gỡ nào với người muốn xưng tội, ngay cả
khi người đó xin một cách hời hợt vì chưa được sửa soạn kỹ lưỡng hay động lực yếu ớt, thì
cũng trở nên, nhờ ơn lạ lùng của Chúa, một gốc cây Sung. Ở đó Chúa Giêsu nhìn lên ông
Gia-kêu. Ánh mắt nhân từ thẳm sâu của Ngài thâm nhập linh hồn ông ta mà chúng ta chẳng thể
cân nhắc được. Nhưng chúng ta dám đoan chắc rằng cũng cái nhìn đó hằng cúi xuống các hối
nhân của chúng ta. Trong bí tích giải tội, chúng ta chỉ là các tác nhân của một cuộc gặp gỡ siêu
nhiên. Nó có nguyên lý riêng của nó, chúng ta chỉ phải tôn trọng và làm cho nên dễ dàng. Với
ông Gia-kêu Chúa gọi tên ông là một kinh nghiệm hết sức ngỡ ngàng, bởi tên ông thường bị
dân làng khinh bỉ. Lúc này ông được nghe Chúa nói đến bằng một giọng hết sức dịu dàng, êm
ái, biểu lộ không những tin tưởng mà còn là tình bạn bền bỉ, thân mật. Vâng, Chúa Giêsu nói
chuyện với Gia-kêu giống như với một người bạn cũ, có thể đã quên, nhưng vẫn trung thành,
khăng khít. Với một động lực nhẹ nhàng đầy âu yếm, Ngài đã thâm nhập đời ông ta, nhà ông ta
như một người bạn cũ vừa mới được khám phá lại : “xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại
nhà ông !” (Lc 19,5).
- Trình thuật của thánh Luca có một giọng điệu ngôn ngữ lạ lùng : mọi sự đều rất lịch sự, đầy
tôn trọng, đầy tình cảm. Bản văn không những tràn trề nhân bản mà còn gợi ý thôi thúc, nài
năng của giọng nói Chúa Giêsu như thể Ngài đề nghị cho Gia-kêu một mạc khải dứt khoát của
lòng Chúa xót thương. Ngài nói : “Tôi phải ở lại nhà ông !” nếu dịch sát chữ thì phải là : “Tôi có
nhu cầu phải nghỉ lại nhà ông (Lc 19,5). Dõi theo đồ biểu nhiệm màu của Đức Chúa Cha, Chúa
Giêsu đã đụng Gia-kêu trên đường đi của Ngài. Ngài dừng lại nhà ông ta như thể cuộc hội ngộ
đã được hoạch định trước. Và bất chấp những lời xì xầm ác ý, ngôi nhà của người tội lỗi này đã
trở nên một nơi chốn của Mặc khải, một quang cảnh của phép lạ lòng Chúa xót thương. Điều
này đã không xảy ra, nếu trái tim ông thu thuế không được giải phóng khỏi ích kỷ và khỏi các
mánh khóe gian lận, bất công… Nhưng lòng thương xót Chúa đã đến với ông như món quà đầy
tràn và nhưng không. Lòng thương xót Chúa đi bước trước Gia-kêu. Điều này xảy ra trong hết
mọi cuộc gặp gỡ bí tích. Chúng ta không nên nghĩ qua cố gắng riêng của tội nhân, mà ông ta
xứng đáng chiếm được lòng Chúa xót thương. Ngược lại, chính lòng thương xót Chúa thúc đẩy
ông ta trên con đường trở lại. Bỏ mặc mình, người ta chẳng làm được gì, xứng đáng điều gì.
Trước khi là con đường của loài người tới Chúa, bí tích hòa giải đã là địa chỉ Chúa tới cư ngụ
nhà chúng ta. Vì vậy, trong bí tích giải tội, linh mục phải đối diện với đủ mọi hạng người. Nhưng
một điều luôn phải nhớ : Dự cảm trước sự kêu mời của chúng ta, và ngay cả trước khi chúng ta
ban lời hòa giải, anh chị em tín hữu đến xin bí tích cáo giải đã hưởng trước tình thương của
Chúa hoạt động trong họ. Để làm đẹp lòng Thiên Chúa, chúng ta sẽ biết phải cộng tác ra sao
với lòng xót thương Chúa và tình yêu Ngài. Lòng xót thương luôn đón nhận và tình yêu luôn
cứu độ. Chúng ta sẽ thực hiện được điều này bằng lời nói và thái độ của các mục tử. Chúng ta
quan tâm đến mỗi cá nhân, nhạy cảm với các vấn đề của tha nhân, tế nhị đồng hành với họ
trong hành trình trở lại của họ, và biết cách giúp đỡ họ tin tưởng vào lòng Chúa nhân lành.
