MỞ ĐẦU
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đ quyết định lấy chủ đề: Nova evangelization ad christianam fidem tradendam cho Thượng Hội Đồng Giám Mục thường kỳ năm 2012. Chủ đề tân phúc âm hóa đ được Đức Thánh Cha quan tâm cách đặc biệt khi nói đến bổn phận và các hoạt động truyền giáo của Giáo Hội trong thời đại hôm nay.
Để có thể hiểu ý nghĩa cụm từ tân phúc âm hóa, chúng ta thử khám phá ý nghĩa đoạn văn của Sắc lệnh Ad gentes, số 36 đ được các nghị phụ Công Đồng Vatican II trình by: “tất cả con ci Gio Hội phải tích cực ý thức trch nhiệm của mình đối với thế giới, phải hun đúc cho mình cĩ tinh thần thực sự cơng gio, v phải hy sinh gĩp sức vo cơng việc rao giảng Phc m. Tuy nhiên, mọi người phải biết rằng bổn phận đầu tiên và quan trọng nhất đối với việc truyền bá đức tin là sống sâu xa đời sống Kitô hữu. Vì chính khi nhiệt thnh phụng sự Thin Cha v bc i đối với tha nhân, họ mang lại cho toàn thể Giáo Hội một cảm hứng tinh thần mới và làm cho Giáo Hội xuất hiện như là một dấu chỉ nổi lên giữa các dân là “ánh sng thế gian” (Mt 5,14) và là “muối đất” (Mt 5,13)” (AG, s. 36).
Như thế nào là “sống sâu xa đời sống Kitô hữu” (vitam christianam profunde vivere)? Có thể hiểu đó là cách thế Phúc âm hóa môi trường mình sống, có nghĩa là“đem Tin Mừng vào trong mọi cảnh vực nhân loại và nhờ sự tiếp xúc này làm thay đổi tự bên trong, đổi mới chính nhân loại… Giáo Hội Phúc Âm hóa, khi chỉ nhờ sức mạnh thần linh của sứ điệp mà Giáo Hội công bố (Rm 1,16), Gio Hội tìm cch hốn cải cng lc lương tâm cá nhân và tập thể của con người, hoán cải sinh hoạt mà con người đang dấn thân, hoán cải đời sống và hoàn cảnh cụ thể của họ” Như vậy, phúc âm hóa là làm cho nhân loại hoán cải nhờ tiếp xúc với Tin Mừng qua các hoạt động truyền giáo của người Kitô hữu ngay chính trong các hoàn cảnh sống của mình.
Việc phúc âm hóa được thực hiện bao gồm một tiến trình với ba yếu tố: mục đích, nội dung v cch thế. Trong tiến trình ny hai yếu tố mục đích và nội dung có thể được hiểu như “bản thể” của sứ vụ loan báo Tin Mừng, yếu tố cách thế có thể ví như là “tùy thể” của sứ vụ. Vì l “bản thể” cho nn mục đích và nội dung sứ vụ mang tính bất di bất dịch, không thay đổi, yếu tố có thể thay đổi và tốt nhất nên thay đổi chính là cách thế phúc âm hóa. Sự thay đổi cách thế này được bản lineamenta của Thượng Hội Đồng Giám mục thuờng kỳ lần XIII gọi là Tân Phúc âm hóa. Hiểu được vấn đề, bản Lineamenta nỗ lực giải nghĩa: Tân Phúc âm hóa “được hiểu như đồng nghĩa với những cố gắng canh tân thiêng liêng về đời sống đức tin trong các Giáo Hội địa phương, bắt đầu bằng một tiến trình phn định những thay đổi trong các khung cảnh văn hoá và x hội khc nhau v tc động của những thay đổi này đối với đời sống Kitô hữu, đọc lại ký ức đức tin và đảm nhận những trách nhiệm mới cũng như phát sinh những nghị lực mới để rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô một cách hân hoan và thuyết phục. Nỗ lực đó “cho thấy rằng người Kitô hữu không bao giờ được từ bỏ sự bạo dạn trong việc loan báo Tin Mừng và tìm kiếm mọi phương thức tích cực để mở ra những con đường đối thoại, ở đó chúng ta có thể thảo luận về những mong đợi thâm sâu nhất của con người và lịng kht khao Thin Cha của họ”. Tân Phúc âm hóa là mạnh dạn kiến tạo một con đường để Tin Mừng có thể đến với nhân loại trong bối cảnh x hội ngy nay, một x hội đang đối diện với nhiều biến đổi trong các lnh vực lin quan đến cuộc sống. Sự biến đổi của x hội đương nhiên tác động không nhỏ đến đời sống các Kitô hữu, do đó khởi sự công cuộc Tân Phúc âm hóa trước tiên là canh tân cách tư duy của người Kitô hữu về hồng ân đức tin mình được trao ban, về nhiệm vụ của người kitô hữu trong Giáo Hội, đặc biệt về sứ vụ loan báo Tin Mừng.
Thật vậy, thông truyền đức tin là động thái muốn xẻ chia niềm hân hoan vì hồng n đức tin được nhận lnh, qua hồng n ny người nhận lnh gặp gỡ được nguồn tình yu, gặp gỡ được Đức Giêsu Kitô, Lời yêu thương của Thiên Chúa, Đấng mà theo Đức Bênêđictô diễn tả: là một vị Thiên Chúa yêu thương đến nỗi “quay lại chống đối chính mình”[17] để biểu tỏ tình yu lạ lng đối với nhân loại, khi Người tự hiến chính mình trn Thập tự, nhằm nng con người lên, đưa con người ra khỏi vũng lầy tội lỗi và sự chết, trao ban sự sống đời đời cho họ. Được yêu thương như thế phải chăng là do chúng ta xứng đáng. Thưa không, ngàn lần không. Đây là món quà nhưng không Thiên Chúa tặng ban cho chúng ta, vì vậy truyền gio khởi sự bằng việc chia xẻ với mọi người niềm vui to lớn mà chúng ta nhận được, như người phụ nữ trong Phúc Âm Luca, khi tìm thấy đồng bạc bị đánh mất liền “mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tơi đ tìm đuợc đồng quan tôi đ đánh mất’” (Lc 15,10).
Do đó, truyền giáo không là chinh phục nhưng là lời mời gọi dự phần chung vui vì cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, Lời của Thiên Chúa, đ đến trần gian để cho nhân loại được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10). Nhưng để người được mời hiểu được, cảm nhận được niềm vui đang làm ngây ngất người mời, và mau mắn đáp lại lời mời gọi, địi hỏi người mời phải thực sự cảm nghiệm được tình yu Thin Cha qua cuộc gặp gỡ với Đức Kitô để rồi tiến tới sự hiệp thông với Người. Chính trong sự hiệp thông này đ thắp ln trong chng ta ngọn lửa yu mến thc bch chng ta (x. 2 Cr 5,14) nĩi về Chúa Giêsu với sự xác tín rằng: không nhận biết Tin Mừng là một thiếu sót không có chi bù đắp được, vì chỉ cĩ Tin Mừng mới mang lại sự sống đích thật. Nói về Chúa Giêsu không là kể về một nhân vật, một câu chuyện, nhưng là trình by một khuơn mặt sống động nơi mỗi người kitô hữu, một Đức Kitô luôn quan tâm đến nỗi bất hạnh của người khác về thể xác cũng như tinh thần, một Đức Kitô đầy lịng trắc ẩn, khơng bao giờ bỏ qua lời van xin chữa lnh, một Đức Kitô ngập tràn tình yu v lịng khoan dung để thứ tha, để bênh đỡ chở che cho những người cô thân cố thế, một Đức Kitô không mệt mỏi trên đường tìm kiếm những con chin lạc đường chính lộ… Nhờ việc trình by như thế chúng ta thực sự đang truyền bá đức tin của mình, một đức tin sống động diễn tả một cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô, qua đó chúng ta tiếp tục “tạo ra ở mọi nơi và mọi thời những điều kiện để có thể có cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu Kitô”[18] đối với hết mọi người. Vâng, chúng ta thông truyền đức tin không phải nói về một Đức Giêsu được tường thuật, nhưng về một con người mà chúng ta đ cảm nghiệm qua sự gặp gỡ với Người, như người phụ nữ Samaria đ thơng truyền: “Ðến m xem: cĩ một người đ nĩi với tơi tất cả những gì tơi đ lm. Ơng ấy khơng phải l Ðấng Kitơ sao?” (Ga 4,29).
TIỂU SỬ ĐỨC GIÁO HOÀNG
FRANÇOIS – PHANXICÔ
Đức tân Giáo Hoàng của chúng ta là người Argentina (Á Căn Đình) JORGE MARIO BERGOGLIO, 76 tuổi.
Sinh ngày 17.12.1936, con của người Ý tỉnh Piémont lưu vong : cha Ngài là Mario, công nhân viên đường sắt, mẹ là bà REGINA SIVORI, lo việc giao đình và giáo dục 5 người con.
