DẪN NHẬP

1. Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và trọn cuộc sống của những ai gặp gỡ Đức Giêsu. Những ai để cho Người cứu độ, sẽ được giải thoát khỏi tội lỗi, khỏi đau buồn, khỏi cuộc sống trống rổng, khỏi cô đơn. Niềm vui phát sinh và luôn tái sinh cùng với Đức Giêsu Kitô. Trong Tông Huấn này, Tôi muốn hướng đến mọi tín hữu công giáo, mời gọi họ bước vào một giai đoạn mới của việc Phúc Âm hóa, được ghi dấu ấn của niềm vui này và vạch lối đi cho Giáo hội trong những năm tới.

1. Niềm vui của Tin Mừng được canh tân và chia sẻ

2. Trong thế giới tiêu thụ hôm nay với biết bao lời mồi chài đa dạng và thúc ép, nguy hiểm lớn nhất là một thứ chủ nghĩa cá nhân buồn thảm, đến từ tâm hồn tự mãn và tham vọng, do việc tìm kiếm một cách bệnh hoạn các thỏa mãn hời hợt, từ một lương tâm cô độc. Khi đời sống nội tâm tự khép kín trên những hứng thú riêng tư, sẽ không còn chỗ cho kẻ khác, người nghèo không tìm được lối vào ; người ta không còn nghe được tiếng Thiên Chúa ; không còn hưởng được niềm vui êm ái từ tình yêu của Người, không còn hứng thú làm việc thiện. Chắc chắn người tín hữu cũng thường xuyên gặp nguy hiểm này. Nhiều người đã rơi vào và trở thành những con người khủng hoảng, bất mãn, không còn sức sống. Đó không phải là sự chọn lựa một đời sống xứng đáng và tròn đầy, đó không phải là ý muốn của Thiên Chúa dành cho chúng ta, đó không phải là đời sống trong Thánh Thần, cuộc sống tuôn trào từ Thánh Tâm của Đức Kitô Phục sinh.  

3. Tôi mời từng người Kitô hữu, dù ở đâu hay trong hoàn cảnh nào, hãy canh tân ngay việc gặp gỡ cá nhân của mình với Đức Giêsu Kitô hay, ít nhất là, quyết định để cho Người gặp gỡ chúng ta, mỗi ngày luôn tìm kiếm Người. Không có lý do nào mà người ta có thể nghĩ rằng lời mời này không dành cho họ, chỉ vì “không ai bị loại ra khỏi niềm vui mà Chúa đem đến cho chúng ta” [1]. Ai rơi vào hoàn cảnh như thế, Chúa sẽ không để kẻ ấy thất vọng, và khi người nào cố tiến một bước nhỏ theo Đức Giêsu, họ sẽ khám phá, Chúa đang dang tay rộng mở để đón họ. Đó là giây phút để nói với Đức Giêsu Kitô : “Lạy Chúa ! con đã sai lầm khi nghìn lần trốn khỏi tình yêu của Chúa, dù vậy, con hiện diện nơi đây để canh tân lại giao ước với Ngài. Con cần đến Chúa. Lạy Chúa ! Xin cứu con, đón nhận con một lần nữa trong bàn tay cứu độ của Ngài !” Điều này sẽ đem lại cho chúng ta biết bao điều thiện hảo khi trở về với Người, lúc chúng ta như sắp mất ! Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa : Thiên Chúa không mõi mệt để tha thứ, chính chúng ta mõi mệt để van xin lòng nhân từ của Người. Đấng mời gọi chúng ta, “tha thứ không phải bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22), sẽ ban cho chúng ta mẫu gương : Người tha thứ cho chúng ta bảy mươi lần bảy. Người lại vác chúng ta lên vai lần này đến lần khác. Không ai có thể cướp đi danh dự của chúng ta do tình yêu vô tận và bất biến trao ban cho chúng ta. Tình yêu này giúp chúng ta ngẩng đầu lên và bắt đầu trở lại với sự âu yếm không làm cho chúng ta thất vọng và luôn đem lại cho chúng ta niềm vui. Đừng trốn chạy trước sự Phục sinh của Đức Giêsu ! Đừng bao giờ thất vọng, dù cứ tái đi tái lại. Không có gì mạnh hơn khi cuộc sống đẩy chúng ta đến trước !