- “Tôi cần phải ở lại nhà của ông”. Chúng ta hãy suy nghĩ thấu đáo hơn về những chữ này. Nó
đích thật là một câu tuyên bố. Trước khi nó xác định ý lựa chọn về phần Chúa Giêsu, thì nó đã
là lời tuyên bố của thánh ý Chúa Cha. Xem ra Chúa Giêsu chỉ là người lãnh nhận một lệnh
truyền chính xác. Có một “lề luật” mà chính Ngài cũng phải tuân theo : đó là ý muốn của Cha
Ngài mà Ngài phải hoàn thành với hết lòng yêu mến. Ý muốn đó đã trở thành “lương thực” của
Ngài (Ga 4,34). Những lời Chúa Giêsu nói với ông Gia-kêu không chỉ là phương tiện để thiết
lập một mối tương giao nhưng còn là lời công bố một chương trình Chúa Cha đã hoạch định.
Cuộc gặp gỡ được tiến hành trong khuôn khổ lời Thiên Chúa. Lời đó là một với ngôn từ và diện
mạo của Chúa Giêsu. Cũng thế, cuộc gặp gỡ của bí tích Giải Tội cũng phải được bắt đầu trong
ngôn từ và diện mạo của Đấng cứu chuộc. Cho nên, nghèo nàn biết mấy nếu như mọi sự chỉ
được thu hẹp vào xảo thuật truyền thông của con người. Hiểu biết về các luật lệ truyền thông
giúp ích rất nhiều, và không nên bỏ qua. Nhưng chính là lời Thiên Chúa nâng đỡ mọi sự. Đó là
lý do các nghi thức hòa giải được trù liệu để công bố lời Thiên Chúa cho các hối nhân. Đây là
chi tiết không được coi nhẹ dù rằng đôi khi khó mà thực hiện. Các linh mục giải tội thường khi
gặp khó khăn trong việc truyền thông những điều lời Chúa đòi hỏi, nhất là cho những ai chỉ có
kiến thức rất sơ sài về lời Chúa. Rõ ràng là chính lúc cử hành bí tích Hòa Giải không phải là
thời gian tốt nhất để bù đắp thiếu sót này. Nó phải được làm trong thời gian mục vụ, tức trong
lúc sửa soạn, giúp đỡ hối nhân tự đo lường tình trạng của mình trước sự thật lời Chúa. Trong
bất cứ tình huống nào, linh mục giải tội phải cố gắng hết sức dùng cuộc gặp gỡ bí tích để dẫn
dắt hối nhân nhận ra đường lối Chúa dùng để với tới họ một cách đầy xót thương, giang tay
đón chờ họ, không phải để nghiền nát, nhưng cứu vớt. Chúng ta chẳng thể chối cãi nền văn
hóa chủ yếu của thời hiện đại gây nên biết bao khó khăn trên phương diện này. Ngay cả những
tín hữu trưởng thành cũng hằng bị cản trở trong các cố gắng của mình để sống những giới răn
Chúa và theo được những chỉ dẫn đặt căn bản trên các giới răn đó của huấn quyền Hội Thánh.
Đây là trường hợp của các lãnh vực thời sự như luân lý gia đình và tính dục, luân lý xã hội,
nghề nghiệp và sinh hóa. Nhưng nó cũng là vấn đề liên hệ đến các bổn phận trong lãnh vực
thực hành tôn giáo và tham dự vào đời sống Giáo Hội. Vì thế, có nhu cầu về giáo lý. Nhưng cha
giải tội chẳng thể đảm nhận khi ban bí tích Hòa Giải. Nó phải được thực hiện vào giờ giấc khác.