Ngài là kỷ sư hóa học, nhưng lại chọn con đường làm linh mục, bước vào chủng việc địa phận VILLA DEVOTO. Ngày 11.3.1958 Ngài vào nhà tập Dòng T6en. Sau khi Đức Trinh Nữ học tại Chilêvào năm 1963, ngài trở về lại Argentina. Làm giáo sự triết học tại trường Saint-Joseph ở San Miguel. Giữa những na9m 1964-1965, ngài làm giáo sư văn chương và tâm lý tại trường Immaculée de Santa Fé, và năm 1966, ngài dạy cũng các môn như thế tại trường Đấng Cứu độ tại Buenos Aires. Từ năm 1967 đến 1970 ngài học thần học tại trường Saint-Joseph.
Ngài được Tổng Giám mục Ramón José Castellano truyền chức linh mục ngày 13.12.1969. Ngày 22.4.1973, ngài tuyên khấn trong Dòng Tên. Ngày 31.7.1973 ngài được bầu làm giám tỉnh Dòng Tên ở Argentina. Ngài nhận trách nhiêm này trong vòng 6 nămTừ năm 1980 đến 1986 ngài làm viện trưởng ở Saint-Joseph. Vào tháng 3 năm 1986, ngài qua Đức để làm luận án tiến sĩ, sau đó trở về Argentina, ngài làm bề trên nhà tập Dòng Tên trong thành phố Cordoba. Ngày 20. 5. 1992, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đặt ngài làm Giám mục [hụ tá ở Buenos Aires. Ngày 27.6 ngài thụ phong Giám mục với khẩu hiệu Miserando atque eligendo. Ngày 28.2,1998 ngài lên chức Tổng Giám mục. Ba năm sau, ngày 21.2.1001, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II nâng ngài lên làm Hồng Y. Ngài là tác giả nhiều quyền sách như Meditaciones para religiosos (1982), Reflexiones sobre la vida apostĩlica (1986) et Reflexiones de esperanza (1992). Tháng 4.2005, ngài dự Conclave bầu Đức Giáo Hoàng Bênêđịctô XVI.
Franciscus – Jorge Mario Bergoglio được bầu làm giáo hoàng vào ngày 13.3.1013.
Ngày 29.6.2013 ngài ban hành tông điệp LUMEN FIDEI, thường được gọi là “Thông Điệp 4 tay”, có nghĩa là Tông điệp đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI s9oạn thảo trước, sau đó Đức Phanxicô bổ túc và công bố.
Ngày 24.11.2013 ngài ban hành Tông Huấn EVENGELII GAUDIUM, cho thấy đường hướng của ngài
VÀI NHẬN ĐỊNH
1. Trước tiên chúng ta phải thấy rõ : đây là một Đức Giáo Hoàng không thuộc về Au Châu, dù nguồn gốc của Ngài là Ý. Ngài là người Argentina, là tu sĩ thuộc Dòng Tên.
2. Chúng ta cũng nhớ nước Argentina là thuộc địa của người Tây Ban Nha. (Nam Mỹ : trừ nước Brasil nói tiếng Bồ đào Nha, còn tất cả đều nói tiếng Tây Ban Nha) . Linh mục Trần Tam Tĩnh có viết một quyền sách với tựa đề là : “Thanh gươm và thập giá” muốn nói với chúng ta : đây là thời gian từ năm 1492 Christoph Colombus tìm ra Mỹ Châu, từ đó tiếp đến thời gian THUỘC ĐỊA VÀ TRUYỀN GIÁO.
3. Nhiều người bối rối, tại sao Đức Giáo Hoàng mới lại không vào Vatica để làm việc như các Đức Giáo Hoàng trước mà lại chỉ làm việc nơi khách sạn nhỏ bế Santa Marta. Hình như Đại thánh đường thánh Phêrô như biểu trưng cho văn hóa bốc lột và quyền lực.
4. Từ đó Ngài phải phên bình thức văn hóa này : những thứ văn hóa bốc lột của thời đại :
- Nói không với một nền “kinh tế loại trừ” EG số 53
53. Cũng như giới răn “chớ giết người” đưa ra một ranh giới bảo đảm giá trị sự sống của con người, ngày nay, chúng ta cũng phải nói không “với một nền kinh tế loại trừ và bất bình đẳng xã hội”. Một nền kinh tế như thế cũng giết người. Không thể tin được rằng một cụ già buộc phải sống ngoài đường phố, chết cóng, lại không phải là một tin tức, trong khi chứng khoáng bị hạ xuống hai điểm lại là một tin tức. Đó là loại trừ ! Cũng không thể chấp nhận sự kiện lương thực bị quăng đi, trong khi biết bao người phải chết đói. Đó là sự chênh lệch xã hội. Ngày nay, mọi người đều xử sự theo tiêu chuẩn cạnh tranh và luật của kẻ mạnh, trong đó người mạnh nuốt chửng kẻ yếu. Hệ luận của hoàn cảnh này là có một khối đông dân chúng tự xem mình như bị loại và bị quăng ra lề đường : không công ăn việc làm, không viễn cảnh, không lối thoát. Người ta nhìn con người như một món hàng tiêu thụ, người ta có thể sử dụng và sau đó quăng đi. Chúng ta đưa ra một thứ “văn hóa loại bỏ” (la culture du déchet – Wegwerfkultur), hơn nữa còn đòi hỏi như thế. Không còn là hiện tượng bóc lột và áp bức, nhưng là một điều gì mới : với việc loại bỏ là việc thuộc về một xã hội trong đó người ta không ở tầng thấp kém, bên lề hay không có chút quyền lực nào, nhưng thực sự là ở bên ngoài xã hội. Những người bị loại không phải là những người bị bóc lột, nhưng là rác rưởi.
54. Trong bối cảnh này, nhiều người vẫn còn bênh vực những lý thuyết “tái phát thích ứng” (trickle-down Theorie – Uberlauf-Theorie – les théories de la “rechute favorable”) họ đưa giả thuyết, mỗi cuộc tăng trưởng kinh tế, do thị trường tự do tạo nên, sẽ đưa đến một sự bình đẳng lớn lao và tạo sự liên kết xã hội trong thế giới. Ý kiến này chưa bao giờ được biện minh, mà chỉ đưa ra một sự tin tưởng thô thiển và ngây thơ dựa vào lòng tốt của những kẻ nắm quyền kinh tế và dựa vào những phương thức máy móc được thần thánh hóa của một hệ thống kinh tế thống trị. Cùng lúc đó, những kẻ bị loại vẫn tiếp tục chờ đợi. Để có thể bảo vệ lối sống loại bỏ kẻ khác, hay có thể say mê với lý tưởng ích kỷ, người ta triển khai một việc toàn cầu hóa của sự dửng dưng. Gần như không thể nhận ra được hiện tình như thế, nên chúng ta gần như bất lực để cảm nhận tiếng kêu đau khổ của kẻ khác, chúng ta còn không thể khóc trước bi kịch của kẻ khác, không còn chú tâm đến họ, hình như có một trách nhiệm nào đó, nhưng không dính dáng gì đến chúng ta. Nền văn hóa của đời sống thoải mái đã bỏ thuốc mê cho chúng ta rồi và chúng ta mất bình tĩnh nếu thị trường đưa ra một thứ gì mà chúng ta chưa mua được, trong khi những cuộc sống tang thương thiếu những khả năng để sống, đối với chúng ta cũng chỉ là một cảnh tượng không đánh động gì đến chúng ta.
- Nói không với ngẫu tượng mới của tiền bạc EG số 55 -56
55. Một trong những nguyên nhân của hoàn cảnh này nằm trong liên hệ do chính chúng ta tạo ra với tiền bạc, chỉ vì chúng ta quá dễ dàng chấp nhận sự thống trị của nó trên chúng ta và cả xã hội của chúng ta. Cuộc khủng hoảng tài chính mà chúng ta đang trải qua, làm chúng ta quên đi nó có nguồn gốc trong một cơn khủng hoảng sâu xa trong nhân học : đó là việc phủ nhận tính ưu việt của con người ! Chúng ta đã tạo những thần tượng mới. Việc thờ phượng con bò vàng trong quá khứ (x.Xh 32,1-35) đã tìm một cách diễn tả mới thật kinh tởm trong việc tôn thờ tiền bạc và trong sự độc tài của kinh tế đa diện, không một mục đích nhân bản. Cơn khủng hoảng thế giới bao trùm tài chính và kinh tế bộc lộ qua những thế mất cân bằng và, vượt trên tất cả, thiếu vắng trầm trọng một định hướng nhân bản, chỉ biết đút kết con người thành một trong các nhu cầu của họ : tiêu thụ!