4. Các sách Cựu Ước đã công bố niềm vui của ơn cứu độ, sẽ trở thành sung mãn trong thời của Đấng Messias. Ngôn sứ Isaia hướng về Đấng Messias đang được mong đợi và vui mừng chào đón : “Ngài tạo nên niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng” (9,2). Ngôn sứ động viên dân cư thành Sion đón tiếp Người giữa tiếng ca : “Hãy reo hò mừng rỡ” (12,6). Ngôn sứ mời người đã thấy được tầm nhìn, trở thành sứ giả cho kẻ khác : “Hỡi kẻ loan Tin Mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao ; hỡi kẻ loan Tin Mừng cho Giêrusalem, hãy cất tiếng lên cho thật mạnh” (40,9). Toàn thể vũ trụ chia sẻ vào niềm vui của ơn cứu độ : “Trời hãy reo hò, đất hãy nhảy múa, núi non hãy bật tiếng hò reo, vì Đức Chúa ủi an dân Người, và chạnh lòng thương những kẻ nghèo khổ của Người” (49,13).

Nhìn thấy trước Ngày của Chúa, ngôn sứ Dacaria mời gọi mọi người reo hò trước đức vua đang đến, “khiêm tốn, ngồi trên lưng lừa” : “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò ! Vì kìa Đức Vua của ngươi đến với ngươi : Người là Đấng Chính trực, Đấng Toàn thắng !” (Dcr 9,9). Nhưng lời mời mạnh mẽ nhất có lẽ là lời mời của ngôn sứ Sophonia, chỉ cho chúng ta thấy chính Thiên Chúa như trung tâm tỏa sáng của buổi lễ, Đấng muốn chia sẻ cho dân Người niềm vui cứu độ. Điều đánh động tôi mỗi khi đọc lại bản văn này  : “Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đang ngự giữa ngươi, Người là Vị Cứu tinh, là Đấng anh hùng. Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi. Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng như trong ngày lễ hội” (3,17).

Đó là niềm vui mà người ta cảm nghiệm được trong từng việc nhỏ hằng ngày, như câu đáp cho lời mời âu yếm của Thiên Chúa, Cha của chúng ta : “Con ơi, trong mức độ con có thể, hãy xử sự cho tốt đẹp… Đừng từ chối không hưởng một ngày vui” (Cn 14, 11.14). Người ta cảm nghiệm được sự âu yếm của người cha trong những lời cuối này !

5. Phúc Am, trong đó Thập giá của Đức Kitô chói sáng rạng ngời, mời gọi rõ ràng đến niềm vui. Vài tỉ dụ cũng đủ : lời chào của thiên thần nói với Đức Maria “Chairè – Hãy vui lên” (Lc 1,28). Việc thăm viếng của Đức Maria nơi nhà bà Elisabeth đã làm cho Gioan nhảy mừng trong dạ mẹ (x.Lc 1,41). Trong thánh thi, Đức Maria biểu lộ : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Đấng Cứu độ tôi” (Lc 1,47). Khi Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ của mình, thánh Gioan đã thốt lên : “Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn” (Ga 3,29). Chính Đức Giêsu, “được Thánh Thần tác động, hớn hỡ vui mừng” (Lc 10,21). Sứ điệp của Người là nguồn niềm vui :  “Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em, để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn”(Ga 15,11). Niềm vui Kitô giáo của chúng ta tuôn trào từ suối nguồn tình yêu sung mãn của Người. Người hứa với các môn đệ : “Anh em sẽ khóc lóc than van, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui”(Ga 16,20). Người nhấn mạnh : “Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng ; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được”(Ga 16,22). Và sau này, khi nhìn thấy Đấng Phục sinh, “họ được tràn đầy niềm vui” (Ga 20,20). Sách Công vụ Tông đồ trình thuật rằng, trong cộng đoàn tiên khởi, các môn đệ nhận “lương thực của họ cách phấn khởi” (Cv 2,46). Nơi nào các môn đệ đi qua, “người ta rất vui mừng”(Cv 8,8) và chính họ, trong khi bị bách hại “cũng tràn đầy niềm vui” (Cv 13,52). Một thái giám, vừa được rửa tội, tiếp tục con đường của mình cách vui vẻ (Cv 8,39) và người canh ngục “Ong và cả nhà vui mừng vì đã tin Thiên Chúa” (Cv 16, 34). Tại sao chúng ta lại không bước vào suối nguồn niềm vui này ? 