Tốt nhất là vào lúc sửa soạn xưng tội. Cử hành bí tích Hòa Giải với sự sửa soạn cộng đồng và
xưng tội cá nhân là hình thức tốt nhất. Để làm sáng tỏ hơn vấn đề, hình ảnh Kinh thánh về ông
Gia-kêu lại cho chúng ta một chìa khóa quan trọng khác. Trong bí tích Hòa Giải, người hối nhân
trước hết gặp Chúa Giêsu “Thiên Chúa của các giới răn” chứ không phải gặp “các giới răn của
Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đã ban chính mình Ngài cho Gia-kêu : “Ta phải ở lại trong nhà ông.”
Như thế, chính Ngài là món quà tặng đang chờ đợi ông ta. Ngài cũng còn là lề luật của Thiên
Chúa cho ông. Khi chúng ta chiêm ngắm cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa như món quà
tặng thì tính cách đòi hỏi của lề luật trở nên ơn thánh nhẹ nhàng. Thánh Phaolô đã nhận ra
năng lực siêu nhiên này nên đã viết : “Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em
không còn lệ thuộc Lề Luật nữa.” (Gl 5,18). Bất cứ việc cử hành bí tích Hòa Giải nào cũng làm
cho linh hồn hối nhân nhảy mừng giống như ông Gia-kêu nhảy mừng vì lời Chúa Giêsu : “ông
vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Người” (Lc 19,6).
- Tuy nhiên, tính sẵn sàng và sự rất mực dồi dào của lòng thương xót Chúa không làm lu mờ
sự kiện, nó chỉ giữ vai trò tiền đề của ơn cứu độ. Ơn này chỉ đạt viên mãn khi nào gặp được sự
đáp trả trong trái tim con người. Thực tế, ơn tha thứ trong bí tích hòa giải không phải là hành
động bề ngoài, kiểu như sự xả chế hình phạt theo luật định, nhưng là cuộc gặp gỡ thực sự của
hối nhân với Thiên Chúa. Đấng phục hồi tương giao bạn hữu bị tội lỗi làm tan vỡ. “Sự thật” của
mối tương giao này đòi hỏi rằng chúng ta đón nhận cái ôm hôn xót thương của Thiên Chúa,
thắng lướt mọi sự phản kháng do tội lỗi gây nên. Đó là điều đã xảy ra cho ông Gia-kêu. Ý thức
được rằng từ nay ông được đối xử như một “người con”. Ông bắt đầu suy nghĩ và hành động
như “người con , bằng chứng là ông tái khám phá ra anh chị em ông. Dưới cái nhìn yêu thương
của Chúa Giêsu, trái tim ông ấm lên tình yêu láng giềng. Từ cảm giác lẻ loi, ích kỷ mà đã từng
dẫn ông đến việc làm giàu cho mình, bất kể kẻ khác phải đau khổ, ông tiến đến thái độ chia sẻ.
Điều này tỏ lộ trong sự phân chia thành thật tài sản của ông : “Một nửa gia tài cho kẻ nghèo
khó”. Ông bồi thường gấp bốn lần những bất công, gian lận người khác : “nếu tôi đã chiếm đoạt
của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” (Lc 19,8). Đến đây, tình yêu của Thiên Chúa đã đạt được
mục tiêu của mình và sự cứu rỗi đã hoàn thành : “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc
19,9). Anh em thân mến. Đó là hành trình của ơn cứu độ. Câu chuyện của Gia-kêu mô tả rõ
ràng như vậy. Nó phải hướng dẫn và giúp đỡ chúng ta thi hành công tác khó khăn của sứ vụ
hòa giải với sự cân bằng mục vụ. Sứ vụ này luôn luôn bị bao vây bởi hai thái cực đối nghịch
nhau : quá nghiêm khắc và quá dễ dãi. Quá nghiêm khắc sẽ thất bại không nhìn ra phần thứ
nhất của câu chuyện Gia-kêu : Lòng thương xót đứng trên hết. Nó khích lệ người ta ăn năn trở
lại và lượng giá bất cứ một tiến bộ nhỏ bé nào trong tình yêu. Bởi vì Thiên Chúa Cha ước muốn
thực hiện những điều kỳ diệu để cứu chữa người con đã mất : “Vì Con Người đến để tìm và
cứu những gì đã mất”. (Lc 19,10). Thái cực thứ hai là quá dễ dãi. Nó thất bại không nhìn ra tính
tròn đầy của ơn cứu độ. Ơn cứu độ không những được ban cho mà còn phải được đón nhận.