56. Trong khi thu nhập của một nhóm nhỏ gia tăng theo cấp lũy thừa, thì những người thuộc đại đa số phải xa rời đời sống thoải mái của nhóm nhỏ hạnh phúc này. Sự chênh lệch này xuất phát từ ý thức hệ bảo vệ tính độc lập tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính. Vì thế, chúng phủ nhận quyền kiểm soát của Nhà Nước, có trách nhiệm phải gìn giữ thiện ích chung. Một thứ độc tài vô hình xuất hiện thiết đặt luật lệ và qui định của nó một cách độc đoán và không thể thay thế được. Hơn nữa, số nợ và lợi nhuận của chúng làm cho nhiều nước không còn khả năng thực hành nền kinh tế và công dân không còn quyền mua bán với giá thật. Thêm vào đó là một sự hũy hoại tinh tế và một sự tràn lan tham nhủng thật ích kỷ, đạt đến tầm thế giới. Khao khát quyền lực và chiếm hữu không biết đến ranh giới. Trong hệ thống này hướng đến việc hút máu tất cả, chỉ vì một mục đích gia tăng lợi nhuận, tất cả những gì mong manh, như môi trường, không thể bảo vệ trước những liên hệ của lợi nhuận thị trường được thần thánh hóa, được chuyển đổi thành qui luật tuyệt đối.
- Nói không với tiền bạc chỉ biết thống trị EG số 57-58
57. Đứng sau thái độ này, là việc phủ nhận đạo đức và từ chối Thiên Chúa. Thường người ta nhìn đạo đức như một thứ khinh bĩ có tính châm biếm. Người ta nhìn nó như một thứ ngăn cản sự phát triển và quá nhân bản, vì nó tương đối hóa tiền bạc và quyền lực. Người ta nhìn nó như thứ hăm dọa, vì nó kết án sự thao túng và hạ giá con người. Cuối cùng, đạo đức hướng đến một Thiên Chúa chờ đợi một lời đòi hỏi, đứng bên ngoài các thứ thị trường. Nếu các thị trường này được tuyệt đối hóa, Thiên Chúa sẽ không kiểm soát được, không thể thao túng, xem ra nguy hiểm, chỉ vì Người kêu gọi con người đạt tới sự hiện thực tròn đầy của mình và độc lập khỏi mọi thứ nô lệ. Đạo đức – đạo đức không bị ý thức hóa – cho phép tạo một sự cân bằng và một trật tự xã hội nhân bản hơn. Theo nghĩa này, tôi khuyến khích các nhà chuyên môn về tài chính và những nhà lãnh đạo các nước khác nhau, suy nghĩ lời nói của một người khôn ngoan trong quá khứ : “Việc không chia sẻ của cải cho người nghèo, có nghĩa là ăn cướp và cất đi cuộc sống của họ. Đó không phải là của cải mà chúng ta đang cầm giữ, nhưng là của họ.” [55].
58. Một cuộc cải tổ tài chính mà không biết đến đạo đức, cần có sự thay đổi quyết liệt thái độ về phần người lãnh đạo chính trị, tôi khuyến khích họ phải đối đầu với thách thức đó với một sự dứt khoát và tầm nhìn xa, đương nhiên không thể bỏ qua tính đặc thù của bối cảnh. Tiền bạc phải phục vụ chứ không phải lãnh đạo ! Giáo hoàng yêu mến tất cả mọi người, giàu cũng như nghèo, nhân danh Đức Kitô nhắc cho những kẻ giàu phải có bổn phận giúp đỡ, tôn trọng và động viên kẻ nghèo. Tôi khuyến khích tất cả phải liên đới vô vị lợi và trở lại một nền kinh tế và tài chính với một nền đạo đức vì con người.
- Nói không với sự bất bình đẳng, từ đó nảy sinh bạo lực EG số 59-60
59. Ngày nay, khắp mọi nơi Thiên Chúa đòi hỏi một sự bảo đảm lớn lao hơn. Nhưng bao lâu còn có sự loại trừ và chênh lệch xã hội, trong xã hội và giữa các dân tộc khác nhau, không thể nào nhổ tận gốc bạo lực. Người ta kết án các người nghèo và dân chúng bần cùng về tội bạo lực, nhưng nếu không có sự bình đẳng, các hình thức gây hấn và chiến tranh sẽ tìm được mảnh đất màu mở sớm muộn gì cũng sẽ nổ tung. Khi xã hội – địa phương, quốc gia hay thế giới – loại bỏ một phần xã hội ra bên lề, sẽ không có chương trình chính trị, không có sức mạnh trật tự và lý trí có thể bảo đảm được sự bình an. Điều này không thể xảy ra chỉ vì sự chênh lệch xã hội gây nên phản ứng bạo lực của những kẻ bị loại ra khỏi hệ thống, đó là vì hệ thống xã hội và kinh tế đã bất công từ gốc rể của chúng. Cũng như sự thiện hảo hướng đến việc chia sẻ, thì điều xấu mà người ta thỏa thuận, có nghĩa là điều bất công, hướng đến việc gieo rắc sức mạnh hũy diệt và làm yếu đi một cách âm thầm nền tảng mọi hệ thống chính trị, dù có vững chắc. Nếu mọi hoạt động đều có những hệ luận, một điều xấu nằm ngay trong những cơ cấu một xã hội sẽ luôn chứa chất một khả năng làm tan rã và cái chết. Điều xấu kết tinh trong những cơ cấu xã hội bất công, người ta không thể mong chờ từ đó một tương lai đẹp đẻ được. Chúng ta còn xa điều mà người ta gọi là “điểm kết thúc lịch sử”, chỉ vì các điều kiện cho một sự phát triển lâu bền và an bình chưa được nẩy mầm và hiện thực.
60. Các phương pháp máy móc của nền kinh tế hiện hành đưa đến việc tiêu thụ quá mức, một thứ tinh thần tiêu thụ không phanh, kết hợp với sự bất bình đẳng trong xã hội, làm cho cơ cấu xã hội bị tuột dốc gấp đôi. Với cách này, bất bình đẳng trong xã hội sớm muộn cũng gây nên bạo lực, mà cuộc chạy đua vũ trang không giải quyết được và cũng không bao giờ giải quyết được. Nó chỉ tìm cách dối gạt những người đòi hỏi an ninh bảo đảm hơn, gần như ngày nay chúng ta chỉ biết các khí giới và đàn áp tàn hại; thay vì đem đến những cách giải quyết, lại tạo thêm những xung khắc mới còn tệ hại hơn. Một số người chỉ muốn kết án người nghèo và những nước nghèo từ những khổ đau của họ, đưa ra những giải pháp đại cương như tìm cách giải quyết trong một thứ “giáo dục” bảo đảm, để biến họ thành những người dễ dạy và ngoan hiền. Điều này còn tàn tệ hơn nữa, khi những kẻ bị loại thấy loại ung thư xã hội – một thứ hũy hoại bắt nguồn sâu xa trong nhiều nước –, ngay trong chính quyền, trong các cơ chế và doanh nghiệp hoàn toàn không lệ thuộc vào ý thức hệ chính trị của chính quyền.
Từ những thái độ, văn hóa hiện tại làm cho con người xa lánh con người, xa lánh tôn giáo, xa lánh cả Thiên Chúa
Phanxicô đã nói lên thực trạng xã hội trong buổi gặp gỡ các Giám mục Á Châu ngày Chúa Nhật 17 tháng 8 năm 2014. Ngài có lời phát biểu như sau :
“Tuy nhin, cơng tc biết r v diễn tả căn tính của chúng ta không phải luôn luôn dễ dàng bởi vì – l những người tội lỗi – chúng ta sẽ luôn luôn bị cám dỗ bởi tinh thần thế gian, tinh thần này được bày tỏ bằng nhiều cách khác nhau. Trong đó tôi muốn vạch ra ba cách. Một là ánh sáng lừa đảo của thuyết tương đối, là điều che lấp sự rạng ngời của chân lý v lay chuyển vng đất dưới chân chúng ta, kéo chúng ta về phía những bi ct ln, ct lầy của mơ hồ và thất vọng. Đó là một cám dỗ mà hiện nay cũng ảnh hưởng đến cộng đồng Kitô hữu, khiến người ta quên rằng “đàng sau tất cả mọi thay đổi có nhiều thực tại không hề thay đổi; chúng có nền tảng chung quyết nơi Đức Kitô, là Đấng trước sau như một: ngày hôm qua, hôm nay, và mi mi” (Gaudium et Spes, 10; xem Dt 13: 8). Ở đây tôi không nói về thuyết tương đối chỉ đơn thuần là một hệ thống tư tưởng, nhưng về thuyết tương đối thực tế hàng ngày, là điều hầu như chúng ta không thể cảm thấy, nhưng làm yếu đi căn tính của chúng ta.