6. Có nhiều Kitô hữu chỉ có cách sống của mùa Chay mà không có Phục sinh. Dù vậy, Tôi cho rằng niềm vui không biểu lộ cùng một cách trong các giai đoạn và trong các hoàn cảnh của cuộc sống, đôi khi rất khó khăn. Niềm vui diễn ra và chuyển đổi, nhưng luôn tồn tại như một tia sáng phát sinh từ một xác quyết cá nhân rằng, mình được yêu mến vô cùng, từ bên kia ranh giới. Tôi hiểu rằng nhiều người trở nên buồn thảm vì những khó khăn trầm trọng mà họ phải gánh lấy, dù vậy, dần dần  để cho niềm vui của đức tin bắt đầu tỉnh thức lại, như một sự tín cẩn  âm thầm nhưng vững chắc, dù ngay trong những âu lo tàn tệ nhất : “Hồn tôi hết được bình an thư thái, tôi đã quên mùi hạnh phúc rồi ! […] Đây là điều con suy đi gẫm lại, nhờ thế mà con vững dạ cậy trông : Lượng từ bi Đức Chúa đâu đã cạn, lòng thương xót của Người mãi không vơi. Sáng nào Người cũng ban ân huệ mới. Lòng trung tín của Người cao cả biết bao ! […] Biết thinh lặng đợi chờ, đợi chờ ơn cứu độ của Đức Chúa, đó là một điều hay” (Ac 3, 17.21-23.26)   

7. Cơn cám dỗ thường xuất hiện dưới hình thức biện minh và đả kích, gần như phải có nhiều điều kiện để niềm vui có thể xuất hiện. Điều này xảy ra vì “xã hội kỷ thuật có thể gia tăng nhiều dịp vui thú, nhưng khó tạo được niềm vui” [2]. Tôi có thể nói rằng niềm vui đẹp nhất  và bất ngờ nhất mà tôi gặp được trong đời mình là niềm vui của những người rất nghèo, họ không có nhiều điều để bám víu vào. Tôi cũng nhớ lại niềm vui đích thực của những người, ngay trong những quyết định quan trọng về nghề nghiệp, chắc chắn đã có được một tâm hồn tin tưởng, quảng đại và đơn sơ. Nhiều cách khác, những niềm vui này có thể múc lấy từ nguồn tình yêu luôn vĩ đại của Thiên Chúa, biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô. Tôi không ngừng lập lại những lời của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI hướng dẫn chúng ta vào trọng tâm Tin Mừng : “Ngay trong sự kiện trở thành Kitô hữu, thực sự không có một quyết định luân lý hay một tư tưởng vĩ đại, nhưng là sự gặp gỡ một biến cố, với một con Người, Đấng ban cho cuộc sống một chân trời mới và từ đó đưa đến định hướng dứt khoát của họ” [3].      

