ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ,
GIÁM MỤC THÀNH RÔMA,
TÔI TỚ CỦA CÁC TÔI TỚ CHÚA,
XIN GỬI ĐẾN TẤT CẢ NHỮNG AI ĐỌC BẢN VĂN NÀY
ÂN SỦNG, LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ BÌNH AN
1. Đức Giêsu Kitô là dung mạo lòng thương xót của
Chúa Cha. Mầu nhiệm niềm tin Kitô giáo có thể được tóm kết trong
câu nói này. Lòng thương xót của Chúa Cha được biểu hiện cách
sống động và đạt tới đỉnh cao nơi Đức Giêsu thành Nazareth. Chúa
Cha, Đấng “đầy lòng thương xót” (Ep 2,4), Đấng tự mặc khải cho
ông Môsê như là “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu
nhân nghĩa và thành tín” (Xh 24,6), luôn biểu lộ thiên tính của
Người bằng nhiều cách trong suốt dòng lịch sử. Nhưng khi “thời
gian đến hồi viên mãn”(Gl 4,4), theo kế hoạch cứu độ đã định trước,
Người sai Con của Người sinh ra làm Con Đức Trinh Nữ, để mặc
khải cho chúng ta tình yêu của Người một cách dứt khoát. Ai nhìn
thấy Đức Giêsu là nhìn thấy Chúa Cha (x. Ga 14,9). Đức Giêsu thành
Nazareth mặc khải lòng thương xót của Thiên Chúa qua lời nói, việc
làm và bằng cả cuộc hiện sinh của Người [1].
2. Chúng ta cần phải luôn chiêm ngắm lòng thương xót
này, vì đó là nguồn niềm vui, thanh thản và bình an. Đó cũng là điều
kiện cho ơn cứu độ của chúng ta. Thuật ngữ “lòng thương xót” nói
lên cả mầu nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa. Lòng thương xót là hành
động cuối cùng và dứt khoát; với hành động này, Thiên Chúa đến với
chúng ta. Lòng thương xót là qui luật nền tảng, ngự trị trong tâm hồn
của mỗi người và xác định cái nhìn về anh chị em mà chúng ta gặp
gỡ trên đường đời. Lòng thương xót là con đường kết hợp Thiên
Chúa với con người, vì con đường này khai mở con tim hướng đến
hy vọng là được Thiên Chúa yêu thương, dù chúng ta có bị hạn hẹp
vì tội lỗi.
3. Có những lúc chúng ta được kêu gọi nhìn vào lòng
thương xót của Chúa cách đặc biệt hơn, để có thể trở thành dấu
chứng hữu hiệu cho hoạt động của Chúa Cha. Chính vì thế tôi mời
gọi khai mở một NĂM THÁNH NGOẠI THƯỜNG VỀ LÒNG
THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA. Đó sẽ là thời gian ân sủng cho Hội
Thánh và giúp củng cố chứng cứ đức tin thật hữu hiệu và mạnh mẽ.
Năm Thánh sẽ được khai mở vào ngày 08 tháng 12 năm 2015,
đại lễ Đức Maria vô nhiễm nguyên tội và là Mẹ Thiên Chúa. Ngày lễ
phụng vụ này nhắc đến việc Thiên Chúa đã hành động như thế nào
lúc khởi đầu lịch sử nhân loại. Sau khi Ađam và Evà phạm tội, Thiên
Chúa không muốn để nhân loại bơ vơ và chìm đắm trong tội. Vì thế,
Người đã muốn tuyển chọn Đức Maria thánh thiện và tinh tuyền
trong tình yêu (x. Ep 1,4) để trở thành người Mẹ của Đấng cứu độ
loài người. Đối mặt với tính chất nặng nề của tội lỗi, Thiên Chúa đã
đáp lại bằng một sự tha thứ tràn đầy. Lòng thương xót luôn vượt trên
số lượng của tội lỗi, và không ai có thể đặt ranh giới cho tình yêu tha
thứ của Thiên Chúa. Vào ngày lễ Đức Maria vô nhiễm, tôi sẽ vui
mừng mở cửa Năm Thánh. Cánh cửa này sẽ là cánh cửa của lòng
thương xót, và ai đi qua cánh cửa này, sẽ cảm nghiệm tình yêu an ủi
của Thiên Chúa, Đấng luôn tha thứ và ban tràn đầy hy vọng.
Vào Chúa Nhật tiếp theo, tức là Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng,
cửa Năm Thánh của thánh đường thuộc Giám Mục Rôma, tức là đại
thánh đường Gioan Lateranô, sẽ được mở ra. Tiếp đến là các đại
thánh đường thuộc Giáo Hoàng tại Rôma cũng được mở ra. Trong
Chúa Nhật đó, tôi ao ước, tất cả các nhà thờ địa phương, dù là thánh
đường thuộc Giám Mục, là nhà thờ mẹ của các thánh đường trong
giáo phận, hay các Đồng Chánh Tòa hay trong các thánh đường
khác, cũng mở Cánh Cửa Của Lòng Thương Xót để làm nổi bật ý
nghĩa trong suốt thời gian Năm Thánh. Tùy theo quyết định của các
Giám Mục sở tại có thể mở một cánh cửa như thế nơi các thánh địa
có nhiều người hành hương. Nơi những linh địa này, nhiều khách
hành hương sẽ cảm nghiệm được ân sủng tràn đầy trong tâm hồn và
hướng họ đến việc sám hối. Mỗi Hội Thánh địa phương sẽ trực tiếp
liên kết với Năm Thánh và hy vọng rằng đây là thời điểm giúp các
tín hữu sống những ân sủng ngoại thường và canh tân đời sống
thiêng liêng. Vì thế Năm Thánh được cử hành tại Rôma cũng như
trong các Hội Thánh địa phương, sẽ trở thành dấu chỉ cho sự hiệp
nhất của toàn Hội Thánh.
4. Tôi chọn ngày 08 tháng 12 làm thời điểm khai mạc, vì
ngày này có một ý nghĩa lớn lao cho lịch sử Hội Thánh vừa qua. Tôi
sẽ mở cửa Năm Thánh đúng năm mươi năm sau ngày kết thúc Công
Đồng Chung Vaticanô II. Hội Thánh cảm thấy cần thiết gìn giữ giây
phút này luôn sống động. Hội Thánh bắt đầu một con đường mới cho
lịch sử của mình. Các nghị phụ Công Đồng cảm nhận cách mạnh mẽ
– như một luồng gíó đích thực của Chúa Thánh Thần – sự cần thiết
để nói về Thiên Chúa một cách dễ hiểu cho con người thời đại của
mình. Những bức tường, trong một thời gian dài đã đóng kín Hội
Thánh trong pháo đài ưu tuyển của mình, cần phải bị hạ xuống, vì đã
đến thời điểm phải loan báo Tin Mừng theo một cách thức mới. Một
giai đoạn mới đã bắt đầu cho trách nhiệm rao giảng Tin Mừng. Một
trách nhiệm mới cho mọi Kitô hữu là phải nêu lên chứng cứ cho đức
tin của mình một cách phấn khởi và thật xác tín. Hội Thánh phải cảm
thấy trách nhiệm là dấu chứng sống động cho tình yêu của Chúa Cha
trong thế giới này.
Chúng ta nhớ lại những lời đầy ý nghĩa của thánh Giáo Hoàng
Gioan XXIII đã phát biểu trong ngày khai mạc Công Đồng, với
những lời này, Ngài đã vạch hướng đi cho Công Đồng: “Ngày nay
Hiền Thê của Đức Kitô, là Hội Thánh, thích sử dụng phương dược
cứu độ hơn là khí giới nghiêm khắc… Hội Thánh Công Giáo, trong
khi giương cao ngọn đuốc chân lý đức tin công giáo, nhờ qua Công
Đồng này, muốn minh chứng cho mọi người thấy mình là bà mẹ hiền,
kiên nhẫn, đầy lòng nhân từ và ưu ái với mọi đứa con đã xa lìa khỏi
bà”[2]. Chân phước Giáo Hoàng Phaolô VI đã kết thúc Công Đồng
cũng theo chiều hướng này:“Chúng tôi muốn nhấn mạnh, qui luật
của Công Đồng này trước tiên là đức bác ái […] Trình thuật về
người Samaritanô nhân hậu trở thành mô mẫu cho linh đạo của
Công Đồng […] Công Đồng này đã có một chiều hướng ưu ái và
đánh giá cao đối với thế giới tân tiến. Đương nhiên phải loại các sai
lầm, điều này đòi buộc đến trách nhiệm của tình yêu cũng như trách
nhiệm đối với chân lý. Đối với con người, chỉ có động viên, tôn trọng
và tình yêu. Công Đồng đề nghị các phương thức củng cố hơn là
những thứ đánh giá miệt thị; thay vì những khuyên nhủ mơ hồ, Công
Đồng nêu lên những sứ điệp tín cẩn đối với thế giới hiện tại. Không
những Công Đồng tôn trọng các giá trị của thế giới hiện tại, mà còn
tôn vinh và nâng đỡ, cố gắng tinh luyện và chúc lành cho các dự
phóng… Còn một điều nữa, chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây: tất cả
sự phong phú thuộc về giáo lý chỉ nhắm vào một mục đích duy nhất
là phục vụ con người. Chúng tôi có thể nói, những con người dù nằm
trong bất cứ điều kiện nào, đau khổ nào và nhu cầu nào.” [3].
Với lòng biết ơn về tất cả những gì Hội Thánh đã được lãnh
nhận và hoàn toàn ý thức về những trách nhiệm trước mắt, chúng ta
sẽ bước qua Cửa Năm Thánh. Chúng ta làm như thế với sự tin tưởng
rằng, sức mạnh của Đấng Phục Sinh đang đồng hành với chúng ta
trên bước đường lữ hành. Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn từng
bước người tín hữu để cộng tác vào công trình cứu độ của Đức Kitô,
sẽ nâng đỡ và đồng hành với dân Chúa, giúp họ chiêm ngắm dung
mạo của lòng thương xót [4].
5. Năm Thánh sẽ được bế mạc vào Chúa Nhật, 20 tháng
11 năm 2016, ngày lễ kính Đức Kitô là Vua. Vào ngày đó, khi đóng
cánh cửa Năm Thánh, lòng chúng ta sẽ tràn đầy sự biết ơn đối với
Thiên Chúa Ba Ngôi, vì đã ban tặng cho chúng ta một thời gian đặc
biệt dành cho ân sủng. Chúng ta xin phó thác đời sống của Hội
Thánh, toàn thể nhân loại và cả vũ trụ vĩ đại cho vương quyền của
Đức Kitô, van xin lòng nhân từ của Người như sương mai phủ đầy
lịch sử được luôn sung mãn, với quyết tâm của mọi người lo cho
tương lai sắp đến. Tôi ao ước biết bao, những năm sắp đến được tràn
đầy lòng thương xót của Chúa và chúng ta sẽ mang đến cho mọi
người những điều tốt lành và âu yếm của Thiên Chúa. Ước gì tất cả
mọi người, dù tin hay không, cảm nghiệm được dầu thánh của lòng
thương xót, như dấu chỉ của vương quốc Thiên Chúa, đang hiện diện
giữa chúng ta.
6. “Lòng thương xót là đặc tính của Thiên Chúa. Chính
lòng thương xót này tỏ lộ quyền năng của Người” [5]. Lời của thánh
Tôma thành Aquinô, cho thấy rõ, lòng thương xót của Thiên Chúa
không phải là dấu chỉ của sự yếu đuối, nhưng ngược lại là đặc tính sự
toàn năng của Người. Vì thế, một lời kinh tổng hợp xưa giúp chúng
ta cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa biểu dương sức
mạnh của Chúa trong sự thương xót và thứ tha” [6]. Trong lịch sử
nhân loại, Thiên Chúa luôn hiện diện như Đấng thật gần gũi, chăm
sóc, thánh thiện và nhân từ.
Cựu Ước luôn diễn tả bản tính của Thiên Chúa bằng hai thuật
ngữ: “Chậm bất bình và giàu lòng thương xót”. Lòng thương xót của
Người tỏ hiện một cách cụ thể trong nhiều giai đoạn lịch sử cứu độ,
nơi đó, sự ưu ái của Người vượt trên mọi thứ hình phạt và tàn phá.
“Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh
tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bảo bọc đời ngươi
chứa chan hạnh phúc.” (Tv 103,3-4). Một Thánh Vịnh khác còn
thuật lại rõ ràng hơn nữa nhưng dấu chỉ cụ thể lòng thương xót của
Người: “Người xử công minh cho kẻ bị áp bức, ban lương thực cho
kẻ đói ăn. Chúa giải phóng những ai tù tội, Chúa mở mắt cho kẻ mù
lòa. Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng
những người công chính. Chúa phù trợ những khách ngoại kiều,
Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân.”
(Tv 146,7-9). Còn một lời của tác giả Thánh Vịnh dùng để kết thúc:
“Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ. […] Kẻ thấp hèn, Chúa nâng
đỡ dậy, bọn gian ác, Người hạ xuống đất đen…” (Tv 147,3.6).