Một cách thứ nhì, trong đó thế giới đe dọa sự vững chắc của căn tính Kitô hữu của chúng ta là sự nông cạn: khuynh hướng chạy theo những mốt mới nhất, những tiện nghi và những trị tiu khiển, thay vì tham gia vo những điều thực sự quan trọng (x Phil 1: 10). Trong một nền văn hóa tôn vinh sự phù du, và cung cấp rất nhiều nơi để tránh né và thoát ly thực tại, điều này tạo ra một vấn đề mục vụ nghiêm trọng. Đối với các thừa tác viên của Hội Thánh, vẻ bề ngoài này cũng có thể thấy trong việc mê mẩn với các chương trình v lý thuyết mục vụ, đến nỗi không cịn thì giờ để trực tiếp gặp gỡ một cch cĩ hiệu quả với tín hữu của mình, v cả với những người không phải tín hữu, đặc biệt là giới trẻ, là những người cần được học một giáo lý vững chắc v hướng dẫn tinh thần chắc chắn. Nếu không có một nền tảng nơi Đức Kitô, những chân lý m chng ta sống trong cuộc đởi có thể dần dần bị rạn nứt, việc thực hành các nhân đức có thể trở thành hình thức, v đối thoại có thể bị giảm xuống thành một thể thức thương lượng, hay thỏa thuận, hoặc bất đồng. Thỏa thuận về những bất đồng … bởi mặt nước không lay động … Sự hời hợt này gây thiệt hại lớn cho chúng ta.
Rồi đến cám dỗ thứ ba: đó vẻ an toàn nấp sau những câu trả lời dễ dàng, những công thức, luật lệ và quy tắc có sẵn. Chúa Giêsu đ đụng chạm với những người nấp đàng sau những luật lệ, quy tắc và những câu trả lời dễ dàng … Ngài đ gọi họ l những kẻ đạo đức giả. Đức tin, tự bản chất, không đặt trọng tâm vào mình, nhưng có khuynh hướng “đi ra ngoài”. Nó tìm cch cho người ta hiểu nó; nó phát sinh ra chứng từ; nó tạo ra sứ vụ. Theo nghĩa này, đức tin cho phép chúng ta vừa can đảm vừa khiêm tốn trong việc làm chứng cho niềm hy vọng và tình yu của mình. Thnh Phrơ khuyn chng ta phải luơn luơn sẵn sng để trả lời cho tất cả những ai thắc mắc về lý do của niềm hy vọng nơi mình (xem 1 Pr 3:15). Căn tính của chúng ta là Kitô hữu cuối cùng hệ tại quyết tâm thờ phượng một mình Thin Cha, yu thương nhau, phục vụ lẫn nhau, và chứng tỏ bằng gương lành của mình, khơng những chỉ những gì mình tin, m cả những gì mình hy vọng, v Một Đấng mà nơi Ngài chúng ta đặt hết niềm tin của mình (x 2 Tim 1:12).
THỰC DÂN VĂN HÓA
Trong Tông Huấn EG, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh đến văn hóa của từng dân tộc trong các số 115-118:
115. Dân Thiên Chúa hội nhập vào các dân tộc trên thế giới; mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng. Văn hóa là một công cụ hữu ích để hiểu những cách diễn tả khác biệt về đời sống Kitô hữu hiện diện trong dân Thiên Chúa. Đó là cách sống của một xã hội cụ thể, một sự đặc thù giữa những chi thể nối kết nhau, liên hệ với những thụ tạo khác và với Thiên Chúa. Nếu hiểu như thế, văn hóa bao trùm toàn bộ đời sống một dân tộc [84]. Mỗi dân tộc, với quá trình tiến hóa trong lịch sử, phát triển nền văn hóa đặc thù của mình với một sự tự chủ hợp pháp [85]. Điều này phải hiểu rằng con người nhân bản “tự bản chất, cần đến một đời sống xã hội” [86] và nó sẽ luôn qui chiếu vào xã hội, nơi nó có một liên hệ cụ thể với thực tại. Con người luôn mang tính chất văn hóa : “bản tính và văn hóa liên kết với nhau hết sức chặt chẽ” [87]. An sủng đặt văn hóa đi trước, và hồng ân Thiên Chúa hội nhập vào văn hóa của người lãnh nhận.
116. Trong hai ngàn năm Kitô giáo, biết bao dân tộc đã lãnh nhận hồng ân đức tin, làm cho đời sống hằng ngày được phong phú và truyền đạt hồng ân này theo cách thức văn hóa riêng của họ. Khi một cộng đoàn đón nhận lời công bố ơn cứu độ, Thánh Thần Chúa sẽ làm phong phú văn hóa của họ với sức lực truyền đạt của Tin Mừng. Do đó, như chúng ta có thể thấy trong Lịch sử giáo hội, Kitô giáo không có một mô mẫu văn hóa duy nhất, nhưng “vẫn hoàn toàn là chính mình, trong sự trung tín với việc công bố Tin Mừng và truyền thống Giáo hội; Kitô giáo mang gương mặt nhiều nền văn hóa của biết bao dân tộc, nơi Kitô giáo được đón nhận và cắm rễ sâu” [88]. Nơi những dân tộc khác nhau, biết diễn đạt hồng ân của Thiên Chúa dựa theo văn hóa của riêng mình, Giáo hội diễn tả đặc tính công giáo đích thực và cho thấy “ vẻ đẹp của gương mặt đa dạng này” [89]. Trong những cách diễn tả Kitô giáo của một dân tộc đã được Phúc Âm hóa, Thánh Thần sẽ làm đẹp giáo hội, trong Giáo hội này, Người cho thấy những phương diện mới của Mạc khải và ban cho một gương mặt mới. Qua việc hội nhập văn hóa, Giáo hội “hướng dẫn các dân tộc với văn hóa của họ vào trong chính cộng đoàn của riêng họ.”[90] chỉ vì “mọi nền văn hóa đem đến các giá trị và mô mẫu tích cực có thể tạo sự phong phú cho cách Tin Mừng được rao giảng, được hiểu và được sống” [91]. Như thế “Giáo hội, khi đón nhận các nền văn hóa khác nhau, trở thành “sponsa ornata monilibus suis” – vị hôn thể trang điểm bằng các trang sức của mình” (x. Is 61,10)”[92].
117. Nếu hiểu rõ, sự khác biệt của các nền văn hóa không gây nguy hại cho sự duy nhất của giáo hội. Chính Thánh Thần được Chúa Cha và Chúa Con sai đến, Đấng biến đổi tâm hồn chúng ta và giúp chúng ta có khả năng bước vào sự hiệp thông trọn vẹn của Ba Ngôi Thiên Chúa, chính nơi đó tất cả mới tìm được sự duy nhất của mình. Chúa Thánh Thần xây dựng sự hiệp thông và hòa hợp của dân Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần chính là sự hài hòa, cũng như Người là dây tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con [93]. Chính Người tạo biết bao ân sủng thật đa dạng và phong phú, đồng thời xây dựng sự duy nhất, nhưng không bao giờ đồng nhất, nhưng hài hòa qua nhiều hình thức lôi kéo mọi người. Việc Phúc Âm hóa với niềm vui công nhận sự phong phú mà Thánh Thần đã tác sinh trong Giáo hội. Thật bất công khi cho rằng vì phải hội nhập nên Kitô giáo chỉ có một văn hóa và một sự hòa hợp. Thật sự trong vài nền văn hóa gắn kết với việc rao giảng Tin Mừng và triển khai một tư tưởng Kitô giáo, sứ điệp mạc khải không đồng nhất với bất cứ nền văn hóa nào trong chúng và có một nội dung siêu văn hóa. Vì thế, khi rao giảng Tin Mừng cho các nền văn hóa mới hay những nền văn hóa không đón nhận lời rao giảng Kitô giáo, không được áp đặt một hình thức văn hóa đặc biệt, dù có tốt đẹp và cổ xưa đến đâu, cùng với đề nghị của Tin Mừng. Sứ điệp chúng ta rao giảng, phải luôn có màu áo văn hóa, nhưng đôi khi trong Giáo hội chúng ta lại rơi vào một thứ thần thánh hóa giả trá nền văn hóa của chúng ta, với thứ văn hóa này chúng ta có thể biểu lộ sự cuồng tín hơn là lòng nhiệt thành đích thực mang tính chất truyền giáo.
118. Các Giám Mục của Châu Đại Dương yêu cầu Giáo hội “cố gắng hiểu và trình bày chân lý của Đức Kitô dựa vào truyền thống và văn hóa của vùng này” và các ngài ước mong “tất cả vị truyền giáo hoạt động hài hòa với các Kitô hữu bản xứ để tạo niềm tin và đời sống Giáo hội được diễn tả dựa theo các hình thức hợp lý đã được công nhận trong từng nền văn hóa” [94]. Chúng ta không thể đề nghị mọi dân tộc của các châu lục, khi diễn tả niềm tin công giáo, phải bắt chước các thể thức của dân Au Châu thuộc vào một thời điểm nhất định của lịch sử họ, vì đức tin không thể bị ràng buộc vào những ranh giới hiểu biết và diễn tả của một văn hóa đặc biệt [95]. Một nền văn hóa duy nhất có thể làm suy giảm mầu nhiệm cứu độ của Đức Kitô.