Nó chỉ thực sự chữa lành và phục hồi khi dính líu vào một cuộc trở lại chân thành với những đòi
hỏi của lòng Chúa yêu thương. Nếu như ông Gia-kêu tiếp đón Chúa vào nhà ông mà không mở
lòng ra yêu mến và sửa chữa những thiệt hại ông đã gây nên, mà không dấn thân vững chắc
sống cuộc sống mới, thì đã không nhận được sự tha thứ của Chúa vào đáy linh hồn mình. Sự
thứ tha mà Chúa đã đề nghị ban cho ông với biết bao quan tâm. Chúng ta phải luôn luôn duy trì
một sự cân bằng hợp lý để tránh rơi vào một trong hai cực đoan. Nghiêm khắc nghiền nát hối
nhân, xua đuổi họ đi. Dễ dãi lừa dối và dẫn dắt lầm đường, lạc lối. Thừa tác viên của ơn tha thứ
trong khi biểu lộ gương mặt Đấng chăn chiên nhân lành, thì cũng phải bày tỏ lòng thương xót
hiện đã có mặt, đang hoạt động và sự thứ tha mang ơn chữa lành và bình an. Linh mục được
ủy thác, trên các nguyên tắc này, trong khi đối thoại với hối nhân, phải nhận định xem họ sẵn
sàng đón nhận lời hòa giải chưa ? Chắc chắn, sự tế nhị của việc gặp gỡ các linh hồn vào
những giây phút riêng tư như thế, và đôi khi rất khó khăn, đòi hỏi phải có một sự thận trọng cao
độ nhất. Trừ phi có các hiện tượng khác, linh mục phải giả định rằng hối nhân thành thực ăn
năn và quyết chí sửa mình khi vào tòa xưng thú tội lỗi. Điều này có thể dễ dàng giả định hơn
nữa nếu như có sự giúp đỡ mục vụ khác cho bí tích Hòa Giải, gồm cả thời gian sửa soạn để có
thể giúp các hối nhân đạt đến độ trưởng thành khá hơn và có ý thức về những gì họ đang tìm
kiếm. Rõ ràng, khi chưa có lòng ăn năn thống hối và quyết chí sửa mình, thì cha giải tội buộc
phải nói cho hối nhân hay, họ chưa sẵn sàng đón nhận công thức xá giải. Nếu công thức này
được ban cho những ai mà thực tế không có ý định sửa mình, thì nghi thức hoàn toàn chỉ là
phù phép. Nó chỉ có khả năng ban bình an giả tạo, chứ không phải là bình an đích thực từ cõi
lòng mà việc ôm hôn của Thiên Chúa bảo đảm.
- Dưới ánh sáng của những gì đã nói, thì sự gặp gỡ cá nhân giữa cha giải tội và hối nhân là
hình thức thường xuyên của bí tích hòa giải, đã rõ ràng hơn, trong khi giải tội tập thể chỉ là
trường hợp ngoại lệ. Mọi người đều biết rằng, sau nhiều thế kỷ xưng tội tập thể công khai, thực
hành của Giáo Hội là dần dần tiến tới xưng tội cá nhân. Sự phát triển này không hề thay đổi
bản chất của bí tích Hòa Giải – làm khác thế nào được ? – nhưng thực tế nó còn diễn tả rõ ràng
hơn và làm cho bí tích hiệu quả hơn. Điều đó xảy ra không phải là không có sự trợ giúp của
Chúa Thánh Thần. Đấng cũng ở nơi đây làm tròn sứ vụ dẫn đưa Giáo Hội đến sự thật sung
mãn (Ga 16,13). Hình thức thông thường của bí tích Giải Tội không những bày tỏ rất tốt sự thật
về lòng thương xót thần linh và sự tha thứ nảy sinh từ lòng thương xót đó, mà còn chiếu giãi
ánh sáng về thân phận con người ở vào một trong các khía cạnh căn bản của nó. Đó là, mặc
dầu phải sống trong một mạng lưới phức tạp các tương giao và cộng đồng, tính duy nhất của
mỗi cá nhân không vì thế mà bị mất hút trong một đám đông vô định hình. Điều đó giải thích
tiếng vọng của linh hồn chúng ta khi được gọi đích danh. Khi ý thức được rằng mình luôn được
biết đến và chấp nhận với các đặc điểm cá nhân, chúng ta cảm thấy mình đang sống. Thói
quen mục vụ phải kể điều này là quan trọng để có thể cân bằng một bên là hội họp, nhấn mạnh