Chúng ta có thể tổng kết lại như sau: lòng thương xót của Chúa
không phải là một tư tưởng trừu tượng, nhưng là một thực tại cụ thể,
qua đó, Người cho thấy tình yêu của Người là tình yêu của một
người cha và của một người mẹ. Đó thực sự là một tình yêu biết chia
sẻ khổ đau, đến từ thâm tâm sâu xa đầy ưu ái và cảm thông, thứ tha
và chăm sóc.
7. “Vì lòng từ bi của Người tồn tại đến muôn đời.” Điệp
khúc này cứ vang lên sau mỗi câu của Thánh Vịnh 136, Thánh Vịnh
ca tụng lịch sử mặc khải của Thiên Chúa. Tất cả sự kiện lịch sử của
dân giao ước đều nằm trong ánh sáng của lòng thương xót mang đầy
nét cứu độ. Lòng thương xót đã làm cho lịch sử của Thiên Chúa với
Israel trở thành một lịch sử cứu độ. Việc lặp lại không ngừng câu
điệp khúc: “Vì lòng từ bi của Người tồn tại đến muôn đời” làm cho
Thánh Vịnh như phá vỡ chu kỳ không gian và thời gian, khi đặt tất cả
vào mầu nhiệm vĩnh cửu của tình yêu. Thánh Vịnh như muốn nói lên
rằng, không những trong lịch sử mà từ vĩnh cửu, con người luôn nằm
dưới cái nhìn nhân hậu của Chúa Cha. Không phải tình cờ mà dân
Israel đã đưa Thánh Vịnh này, thường được gọi là Hallel lớn, vào
phụng vụ những ngày đại lễ quan trọng.
Chính Đức Giêsu cũng đã cầu nguyện với Thánh Vịnh về lòng
thương xót này trước lúc chịu nạn. Thánh Matthêu tường thuật, khi
viết “sau khi hát Thánh Vịnh” (Mt 26,30), Đức Giêsu và các môn đệ
đi đến Vườn Cây Dầu. Khi Người thiết lập Bí tích Thánh Thể như
việc tưởng niệm muôn đời tồn tại đến Người, Người đã thiết lập một
cách biểu trưng hành động mặc khải cao cả này trong ánh sáng của
lòng thương xót. Cũng trong chiều kích của lòng thương xót, Đức
Giêsu đã sống cuộc khổ nạn và cái chết của Người với ý thức rõ ràng
về mầu nhiệm tình yêu cao cả, mầu nhiệm được hoàn tất trên thập
giá. Khi chúng ta biết Đức Giêsu đã cầu nguyện với Thánh Vịnh này,
Người đã nâng Thánh Vịnh này lên tầm quan trọng đối với chúng ta
là Kitô hữu, đồng thời mời gọi chúng ta biến Thánh Vịnh này thành
lời ca tụng mỗi ngày trong kinh nguyện của chúng ta: “Tình yêu của
Người tồn tại đến muôn đời”.
8. Khi nhìn vào Chúa Giêsu và gương mặt nhân từ của
Người, chúng ta sẽ thấy được tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi cực
thánh. Sứ vụ của Đức Giêsu lãnh nhận từ Chúa Cha chính là để mặc
khải trọn vẹn mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa. “Thiên Chúa là
tình yêu” (1 Ga 4,8.16), đó là điều thánh Gioan xác nhận lần đầu tiên
và là lần duy nhất trong toàn Sách Thánh. Tình yêu này hữu hình và
có thể đụng chạm tới trong cả cuộc đời của Đức Giêsu. Trọn con
người của Đức Giêsu không gì khác hơn là tình yêu, một tình yêu tự
ban tặng chính mình. Những liên hệ của Người đến mọi kẻ chung
quanh đều độc đáo và không thể lặp lại. Những dấu chỉ của Người,
ngay chính với kẻ tội lỗi, người nghèo khổ, người bị bỏ rơi, những
bệnh nhận và kẻ khổ đau, là nhưng bài học về lòng thương xót. Tất
cả những gì có nơi Người đều toát lên sự thương xót. Không có gì
nơi Người lại không mang dấu vết của sự thương cảm.
Khi Đức Giêsu nhìn thấy đám đông đi theo Người, mệt nhọc và
kiệt sức, như không có người chăn dắt, Người cảm thông sâu xa với
họ (x. Mt 9,36). Với tình yêu mãnh liệt của sự cảm thông, Người đã
chữa các bệnh nhân mà người ta đem đến cho Người (x. Mt 14,14),
rồi với bánh và cá, Người cho đám đông được ăn no nê (x. Mt 15,
37). Điều Đức Giêsu thực hiện trong những hoàn cảnh này, không gì
khác hơn là lòng thương xót; nhờ sự hỗ trợ này, Người có thể đọc
được tâm tư của người đối diện và giúp Người đáp ứng đúng nhu cầu
đích thực của họ. Khi gặp bà góa thành Naim đang tiễn đưa con trai
duy nhất của mình đến mộ, Người đã cảm thông mãnh liệt với nỗi
khổ đau tận cùng của một người mẹ đang khóc cho con mình, đến độ
Người đã làm cho đứa con này sống lại và trả về cho người mẹ đang
sầu đau (x. Lc 7,15). Sau khi giải thoát cho kẻ bị quỉ ám tại Gerasa,
Người ra lệnh cho anh ta: “Hãy loan tin cho mọi người biết tất cả
những gì Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế
nào.” (Mc 5,19). Ơn gọi của Matthêu cũng được diễn ra trong chiều
kích lòng xót thương. Khi đi ngang qua trạm thu thuế, Đức Giêsu
nhìn vào ông Matthêu. Đó là một cái nhìn đầy lòng thương xót, đã
tha thứ hết mọi tội lỗi của con người này. Dù có những phản đối của
các môn đệ khác, Người đã chọn Matthêu, một người thu thuế và là
kẻ tội lỗi, và đã chọn ông thành một trong nhóm mười hai Tông Đồ.
Thánh Beda đáng kính (Beda Venerabilis) chú giải đoạn Phúc Âm
này như sau: Đức Giêsu nhìn ông Matthêu với một tình yêu nhân ái
và đã chọn ông: MISERANDO ATQUE ELIGENDO [7]. Lời này
gây ấn tượng cho tôi, đến độ tôi đã chọn làm khẩu hiệu cho mình.
9. Trong những dụ ngôn nói về lòng thương xót, Đức
Giêsu mặc khải bản tính của Thiên Chúa như một người cha, không
bao giờ bỏ cuộc, trước khi cảm thông và nhân từ tha thứ các tội lỗi và
luôn vượt trên sự phủ nhận. Chúng ta biết những lời nói mang nhiều
hình ảnh đặc biết trong các dụ ngôn: về con chiên lạc, về đồng tiền bị
đánh rơi lại được tìm thấy và dụ ngôn về người cha với hai đứa con
(x. Lc 15,1-32). Trong những dụ ngôn này, niềm vui của người cha
được làm nổi bật ngay lúc tha thứ. Trong những dụ ngôn đó, chúng ta
gặp được cốt lõi của Tin Mừng và niềm tin của chúng ta, vì trong đó
đã trình bày cho chúng ta lòng thương xót như là động lực lướt thắng
tất cả, đổ tràn tình yêu trong tâm hồn và an ủi chúng ta qua việc tha
thứ.
Từ một dụ ngôn khác, chúng ta học được giáo lý cho đời sống
của mình. Chúng ta biết khi thánh Phêrô đặt câu hỏi, phải tha thứ cho
anh em bao nhièu lần, Đức Giêsu trả lời: “Thầy không bảo là đến
bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22) và Người nối
kết với dụ ngôn “anh đầy tớ vô tâm”. Khi chủ buộc anh ta phải trả
nợ, anh đã quì xuống van xin và ông chủ đã tha nợ cho anh ta. Tiếp
đến, anh gặp một người cùng làm đầy tớ với mình, đang thiếu anh
vài xu. Người này cũng quì xuống trước mặt anh, van xin lòng
thương xót, nhưng anh từ chối và tống người này vào ngục. Khi
người chủ biết được, ông nổi giận, cho gọi người đầy tớ đến và nói
với anh: “Đáng lý đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng
bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18, 33). Và Đức
Giêsu còn nói thêm: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối
xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng
tha thứ cho anh em mình.” (Mt 18, 35).
Dụ ngôn này chất chứa một bài học sâu xa cho từng người
trong chúng ta. Đức Giêsu xác định, lòng thương xót không chỉ là
đặc tính cho hành động của Thiên Chúa; nó còn trở thành tiêu chuẩn
cho bất cứ ai muốn trở thành con của Người. Chúng ta được kêu gọi
để thực thi lòng thương xót, vì lòng thương xót đã được hiện thực nơi
chúng ta. Sự tha thứ cho bất công đã phạm, sẽ trở thành dấu chứng
cụ thể cho tình yêu nhân hậu, và đối với chúng ta là Kitô hữu, nó
phải trở thành mệnh lệnh mà chúng ta không được bỏ qua. Thật khó
biết bao khi phải luôn tha thứ. Nhưng sự tha thứ là công cụ được đặt
vào những bàn tay yếu đuối của chúng ta để tìm được bình an nội
tâm. Phải bỏ qua oán hờn, giận dữ, bạo lực và trả thù, đó là điều kiện
cần thiết cho một đời sống hạnh phúc. Hãy đón nhận lời khuyên nhủ
của Thánh Tông Đồ: “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.”
(Ep 4,26). Nhất là chúng ta phải lắng nghe lời của Đức Giêsu, Người
đã biến lòng thương xót thành một lý tưởng cho đời sống và là tiêu
chuẩn cho chứng cứ niềm tin: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ
sẽ được Thiên Chúa xót thương.” Đó là lời chúc phúc gợi hứng cho
chúng ta trong việc dấn thân đặc biệt trong Năm Thánh này.
Như chúng ta thấy, lòng thương xót là thuật ngữ chủ chốt
(Schlũsselwort) trong toàn bộ Thánh Kinh để diễn tả hành động của
Thiên Chúa đối với chúng ta. Tình yêu của Người không những được
xác định, nhưng còn thật cụ thể và có thể đụng chạm đến. Tình yêu
này thực sự không bao giờ là một ý niệm trừu tượng. Tự bản chất,
tình yêu này thật cụ thể: chủ đích, thái độ, hành vi đều hiện diện
trong hoạt động hằng ngày của Người. Lòng thương xót của Thiên
Chúa là trách nhiệm của Người đối với chúng ta. Người cảm thấy có
trách nhiệm, có nghĩa là Người muốn chúng ta hạnh phúc, Người
muốn nhìn chúng ta hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và bình an. Tình
yêu nhân hậu của các Kitô hữu cũng phải nằm trong chiều kích này.
Như Người cha yêu thương, con cái Người cũng phải như thế. Người
thật nhân hậu, và chúng ta cũng được kêu gọi sống nhân hậu với
nhau như thế.
10. Lòng thương xót là cây đà nâng đỡ cho đời sống của
Hội Thánh. Tất cả hoạt động mục vụ phải được tràn đầy sự âu yếm
đối với các tín hữu; việc rao giảng và chứng cứ đối với thế giới
không thể nào thiếu vắng lòng thương xót. Sự khả tín của Hội Thánh
phải đi con đường của tình yêu nhân hậu và thương cảm. Hội Thánh
“phải có một sự khao khát bất tận để tỏ lòng thương xót” [8]. Có lẽ
đã có một thời gian dài, chúng ta quên hướng đến và bước đi trên con
đường của lòng thương xót. Mặt khác, chúng ta bị cám dỗ chỉ biết
đòi hỏi sự công bằng và đã quên, đây chỉ là bước đầu mà thôi. Bước
đi này cần thiết và tất yếu, nhưng Hội Thánh phải vượt qua để đạt
được một mục đích cao hơn và đầy ý nghĩa hơn. Mặt khác, thật buồn
mà phải thú nhận rằng, kinh nghiệm về sự tha thứ trong văn hóa của
chúng ta càng ngày càng hiếm dần. Đến độ thuật ngữ này cũng đôi
khi mất đi. Không có chứng cứ của sự tha thứ, sẽ chỉ có một cuộc
sống khô cằn, như người ta đang sống trong sa mạc không lối thoát.
Thời gian đã đến với Hội Thánh để chú tâm vào việc loan báo thật
phấn khích về sự tha thứ. Đã đến lúc, phải trở về với điều chính yếu
và phải đón nhận những sự yếu đuối và khó khăn của anh chị em
chúng ta. Tha thứ là sức mạnh giúp bừng lên một cuộc sống mới và
đem đến sự can đảm để nhìn vào tương lai với đầy hy vọng.