Trong bài phát biểu ngày 17.8.2014, Đức Giáo Hoàng cũng nhấn mạnh đến văn hóa :
Trên lục địa rộng lớn này, trong đó có những nền văn hóa lớn khác biệt nhau, Hội Thánh được mời gọi trở nên tháo vát và sáng tạo trong việc làm chứng cho Tin Mừng của mình bằng cch đối thoại và cởi mở với tất cả mọi người. Đây là thách đố của các hiền huynh! Thực ra, đối thoại là một phần thiết yếu của sứ vụ của Hội Thánh tại Á châu (x Ecclesia in Asia, 29). Tuy nhiên, trong việc thực hiện con đường đối thoại với những cá nhân và các nền văn hóa, đâu là điểm khởi hành và điểm quy chiếu cơ bản của chúng ta, là những điều hướng dẫn chúng ta đi đến cùng đích của mình? Chắc chắn nĩ phải l căn tính riêng của chúng ta, căn tính của chúng ta như những Kitô hữu. Chúng ta không thể tham gia vào cuộc đối thoại thật sự trừ khi chúng ta ý thức về căn tính ring của mình. Chúng ta không thể đối thoại, chúng ta không thể bắt đầu đối thoại từ nhưng không, từ con số không, từ một cảm giác mờ hồ về căn tính của chúng ta. Đằng khác, cũng không có thể đối thoại đích thực nếu chúng ta không có khả năng mở trí khôn và tâm hồn của của mình ra, trong sự cảm thơng v đón nhận chân thành, với những người mà chúng ta đối thoại. Đó là một sự chú ý, v trong sự ch ý m Cha Thnh Thần hướng dẫn chúng ta. Như thế, một ýthức r rng về căn tính riêng của mình v một khả năng cảm thông chính là khởi điểm của tất cả mọi cuộc đối thoại. Nếu chúng ta muốn nói chuyện với những người khác một cách tự do, cởi mở và có hiệu quả, chúng ta phải biết r mình l ai, những gì Thin Cha đ lm cho mình, v những gì Ngi muốn nơi mình. V nếu khơng muốn việc truyền thơng của mình thnh một cuộc độc thoại, thì tm hồn v trí khơn của chng ta phải mở ra để chấp nhận những cá nhân và những nền văn hóa khác. Đừng sợ, vì sợ hi l kẻ th của những cởi mở ny.
Cũng nên nhớ , chính chúng ta cũng là nạn nhân của việc THỰC DÂN VĂN HÓA này. Cho đến nay chúng ta cũng còn mang lấy tội : đi đạo là bỏ ông bà. Vấn đề THỚ KÍNH TỔ TIÊN bị kéo dài trên 200 năm trời, làm cho Kitô hữu Việt Nam qua đau khổ cho đến ngày nay.
Chúng ta chỉ xin tóm tắt VIỆC KÍNH THỜ TỔ TIÊN như sau
Cuộc tranh chấp nổ ra vào năm 1633, khi các cha dòng Đaminh trách các cha Dòng Tên cho phép giáo dân giữ nghi thức tôn kính tổ tiên cũng như tôn kính Khổng tử, chỉ cần loại những gì xem ra là dị đoan.
Năm 1639 Rôma suy nghĩ về những điều các cha Dòng Tên cho phép tại Trung Quốc.
Các sắc lệnh Toà Thánh đưa ra, đôi khi lại gây lộn xông, lúc cho phép, lúc cấm.
Năm 1645, một Sắc lệnh của Đức giáo hoàng Innocent X tuyên bố các nghi thức là dị đoan.
Năm 1656 một sắc lệnh mới của Đức Tân Giáo Hoàng Alexandre VII cho rắng các nghi thức này chỉ là phong tục xã hội.
Cuối cùng năm 1669, Đức Giáo Hoàng Clément IX tuyên bố là dị đoàn nên cấm. Những sắc lệnh thật lộn xộn, làm các nhà thừa sai khổ tâm
Năm 1693, một bản báo cáo của Đức ông MAIGROTgây bão tố. Ngài đề nghị : sử dụng thuật ngự Tianzhu để gọi Thiên Chúa, cấm tất cả các bài vị hoàng đế (là tablette impériale) trong các nhà thờ, cấm các nghi thức tôn kính Khổng Tử, cấm các nghi thức tôn kính tổ tiên, bài vị tổ tiên và nhiều điều khác đươc chỉ rõ. Điều này được ban ra ngay lúc hoàng đến Khang Hy đưa ra sắc lệnh cho phép giảng đạo.
20.11.1704 Sắc chỉ EX ILLA DIE của Đức giáo hoàng Clement XI, cấm việc tôn kính Tổ Tiên
Đặc sứ của Đức giáo hoàng Clement XI là CHARLES AMBROSE MEZZABARBA ngày 4.11.1721 đưa ra bản “8 điều được phép làm”
Một sắc lệnh của Đức giáo hoàng BENEDICTÔ XIII chấp thuận 8 điều của Mezzabarba đề nghị. Nhưng ngay lúc đó Khang HY qua đời ; Yongzheng lên thay và ra lệnh cấm đạo vào năm 1724. Chỉ có những thừa sai Dòng Tên trí thức và giỏi khoa học đựơc tiếp tục ở trong triều đình
11.7.1742 Sắc chỉ EX QUO SINGULARI của Đức giáo hoàng BENEDICTUS XIV buộc phải tuyên thệ, tuân giữ Sắc lệnh Ex Illa Die
8.12.1939 Sắc Lệnh PLANE COMPERTUM EST CỦA Đức giáo hoàng PIUS XII cho phép tôn kính tổ tiên
(1742 Đức giáo hoàng Benoỵt XIV, ban hành Sắc lệnh Ex quo singulari chấm dứt tranh luận về nghi thứ Trung Quốc.
1773 Đức giáo hoàng Clment XIV giải thể Dòng Tên
1814 Tái lập Dòng Tên
1822 Thiết lập tại Lyon công tác của Bộ Truyền Giáo s
1845 Thông điệp Neminem Perfecto về việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương (Grgoire XVI)
1872 Thành lập dòng Pres blancs, các vị lm đầu tiên đến Sahara (Laghouat)
1878 Một số đông nhà truyền giáo lên đường đến Bouganda và Tanganyika.
1886 Các Kitô hữu tử đạo tại Ouganda
1919 Thông điệp Maximum illud (Benoỵt XV)
1926 Thông điệp Encyclique Rerum Ecclesiae (Pie XI)
1951 Thông điệp Evangelii Praecones về sự độc lập của các Giáo hội địa phương s (Pie XII)
14.6.1965 HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM đưa ra bản thông cáo về VẤN ĐỀ TÔN KÍNH TỔ TIÊN VÀ CÁC ANH HÙNG.
12.4.1974 giải tỏa tất cả những lấn cấn về vấn đề thờ kính tổ tiên
Có thể nói tông huấn EVANGELII GAUDIUM là chương trình TÂN PHÚC ÂM HÓA của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
EG số 27 : Tôi mơ đến một sự chọn lựa truyền giáo có khả năng chuyển đổi tất cả mọi sự, để những thói quen, những phong cách, những thời biểu, ngôn ngữ và mọi cơ cấu giáo hội trở thành một con kênh thích ứng cho việc Phúc Âm hóa thế giới hiện tại, hơn là tự bảo tồn mình. Canh tân các cơ cấu, đòi buộc một sự chuyển đổi mục vụ, chỉ có thể trong nghĩa : lo lắng để các cơ cấu mang tính chất truyền giáo nhiều hơn, để mục vụ bình thường trong mọi hoàn cảnh được rộng mở và bung ra, giúp cho những người làm mục vụ luôn có thái độ “bung ra” và thích ứng với câu trả lời tích cực cho tất cả những người mà Đức Giêsu đem tình bạn của Người đến. Như Đức Giáo Hoàng Gioan-Phalô II nói với các Giám Mục châu Đại Dương, “mọi cuộc canh tân trong Giáo hội phải có mục đích truyền giáo, để khỏi rơi vào nguy cơ của một một Giáo hội chỉ biết tập trung vào chính mình” [25].
Phải thay đổi cơ chế cho phù hợp với việc truyền giáo :
EG 25 : 25. Tôi biết rất rõ rằng ngày nay những tài liệu không gợi lên cùng một sự quan tâm như trong các thời đại khác và sớm bị lãng quên. Dù vậy, điều muốn nhấn mạnh ở đây là tôi cố ý nói lên một định hướng kế hoạch và những hệ luận quan trọng. Tôi hy vọng rằng tất cả các cộng đoàn sẽ thực hiện bằng những phương thế cần thiết để tiến đến việc trao đổi mục vụ và truyền giáo, không thể để mọi sự như hiện nay. Đây không phải chỉ là “một cách quản trị thuần túy” [21] mà chúng ta cần đến. Chúng ta phải thiết đặt trên mọi miền thế giới một “tình trạng truyền giáo thường trực” [22].
26. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đòi buộc phải nới rộng việc canh tân, để nhấn mạnh, không phải chỉ hướng đến từng cá nhân, nhưng là trọn Giáo hội. Chúng ta nhớ lại bản văn cần suy nghĩ này để không đánh mất sức mạnh mời gọi : “Đây là lúc, Giáo hội phải đào sâu ý thức về chính mình, suy nghĩ về mầu nhiệm của mình […] Từ ý thức được soi sáng và đánh động đưa đến một đòi hỏi đột xuất, để nhìn lại hình ảnh lý tưởng của Giáo hội như Đức Kitô đã nhìn, đã muốn và đã yêu, như vị Hôn Thể thánh thiện, vô tì vết của Người (x. Ep 5,27), gương mặt đích thực mà Giáo hội phải trình diện hôm nay. […] Từ đó, nảy sinh một khao khát quảng đại và không còn kiên nhẫn nữa cho cuộc canh tân, có nghĩa là sữa sai các lỗi lầm, mà ý thức này thấy được dưới ánh sáng mẫu gương của Đức Kitô đã để lại cho chúng ta, cần phải tố cáo và loại bỏ” [23].
Phải thay đổi các cơ chế của :
- giáo xứ (số 28)
- các cơ chế khác (số 29)
- Giáo hội địa phương (số 30)
- Các vị Giám mục (số 31)
- Đức Giáo Hoàng (số 32)
Ngài vạch con đường truyền giáo cho Giáo hội; một Giáo hội thật sự muốn truyền giáo trong ngày hôm nay, phải “bước ra ngoài”. Đây là thuật ngữ có thể nói là chỉ đạo choTông Huấn :
20. Lời Chúa luôn đưa ra động lực về việc “bước ra” mà Chúa muốn gợi lên cho các tín hữu. Trước tiên ông Abraham chấp nhận lời kêu gọi ra đi, đến một mãnh đất mới (x.St 12,1-3). Ong Môisen lắng nghe tiếng Chúa gọi : “Hãy đi, Ta sai ngươi” (Xh 3,10) và đưa dân Do Thái đến đất hứa (x.Xh 3,17). Chúa nói với ngôn sứ Giêrêmia : “Nơi nào Ta sai ngươi, ngươi phải đi đến đó !”(Gr 1,7). Ngày nay, tiếng gọi “Hãy đi”của Đức Giêsu đều hiện diện trong tất cả mọi hoàn cảnh và thách đố luôn mới mẽ nơi sứ vụ truyền giáo của Giáo hội; tất cả chúng ta được kêu gọi cho việc “xuất hành” truyền giáo mới này. Mọi người Kitô hữu và tất cả cộng đoàn phải trao đổi về con đường mà Chúa đòi hỏi; tất cả chúng ta đều được mời gọi để chấp nhận lời mời này : ra khỏi sự yên vững riêng tư của mình và can đảm đi đến những nơi cần đến ánh sáng của Tin Mừng.
21. Niềm vui từ Tin Mừng tràn ngập đời sống cộng đoàn các môn đệ là một niềm vui truyền giáo. Bảy mươi người môn đệ đều có kinh nghiệm này, những con người trở về sau sứ vụ thật vui vẻ (x.Lc 10,17). Đức Giêsu cảm nghiệm điều đó, chính Người rất phấn khởi trong niềm vui của Thánh Thần và ca tụng Cha vì mạc khải của Cha dành cho người nghèo và kẻ bé nhỏ nhất (x.Lc 10,21). Những người đầu tiên trở lại, cũng cảm nghiệm điều này, họ tràn đầy kinh ngạc, khi lắng nghe lời rao giảng của các Tông đồ “mỗi người nghe theo ngôn ngữ của mình” (Cv 2,6) vào ngày lễ Hiện Xuống. Niềm vui này là một dấu chỉ cho thấy một khi Tin Mừng được rao giảng sẽ đem lại kết quả. Nhưng niềm vui này luôn có được động năng của cuộc xuất hành và của quà tặng, của việc bước ra khỏi bản thân, của việc bước đi và luôn gieo cách mới mẽ, càng ngày càng xa. Chúa nói : “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mc 1,38). Khi hạt giống được gieo trong một nơi nào đó, Đức Giêsu không dừng lại nơi đó nữa để giải thích thêm hay để làm những dấu lạ, ngược lại Thánh Thần hướng dẫn Người đi đến các làng khác.
22. Lời Chúa mang nơi mình một khả năng mà chúng ta không thể thấy trước được. Tin Mừng nói về hạt giống, một khi được gieo, sẽ lớn lên ngay cả lúc người nông phu đang ngủ (x.Mc 4,26-29). Giáo hội phải chấp nhận sự tự do không tiên liệu được của Lời, sẽ đem lại kết quả theo nhiều cách thức khác nhau, vượt khỏi suy nghĩ của chúng ta và tung vở các kế hoạch của chúng ta.
23. Sự liên kết mật thiết của Giáo hội với Đức Giêsu là một sự mật thiết truyền giáo, và cộng đoàn “tỏ hiện một cách cơ bản là một cộng đoàn truyền giáo” [20]. Trung thành theo mẫu của Thầy, điều quan trọng sống còn là Giáo hội phải bước ra ngoài để rao giảng Tin Mừng cho mọi người, trong mọi hoàn cảnh, không do dự, không âu lo, không sợ sệt. Niềm vui của Tin Mừng được dành cho toàn dân, không ai bị loại ra bên ngoài. Đấy là điều thiên thần loan báo cho các mục đồng tại Bethlehem : “Anh em đừngsợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân” (Lc 2,10). Sách Khải Huyền nói về “Một Tin Mừng vĩnh cửu để loan báo cho các người ở trên mặt đất, cho mọi dân, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ và mọi nước” (Kh 14,6).
Khởi hành, dấn bước, đồng hành, mang lại hoa trái và ăn mừng
24. Giáo hội “bước ra ngoài” là cộng đoàn các môn đệ truyền giáo, xuất phát, dấn thân, đồng hành, mang lại hoa trái và ăn mừng. “Primerear- đón nhận khởi điểm” : Tôi xin lỗi vì thuật ngữ mới lạ này. Cộng đoàn truyền giáo cảm nghiệm rằng chính Chúa nhận lấy khởi điểm, Người tiến bước trước trong tình yêu (x. 1 Ga 4,10) và vì lý do này, cộng đoàn biết tiến lên trước, nhận lấy khởi điểm không chút sự hãi, đi để gặp gỡ, tìm những người ở xa và đến các ngả tư đường phố để mời những ai bị loại. Để có thể cảm nghiệm được lòng nhân từ của Cha và sức mạnh lan tỏa, cộng đoàn sống một sự khao khát bất tận để hiến dâng lòng nhân từ. Chúng ta hãy cố thêm một chút nữa để khởi đầu ! Tiếp đến, Giáo hội biết “dấn thân”. Đức Giêsu đã lau chân cho các môn đệ. Chúa dấn thân và giúp cho môn đệ của Người biết dấn thân, khi quì gối xuống trước kẻ khác để lau chân cho họ. Nhưng tiếp đó, Người nói với các môn đệ: “Phúc cho anh em, nếu anh em làm điều này” (Ga 13, 17). Cộng đoàn truyền giáo, qua hành động và các cử chỉ, tự đặt mình vào cuộc sống hằng ngày của kẻ khác, thu ngắn khoảng cách, tự hạ cho đến khiêm tốn nếu cấn thiết, và đón nhận cuộc sống nhân bản, đụng chạm đến thân xác khổ đau của Đức Kitô trong dân chúng. Các nhà truyền giáo cũng thế, phải “có mùi của con chiên” và các con chiên nghe tiếng họ. Tiếp đến, cộng đoàn truyền giáo sẵn sàng để “đồng hành”. Cộng đoàn đồng hành với nhân loại trong mọi tiến trình, dù khó khăn và kéo dài đến đâu đi nữa. Cộng đoàn nhận thức sự mong chờ và kiên nhẫn mang tính Tông đồ. Việc Phúc Âm hóa đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và tránh việc xác định giới hạn. Trung thành với ân huệ của Chúa, cộng đoàn hiểu thế nào là “mang lại hoa trái”. Cộng đoàn truyền giáo luôn chú ý đến hoa trái, chỉ vì Chúa muốn cộng đoàn phải sung mãn. Cộng đoàn phải chú ý đến hạt giống và không để mất bình tĩnh vì cỏ lùng. Người gieo giống, khi thấy cỏ lùng nẩy mầm giữa hạt giống, không được có những phản ứng than vãn, cũng như hoảng loạn. Ong phải tìm phương pháp để Lời thấm nhập vào một hoàn cảnh cụ thể và đem lại hoa trái cho đời sống mới, dù bên ngoài xem ra bất toàn và chưa trọn. Người môn đệ biết dâng trót mạng sống mình, như một dấu chứng cho Đức Giêsu Kitô dù phải tử đạo ; ước mong của họ không phải là có nhiều kẻ thù, nhưng đúng hơn là mong cho Lời được đón nhận và bộc lộ sức mạnh giải phóng và canh tân. Cuối cùng, cộng đoàn truyền giáo, vui tươi, và luôn biết “ăn mừng”. Cộng đoàn cử hành và ăn mừng mỗi một chiến thắng nhỏ nhoi, mỗi một bước tiến trong việc Phúc Âm hóa. Truyền giáo cách vui tươi sẽ tạo vẻ đẹp trong phụng vụ, trong đòi hỏi hằng ngày để làm cho điều thiện được gia tăng. Giáo hội truyền giáo và tự truyền giáo cho mình nhờ vẻ đẹp của phụng vụ, phụng vụ cũng là việc cử hành hoạt động truyền giáo và là nguồn của một sự thúc đẩy được canh tân để tự hiến bản thân mình.