đến tính hiệp thông của Giáo Hội, bên khác là những giây phút riêng tư, nhấn mạnh đến các
nhu cầu của các cá nhân. Người ta bao giờ cũng muốn được biết đến và chăm sóc. Chính sự
gần gũi như thế cho phép người ta cảm nhận mạnh hơn tình yêu của Thiên Chúa. Trong ý
nghĩa đó, bí tích Hòa Giải là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất cho việc lớn mạnh về
ngôi vị. Tại đây, Chúa chiên nhân lành qua tiếng nói và sự hiện diện của linh mục, tiếp cận với
mỗi người nam, nữ. Ngài bước vào một cuộc đối thoại cá nhân với họ, gồm lắng nghe, khuyên
nhủ, an ủi và thứ tha. Tình yêu Thiên Chúa có đặc tính là hội tụ vào từng cá nhân mà không hề
quên xót những người khác. Tất cả mọi người lãnh nhận bí tích Giải Tội phải có thể cảm nhận
được sự nồng ấm của tính quan tâm cá nhân này. Họ phải kinh nghiệm được cường độ cao
của cái ôm hôn phụ tử mà người cha ban cho đứa con hoang đàng : “…Ông chạnh lòng
thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để.” (Lc 15, 20). Họ phải có thể nghe được tiếng
nói ấm áp và thân tình đã nói với ông thu thuế Gia-kêu xưa, gọi ông đích danh đến đời sống
mới (Lc 19,5).
- Như vậy, các linh mục giải tội cần phải được huấn luyện thích đáng cho việc cử hành bí tích
Hòa Giải. Nó phải được cử hành thế nào để ngay cả hình thức bề ngoài cũng có đầy đủ phẩm
giá phụng vụ như đã được quy định trong nghi thức hối cải. Nhưng cũng không có nghĩa loại
trừ khả năng thích nghi vì lý do mục vụ, trong những hoàn cảnh của người hối nhân đòi hỏi như
vậy. Điều này am hợp với nguyên tắc cổ điển nói rằng “Luật cao nhất (suprema lex) của Giáo
Hội là sự “cứu rỗi” các linh hồn (salus animarum). Hãy để cho sự khôn ngoan của các thánh
hướng dẫn chúng ta. Hãy để chúng ta can đảm hoạt động đề nghị giới trẻ bước tới tòa cáo giải.
Chúng ta phải gần gũi họ, làm cho họ cảm thấy chúng ta là những người cha, người bạn, người
thâm tín và cha giải tội của họ. Họ cần phải khám phá lại nơi chúng ta cả hai vai trò, hai chiều
kích này. Đó là, trong khi neo chặt vào quyền dạy dỗ của Giáo Hội, chúng ta cũng cố gắng hết
sức để cập nhật hóa kiến thức thần học của mình, đặc biệt những vấn đề liên quan đến luân lý.
Có thể xảy ra rằng trước các bấp bênh của luân lý phức tạp thời nay, nhiều giáo dân rời bỏ tòa
giải tội với nhiều tư tưởng lộn xộn, đặc biệt nếu như họ đã gặp các linh mục giải tội thiếu nhất
quán trong các phán đoán của mình. Sự thật là rằng những linh mục nào làm tròn sứ vụ của
mình nhân danh Thiên Chúa và nhân danh Giáo Hội không hề cổ võ hay bày tỏ ý kiến riêng của
mình trong tòa cáo giải. Ý kiến không am hợp với những gì Hội Thánh giảng dạy và tuyên xưng.
Tương tự như thế, thất bại không nói lên sự thật do bởi hiểu lầm về lòng thương cảm
(compassion) lẫn lộn với tình yêu (love). Chúng ta không có thẩm quyền làm giảm thiểu vấn đề
tùy vào ý riêng của mình, ngay cả khi có ý hướng tốt nhất. Nhiệm vụ của chúng ta phải là
những nhân chứng của Thiên Chúa, làm phát ngôn viên của lòng thương xót cứu độ, ngay cả
khi lòng thương xót đó tỏ mình ra như sự phán xét trên tội lỗi con người. “Không phải bất cứ ai
nói lạy Chúa, lạy Chúa, mà được vào nước trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thi hành ý Cha Ta,
Đấng ngự trên trời” (Mt 7, 21).