11. Chúng ta đừng quên giáo lý quan trọng mà thánh Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II trình bày trong Thông điệp DIVES IN
MISERICORDIA (Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót). Ngày đó,
đề tài thật bất ngờ khi công bố. Tôi chỉ xin ghi lại hai chủ đề: “Não
trạng ngày nay xem ra hơn cả quá khứ như chống lại một Thiên
Chúa nhân từ và hướng chiều đến việc xóa bỏ tư tưởng về lòng nhân
từ ra khỏi cuộc sống và tâm trí con người. Thuật ngữ và ý niệm
“lòng thương xót” xem ra xa lạ với con người. Hơn bao giờ hết, nhờ
tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, con người đã trở thành chủ nhân và
bắt trái đất phải tùng phục mình (x. St 1,28). Việc làm chủ trái đất,
hiểu một cách hời hợt, đã làm cho lòng thương xót không còn đất
sống […] Đó là lý do, tại sao trong hoàn cảnh này, nhiều người và
nhiều cộng đoàn của Hội Thánh cũng như thế giới hôm nay, nhận
được một ý nghĩa đức tin sống động hướng dẫn, có thể nói, bất ngờ
quay lại với lòng thương xót của Thiên Chúa.” [9]
Vì thế, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đặt nền tảng cho
việc rao giảng lòng thương xót trong thế giới hôm nay và xác tín
bằng những lời như sau: “Lòng thương xót xuất phát từ tình yêu đến
với con người, đến với tất cả những gì thuộc về con người và theo sự
hiểu biết của những con người trong thời đại chúng ta về một nguy
cơ khủng khiếp. Chính mầu nhiệm của Đức Kitô […] đòi buộc tôi
phải rao giảng lòng thương xót của Thiên Chúa, tình yêu nhân từ
của Người được mặc khải trong mầu nhiệm Chúa Kitô. Chính mầu
nhiệm này thúc bách tôi quay về với lòng thương xót và khẩn cầu
trong giai đoạn khủng hoảng của lịch sử Hội Thánh cũng như của
thế giới” [10]. Giáo lý của Ngài rất thực tế và đáng được lấy lại làm
đề tài cho Năm Thánh này. Chúng ta hãy nghe lời của Ngài: “Hội
Thánh sống một cuộc sống đích thực, khi đón nhận và công bố lòng
thương xót – đó là thuộc tính thường gây kinh ngạc của Đấng Sáng
Tạo và Cứu độ – và hướng dẫn con người đến suối nguồn lòng
thương xót của Đấng Cứu độ, luôn che chở và chia sẻ cho mọi
người” [11].
12. Hội Thánh có sứ vụ phải rao giảng lòng thương xót
của Thiên Chúa, là trái tim luôn đập nhịp của Tin Mừng. Qua việc
rao giảng này, lòng thương xót sẽ thấm nhập vào tâm hồn và lý trí
của con người. Hiền Thê của Đức Kitô đón nhận thái độ của Con
Thiên Chúa làm của mình, sẽ đến với mọi người, không loại trừ bất
kỳ ai. Trong thời đại của chúng ta, ngay lúc Hội Thánh dấn thân cho
việc Tân Phúc Âm hóa, đề tài lòng thương xót được đề nghị với một
sự phấn khích và một chương trình mục vụ được canh tân. Điều
quyết định cho Hội Thánh và sự khả tín của việc rao giảng, đó chính
là: Hội Thánh phải là người đầu tiên sống và minh chứng lòng
thương xót này. Ngôn từ và thái độ của Hội Thánh phải toát lên lòng
thương xót, để lòng thương xót có thể thấm nhập vào tâm hồn của
mọi người và giúp họ tìm lại con đường trở về với Thiên Chúa.
Chân lý đầu tiên của Hội Thánh là tình yêu của Chúa Kitô. Hội
Thánh chỉ là kẻ phục vụ và truyền đạt tình yêu này, cho đến khi tình
yêu đưa đến sự tha thứ và tự hiến của mình. Nơi nào Hội Thánh hiện
diện, nơi đó lòng thương xót của Chúa Cha phải được biểu lộ rõ
ràng. Trong các giáo xứ, cộng đoàn, hiệp hội và phong trào, nói
chung, nơi nào các Kitô hữu hiện diện, người ta có thể tìm được các
ốc đảo của lòng thương xót.
13. Chúng ta muốn sống Năm Thánh này trong ánh sáng
của Lời Chúa: “Phải có lòng thương xót như Chúa Cha”. Tác giả
Phúc Âm nêu lại lời Chúa Giêsu đã dạy: “Anh em hãy có lòng nhân
từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ.” (Lc 6,36). Đây chính là
chương trình sống thật đòi hỏi, nhưng cũng tràn đầy niềm vui và bình
an. Mệnh lệnh của Đức Giêsu được nói cho tất cả những ai lắng nghe
Lời Người (x. Lc 6,27). Để có khả năng sống thật nhân từ, trước tiên
chúng ta phải lắng nghe Lời của Thiên Chúa. Có nghĩa là, chúng ta
phải tái khám phá giá trị của sự thinh lặng, để có khả năng suy gẫm
Lời đang hướng đến chúng ta. Chỉ có cách này, chúng ta mới có thể
suy gẫm về lòng thương xót của Thiên Chúa và đem áp dụng vào đời
sống chúng ta.
14. Hành Hương là một dấu chỉ đặc biệt trong Năm
Thánh, vì đó là biểu trưng cho con đường, mỗi người sẽ rảo bước
trong cuộc đời hiện sinh của mình. Cuộc đời là một cuộc hành hương
và con người là lữ khách (viator), lữ khách trên con đường hướng
đến mục đích khát vọng. Để có thể đi đến các cửa Năm Thánh tại
Rôma hay ở các nơi khác, mỗi người tùy theo sức lực của mình, phải
bước vào một cuộc hành hương. Đó là dấu chỉ cho thấy lòng thương
xót là một mục đích cần đạt tới, đòi hỏi phải có sự dấn thân và lễ vật.
Ước gì cuộc hành hương sẽ đưa đến việc sám hối: khi bước qua cửa
Năm Thánh, hãy để lòng thương xót của Thiên Chúa ôm lấy chúng ta
và đòi buộc chúng ta cũng phải nhân từ đối với anh em, như Chúa
Cha đã đối xử với chúng ta.
Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã vạch từng bước đi cho cuộc
hành hương này, để chúng ta có thể đạt được mục đích. “Anh em
đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em
đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ,
thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên
Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã
lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu
nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” (Lc 6,37-
38). Trước tiên, Người nói với chúng ta, đừng xét đoán và đừng kết
án. Ai không muốn đến tòa án của Thiên Chúa, thì đừng trở thành
thẩm phán xét xử anh em mình. Trong đoán xét, con người chỉ nhìn
bên ngoài, nhưng Thiên Chúa lại nhìn thấu tâm can. Những lời do
ganh tị và ghen ghét đem đến biết bao tai hại. Nói xấu anh em, chị
em trong khi họ vắng mặt như đặt họ vào ánh sáng tối mò, làm hại uy
tín của họ và làm cớ cho những lời đàm tiếu. Không xét đoán và
không kết án, nhìn về hướng tích cực là đón nhận điều tốt lành của
từng cá nhân và đừng để họ phải chịu đau khổ vì những phán đoán và
đánh giá hạn hẹp của chúng ta. Điều này cũng chưa đủ để làm nổi bật
lòng thương xót. Đức Giêsu yêu cầu chúng ta hãy tha thứ và hãy cho
đi, đó là những công cụ của sự tha thứ, vì chính chúng ta là những
người trước tiên cảm nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa, nên phải
rộng lượng với tất cả mọi người vì biết rằng Thiên Chúa rất nhận hậu
đã đối xử với chúng ta thật quảng đại.
Nhân từ như Cha trên trời là chủ đề cho Năm Thánh. Chúng ta
cảm nghiệm trong lòng thương xót này những chứng cứ Thiên Chúa
yêu thương chúng ta như thế nào. Người mãi mãi ban tặng chính
mình cho chúng ta như món quà quí giá, không mong chờ sự báo đáp
của chúng ta. Người đến trợ lực cho chúng ta, khi chúng ta van xin
Người. Thực là tốt đẹp, mỗi ngày, lời kinh của Hội Thánh khởi đầu
bằng câu xướng: “Lạy Chúa Trời, xin đến giúp con! Muôn lạy Chúa,
xin mau phù trợ!” (Tv 70,2). Sự phù trợ mà chúng ta van xin, là bước
đầu tiên lòng thương xót của Thiên Chúa. Người đến để cứu chúng ta
khỏi sự yếu hèn. Sự phù trợ của Người nằm ở chỗ Người đánh động
chúng ta để chúng ta cảm thấy sự hiện diện và gần gũi của Người.
Nhờ lòng thương xót của Người đánh động, mỗi ngày chúng ta cũng
sẽ nhân từ đối với kẻ khác.
15. Trong Năm Thánh này, chúng ta có được kinh nghiệm
khi mở lòng ra với mọi người, những người sống ngoài rìa xã hội, do
chính thế giới tân tiến gây nên thường là rất bi đát. Có biết bao hoàn
cảnh bi thương cũng như đau khổ ở giữa thế giới của chúng ta! Biết
bao vết thương xé toạt thân xác của nhiều người, những con người
không có tiếng nói, vì tiếng kêu than của họ thật yếu ớt và câm lặng
vì sự vô cảm của những nước giàu. Trong Năm Thánh này, Hội
Thánh được kêu gọi để tiếp cận các vết thương, cứu chữa với dầu an
ủi, băng bó với lòng thương xót và giúp đỡ với tình liên đới và chú
tâm. Đừng rơi vào sự dửng dưng theo thói quen làm tê cứng tâm hồn,
không còn khả năng để khám phá những điều gì mới, thường rơi vào
sự vô cảm nặng nề. Hãy mở đôi mắt chúng ta ra để nhìn sự khốn khổ
của thế giới này, những vết thương của biết bao anh chị em, cướp đi
phẩm giá của họ. Phải cảm nghiệm sự đòi buộc lắng nghe tiếng kêu
gào cứu giúp của họ. Bàn tay của chúng ta phải nắm lấy bàn tay của
họ và kéo họ về chúng ta, để họ có thể cảm nhận được sự hiện diện,
tình thân thiết và bạn hữu của chúng ta. Ước gì tiếng gào thét của họ
sẽ trở thành tiếng gào thét của chúng ta, và ước gì mọi rào chắn của
sự dửng dưng bị phá bỏ, sẽ giúp bàn tay của chúng được tự do hơn,
để khỏi rơi vào sự giả hình và ích kỷ.
Tôi thật sự mong ước, các Kitô hữu trong Năm Thánh này cần
phải suy nghĩ về công tác vật chất và tinh thần của lòng thương xót.
Đó sẽ là một cách để lương tâm của chúng ta, một thứ lương tâm
dửng dưng trước hoàn cảnh nghèo đói thật bi đát, được đánh thức
dậy để bước vào trọng tâm của Tin Mừng, nơi đó người nghèo đói sẽ
là những người ưu tiên được lòng thương xót của Thiên Chúa tuyển
chọn. Lời rao giảng của Đức Giêsu đã nêu lên các công tác của lòng
thương xót, để chúng ta có thể tự đánh giá mình còn là môn đệ của
Người hay không. Chúng ta tái khám phá công tác thể lý của lòng
thương xót: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn
mặc, cho khách lạ đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, và chôn xác
kẻ chết. Và chúng ta cũng không quên những công tác về mặt tinh
thần của lòng thương xót: lấy lời lành khuyên người, dạy dỗ kẻ mê
muội, răn bảo kẻ có tội, tha thứ cho kẻ làm mất lòng ta, nhịn nhục kẻ
gây khó khăn cho ta, và cầu nguyện với Thiên Chúa cho người sống
và kẻ chết.
Làm thế nào chúng ta thoát được khỏi Lời Chúa, vì căn cứ vào
đó mà chúng ta bị xét xử: chúng ta có cho người đói ăn hay không?
cho kẻ khát uống hay không? chúng ta có đón nhận khách lạ hay
không và cho người rách rưới ăn mặc hay không? Chúng ta có thời
giờ đi thăm kẻ liệt cùng kẻ tù rạc hay không? (x. Mt 25,31-45).
Chính chúng ta cũng bị tra vấn như thế, chúng ta có giúp kẻ khác
thoát khỏi sự nghi ngờ hay không, thắng được sự lo âu hay không vì
họ thường là những kẻ cô đơn. Chúng ta có khả năng thắng được sự
vô tri mà hằng triệu người đang phải sống, nhất là trẻ em, đang thiếu
thốn sự trợ giúp cần thiết đế thoát khỏi đói nghèo? Chúng ta có gần
gũi những kẻ cô đơn và liệt lào hay không? Chúng ta có tha thứ cho
những người xúc phạm đến chúng ta dưới mọi hình thức tức giận, thù
hằn thường đưa đến bạo lực hay không? Chúng ta có kiên nhẫn theo
gương của Thiên Chúa, Đấng luôn kiên nhẫn với chúng ta? Và cuối
cùng, chúng ta có phó thác anh chị em chúng ta trong lời cầu nguyện
với Thiên Chúa hay không? Chính Chúa hiện diện trong những
người “thấp hèn nhất” này. Thân xác của Người sẽ thật hữu hình
trong những thân xác bị hành hạ, đầy thương tích, bị đánh đòn, bị
thiếu ăn, bị bắt buộc phải di tản … để chúng ta có thể nhận ra Người,
đụng chạm đến Người, lo lắng cho Người, hiện diện luôn chăm sóc
Người. Chúng ta đừng quên lời của thánh Gioan Thánh Giá: “Vào
cuối cuộc đời, chúng ta sẽ bị phán xét về tình yêu.” [12].