8. Chỉ nhờ cuộc gặp gỡ này – hay gặp gỡ mới mẽ – với tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu biến thành tình bạn thật hạnh phúc, mà chúng ta được giải thoát khỏi lương tâm cô độc và tự kỷ. Chúng ta sẽ đạt được tính nhân bản của con người mình, khi chúng ta nhân bản hơn, khi chúng ta dành cho Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta vượt qua con người của mình để có thể đạt được hiện sinh đích thực nhất. Chính nơi đó mới có được động lực của hoạt động Phúc Âm hóa. Chỉ vì, nếu ai đón nhận tình yêu ban cho họ ý nghĩa cuộc đời, thì làm sao kềm giữ được sự khao khát thông ban cho kẻ khác ?

2. Niềm vui nội tâm và củng cố của việc loan báo Tin Mừng 

9. Điều thiện hảo luôn muốn được chia sẻ. Mỗi kinh nghiệm đích thực về chân lý và cái đẹp tự nó sẽ tìm cách lan rộng, và mỗi cá nhân sống một sự giải phóng sâu xa, sẽ đạt được sự nhạy cảm lớn lao nhất trước nhu cầu của những kẻ khác. Khi con người truyền đạt, sự thiện sẽ cắm rễ và phát triển. Vì thế, ai khao khát sống trọn phẩm giá tròn đầy, sẽ  không còn con đường nào khác ngoài việc nhận thức kẻ khác và đi tìm điều tốt đẹp cho họ. Nhiều cách diễn tả của thánh Phaolô không làm cho chúng ta kinh ngạc : “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta” (2 Cr 5,14) ; “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng !” (1 Cr 9,16) 

10. Chúng ta được đề nghị sống một tầm mức cao hơn, với một sự thúc bách : “Cuộc sống sẽ gia tăng nếu được ban đi, và sẽ yếu dần trong cô đơn và tự mãn. Thực vậy, người ta chỉ cảm nghiệm được niềm vui lớn lao, nếu bỏ qua một bên sự đảm bảo, và say mê trong sứ vụ chia sẻ cuộc sống cho kẻ khác” [4]. Khi mời gọi dấn thân cho việc Phúc Âm hóa, Giáo hội không làm gì khác hơn là chỉ cho người tín hữu động lực đích thực của việc thực hiện chính bản thân mình : “Chúng ta khám phá ra một lề luật sâu xa khác về thực tại : cuộc sống sẽ trưởng thành và sung mãn hơn, khi được trao ban để đem lại cuộc sống cho kẻ khác. Đấy cuối cùng chính là truyền giáo” [5]. Vì thế, một người rao giảng Tin Mừng không được phép luôn mang gương mặt đưa đám. Hãy tìm lại và gia tăng lòng nhiệt thành, “niềm vui nội tâm, êm ái để rao giảng Tin Mừng, ngay cả giây phút chúng ta phải rơi nước mắt […] Ước gì thế giới hôm nay lo âu đi tìm hy vọng, có thể nhận được Tin Mừng, không phải từ môi miệng của những người rao giảng buồn rầu và mất can đảm, không kiên nhẫn và lo âu, nhưng từ những thừa tác viên Tin Mừng, mà đời sống của họ đầy nhiệt tâm, đó là những người đầu tiên lãnh nhận niềm vui của Đức Kitô trong lòng họ” [6]  