- Các anh em linh mục thân mến. Cha biết rằng cha đang đặc biệt gần gũi anh em, như anh
em tập họp quanh giám mục của mình trong ngày thứ Năm thánh thiện của năm 2002. Tất cả
chúng ta đều kinh nghiệm những giây phút quan trọng mới của Hội Thánh ở bình minh của
ngàn năm thứ ba, trong ý nghĩa “khởi sự lại từ Chúa Kitô” (Novo millennio Ineunte, 29 ff.).
Chúng ta tất cả đều đã hy vọng giây phút này sẽ trùng hợp với thời đại mới của tình huynh đệ
và hòa bình cho nhân loại. Nhưng chúng ta lại được xem thấy nhiều đầu rơi, máu chảy hơn.
Chúng ta lại được chứng kiến nhiều chiến tranh hơn. Chúng ta buồn rầu vì thảm cảnh chia rẽ
và thù ghét. Thảm cảnh này đang tiêu diệt các mối tương giao giữa các dân tộc. Cũng vào giây
phút này, chúng ta, những linh mục, chịu đau khổ rất nhiều vì tội lỗi của một số anh em mình.
Họ đã phản bội ơn thánh truyền chức bởi quỵ ngã ngay cả trong các hình thức nghiêm trọng
nhất của mầu nhiệm sự dữ (mysterium iniquitatis) đang hòanh hành trên thế giới. Đã gây nên
những gương mù tai hại. Hậu quả là thế gian nghi ngờ hết mọi linh mục tốt lành khác. Những
linh mục thi hành sứ vụ của mình một cách lương thiện, toàn vẹn và thường là tự hy sinh đến
mức anh hùng. Khi Hội Thánh bày tỏ quan tâm của mình đến các nạn nhân và cố gắng trả lời
trong sự thật và công lý từng hòan cảnh đau đớn này, thì tất cả trong chúng ta – ý thức về sự
yếu đuối của lòai người và tin tưởng vào quyền năng chữa lành của ơn thánh – được kêu gọi
ẵm lấy “Mầu nhiệm thập giá” (mysterium crusis) và dấn thân mạnh mẽ hơn vào công cuộc tìm
kiếm sự thánh thiện. Chúng ta phải van nài Thiên Chúa, trong sự quan phòng của Ngài, thúc
giục một sự thức tỉnh toàn trái tim về lý tưởng hiến dâng mình trọn vẹn cho Chúa Kitô. Lý tưởng
này là nền tảng các sứ vụ linh mục. Chính đức tin của chúng ta nơi Chúa Kitô đã cho chúng ta
sức mạnh để nhìn vào tương lai một cách đầy tin tưởng. Chúng ta quá biết rằng trái tim con
người luôn bị lôi cuốn vào điều dữ và rằng con người chỉ có thể tỏa lan bình an và yêu thương
cho những ai ở chung quanh khi gặp gỡ Đức Kitô và cho phép mình bị Ngài chiếm hữu. Như
các thừa tác viên của bí tích Thánh Thể và của bí tích Hòa Giải chúng ta có bổn phận đặc biệt
thông ban hy vọng, sự thiện, và hòa bình cho thế giới. Lời cầu chúc của cha là anh em sẽ sống
ngày cực thánh này trong bình an của trái tim, trong hiệp thông với nhau, với giám mục, và với
cộng đồng của anh em, trong khi chúng ta nhớ lại – với việc thiết lập bí tích Thánh Thể – “ngày
sinh” của chúng ta như các linh mục. Mượn lời Chúa Kitô cho các Tông đồ trong nhà tiệc ly sau
khi Ngài sống lại, và khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria “Nữ Vương các Tông đồ” và “Nữ Vương
bình an” Cha ôm hôn tất cả các con thật nồng thắm như những người anh em của cha : Bình
an, bình an cho mọi người và từng người chúng con.
Chúc Niềm Vui Phục Sinh !
Vatican ngày 13-7-2002, Chúa Nhật thứ V Mùa Chay
Năm thứ 24 triều đại Giáo hoàng của cha.
Gioan Phaolô II.