16. Trong Phúc Âm thánh Luca, chúng ta còn tìm thấy
một phương diện quan trọng hơn nữa, để sống niềm tin trong Năm
Thánh. Tác giả Phúc Âm tường thuật, Đức Giêsu trở về Nazareth, và
theo thói quen, Người vào Hội Đường ngày Sabbat. Người ta yêu cầu
Người đọc Sách Thánh và giải thích. Đó là đoạn rút từ sách ngôn sứ
Isaia: “Thần Khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức
Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo Tin Mừng cho kẻ nghèo
hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị
giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm
hồng ân của Đức Chúa” (Is 61,1-2). Một “năm hồng ân của Đức
Chúa” đã được Chúa công bố và chúng ta ước muốn sống năm hồng
ân đó. Năm Thánh này sẽ đem lại sự sung mãn cho sứ vụ của Đức
Giêsu, như lời ngôn sứ đã công bố: đem đến cho người nghèo khổ
một lời và một cử chỉ an ủi, công bố sự tự do cho những người còn bị
giam hãm trong những hình thức mới của tù đày trong xã hội tân
tiến, đem lại cho họ cái nhìn đã từ lâu không còn nhìn thấy, chỉ vì họ
chỉ biết nhìn vào chính mình, trả lại cho họ phẩm giá đã bị người
khác tước đoạt. Lời công bố của Đức Giêsu nay sẽ được thấy rõ
trong tiếng đáp của niềm tin, có nghĩa là trong chứng cứ cuộc sống,
mà họ được mời gọi. Ước gì lời của Thánh Tông Đồ đồng hành cùng
chúng ta: “Ai làm việc bác ái, thì hãy vui vẻ.” (Rm 12,8).
17. Trong Năm Thánh này, ước gì, Mùa Chay thánh phải
được sống mạnh mẽ hơn như một thời gian đặc biệt để cử hành và
cảm nghiệm được lòng thương xót của Thiên Chúa. Biết bao trang
Sách Thánh giúp chúng ta suy niệm trong những tuần Mùa Chay để
tái khám phá gương mặt nhân từ của Thiên Chúa. Chúng ta có thể
nói như ngôn sứ Micha: “Lạy Đức Chúa! Đấng bỏ qua tội ác và tha
thứ sự bất công. Người sẽ không giữ mãi cơn giận, nhưng chuộng
lòng nhân nghĩa. Người sẽ lại thương xót chúng ta; tội lỗi chúng ta,
Người chà đạp dưới chân. Mọi lỗi lầm chúng ta, Người ném xuống
đáy biển.” (Mk 7,18-19).
Những đoạn sách ngôn sứ Isaia có thể giúp suy niệm cụ thể
hơn trong thời gian cầu nguyện, chay tịnh và yêu thương tha nhân:
“Cách ăn chay mà Ta ưu thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng
xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức,
đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước
vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ ; thấy ai mình trần thì
cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt
nhục? Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết
thương ngươi sẽ mau lành. Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía
trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi. Bấy giờ, ngươi
kêu lên, Đức Chúa sẽ nhận lời, ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại:
“Có Ta đây!” Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi ở gông cùm, cử chỉ đe
dọa và lời nói hại người, nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói,
làm thỏa lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng của ngươi sẽ chiếu tỏa
trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ. Đức
Chúa sẽ không ngừng dẫn dắt ngươi, giữa đồng khô cỏ cháy. Người
sẽ cho ngươi được no lòng ; xương cốt ngươi, Người sẽ làm cứng
cáp. Ngươi sẽ như thửa vườn được tưới đẫm như mạch suối không
cạn nước bao giờ.”(Is 58,6-11)
Sáng kiến “24 giờ cho Chúa” được cử hành vào ngày thứ Sáu
và thứ Bảy trước Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay, nên được củng cố
mạnh mẽ trong các giáo phận. Nhiều người, có cả giới trẻ, tìm lại với
Bí tích Hòa Giải và đã có cảm nghiệm cách đặc biệt con đường trở
về với Thiên Chúa, sống những giây phút cầu nguyện thật mãnh liệt
và tái khám phá ý nghĩa cho cuộc đời mình. Với thành tín, chúng ta
đặt lại Bí tích Hòa Giải vào trung tâm, vì chính nơi đó, chúng ta có
thể đụng chạm đến sự vĩ đại của lòng thương xót. Bí tích này đối với
những kẻ sám hối sẽ là nguồn mạch bình an nội tâm.
Tôi không ngừng lập lại rằng, các cha giải tội là một dấu chứng
đích thực cho lòng thương xót của Thiên Chúa. Các ngài không
đương nhiên là cha giải tội. Chúng ta chỉ trở thành cha giải tội một
cách đặc biệt khi chính chúng ta phải tìm đến ơn tha thứ sau khi đã
sám hối. Đừng bao giờ chúng ta quên rằng, cha giải tội có nghĩa là
chia sẻ vào sứ vụ của Đức Giêsu và là dấu chứng có thể đụng chạm
đến tình yêu hiện diện của Thiên Chúa, luôn tha thứ và cứu độ.
Chúng ta đã lãnh nhận ân huệ của Chúa Thánh Thần để có thể tha
thứ tội lỗi. Đó là điều chúng ta phải mang trách nhiệm. Chúng ta
không phải là chủ nhân của bí tích này, nhưng là quản lý trung tín
việc tha thứ của Thiên Chúa. Mỗi cha giải tội phải đón nhận các tín
hữu, như người cha trong dụ ngôn con trai hoang đàng. Người cha
chạy ra đón con mình, dù đứa con này đã làm tiêu tan hết tài sản của
nó. Cha giải tội phải ôm lấy đứa con sám hối quay trở về, và niềm
vui của các ngài phải biểu lộ ra bên ngoài, vì các ngài đã tìm lại đứa
con đó. Các ngài đừng thối chí để đi đến đứa con khác vẫn còn ở bên
ngoài, chưa tìm được niềm vui. Các ngài phải giải thích rằng những
kết án của các ngài thật bất công và không thể có trong lòng thương
xót vô bờ bến của Chúa Cha. Các ngài đừng đặt những câu hỏi rắc
rối, nhưng – như người cha trong dụ ngôn – phải có những câu nói
được chuẩn bị cho người con đã bị đánh mất, vì các ngài hiểu rằng,
trong thâm tâm mỗi người đi xưng tội, đều có một lời khẩn cầu trợ
giúp và đòi hỏi được thứ tha. Các cha giải tội lúc nào và ở bất cứ nơi
đâu, trong bất cứ trường hợp nào cũng như bất cứ hoàn cảnh nào, vẫn
phải là dấu chứng ưu tiên cho lòng thương xót.
18. Trong Mùa Chay của Năm Thánh này, tôi có ý định
sai các vị thừa sai của lòng thương xót ra đi. Các ngài phải là dấu
chứng cho sự chăm sóc mẫu từ của Hội Thánh đối với dân Thiên
Chúa, để dân này có thể tiến sâu vào sự phong phú mầu nhiệm căn
bản niềm tin của chúng ta. Đó là các vị linh mục mà tôi trao ban toàn
quyền để tha thứ tội lỗi mà chỉ có Tòa Thánh có thể thực hiện. Như
thế sẽ nêu rõ quyền hạn sứ vụ của các ngài. Nhất là các ngài phải là
dấu chứng sống động như người cha đón nhận bất cứ ai tìm ơn tha
thứ của các ngài. Các ngài sẽ là các vị thừa sai của lòng thương xót,
để các ngài tạo điều kiện cho một cuộc gặp gỡ với các tất cả mọi
người, một suối nguồn của giải thoát, một vị trí của trách nhiệm, có
thể lướt thắng mọi ngăn trở và đem lại cuộc sống mới mẽ như vừa
được lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Các ngài hoạt động sứ vụ của
mình dựa theo lời của Thánh Tông đồ: “Quả thế, Thiên Chúa đã
giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi
người.” (Rm 11,32). Vì tất cả mọi người, không trừ ai, có thể đón
nhận lời kêu gọi của lòng thương xót. Các nhà truyền giáo có thể
hoàn tất tiếng gọi này, khi các ngài hướng tầm nhìn vào Đức Giêsu,
“vị Thượng Tế nhân từ và trung tín” (Hr 2,17).
Tôi xin anh em trong chức vụ Giám Mục, mời gọi và đón nhận
các vị thừa sai này, để họ có thể là những nhà giảng thuyết xác tín
của lòng thương xót. Ước gì trong các giáo phận đều có tổ chức các
dịp “giảng dạy cho dân chúng” (missions vers le peuple –
Volksmissionen), để các nhà thừa sai này có thể là những người rao
giảng niềm vui qua việc tha thứ. Các ngài có thể cử hành Bí tích Hòa
Giải cho mọi người, để trong thời gian ân sủng mà Năm Thánh ban
tặng cho chúng ta, nhiều người đã xa lánh Hội Thánh có thể tìm lại
được con đường trở về nhà Cha. Đặc biệt, các vị mục tử nên mời gọi
các tín hữu tham dự vào thời gian chay tịnh 40 ngày của Mùa Chay,
để họ có thể “mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân
sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.” (Hr
4,16).
19. Ước gì, mọi người có thể nhận được lời tha thứ, và
ước gì, không ai hờ hững với lời mời để cho lòng thương xót tác
động trong tâm hồn họ. Lời kêu gọi sám hối của tôi hướng đến tất cả
mọi người, những ai còn sống xa Thiên Chúa. Tôi đặc biết chú trọng
đến những người còn tham gia vào các bất cứ tổ chức tội phạm nào.
Vì lợi ích của riêng mình, tôi xin họ: hãy thay đổi lối sống! Tôi van
xin anh chị em nhân danh Con Thiên Chúa, Đấng – dù chiến đấu
chống bất cứ tội lỗi nào – sẽ không bao giờ từ chối các tội nhân. Nếu
như không nằm trong trường hợp nguy hiểm này, thì hãy tin rằng,
nếu trong cuộc sống tất cả gắn vào tiền bạc, thì tất cả sẽ không còn
giá trị và phẩm chất nào cả. Đó chỉ là ảo tưởng! Không ai bước sang
thế giới bên kia với tiền bạc của mình. Và thật sự, tiền bạc sẽ không
làm cho con người được hạnh phúc. Bạo lực được sử dụng để thu
gom tiền bạc cũng không cho con người đầy quyền lực và cũng
không giúp cho con người bất tử. Sớm muộn gì rồi tất cả mọi người
đều phải xuất hiện trước tòa Chúa, không ai có thể thoát được.
Lời kêu gọi này cũng hướng đến những kẻ chủ động và đồng
lõa dính vào sự tham nhũng. Vết thương ung thối này của xã hội là
một tội kêu thấu đến trời, vì nó chôn vùi nền tảng cuộc sống của cá
nhân và cả xã hội. Sự tham nhũng ngăn cản con người nhìn vào
tương lai với hy vọng, vì với sự vô cảm và tham lam, nó tàn phá
những dự đinh tương lai của những kẻ yếu đuối và áp bức người
nghèo. Đó là điều xấu xa, bắt nguồn từ những điều nhỏ bé hằng ngày
để vươn đến những tai tiếng công khai. Sự tham nhũng cắm rễ sâu
trong tội, có ý định thay thế Thiên Chúa bằng ảo tưởng quyền lực của
đồng tiền. Nó là hoạt động của bóng tối, dựa trên hoài nghi và gian
trá. Thánh Grégor Cả nói, đó là corruprio optimi pessima (sự hư hoại
xấu xa nhất) để cho thấy rằng không ai tránh khỏi cơn cám dỗ này.
Để có thể loại trừ nó ra khỏi đời sống cá nhân và công khai, phải đặt
ngón tay vào vết thương. Nếu ai không chiến đấu với tham nhũng
cách rõ ràng, thì trước sau gì cũng trở thành đồng lõa và huỷ hoại
cuộc sống của mình.
Đây là cơ hội thuận tiện để thay đổi lối sống! Đây là giây phút
đánh động tự tâm can. Đối mặt với tội phạm, ngay cả tội lỗi nặng nề
nhất, cũng có giây phút người ta có thể nghe tiếng khóc của những kẻ
vô tội, những người bị bóc lột tài sản, phẩm giá, dự phóng và ngay cả
cuộc sống. Nếu ở mãi trên con đường xấu xa, thì đó là nguồn của ảo
tưởng xấu và buồn thảm. Cuộc sống thực khác hẳn điều này. Thiên
Chúa không bao giờ mỏi mệt giơ tay của Người. Người luôn sẵn
sàng lắng nghe, và tôi cũng như anh em tôi trong chức vụ Giám Mục
và linh mục cũng thế. Xin hãy đón nhận lời kêu gọi sám hối và đón
nhận sự công bằng, trong khi Hội Thánh luôn mời gọi lòng xót
thương.