Qua những hướng dẫn như thế, Đức Giáo Hoàng có thể kết luận :
48. Nếu toàn thể Giáo hội đón nhận sức năng động truyền giáo này, Giáo hội phải đến với tất cả mọi người, không trừ ai. Nhưng ai sẽ là những người ưu tiên ? Nếu đọc Phúc Am, chúng ta sẽ tìm được định hướng rõ ràng : không phải là bạn bè hay những người lân cận giàu sang, nhưng là những người nghèo, những kẻ tàn tật, những người bị khi dễ và bị lãng quên, “những người không có gì để đáp trả lại anh” (Lc 14,14). Không có gì phải nghi ngờ, cũng không có giải thích nào giảm bớt đi sứ điệp quá rõ ràng này. Ngày nay và mãi mãi, “những người nghèo sẽ là những người ưu tiên được nhận Tin Mừng” [52]. Và việc Phúc Âm hóa hoàn toàn dành cho họ, đó chính là dấu chỉ của Nước Trời mà Đức Giêsu đã mang đến. Phải xác quyết, có một sợi dây nối kết chặt chẽ được giữa đức tin và người nghèo. Chúng ta không bao giờ được để họ cô đơn.
49. Chúng ta hãy bước ra, bước ra để dâng hiến sự sống của Đức Giêsu Kitô cho tất cả mọi người. Tôi xin lập lại nơi đây với toàn thể Giáo hội, điều tôi lập lại nhiều lần cho linh mục và giáo dân ở Buenos Aires : tôi thích một Giáo hội bị tai nạn, bị thương tích và dơ bẩn vì bước ra đường phố, hơn là một Giáo hội bệnh tật vì đóng kín và an toàn bám víu vào những thứ bảo đảm cho mình. Tôi không muốn có một Giáo hội chỉ lo lắng để trở thành trung tâm và cuối cùng chết cứng với những khối ý tưởng và tranh luận. Nếu có điều gì chúng ta phải ưu tư vì làm xao xuyến lương tâm của chúng ta, đó là có biết bao nhiêu anh em sống không có sức lực, ánh sáng và an ủi nhờ tình bạn của Đức Giêsu Kitô, không có một cộng đoàn đức tin đón nhận họ, không một chân trời ý nghĩa và sự sống. Tôi hy vọng, thà phạm một sai lầm hơn là sợ sệt, nếu động lực thúc đẩy chúng ta là điều sợ sệt làm chúng ta tự đóng khung vào các cơ cấu, thì chỉ đem lại cho chúng ta một sự bảo vệ sai lệch, trong những định lệ biến chúng ta thành những vị thẩm phán không biết xúc động, trong các thói quen mà chúng ta nghĩ rằng sẽ được an thân, bấy giờ, bên ngoài sẽ có một rừng người đói kém và Đức Giêsu phải luôn lập lại với chúng ta : “Chính anh em phải cho họ ăn” (Mc 6,37).
Giáo hội bước ra ngoài :
- Khỏi cơ chế sơ cứng vì chỉ biết bảo vệ đạo –tạo lập quyền lực trong nội bộ và giữa xã hội
- Các nhà truyền giáo, các Giám mục, các linh mục phải bước ra khỏi khung an toàn của lâu đài nhà thờ, của sự bình yên giả tạo … chỉ biết xây dựng cho bản thân.
- Phúc Âm dành cho người nghèo, những người bị bỏ rơi, bị loại về mặt kinh tế…
- Phúc Âm dành cho những người bỏ đạo, chỉ được rữa tội rồi không còn biết gì về đạo : những người chỉ biết đi tìm các mục tiêu trần tục – Họ bỏ đạo cũng vì một lỗi lầm của cơ chế quyền lực trong Giáo hội
- Giáo hội dám sẵn sàng bỏ đi các thói quen an thân, an phận, sợ lấm lem, sợ mất giờ của mình. Những vị nhận chức thánh chỉ để người ta tôn thờ mình chứ không phải để phục vụ.
- Giáo hội bước ra ngoài vì người nghèo :
EG 198 : Đối với Giáo hội, việc định hướng đứng về phía người nghèo là một đặc thù thần học trước khi thuộc về văn hóa, xã hội, chính trị hay triết học. Thiên Chúa bảo đảm cho họ “lòng ưu ái đầu tiên của Người” [163]. Tình ưu ái của Thiên Chúa có những hệ luận trong đời sống đức tin của mọi Kitô hữu, được gọi “có cùng một tâm tình với Đức Kitô” (Pl 2,5). Được tình ưu ái này linh hứng, Giáo hội đã chọn đứng về phía người nghèo, được hiểu như một “động lực đặc biệt như ưu tiên trong việc thực hành bác ái Kitô giáo mà cả truyền thống Giáo hội đã làm chứng” [164]. Định hướng này – theo lời Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI – “nằm sâu kín trong đức tin Kitô giáo vào Thiên Chúa, Đấng hóa thành nghèo vì chúng ta, để làm cho chúng ta được phong phú nhờ cái nghèo của Người” [165]. Vì lý do đó, tôi muốn có một Giáo hội nghèo cho người nghèo. Họ có nhiều điều để dạy dỗ chúng ta. Hơn nữa, để chia sẻ vào sensus fidei – cảm thức đức tin, qua những đau khổ của họ, chúng ta nhận biết Đức Kitô khổ đau. Tất cả mọi người chúng ta cần phải để họ rao giảng Tin Mừng cho chúng ta. Việc tân Phúc Âm hóa là một lời mời để nhận ra sức mạnh cứu độ của sự hiện sinh của họ, và đặt chúng vào trung tâm con đường của Giáo hội. Chúng ta được mời gọi khám phá Đức Kitô trong họ, giao cho họ tiếng nói của chúng ta để nói lên những nguyên nhân của họ, nhưng đồng thời chúng ta cũng là những người bạn thân thiết của họ, lắng nghe họ, hiểu họ và đón nhận sự khôn ngoan mầu nhiệm mà Thiên Chúa muốn chia sẻ cho chúng ta qua họ.
200. Sau khi khẳng định, Tông Huấn này được gởi đến các thành phần trong Giáo hội công giáo, tôi thật đau lòng mà nói rằng sự kỳ thị tồi tệ mà người nghèo phải gánh chịu, đó là thiếu sự quan tâm về mặt tinh thần. Đại đa số người nghèo luôn mở rộng cho niềm tin, họ cần đến Thiên Chúa và chúng ta không được chễnh mãn để đem đến cho họ tình thân của Người, lời chúc lành của Người, Lời Người, việc cử hành Bí tích và đề nghị một con đường phát triển và trưởng thành trong đức tin. Việc chọn lựa ưu tiên đối với người nghèo phải được diễn dịch cách chính yếu bằng một sự quan tâm mang tính tôn giáo, đặc quyền và tiên quyết.
VỀ NGƯỜI RAO GIẢNG TIN MỪNG
Sau khi đưa ra chương trình cho việc truyền giáo, Đức Giáo Hoàng nói về người rao giảng. Ngài nhấn mạnh đến bài giảng :
1. Bài giảng
EG 135 : Bây giờ chúng ta nhìn đến bài giảng trong phụng vụ, cần một sự đánh giá thận trọng về phía mục tử. Tôi đặc biệt chú ý đến bài giảng và việc chuẩn bị bài giảng, vì nhiều lời ta thán về phận vụ quan trọng này, và chúng ta không thể bịt tai lại được. Bài giảng là viên đá thử thách để đánh giá việc gần gũi của mục tử với giáo dân. Thực sự, chúng ta biết rằng giáo dân đánh giá cao vị mục tử của mình, và họ, như các thừa tác viên có thánh chức, thường rất đau khổ, người này vì lắng nghe, người khác vì phải giảng. Như thế thật đáng buồn. Bài giảng thực sự phải là một kinh nghiệm sâu xa và hạnh phúc về Chúa Thánh Thần, một sự gặp gỡ động viên với Lời, một nguồn luôn tuôn trào sự canh tân và phát triển.