Một sự mới mẽ vĩnh cửu

11. Một công bố được đổi  mới mang lại cho các tín hữu, dù họ lạnh nhạt hay không còn thực hành việc đạo, một niềm vui mới trong đức tin và thành quả trong cuộc Phúc Âm hóa. Thực vậy, trọng tâm cũng như bản chất của việc Phúc Âm hóa cũng là một : Thiên Chúa tỏ lộ tình yêu sung mãn của Người trong Đức Kitô chết và phục sinh. Người luôn đổi mới các tín hữu, cho dù có cằn cỗi : “Họ được thêm sức mạnh ; như thể chim bằng, họ tung cách. Họ chạy hoài mà không mỏi mệt, và đi mãi mà chẳng chùn chân” (Is 40,31). Đức Kitô là “Tin Mừng vĩnh cửu” (Cv 14,6) và Người vẫn luôn hiện diện “hôm qua, hôm nay và mãi mãi”, nhưng sự phong phú và vẻ đẹp của Người thật vô biên. Người luôn trẻ trung, là nguồn khôn ngoan và kiến thức của Thiên Chúa. Giáo hội luôn kinh ngạc về “sự giàu sang, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa” (Rm 11,33). Thánh Gioan Thánh giá nói : “Bề dầy của sự khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa rất ư sâu rộng và bao la, cho dù linh hồn có biết vài điều nơi đó, vẫn có thể luôn tiến sâu vào” [7]. Hay như thánh Irênê còn xác quyết : “Khi đến [Đức Kitô] đã mang theo mình tất cả sự mới mẽ” [8]. Với sự mới mẽ này, Người luôn có thể canh tân đời sống và cộng đoàn của chúng ta, cả khi sứ điệp Kitô giáo phải kinh qua những giai đoạn u ám và yếu đuối của Giáo hội, sứ điệp đó cũng sẽ không già cỗi. Đức Giêsu Kitô có thể thay đổi những kế hoạch buồn thảm mà chúng ta đã giam hảm Người và Người sẽ làm cho chúng ta kinh ngạc vì sức sáng tạo thần linh của Người. Mỗi lần chúng ta tìm cách trở về nguồn để lấy lại sự tươi mát nguyên thủy của Tin Mừng, sẽ xuất hiện những con đường mới, những phương thức sáng tạo, những hình thức diễn tả khác, các dấu chứng hùng hồn hơn, các lời nói chứa chất ý nghĩa được canh tân cho thế giới ngày nay. Trong thực tế, mọi hoạt động Phúc Âm hóa đích thực sẽ luôn luôn “mới mẽ”

12. Cho dù sứ vụ này đòi hỏi chúng ta một sự dấn thân thật quảng đại, nhưng thực sự là một sai lầm khi hiểu đó như là trách nhiệm cá nhân rất anh hùng, chỉ vì trước tiên đó là hành động của Người vượt trên những điều chúng ta có thể khám phá và hiểu. Đức Giêsu là “Đấng đầu tiên, vĩ đại nhất loan báo Tin Mừng” [9]. Trong tất cả hình thức Phúc Âm hóa, sự tiên quyết luôn luôn thuộc về Thiên Chúa, Đấng đã muốn kêu gọi chúng ta cộng tác với Người và đã khởi động chúng ta bằng sức lực của Chúa Thánh Thần. Tính chất mới mẽ đích thực là điều của chính Thiên Chúa muốn phơi bày cách mới mẽ, điều Người linh hứng, điều Người gợi lên, điều Người định hướng và đồng hành theo nhiều cách. Trong tất cả cuộc sống của giáo hội, người ta phải làm nổi bật sự phát động xuất phát từ Thiên Chúa, “vì chính Người đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4,19) và “chính Thiên Chúa làm cho lớn lên” ( 1 Cr 3,7). Xác tín này giúp chúng ta giữ được niềm vui trước một sứ vụ bị đòi hỏi như một thách đố bao trọn đời sống của chúng ta. Sứ vụ đòi hỏi tất cả, nhưng đồng thời đem lại cho chúng ta tất cả.