20. Cũng thật ý nghĩa để nhắc lại liên hệ giữa công bình
và lòng thương xót. Đây không phải là hai phương diện đối nghịch
nhau, nhưng là hai chiều kích của một thực tại duy nhất, cùng được
triển khai cho đến đỉnh điểm trong sự tràn đầy tình yêu. Công bình là
quan niệm căn bản của xã hội dân sự, trong đó thường được một trật
tự luật lệ chi phối, được áp dụng trong khung lề luật. Người ta hiểu
công bình là phải trả lại cho từng con người điều phải thuộc về họ.
Trong Kinh Thánh, người ta nói nhiều về đức công bình của Thiên
Chúa và về Thiên Chúa là vị thẩm phán. Điều này giúp chúng ta hiểu
về việc tuân giữ toàn bộ Lề Luật và thái độ của những người Do Thái
tốt lành đối với giới luật của Thiên Chúa. Cái nhìn này thường đưa
đến thái độ vụ luật, khi làm sai lệch ý nghĩa nguyên thuỷ và làm lu
mờ ý nghĩa sâu xa của đức công bình. Để lướt thắng cái nhìn vụ luật,
cần phải nhớ rằng, trong Thánh Kinh, đức công chính trước tiên là
hoàn toàn và tin tưởng phó thác vào ý muốn của Thiên Chúa.
Đức Giêsu thường nói về ý nghĩa của đức tin như là tuân giữ
Lề Luật. Theo ý nghĩa này, chúng ta phải hiểu lời của Người, khi
Người – theo thánh Matthêu, trong lúc Người đồng bàn với những
người thu thuế và kẻ tội lỗi – đáp lại những lời chỉ trích của nhóm
Pharisêu: “Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu: Ta muốn lòng nhân
chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà
để kêu gọi người tội lỗi.” (Mt 8,13). Đối mặt với cái nhìn xem sự
công chính như thái độ tuân giữ Lề Luật, từ đó đưa ra phân biệt giữa
người công chính với kẻ tội lỗi, Đức Giêsu tìm cách cho thấy hồng
ân vĩ đại của lòng thương xót: lòng thương xót đi tìm kẻ tội lỗi và
mời gọi để ban ơn tha thứ và cứu độ. Chúng ta có thể hiểu, tại sao
Người dựa vào một cái nhìn giải thoát như nguồn mạch canh tân, lại
bị nhóm Pharisêu và các nhà thông luật phủ nhận. Những con người
này với việc trung thành Lề Luật, đã đặt những gánh nặng trên vai
mọi người, xóa mờ đi lòng thương xót của Chúa Cha. Lời mời gọi
tuân giữ Lề Luật không được phép ngăn cản việc chú tâm vào những
nhu cầu tạo nên phẩm giá con người.
Việc hướng ý của Đức Giêsu vào bản văn của ngôn sứ Hôsê –
“Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ” (Hs 6,6) – rất có ý nghĩa
trong hoàn cảnh này. Đức Giêsu nhấn mạnh, từ nay lòng thương xót
sẽ là luật sống ưu tiên nhất của người môn đệ, như chính Người đã
thực hiện, khi ngồi đồng bàn với những kẻ tội lỗi. Lại một lần nữa,
lòng thương xót được nhấn mạnh như chiều kích căn bản cho sứ vụ
của Đức Giêsu. Đó thực sự cũng là một thách thức cho những người
đối diện, những người chỉ biết dừng lại trong việc chú tâm thực hiện
Lề Luật theo hình thức. Ngược lại, Đức Giêsu vượt qua Lề Luật.
Người ngồi đồng bàn với những kẻ bị Lề Luật kết án là tội lỗi, giúp
cho chúng ta hiểu rằng, lòng thương xót vươn xa như thế nào.
Ngay Thánh Tông đồ Phaolô cũng bước theo con đường tương
tự như thế. Trước khi gặp Đức Giêsu trên con đường Đamas, ngài đã
thực hiện trong đời mình sự công chính theo Lề Luật không chút sai
sót (x. Pl 3,6). Việc quay về với Đức Kitô đã hoàn toàn chuyển đổi
cái nhìn của ngài, đến độ, ngài đã viết trong thư Galát như sau:
“Chúng ta tin vào Đức Kitô Giêsu để được nên công chính, vì nhờ
tin vào Đức Kitô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy” (Gl
2,16). Cách hiểu về sự công chính đã chuyển đổi triệt để nơi ngài.
Thánh Phaolô đã đặt niềm tin vào vị trí thứ nhất chứ không còn là Lề
Luật. Không phải việc tuân giữ Lề Luật sẽ cứu chúng ta, nhưng chỉ
có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô mà thôi, Đấng nhờ cái chết và sự
phục sinh của Người đã đem lại ơn cứu độ, nhờ lòng thương xót giúp
chúng ta nên công chính. Sự công chính của Thiên Chúa từ nay mang
ý nghĩa giải thoát chúng ta khỏi làm nô lệ cho tội lỗi và hậu quả của
chúng. Sự công chính của Thiên Chúa là sự tha thứ của Người (x. Tv
51,11-16).
21. Lòng thương xót không mâu thuẫn với sự công chính,
ngược lại nhấn mạnh thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân, vì
Người tạo khả năng để đưa đến sự sám hối, trở lại và tin tưởng. Kinh
nghiệm của ngôn sứ Hôsê trợ giúp chúng ta khi cho thấy sự công
chính trong chiều hướng của lòng thương xót. Ngôn sứ này sống
trong một giai đoạn bi đát của lịch sử dân Do Thái. Vương quốc sắp
sụp đổ. Dân chúng phá vỡ giao ước, xa rời Thiên Chúa và đánh mất
cả niềm tin của cha ông. Theo suy luận của loài người, Thiên Chúa
rồi cũng sẽ rời bỏ đám dân bất tín này. Người ta không còn tuân giữ
giao ước đã ký kết và thật xứng đáng để lãnh lấy án phạt công thẳng,
đó là bị lưu đày. Lời của ngôn sứ minh chứng điều này: “Nó sẽ
không trở về Ai Cập nữa, nhưng Átsua sẽ lại làm vua nó; vì nó không
chịu về với Ta.” (Hs 11,5). Thế nhưng, sau phản ứng đầu tiên, đòi
buộc sự công thẳng, ngôn sứ lại thay đổi ngôn từ cách triệt để và cho
thấy gương mặt đích thực của Thiên Chúa: “Trái tim Ta thổn thức,
ruột gan Ta bồi hồi. Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận, sẽ
không tiêu diệt Épraim nữa, vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải
người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh, và Ta sẽ không đến
trong cơn thịnh nộ” (Hs 11,8-9). Thánh Augustinô cũng nói như thế
khi diễn giải lời này của vị ngôn sứ: “Thiên Chúa dễ cầm được cơn
nóng giận hơn là lòng thương xót của Người” [13]. Điều này thật
đúng! Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa thoáng qua, nhưng lòng thương
xót của Người luôn bền vững.
Nếu Thiên Chúa chỉ dừng lại ở đức công chính, thì Người
không còn là Thiên Chúa nữa, nhưng chỉ là con người, đòi buộc phải
tôn trọng luật lệ. Sự công chính mà thôi thì chưa đủ và kinh nghiệm
dạy chúng ta, nếu ai chỉ nại đến điều này, sẽ rơi vào nguy hiểm, có
thể huỷ diệt cả lề luật. Vì thế Thiên Chúa vượt trên sự công chính
bằng lòng thương xót và tha thứ. Điều này không bảo phải loại trừ
công chính hay không cần nó nữa. Thật sự là ngược lại. Ai đã phạm
lỗi, phải đền tội. Nhưng đó không phải là điểm cuối cùng, như chỉ
mới khởi đầu cho sự sám hối, trong đó con người cảm nhận được sự
dịu dàng của tha thứ. Thiên Chúa không phủ nhận sự công chính,
nhưng đặt nó trong một liên hệ lớn hơn và vượt lên trên, để giúp con
người cảm nhận được tình yêu, đó là nền tảng của sự công chính đích
thực. Chúng ta cần phải chú ý vào điều Thánh Phaolô viết, để khỏi
rơi vào sai lầm, điều mà thánh nhân chỉ trích người Do Thái cùng
thời với ngài: “Họ không tuân theo đường lối Thiên Chúa làm cho
người ta nên công chính. Quả thế, cứu cánh của Lề Luật là Đức Kitô,
khiến bất cứ ai tin đều được nên công chính.” (Rm 10,3-4). Sự công
chính này của Thiên Chúa chính là lòng thương xót, tuôn ban cho
mọi người ân sủng nhờ vào cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu
Kitô. Thập giá chính là lời phán xét của Thiên Chúa đối với chúng ta
và cả thế giới, vì thập giá ban tặng cho chúng ta sự xác tín vào tình
yêu và cuộc sống mới.
22. Năm Thánh sẽ giúp chúng ta đón nhận ÂN XÁ. Điều
này mang ý nghĩa đặc biệt về lòng thương xót trong Năm Thánh.
Thiên Chúa tha thứ tội lỗi của chúng ta vô giới hạn. Người tỏ lộ tình
thương của Người trong cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu
Kitô, đập tan mọi tội lỗi của con người. Giao hòa với Thiên Chúa chỉ
có thể căn cứ vào mầu nhiệm Vượt Qua và sự trung gian của Hội
Thánh. Thiên Chúa luôn sẵn sàng để tha thứ, Người không mỏi mệt
ban cho họ nhiều cách thức mới mẽ và đầy kinh ngạc. Chúng ta đều
có kinh nghiệm về tội lỗi. Và chúng ta cũng biết, chúng ta được kêu
gọi để nên hoàn thiện (x. Mt 5,48), nhưng chúng ta cũng cảm thấy
gánh nặng nề của tội lỗi. Khi công nhận quyền lực của ân sủng giúp
chúng ta chuyển đổi, chúng ta cũng cảm nhận được sức mạnh của tội
lỗi áp đảo chúng ta. Cho dù đã được tha thứ, cuộc sống của chúng ta
vẫn còn mang dấu ấn xung khắc do tội lỗi gây nên. Trong Bí tích
Hòa Giải, Thiên Chúa tha thứ tội lỗi của chúng ta và thực sự tội lỗi
được xóa bỏ. Dù vậy, vẫn còn những dấu vết tiêu cực sót lại trong
thái độ và suy nghĩ của chúng ta. Nhưng lòng thương xót của Thiên
Chúa vẫn mạnh hơn tất cả. Lòng thương xót này hiện diện trong các
Ân Xá, mà Chúa Cha, nhờ qua Hội Thánh, Hiền Thê của Đức Kitô,
ban tặng cho tội nhân đã được tha thứ, và nhờ Ân Xá, được giải thoát
khỏi các hậu quả của tội lỗi, để có thể hoạt động cách mới mẽ trong
tình yêu và lớn lên trong tình yêu để khỏi bị rơi trở lại vào tội lỗi.
Hội Thánh sống hiệp thông với chư thánh. Sự hiệp thông này
trở nên trọn vẹn trong việc cử hành Bí tích Thánh Thể, đó là một quà
tặng của Thiên Chúa, như mối dây tinh thần liên kết chúng ta là các
tín hữu với vô số các vị thánh và Chân Phúc (x. Kh 7,4). Sự thánh
thiện của họ đến trợ giúp sự yếu đuối của chúng ta, và Mẹ Hội Thánh
có khả năng nhờ lời cầu nguyện và đời sống của mình có thể trình ra
sự yếu đuối của những người này trước sự thánh thiện của những
người khác. Đón nhận Ân Xá trong Năm Thánh nêu rõ con người
phó thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa với xác tín rằng sự tha
thứ của Người sẽ tác động trên toàn đời sống của các tín hữu. Ân Xá
giúp con người cảm nhận sự thánh thiện của Hội Thánh, xuất phát từ
những hoa trái mang ơn cứu độ qua Đức Kitô, và tiếp tục trao ban
trong việc tha thứ, cho đến hiệu quả cuối cùng do tình yêu của Thiên
Chúa đem đến. Chúng ta hãy sống tích cực Năm Thánh này, năm mà
chúng ta van xin Chúa Cha ban ơn tha thứ tội lỗi và mở rộng sự độ
lượng nhân từ của Người.
23. Lòng thương xót phải vượt qua ranh giới của Hội
Thánh, nối kết chúng ta với Do Thái giáo và Hồi giáo. Đối với các
tôn giáo này, lòng thương xót là một thuộc tính quan trọng nhất của
Thiên Chúa. Dân Do Thái như là người đầu tiên đón nhận mặc khải
này, mặc khải trong lịch sử luôn là khởi điểm cho sự phong phú vô
hạng được ban cho cả nhân loại. Như chúng ta đã thấy, các trang
sách Cựu Ước đều chứa chất tràn đầy lòng thương xót, vì thuật lại
những kỳ công của Thiên Chúa đã thực hiện cho dân Người trong
những giai đoạn khó khăn nhất nơi lịch sử của họ. Về phần mình,
Hồi giáo, ngoài danh xưng là “Đấng sáng tạo” để gọi Thiên Chúa,
còn có những danh xưng khác như “Đấng nhân ái và Đấng nhân
hậu”. Các danh xưng này thường được những người thành tín Hồi
giáo tuyên xưng thường xuyên trên môi miệng; trong sự yếu đuối
hằng ngày, họ kêu van lòng thương xót của Thiên Chúa đồng hành
và nâng đỡ họ. Họ cũng tin rằng, không ai bị loại khỏi lòng thương
xót của Thiên Chúa và các cửa của lòng thương xót luôn mở rộng.
Trong Năm Thánh mà chúng ta sống trong tinh thần của lòng
thương xót, sẽ là một cuộc gặp gỡ với các tôn giáo này và với những
truyền thống tốt đẹp khác. Năm Thánh giúp chúng ta mở rộng cuộc
đối thoại, để có thể học nhận biết và thấu hiểu nhiều hơn. Điều này
giúp chúng ta vượt qua mọi hình thức đóng kín và coi thường kẻ
khác, cũng như loại bỏ mọi hình thức bạo lực và phân biệt đối xử.
24. Bây giờ suy nghĩ của chúng ta cùng hướng về Người
Mẹ của lòng thương xót. Ước gì cái nhìn đầy lòng thương xót của
Mẹ luôn đồng hành với chúng con trong suốt Năm Thánh này, để
chúng con có thể khám phá lại tất cả niềm vui dịu dàng của Thiên
Chúa. Không ai như Mẹ có thể học hỏi được sự sâu thẳm các mầu
nhiệm Nhập Thể của Thiên Chúa. Trọn cuộc sống của Mẹ được in
dấu sự hiện diện của lòng thương xót hoá thành nhục thể. Mẹ của
Đấng chịu đóng đinh và đã sống lại, được bước vào nơi thánh lòng
thương xót của Thiên Chúa, vì Mẹ đã thông phần thật sâu xa vào
mầu nhiệm tình yêu của Người.
Để được chọn làm Mẹ của Con Thiên Chúa, ngay từ thuở ban
đầu, Mẹ đã được tình yêu của Thiên Chúa chuẩn bị, để trở thành
Hòm Bia Giao Ước, giao ước giữa Thiên Chúa và loài người. Mẹ đã
gìn giữ lòng thương xót của Thiên Chúa trong sâu thẳm tâm hồn
mình, cùng hợp tiếng hoàn toàn với Con của Mẹ là Đức Giêsu. Lời
ca tụng của Mẹ nơi ngưỡng cửa nhà bà Elisabeth được dâng hiến cho
lòng thương xót, đã trải qua “từ đời nọ đền đời kia” (Lc 1,50). Cả
chúng ta nữa cũng được hiện diện trong lời ca mang tính chất tiên tri
này. Điều này mang đến cho chúng ta sự an ủi và củng cố sức lực,
khi chúng ta bước qua cánh cửa Năm Thánh, để được cảm nghiệm
hoa trái lòng thương xót của Thiên Chúa.
Dưới chân thánh giá, cùng với thánh Gioan, người môn đệ
Chúa yêu, Đức Maria là chứng nhân cho những lời tha thứ thốt ra từ
môi miệng của Chúa. Công thức cao trọng nhất cho việc tha thứ đối
với những người đã đóng đinh Người, cho chúng ta thấy lòng thương
xót của Thiên Chúa cao xa như thế nào. Đức Maria chứng nhận lòng
thương xót của Con Thiên Chúa thật vô bờ bến và đi đến với mọi
người, không ai bị loại ra khỏi sự tha thứ đó. Chúng ta hãy hướng về
Mẹ qua lời kinh SALVE REGINA (Lạy Nữ Vương) lời kinh rất cổ
nhưng cũng thật mới, để nhìn thấy Mẹ luôn theo dõi chúng ta với ánh
mắt nhân từ và giúp chúng ta nên xứng đáng trước dung mạo của
lòng thương xót, là Đức Giêsu Kitô, Con của Mẹ.
Lời cầu nguyện của chúng ta cũng hướng đến chư thánh và các
chân phúc, đã rao truyền lòng thương xót bằng chính cuộc sống của
họ. Cách đặc biệt hơn, chúng ta hướng đến nữ thánh của lòng thương
xót, thánh nữ FAUSTINA KOWALSKA. Thánh nữ được gọi để
bước vào lòng thương xót thẳm sâu của Thiên Chúa; xin thánh nữ trở
thành Đấng cầu bàu cho chúng tôi và hiện thực nơi chúng tôi các ân
sủng, để sống và bước đi trong sự tha thứ của Thiên Chúa và luôn tin
tưởng vào tình yêu của người.
25. Một Năm Thánh ngoại thường như thế để mỗi ngày
chúng ta sống lòng thương xót mà Chúa Cha từ thuở ban đầu đã tuôn
đổ trên chúng ta. Trong Năm Thánh này hãy để Thiên Chúa gây kinh
ngạc cho chúng ta. Người không mỏi mệt để mở cửa tâm hồn của
Người cho chúng ta và luôn cứ tái hiện để giúp chúng ta thấy Người
luôn yêu thương chúng ta và muốn chia sẻ với chúng ta cuộc sống
của Người. Hội Thánh cảm nhận sự khẩn thiết phải rao giảng lòng
thương xót của Thiên Chúa. Đời sống của Hội Thánh thật chính đáng
và khả tín, khi rao giảng một cách xác tín lòng thương xót. Hội
Thánh biết, trong thời gian đặc biệt như thời đại của chúng ta với đầy
hy vọng, nhưng cũng không thiếu mâu thuẫn, trách nhiệm hàng đầu
của Hội Thánh là hướng dẫn mọi người, nhờ chiêm ngắm Dung
Nhan Chúa Kitô, bước vào mầu nhiệm lớn lao lòng thương xót của
Thiên Chúa. Hội Thánh được kêu gọi thành người đầu tiên làm
chứng tá đáng tin cho lòng thương xót, khi tuyên xưng và sống lòng
thương xót này như nền tảng sâu xa của mầu nhiệm Thiên Chúa. Từ
trái tim của Ba Ngôi Thiên Chúa, từ nền tảng sâu xa của mầu nhiệm
này, tuôn trào dòng sông vĩ đại của lòng thương xót không lúc nào
ngưng chảy. Nguồn nước này không lúc nào khô cạn dù cho tất cả
đều đến kín múc. Mỗi khi cần đến, con người có thể tiếp cận, vì lòng
thương xót của Thiên Chúa sẽ vô cùng vô tận. Vực thẳm sâu của mầu
nhiệm này không thể tiếp cận được, thì sự phong phú từ đó cũng vô
cùng.
Trong Năm Thánh này, xin cho Lời Chúa vang lên trong Hội
Thánh một cách mạnh mẽ và xác tín như một lời và một cử chỉ tha
thứ, củng cố, nâng đỡ và tràn đầy tình yêu, Hội Thánh không bao giờ
mỏi mệt, để mời gọi mọi người chạy đến lòng thương xót, và Hội
Thánh luôn kiên nhẫn sẵn sàng để an ủi và thứ tha. Xin cho Hội
Thánh trở thành tiếng nói của mỗi người nam cũng như nữ, luôn
không ngừng lập lại một cách tin tưởng: “Lạy Chúa, xin nhớ lại
nghĩa nặng với ân sâu, Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn
đời.” (Tv 25,6).
Ban hành tại Rôma, cạnh Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 11
tháng 04, lễ vọng Chúa Nhật II Phục Sinh, kính Lòng Thương Xót
Của Chúa, năm 2015, năm thứ 3 triều Giáo Hoàng của tôi.
PHANXICÔ
Ghi chú
1. Công Đồng Vaticanô II , Dei Verbum, số 4.
2. Diễn từ khai mạc Công Đồng chung Vaticanô II, Gaudet
Mater Ecclesia, ngày 10.10.1962, 2-3.
3. Diễn từ phiên họp cuối cùng của Công Đồng Vaticanô II,
ngày 7.12.1965.
4. Lumen Gentium, 16 ; Gaudium et Spes 15.
5. Thomas, Summa Theo., II-II, q. 30, a.4.
6. Lời cầu nguyện trong bản văn Sacramentum Gelasium.
7. Hom. 21: CCL 122, 149-151.
8. Evangelii Gaudium số 24.
9. Số 2.
10. Dives in Misericordia, số 15.
11. người ta, số 13.
12. Ghi chú về Lời và Ánh sáng, 57.
13. Tv 76, 11.
(Tài liệu của Vatican.va)
Tóm Tắt Tông Chiếu Ấn Định
Năm Thánh Ngoại Thường Về Lòng Thương Xót
J.B. Đặng Minh An
Tông Chiếu ấn định năm thánh ngoại thường về lòng thương
xót có tên là “Misericordiae Vultus” (Khuôn Mặt Xót Thương) gồm
25 đoạn, trong đó, Đức Thánh Cha Phanxicô mô tả những điểm nổi
bật nhất của lòng thương xót, tập trung chủ yếu vào ánh sáng của
thiên nhan Chúa Kitô. Lòng thương xót không phải là một khái niệm
trừu tượng mà là một khuôn mặt để nhận biết, chiêm ngưỡng, tôn
thờ; và là động lực thức tỉnh chúng ta trước sự sống mới và cấy trong
chúng ta lòng can đảm để nhìn về tương lai với niềm hy vọng và với
quyết tâm canh tân để Hội Thánh trở nên một dấu chỉ đáng tin cậy
của lòng thương xót là “nền tảng của đời sống Hội Thánh”.
Mở đầu Tông Chiếu, Đức Thánh Cha khẳng định rằng “Chúa
Giêsu Kitô là khuôn mặt của lòng thương xót của Chúa Cha. Những
lời này có thể tổng hợp sâu sắc mầu nhiệm của đức tin Kitô. Lòng
Thương Xót đã trở nên sống động và hữu hình nơi Đức Giêsu thành
Nagiarét, và đạt đến đỉnh cao nơi Ngài.”
Lý do công bố Năm Thánh Ngoại Thường về Lòng Thương
Xót
Chúng ta cần phải liên tục chiêm ngắm mầu nhiệm của lòng
thương xót. Đó là suối nguồn của niềm vui, sự thanh thản và bình an.
Ơn cứu rỗi của chúng ta phụ thuộc vào đó. Lúc này, lúc khác chúng
ta được mời gọi để dán mắt nhìn chăm chú hơn lòng thương xót để
chúng ta có thể trở thành một dấu chỉ thuyết phục hơn cho tác động
của Chúa Cha trong cuộc sống của chúng ta. Vì lý do này, Đức
Thánh Cha đã tuyên bố một Năm Thánh ngoại thường về Lòng
Thương Xót như một thời gian đặc biệt cho Hội Thánh; một thời gian
trong đó chứng tá của các tín hữu có thể phát triển mạnh mẽ và hiệu
quả hơn.
Thời gian cử hành Năm Thánh
Năm Thánh sẽ được khai mạc vào ngày 08 Tháng 12 năm
2015, Đại Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Ngày lễ phụng vụ này
nhắc nhớ tác động của Thiên Chúa ngay từ đầu của lịch sử nhân loại.
Sau khi ông Adong và bà Evà đã phạm tội, Thiên Chúa không muốn
để nhân loại cô đơn trong thống khổ của sự dữ. Vì thế, Ngài quay
sang nhìn Đức Maria, thánh thiện và tinh tuyền trong tình yêu (x.
Eph 1:4), và chọn Mẹ là Mẹ của Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Đứng
trước ách nặng nề của tội lỗi, Thiên Chúa đáp lại với sự sung mãn
của lòng thương xót.
Ngày 08 tháng 12 cũng được chọn cũng vì ý nghĩa phong phú
của ngày lễ này trong lịch sử gần đây của Hội Thánh. Thực vậy, ngày
08 Tháng 12 năm 2015 là ngày kỷ niệm lần thứ năm mươi bế mạc
Công Đồng Chung Vatican II. Hội Thánh cảm thấy một nhu cầu lớn
lao phải giữ cho sự kiện này sống động. Với Công Đồng này, Hội
Thánh bước vào một giai đoạn mới trong lịch sử của mình.
Năm Thánh sẽ được bế mạc vào Lễ Trọng Chúa Kitô Vua 20
tháng 11 năm 2016 với ý hướng phó thác đời sống của Hội Thánh,
của nhân loại, và của toàn bộ vũ trụ cho quyền Chủ Tể của Chúa
Kitô, Đấng là Vua Vũ Trụ.