13. Chúng ta không được phép hiểu sự mới mẽ của sứ vụ này như một sự mất gốc, như đã quên lãng lịch sử sống động đã đón nhận chúng ta và thúc đẩy chúng ta tiến tới. Ký ức là một chiều kích đức tin mà chúng ta có thể gọi là “đệ nhị luật”, tương tự như hồi ức của Israel. Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta Bí tích Thánh Thể để Giáo hội tưởng niệm hằng ngày, bí tích luôn dẫn chúng ta đi sâu vào mầu nhiệm Vượt qua (x. Lc 22,19). Niềm vui Phúc Âm hóa chiếu sáng trên nền tảng tưởng niệm tạ ơn : đó là một ân sủng mà chúng ta cần phải van xin. Các Tông đồ không bao giờ quên giây phút Đức Giêsu đánh động con tim của họ : “Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười” (Ga 1,39). Cùng với Đức Giêsu, ký ức cho chúng ta thấy một “đám mây các chứng nhân” (Dt 12,1). Ở giữa họ, nổi bật lên vài người sử dụng nhiều cách đặc biệt để gieo mầm niềm vui đức tin : “Anh em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã giảng lời Chúa cho anh em” (Dt 13,7). Đôi khi lại là những người đơn sơ và gần gũi đã hướng dẫn chúng ta vào đời sống đức tin : “Tôi hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lô-ít, bà ngoại anh, nơi bà Eu-ni-kê, mẹ anh” (2 Tm 1,5). Trên căn bản, kẻ tin là “một người của ký ức”. 

3. Việc Tân Phúc Âm hóa để truyền đạt đức tin

14. Luôn lắng nghe Chúa Thánh Thần, Đấng giúp chúng ta nhận ra các dấu chỉ thời đại, Đại Hội thường kỳ của Thượng Hội Đồng Giám Mục họp từ ngày 7 đến 28 tháng 10 năm 2012 về đề tài Tân Phúc Âm hóa để truyền đạt đức tin Kitô giáo. Hội Đồng tái xác nhận việc Tân Phúc Âm hóa mời gọi từng người và được thực hiện trong ba lãnh vực [10]. Trước tiên là lãnh vực mục vụ thông thường, “được ngọn lửa của Chúa Thánh Thần làm cho sinh động để sưởi ấm tâm hồn các tín hữu thường xuyên đến với cộng đoàn và những ai qui tụ vào ngày Chúa Nhật để nhận lấy Lời và Bánh  cho đời sống vĩnh cửu” [11]. Trên bình diện này cũng bao gồm các tín hữu còn giữ được niềm tin công giáo mãnh liệt và chân thành, được diễn tả bằng nhiều cách, cho dù họ không thường xuyên tham dự việc phụng tự. Việc mục vụ này định hướng vào việc gia tăng tín hữu, để họ luôn đáp lại tình yêu của Chúa cách tốt đẹp và bằng cả cuộc đời. Thứ đến, chúng ta nhắc đến lãnh vực của “những người đã được rửa tội, nhưng không sống theo những đòi hỏi của bí tích Rửa tội” [12], tâm hồn họ không còn thuộc vào giáo hội và không còn kinh nghiệm về sự an ủi của niềm tin. Giáo hội, như người mẹ luôn chăm sóc, để họ có thể quay trở lại ; việc sám hối  đem lại cho họ niềm vui của đức tin và khao khát dấn thân cho Tin Mừng. 

Cuối cùng, chúng ta chú ý rằng việc Phúc Âm hóa trên căn bản phải liên kết với việc công bố Tin Mừng cho những ai chưa biết Đức Giêsu hay luôn từ chối Người.  Nhiều người trong họ đi tìm Thiên Chúa cách âm thầm, bị thúc đẩy bởi một sự nhớ nhung gương mặt của Người, ngay cả trong xứ sở của những truyền thống cổ xưa. Mọi người đều có quyền lãnh nhận Tin Mừng. Các Kitô hữu phải có trách nhiệm loan báo không loại trừ người nào, không phải như kẻ đặt ra một trách nhiệm mới, nhưng như người chia sẻ một niềm vui, hướng dẫn một tầm nhìn tốt đẹp, mời đến một bửa tiệc thịnh soạn. Giáo hội không lớn mạnh do chủ đích thu hút tân tòng, nhưng là “lôi kéo”[13].

15. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II mời gọi chúng ta nhận thức, “đừng bao giờ mất đi động lực hướng đến việc rao giảng” cho những người đã xa lìa Đức Kitô, “đó là trách nhiệm tiên khởi của giáo hội” [14]. Hoạt động truyền giáo “ngay trong ngày hôm nay, vẫn là thách đố lớn nhất đối với Giáo hội”[15] và là “lý do truyền giáo phải đứng ở vị trí hàng đầu” [16]. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta xem những lời này thực sự quan trọng ?  Chúng ta nhận ra rằng hoạt động truyền giáo là mô mẫu cho tất cả trách nhiệm của Giáo hội. Theo đường hướng này, các Giám Mục ở châu Mỹ Latinh xác quyết “chúng ta không thể dửng dưng, chỉ biết chờ đợi cách thụ động trong nhà thờ của chúng ta” [17], cần phải vượt qua “từ một thứ mục vụ chỉ biết bảo thủ sang một mục vụ truyền giáo đích thực” [18]. Trách nhiệm này tiếp tục là nguồn của niềm vui lớn lao nhất đối với Giáo hội. “Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7).  

4. Những đề nghị và ranh giới của Tông Huấn này

16. Tôi vui mừng đón nhận lời mời của các nghị phụ Thượng Hội Đồng để viết Tông Huấn này [19]. Khi thực hiện việc này, tôi nhận được các tài liệu phong phú của Thượng Hội Đồng. Tôi cũng đã xin ý kiến của nhiều người, ngoài ra tôi cũng muốn nói lên các ưu tư của tôi ngay lúc này về công trình Phúc Âm hóa của Giáo hội. Các đề tài liên kết với việc Phúc Âm hóa trong thế giới hiện tại có thể được triển khai tại đây nhiều vô kể. Nhưng tôi không muốn bàn chi tiết các vấn nạn đa dạng này, vì sẽ trở thành những chủ đề phải học hỏi và đào sâu. Tôi cũng không tin rằng người ta mong chờ nơi quyền giáo huấn của Giáo hoàng một lời dứt khoát hay trọn vẹn cho tất cả các câu hỏi về Giáo hội và thế giới. Thật không cần thiết để Đức Giáo Hoàng thay thế cho hàng Giám Mục địa phương trong việc bàn thảo tất cả vấn đề gay gắt trên lãnh địa của các ngài. Theo nghĩa này, tôi thấy cần có một thứ “xóa tập trung” cách hữu ích. 

17. Nơi đây, tôi xin đề nghị vài nét có thể động viên và định hướng trong toàn Giáo hội một giai đoạn mới cho việc Phúc Âm hóa, đầy nhiệt tâm và sinh động. Trong khung này và dựa vào nền tảng của Hiến Chế tín lý Lumen Gentium, tôi quyết định, ngoài những đề tài khác, dừng lại trên các vấn  đề sau đây :

a) Canh tân Giáo hội bằng cách “bước ra ngoài” cho sứ vụ truyền giáo 

b) Những cám dỗ trong hoạt động mục vụ

c) Giáo hội được hiểu như là toàn dân Chúa phải đi rao giảng

d) bài giảng và việc chuẩn bị bài giảng

e) Việc hội nhập mang tính xã hội của người nghèo

f) Hòa bình và đối thoại xã hội 

g) Các động lực tinh thần cho sứ vụ truyền giáo 

18. Tôi triển khai các đề tài này xem ra khá chi tiết. Tôi không thực hiện việc này như muốn đưa ra một tiểu luận, nhưng chỉ muốn cho thấy tính chất quan trọng các chủ đề này đối với sứ vụ truyền giáo hiện tại của Giáo hội. Tất cả chỉ để giúp vẻ lên một cách thức Phúc Âm hóa và mời mọi người thực hiện trong việc chu toàn mọi hoạt động. Theo cách thức này, trong công việc hằng ngày, chúng ta có thể đón nhận lời khuyến khích của Lời Chúa : “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại : vui lên anh em !” (Pl 4,4)