Lòng Thương Xót là từ then chốt nói lên tác động của
Thiên Chúa đối với nhân loại
Như chúng ta thấy trong Kinh Thánh, lòng thương xót là một
từ khóa chỉ ra hành động của Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngài
không hạn chế mình trong việc khẳng định tình yêu của Ngài, nhưng
còn đi xa hơn là làm cho tình yêu này thành hữu hình và đụng chạm
đến được. Tình yêu, nói cho cùng, không bao giờ chỉ là một khái
niệm trừu tượng. Tự chính bản chất của nó, tình yêu hướng đến một
cái gì đó cụ thể: ý định, thái độ, và những hành vi được thể hiện
trong cuộc sống hàng ngày. Lòng thương xót của Thiên Chúa là mối
quan tâm từ ái của Ngài cho mỗi người chúng ta. Ngài cảm thấy có
trách nhiệm; nghĩa là, Ngài ước muốn sự khang an của chúng ta và
muốn thấy chúng ta hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và an bình. Đây là
con đường mà tình yêu nhân hậu của các tín hữu Kitô phải đi. Như
Chúa Cha yêu thương, con cái của Ngài cũng phải thế. Như Cha đầy
lòng thương xót, chúng ta cũng được mời gọi để xót thương nhau.
Lòng Thương Xót là nền tảng của đời sống Hội Thánh
Lòng Thương Xót là nền tảng của đời sống Hội Thánh. Tất cả
các hoạt động mục vụ của Hội Thánh phải được bao bọc trong sự dịu
dàng mà Hội Thánh đưa ra với các tín hữu; không có gì trong lời rao
giảng của Hội Thánh và trong chứng tá của Hội Thánh với thế giới
có thể thiếu vắng sự thương xót. Chính sự khả tín của Hội Thánh
được nhìn thấy trong cách thức Hội Thánh thể hiện tình yêu thương
xót và trắc ẩn.
Xã hội ngày nay càng ngày càng quên dần Lòng Thương
Xót
Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc chúng ta đừng quên một giáo
huấn quan yếu được đưa ra bởi Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
trong Thông điệp thứ hai của ngài, Dives in Misericordia (Giàu Lòng
Thương Xót), được đưa ra bất ngờ, đã làm nhiều người kinh ngạc.
Có hai đoạn đặc biệt mà Đức Thánh Cha muốn lôi kéo sự chú ý. Đầu
tiên, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh sự kiện là
chúng ta đã quên đi chủ đề lòng thương xót trong môi trường văn hóa
hôm nay: “Có lẽ là hơn bao giờ hết, não trạng của con người ngày
nay xem ra muốn chống lại một Thiên Chúa của lòng thương xót, và
trong thực tế có xu hướng muốn loại ra khỏi cuộc sống và triệt hạ
khỏi trái tim con người những ý tưởng của lòng xót thương. Từ ngữ
và khái niệm 'thương xót' dường như gây xao xuyến trong con người,
mà nhờ vào sự phát triển to lớn chưa từng có trong lịch sử của khoa
học và kỹ thuật đã trở thành chủ nhân của trái đất, đã chinh phục và
thống trị nó (x. Sáng Thế 01:28). Sự thống trị trái đất này, đôi khi
được hiểu một cách phiến diện và hời hợt, dường như không còn chỗ
cho lòng thương xót.”
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng thúc đẩy việc loan
báo khẩn cấp hơn và đưa ra những chứng tá cho lòng thương xót
trong thế giới đương đại: “Xuất phát từ tình yêu dành cho con người,
cho tất cả những gì là nhân bản và những gì, theo trực giác của nhiều
người đương thời với chúng ta, là đang bị đe dọa bởi một mối nguy
hiểm lớn lao. Mầu nhiệm của Chúa Kitô… buộc tôi phải rao giảng
lòng thương xót như tình yêu từ bi của Thiên Chúa, đã được mạc
khải trong cùng một mầu nhiệm của Chúa Kitô. Mầu nhiệm ấy cũng
buộc tôi phải trông cậy và khẩn cầu lòng xót thương trong giai đoạn
khó khăn, và quan trọng này trong lịch sử Hội Thánh và thế giới.”
Đức Thánh Cha nhận xét rằng giáo huấn này của Thánh Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II là thích hợp hơn hơn bao giờ hết và đáng
được đề cao một lần nữa trong Năm Thánh này.
Ơn gọi của Hội Thánh trong Năm Thánh này
Hội Thánh được mời gọi biến mình thành một người đầy tớ của
tình yêu từ bi của Thiên Chúa và làm trung gian của tình yêu ấy cho
tất cả mọi người. Do đó, bất cứ nơi nào Hội Thánh hiện diện, lòng
thương xót của Chúa Cha phải là hiển nhiên. Trong các giáo xứ, các
cộng đồng, các hiệp hội và các phong trào, nói tắt một lời, là bất cứ
nơi nào có những Kitô hữu, tất cả mọi người phải tìm được một ốc
đảo của lòng thương xót.
Ơn gọi của mỗi cá nhân trong Năm Thánh này: “Hãy thương
xót như Cha các ngươi có lòng thương xót”
Nếu chúng ta muốn sống Năm Thánh này, trong ánh sáng lời
Chúa: Hãy có lòng xót thương như Chúa Cha. Vị Thánh Sử nhắc nhở
chúng ta về giáo huấn của Chúa Giêsu, Đấng đã phán: “Hãy thương
xót như Cha các ngươi có lòng thương xót” (Lc 6:36). Đó là một
chương trình sống vừa đòi hỏi vừa phong phú với niềm vui và bình
an.
Xót thương như Chúa Cha, vì vậy, là “phương châm” của Năm
Thánh này. Nơi lòng thương xót, chúng ta tìm thấy bằng chứng về
cách thức Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Ngài trao ban toàn bộ
chính Ngài cho chúng ta, luôn luôn, tự nguyện, không yêu cầu hồi
đáp. Ngài đến giúp chúng ta bất cứ khi nào chúng ta cầu khẩn Ngài.
Những thể hiện cụ thể của lòng thương xót trong Năm
Thánh này
Ước muốn cháy bỏng của Đức Thánh Cha là trong Năm Thánh
này, chúng ta có thể suy tư trên các hoạt động thể lý và thiêng liêng
của lòng thương xót. Đó sẽ là một cách để thức tỉnh một lương tâm
quá thường khi mờ mịt trước cảnh nghèo đói. Chúng ta hãy tái khám
phá những hoạt động thể lý của lòng thương xót: cho kẻ đói ăn, cho
kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ
liệt cùng kẻ tù rạc, và chôn xác kẻ chết. Và chúng ta đừng quên các
hoạt động thiêng liêng của lòng thương xót: lấy lời lành mà khuyên
người, mở dậy kẻ mê muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ
dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cũng như cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
Năm Thánh này sẽ là một năm hồng ân, một năm thương
xót
Thánh Luca viết rằng Chúa Giêsu, vào ngày Sabát, đã trở lại
Nagiarét và, như thường lệ, Ngài bước vào hội đường. Người ta mời
Ngài đọc Kinh Thánh và đưa ra lời bình luận. Đoạn văn được đọc
trích từ Sách Tiên Tri Isaia, trong đó viết: “Thần khí Chúa ngự trên
tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi báo tin mừng cho kẻ
nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho
kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một
năm hồng ân của Ðức Chúa” (Is 61: 1-2). Một “năm hồng ân của
Ðức Chúa” hay “một năm thương xót”: đây là những gì Chúa đã
công bố và đây là những gì giờ đây chúng ta muốn sống. Năm Thánh
này sẽ mang đến sự phong phú trong sứ mệnh của Chúa Giêsu được
vang vọng trong những lời của vị tiên tri: là mang một lời nói và cử
chỉ an ủi cho người nghèo, để loan báo tự do cho những ai bị trói
buộc bởi các hình thái nô lệ mới trong xã hội hiện đại, để phục hồi
ánh sáng cho những ai không thể nhìn thấy nữa vì họ bị co cụm trong
chính mình, để phục hồi phẩm giá cho tất cả những ai mà nhân phẩm
đã bị cướp mất. Lời rao giảng của Chúa Giêsu lại trở nên hữu hình
trong đáp trả đức tin mà các Kitô hữu được mời gọi đưa ra qua chứng
tá của họ. Cầu xin cho những lời của Thánh Tông Đồ [Phaolô] đồng
hành với chúng ta: “Ai làm những việc bác ái, thì hãy làm những
điều ấy trong hân hoan” (Rm 12: 8).
Mùa Chay của Năm Thánh là một thời điểm sống sốt sắng,
giao hòa với Chúa và anh chị em mình qua Bí Tích Hòa Giải
Mùa Chay trong Năm Thánh này cũng nên được sống sốt sắng
hơn như một thời thuận tiện để cử hành và trải nghiệm lòng thương
xót Chúa. Biết bao nhiêu trang Sách Thánh rất thích hợp cho suy
niệm trong những tuần Mùa Chay giúp chúng ta tái khám phá ra
khuôn mặt đầy thương xót của Chúa Cha! Sáng kiến “24 giờ cho
Chúa,” được cử hành vào ngày thứ Sáu và thứ Bảy trước tuần thứ Tư
của Mùa Chay, nên được thực hiện trong mỗi giáo phận. Rất đông
người, kể cả giới trẻ, đang trở lại với Bí tích Hòa giải; qua cảm
nghiệm này, họ đang tái khám phá con đường trở về với Chúa khi
sống một khoảnh khắc cầu nguyện mãnh liệt và khi tìm kiếm ý nghĩa
trong đời họ. Chúng ta hãy đặt Bí tích Hoà giải ở trung tâm một lần
nữa sao cho bí tích này giúp mọi người chạm vào sự hùng vĩ của
lòng thương xót Chúa với những đôi tay của riêng họ. Với mỗi hối
nhân, bí tích này sẽ là nguồn mạch của bình an nội tâm thật sự.
Trong Mùa Chay, Đức Thánh Cha sẽ sai đi các Thừa Sai
của Lòng Thương Xót
Trong Mùa Chay của Năm Thánh này, Đức Thánh Cha có ý
định sai đi các Thừa Sai của Lòng Thương Xót. Các ngài sẽ là một
dấu chỉ của sự lo lắng từ mẫu của Hội Thánh đối với dân Chúa, để
dân Chúa có thể bước vào sự phong phú sâu xa của mầu nhiệm rất cơ
bản này của đức tin. Sẽ có những linh mục mà Đức Thánh Cha sẽ
ban cấp quyền tha thứ cả những tội lỗi chỉ dành quyền giải cho Tòa
Thánh. Đức Thánh Cha cũng yêu cầu các Giám Mục mời và chào
đón những Thừa Sai này để, trên hết tất cả, họ có thể là những vị
giảng thuyết có sức thuyết phục của lòng thương xót. Cầu mong sao
cho từng giáo phận có thể tổ chức “các cuộc đại phúc” để các Thừa
Sai này có thể là sứ giả của niềm vui và sự tha thứ. Các Giám mục
được yêu cầu cử hành bí tích hòa giải với anh chị em giáo dân của
mình để thời gian ân sủng do Năm Thánh mang lại sẽ làm cho nhiều
con cái Chúa có thể cất bước trên cuộc hành trình về nhà Cha một lần
nữa. Xin cho các vị mục tử, đặc biệt là trong Mùa Chay, siêng năng
trong việc kêu gọi các tín hữu quay lại “gần ngai Thiên Chúa là
nguồn ân sủng, để được xót thương và tìm thấy ân sủng” (Dt 4:16).
Với những người phạm vào những tội ác và những kẻ tham
nhũng
Đức Thánh Cha cầu mong cho thông điệp của lòng thương xót
này đến được với tất cả mọi người, và không một ai có thể thờ ơ với
lời mời gọi trải nghiệm lòng thương xót. Ngài hướng lời mời hoán
cải này còn nhiệt thành hơn nữa đến những ai có những hành vi đang
làm họ xa cách với ân sủng của Thiên Chúa. Cách riêng, Đức Thánh
Cha nghĩ đến người người nam nữ thuộc về các tổ chức tội phạm các
loại. Vì thiện ích của họ, ngài cầu xin họ thay đổi cuộc sống mình.
Lời mời này cũng được gởi đến những ai chủ động hay bị dính
líu vào tham nhũng. Vết thương mưng mủ này là một tội nghiêm
trọng đang kêu thấu đến trời cao đòi trả thù, vì nó đe dọa chính nền
tảng của cuộc sống cá nhân và xã hội. Tham nhũng ngăn chặn chúng
ta hướng đến tương lai với niềm hy vọng, vì sự tham lam tàn bạo của
nó làm tiêu tan kế hoạch của những người yếu thế và chà đạp những
người nghèo nhất trong những người nghèo.
Ơn xá trong Năm Thánh
Năm Thánh cũng bao gồm việc ban các ân xá. Thực hành này
sẽ có được một ý nghĩa càng quan trọng hơn trong Năm Thánh Từ
Bi. Sự tha thứ của Thiên Chúa không có giới hạn. Trong cái chết và
sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm rõ hơn nữa tình
yêu của Ngài và quyền năng tiêu diệt tất cả tội lỗi nhân loại của tình
yêu ấy. Thiên Chúa luôn sẵn sàng tha thứ, và Ngài không bao giờ
mệt mỏi tha thứ trong những cách thế liên tục mới mẻ và đáng ngạc
nhiên. Tuy nhiên, dù được tha thứ, những hậu quả xung khắc của tội
lỗi vẫn còn đó. Trong Bí Tích Hòa Giải, Thiên Chúa tha thứ cho
chúng ta những tội lỗi, mà Ngài thực sự tẩy sạch; nhưng tội lỗi để lại
một ảnh hưởng tiêu cực trong cách nghĩ và hành động của chúng ta.
Dù thế, lòng thương xót của Thiên Chúa còn mạnh hơn cả điều này.
Nó trở thành sự xá miễn về phía Chúa Cha, Đấng qua Hiền Thê của
Chúa Kitô, là Hội Thánh của Ngài, vươn ra đến những tội nhân được
tha thứ và giải phóng người ấy khỏi mọi cặn bã sót lại do hậu quả
của tội lỗi, để người ấy có thể hành động với lòng bác ái, ngõ hầu lớn
lên trong tình yêu hơn là rơi trở lại vào vòng tội lỗi.
Viễn tượng đại kết
Sau khi khẳng định cả Do Thái Giáo và Hồi Giáo đều xem lòng
thương xót là một trong những thuộc tính quan trọng nhất của Thiên
Chúa, Đức Thánh Cha bày tỏ niềm tin vững chắc rằng Năm Thánh
cử hành lòng thương xót Chúa này sẽ thúc đẩy một cuộc gặp gỡ với
những tôn giáo và những truyền thống tôn giáo cao quý khác; ngài
cầu xin cho Năm Thánh này mở ra cho chúng ta sự đối thoại càng
nhiệt thành hơn, để chúng ta biết và hiểu được người khác tốt hơn;
ngài cầu xin cho năm hồng ân này có thể loại bỏ tất cả các hình thức
khép kín đầu óc và thiếu tôn trọng, và xua tan mọi hình thức bạo lực
và phân biệt đối xử.
Kết luận
Hướng đến Đức Trinh Nữ Maria, Đức Thánh Cha cầu xin sự
dịu ngọt trên thánh nhan Mẹ dõi theo chúng ta trong Năm Thánh này,
để tất cả chúng ta có thể tái khám phá niềm vui về sự dịu dàng của
Thiên Chúa. Ngài cũng khẩn cầu cùng các Thánh và những Chân
Phước đã dâng hiến đời mình rao truyền lòng thương xót Chúa, đặc
biệt là vị tông đồ vĩ đại của lòng thương xót Chúa, là Thánh Faustina
Kowalska. Xin thánh nữ, là người đã được mời gọi để bước vào
những chiều sâu thẳm của lòng thương xót Chúa, cầu thay nguyện
giúp cho chúng ta và nài xin cho chúng ta ân sủng để sống và tiến
bước luôn luôn theo lòng thương xót của Thiên Chúa và với một
niềm tin vững chắc vào tình yêu của Ngài.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha cầu xin trong Năm Thánh này Hội
Thánh có thể vang vọng những lời của Chúa vang lên mạnh mẽ và rõ
ràng như một thông điệp và một dấu chỉ của sự tha thứ, sức mạnh, sự
trợ giúp, và tình yêu. Xin cho Hội Thánh không bao giờ mệt mỏi mở
rộng lòng thương xót, và luôn kiên nhẫn trao ban lòng từ bi và sự ủi
an. Xin cho Hội Thánh trở thành tiếng nói của mỗi người nam nữ, và
lặp lại cách tự tin không ngừng rằng: “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa
nặng với ân sâu. Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời.” (Tv
25: 6).
(Tài liệu của Vietcatholic.net)
ÂN XÁ LÀ GÌ?
* Theo Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo
CÁC ÂN XÁ (INDULGENTIAE)
1471. Giáo lý và việc thực hành về các ân xá trong Hội Thánh
liên hệ mật thiết với các hiệu quả của bí tích Thống Hối.
Ân xá là gì?
“Ân xá là việc tha thứ trước mặt Thiên Chúa khỏi những hình
phạt tạm đáng chịu vì những tội lỗi đã phạm, dù những tội đó đã
được tha thứ. Để hưởng nhờ ân xá, Kitô hữu phải hội đủ những điều
kiện được thẩm quyền của Hội Thánh quy định, vì với tư cách là thừa
tác viên của Ơn cứu chuộc, Hội Thánh có thẩm quyền phân phát và
chia sẻ kho tàng công phúc của Đức Kitô và các Thánh”.
“Ân xá có thể là từng phần hay toàn phần, tuỳ theo mức độ giải
thoát từng phần hay trọn vẹn các hình phạt tạm đáng phải chịu vì
tội”. “Tín hữu nào cũng có thể hưởng các ân xá… cho chính mình,
hay cho những người đã qua đời”.
Những hình phạt do tội
1472. Để hiểu giáo lý và việc thực hành này của Hội Thánh,
chúng ta phải biết tội lỗi có hậu quả kép. Tội trọng làm cho chúng ta
không được hiệp thông với Thiên Chúa, và do đó làm cho chúng ta
không còn khả năng hưởng sự sống muôn đời; sự mất mát này được
gọi là “hình phạt đời đời” do tội lỗi. Mặt khác, bất cứ tội nào, dù là
tội nhẹ, đều kéo theo nó một sự quyến luyến lệch lạc với các thụ tạo,
nên cần được thanh tẩy, hoặc ngay ở đời này, hoặc sau khi chết,
trong tình trạng được gọi là luyện ngục. Sự thanh tẩy này giải thoát
khỏi điều được gọi là “hình phạt tạm” do tội. Hai hình phạt này
không được coi như một cách báo thù nào đó do Thiên Chúa giáng
xuống từ bên ngoài, nhưng đúng hơn phải coi như là xuất phát từ
chính bản chất của tội. Việc hối cải do đức mến nồng nàn có thể đưa
đến một sự thanh tẩy trọn vẹn cho tội nhân, đến độ không còn hình
phạt nào tồn tại nữa.
1473. Sự tha thứ tội lỗi và tái lập hiệp thông với Thiên Chúa
khiến chúng ta được tha các hình phạt đời đời do tội. Nhưng những
hình phạt tạm do tội vẫn còn. Kitô hữu, trong khi nhẫn nại chịu đựng
những đau khổ và thử thách đủ loại, và trong việc đón nhận cái chết
với tâm hồn thanh thản khi ngày đó đến, phải cố gắng đón nhận
những hình phạt tạm do tội như là một ân sủng; họ phải cố gắng cởi
bỏ hoàn toàn “con người cũ” và mặc lấy “con người mới”, nhờ
những công việc đầy tình thương xót và bác ái, cũng như nhờ cầu
nguyện và nhiều việc thống hối khác nhau.
Trong mầu nhiệm “các thánh thông công”
1474. Kitô hữu không đơn độc khi cố gắng thanh tẩy mình khỏi
tội lỗi và thánh hóa bản thân với sự trợ giúp của ơn Chúa. “Đời sống
của mỗi con cái Thiên Chúa được kết hợp một cách lạ lùng, trong
Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, với đời sống của tất cả các anh em Kitô
hữu trong sự hợp nhất siêu nhiên của Nhiệm Thể Đức Kitô, như
trong một con người huyền nhiệm”.
1475. Trong mầu nhiệm “các thánh thông công”, “giữa các tín
hữu, cả những vị đã đạt tới quê hương thiên quốc, cả những người
còn đền tội nơi luyện ngục, cả những người đang lữ hành trên trần
gian, có một dây liên kết vững bền trong tình yêu và một sự trao đổi
dồi dào tất cả các điều thiện hảo”. Trong sự trao đổi kỳ diệu này, sự
thánh thiện của một người sinh lợi cho những người khác, vượt xa sự
thiệt hại mà tội lỗi của một người có thể gây ra cho những người
khác. Như vậy, sự trở về với mầu nhiệm “các thánh thông công” cho
phép tội nhân thống hối được thanh tẩy khỏi các hình phạt do tội một
cách nhanh chóng và hữu hiệu hơn.
1476. Chúng ta gọi những điều thiện hảo thiêng liêng của mầu
nhiệm “các Thánh thông công” là kho tàng của Hội Thánh, “thật ra
đây không phải là như tổng số các điều thiện hảo giống như tổng số
của cải vật chất được tích lũy qua bao thế kỷ, nhưng là giá trị vô
cùng vô tận trước nhan Thiên Chúa của những việc đền tội và những
công phúc của Chúa Kitô, tất cả được dâng lên để toàn thể nhân loại
được giải thoát khỏi tội lỗi và được hiệp thông với Chúa Cha; chính
Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc, trong Người có, và có một cách dư
dật, những việc đền tội và những công phúc do Ơn cứu chuộc của
Người”.
1477. “Ngoài ra, kho tàng này còn bao gồm giá trị vô lượng vô
biên và luôn luôn mới trước nhan Thiên Chúa của những lời cầu
nguyện và những việc lành của Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc và
của tất cả các Thánh. Là những người bước theo chân Chúa Kitô nhờ
ân sủng của Người, các ngài đã thánh hoá bản thân, và chu toàn công
việc được Chúa Cha chấp nhận; đến độ, khi hành động để chính
mình được cứu độ, các ngài cũng góp phần làm cho các anh em mình
được cứu độ trong sự hợp nhất của nhiệm thể”.
Nhận được ân xá của Thiên Chúa nhờ HộiThánh
1478. “Người ta nhận được ân xá nhờ Hội Thánh; Hội Thánh,
nhờ quyền cầm buộc và tháo cởi do Chúa Giêsu Kitô ban, can thiệp
vì lợi ích của một Kitô hữu nào đó và mở cho họ kho tàng công phúc
của Đức Kitô và của các thánh, để họ nhận được nơi Chúa Cha giàu
lòng thương xót ơn tha thứ những hình phạt tạm họ đáng phải chịu
do tội. Như vậy, Hội Thánh không những muốn giúp đỡ tín hữu đó,
mà còn thúc đẩy họ làm những việc đạo đức, thống hối và bác ái”
1479. Bởi vì các tín hữu đã qua đời đang chịu thanh luyện cũng
là những thành viên trong mầu nhiệm các thánh thông công, nên
chúng ta có thể giúp họ, ngoài các cách khác, bằng cách lãnh nhận
các ân xá (để nhường) cho họ, nhờ đó, họ được tha các hình phạt tạm
họ đang phải chịu do tội lỗi của họ.
* Theo Toát Yếu Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo
312. Ân xá là gì?
Ân xá là việc tha thứ trước mặt Thiên Chúa khỏi những hình
phạt tạm đáng chịu vì những tội lỗi đã phạm, dù đã được tha thứ. Với
những điều kiện được Hội thánh quy định, người tín hữu có thể lãnh
nhận ơn tha thứ này cho chính mình hay cho những người đã qua
đời, nhờ thừa tác vụ của Hội thánh, như là người phân phát ơn cứu
chuộc và chia sẻ kho tàng công phúc của Đức Kitô và các thánh.
* Theo Giáo Luật
Điều 992
Ân xá là việc tha trước mặt Thiên Chúa hình phạt tạm thời phải
chịu vì các tội đã được xóa bỏ; Kitô hữu nào đã được chuẩn bị đầy
đủ và đã thực hiện một số điều kiện đã được ấn định, thì được hưởng
ơn tha thứ này nhờ sự trợ giúp của Hội Thánh; với tư cách là thừa tác
viên ơn cứu chuộc, Hội Thánh dùng quyền mình để phân phát và áp
dụng kho tàng đền tội của Đức Kitô và các thánh.
Điều 993
Ân xá gồm có tiểu xá hoặc toàn xá, tùy theo ân xá tha một phần
hay tha tất cả hình phạt tạm thời phải chịu vì tội.
Điều 994
Bất cứ tín hữu nào cũng có thể hưởng những ơn tiểu xá hoặc
ơn toàn xá, hoặc cho chính mình, hoặc dành cho nhưng người đã qua
đời.
Điều 995
§ 1. Ngoài quyền bính tối cao của Hội Thánh, chỉ những vị nào
được luật công nhận là có quyền, hoặc được Đức Giáo Hoàng Rôma
ban quyền, mới có thể ban phát các ân xá.
§ 2. Không một quyền bính nào dưới quyền Đức Giáo Hoàng
Rôma có thể trao cho người khác quyền ban ân xá, trừ khi được Tông
Tòa minh nhiên ban cho quyền ấy.
Điều 996
§ 1. Để có thể hưởng ân xá, đương sự phải là người đã được
Rửa Tội, không bị vã tuyệt thông và sống trong tình trạng ân sủng, ít
là vào lúc kết thúc các công việc đã được quy định.
§ 2. Tuy nhiên, để có thể hưởng ân xá, đương sự phải có ý
hướng ít là tổng quát muốn thủ đắc các ân xá và phải chu toàn những
việc buộc phải làm trong thời gian đã được ấn định và với cách thức
đã được quy định, theo tinh thân của việc ban ân xá.
Điều 997
Về việc ban và hưởng ân xá, còn phải giữ các quy định khác trong luật riêng của Hội Thánh.
Bản dịch của Linh mục Augustinô NGUYỄN VĂN TRINH