2. Vị giảng thuyết phải thân mật với Lời:
149. Vị giảng thuyết “trước tiên phải có được một sự thân mật lớn lao với Lời. Đối với ngài, sự hiểu biết về phương diện ngôn ngữ hay chú giải thật ra không đủ, dù điều này cần thiết. Ngài phải đón nhận Lời Chúa với một tâm hồn ngoan hiền và cầu nguyện, để Lời đi sâu vào tư tưởng và tình cảm của ngài và đem đến cho ngài một tinh thần mới” [115]. Điều này thật tốt cho chúng ta nếu chúng ta cứ lập lại từng ngày, từ Chúa nhật, lòng nhiệt thành của chúng ta khi chuẩn bị bài giảng, và kiểm chứng tình yêu của Lời mà chúng ta rao giảng, lớn dậy trong chúng ta. Đừng quên rằng “sự thánh thiện nhiều hay ít nơi thừa tác viên có một ảnh hưởng rõ ràng trên cách công bố Lời” [116]. Như thánh Phaolô xác nhận, “chúng tôi rao giảng, không phải để làm vừa lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng thử luyện tâm hồn chúng tôi” (1 Tx 2,4). Nếu trong tâm hồn chúng ta có một sự khao khát mãnh liệt là người đầu tiên lắng nghe Lời mà chúng ta phải rao giảng, Lời sẽ được truyền đạt cách này hay cách khác cho dân Chúa : “Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Mt 12, 34). Các bài đọc ngày Chúa Nhật vang lên trong lòng dân Chúa với tất cả sự chói sáng của chúng, nếu chúng được vang dội đầu tiên trong tâm hồn vị mục tử.
3. Lectio divina
152.Có một phương cách cụ thể để lắng nghe điều Chúa muốn nói với chúng ta trong Lời của Người và để cho Thánh Thần biến đổi chúng ta. Đó là điều mà chúng ta gọi là Lectio divina. Điều này gồm tóm trong việc đọc Lời Chúa giữa thời gian cầu nguyện, để Người soi sáng và canh tân chúng ta. Cách đọc Thánh Kinh theo lối cầu nguyện này không được tách khỏi việc học vấn mà vị giảng thuyết phải chu toàn để tìm sứ điệp trung tâm của bản văn ; ngược lại, ngài phải xuất phát từ đấy, để tìm cách khám phá điều sứ điệp muốn nói với chính cuộc đời của ngài. Việc đọc sách thiêng liêng một bản văn phải đi từ ý nghĩa văn chương. Nếu không, chúng ta dễ dàng gán cho bản văn những gì thích hợp để xác nhận những quyết định riêng của mình, thích ứng với những lược đồ lý trí của mình. Dứt khoát, điều này cho thấy việc sử dụng điều linh thánh cho tư lợi riêng của mình và truyền đạt sự mơ hồ cho dân Chúa. Đừng quên rằng đôi khi, “chính Satan cũng đội lốt thiên thần sáng láng” (2 Cr 11,14).
Về Lectio divina chúng ta đã biết :
a, gặp gỡ Đức Giêsu trong Lời của Người
b, biến đổi người linh mục thành Lời
c, Lời nhập thể qua cuộc sống của người linh mục
d, Lời nhập thể vào con người linh mục, đến độ :
- suy nghĩ như Đức Kitô
- có con mắt của Đức Kitô để đi tìm con chiên lạc
- có trái tim bị đánh động trước nổi khổ của nhân loại và của từng người
- hoạt động cho tình yêu
4. lý do rao giảng:
264. Lý do đầu tiên để truyền giáo là tình yêu của Đức Giêsu mà chúng ta đã được lãnh nhận, kinh nghiệm được Người cứu độ, thúc đẩy chúng ta luôn yêu mến Người hơn nữa. Nhưng tình yêu nào mà chúng ta không cần phải nói đến việc được yêu, chỉ cho thấy, giúp cho người khác nhận ra ? Nếu chúng ta không cảm thấy khao khát mãnh liệt chia sẻ vào tình yêu này, cần thời gian để kêu xin Người trong cầu nguyện, cầu xin ân sủng của Người khai mở trái tim lạnh giá của chúng ta và lay động cuôc sống hửng hờ và nguội lạnh. Đứng trước mặt Người, với trái tim rộng mở, để Người nhìn đến chúng ta, chúng ta sẽ nhận ra cái nhìn tình yêu này mà Nathanel đã khám phá, ngày Đức Giêsu đứng trước mặt ông và nói : “Khi anh còn đứng dưới cây vả, Tôi đã thấy anh” (Ga 1,48). Thật êm dịu biết bao khi đứng trước thập giá, hay quì gối trước Bí tích Thánh Thể, và hãy thật đơn sơ trước ánh mắt của Người ! Điều này thật tốt đẹp vì làm cho Người đụng chạm đến hiện sinh của chúng ta và thúc đẩy chúng ta kết hợp vào đời sống mới của Người ! Vì thế, điều đã xuất hiện, dứt khoát, là điều “mà chúng tôi đã thấy và đã nghe, đó là điều chúng tôi công bố” (1 Ga 1,3). Động lực tốt nhất để quyết định kết hợp với Tin Mừng đó là chiêm ngắm Người với trọn tình yêu, chậm chậm đọc các trang này và hãy đọc với tâm hồn. Nếu chúng ta tiếp cận với cách này, vẻ đẹp của Người sẽ làm cho chúng ta kinh ngạc, và mỗi lần như thế chúng ta sẽ ngất ngây. Vậy cần thiết để tìm lại tinh thần chiêm niệm, cho phép chúng ta mỗi ngày tái khám phá rằng chúng ta là những người đang nắm giữ một điều thiện hảo thật nhân bản, giúp chúng ta sống đời sống mới. Không còn điều gì tốt hơn nữa để truyền đạt cho người khác.
267. Khi đã kết hợp với Đức Giêsu, chúng ta hãy tìm điều Người đang tìm, hãy yêu điều Người yêu. Cuối cùng, chính vinh quang của Chúa Cha mà chúng ta tìm kiếm, chúng ta sống và hoạt động “để ngợi khen ân sủng Người” (Ep 1,6). Nếu muốn dấn thân trọn vẹn và kiên trì, chúng ta phải vượt lên trên tất cả động lực khác. Đó là chủ đích dứt khoát, sâu xa nhất, vĩ đại nhất, lý lẽ và ý nghĩa tối thượng cho tất cả những gì còn lại. Đó là vinh quang của Thiên Chúa Cha mà Đức Giêsu đã đi tìm trong suốt cuộc đời Người. Người là Chúa Con vĩnh cửu, thật hạnh phúc với trọn hiện sinh của mình khi “hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha” (Ga 1,18). Chúng ta trở thành nhà truyền giáo, vì Đức Giêsu đã nói với chúng ta : “Điều làm cho Chúa Cha được tôn vinh là : anh em sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,8). Vượt trên sự kiện chúng ta có đồng ý hay không, quan tâm hay không, hữu ích cho chúng ta hay không, vượt trên tất cả những ranh giới nhỏ bé các quyết định của chúng ta, những sự hiểu biết của chúng ta và các động lực của chúng ta, chúng ta truyền giáo để vinh quang vĩ đại của Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta, được tỏ rạng.
5. Biết lắng nghe nhu cầu của con người
154. Vị giảng thuyết phải chú tâm lắng nghe dân chúng, để khám phá điều gì họ cần được nghe. Vị giảng thuyết vừa là nhà chiêm niệm Lời Chúa, vừa chăm chú vào giáo dân. Với cách thức đó, ngài khám phá “những khao khát, những sự phong phú và ranh giới, cách thức cầu nguyện, yêu thương, nhìn ngắm cuộc đời và thế giới phân biệt cách này hay cách khác mang tính đặc thù cho một nhóm người xác định”, chú tâm đến “dân chúng cụ thể với tất cả dấu hiệu và biểu trưng, đáp ứng các vấn đề họ đặt ra” [120]. Đó là việc nối kết sứ điệp của bản văn Thánh Kinh với hoàn cảnh cụ thể của con người, với những gì họ sống, với kinh nghiệm họ cần đến ánh sáng của Lời Chúa. Mối quan tâm này không thể đáp ứng bằng một thái độ tùy theo cơ hội hay ngoại giao, nhưng phải mang đặc tính tôn giáo sâu xa và có tính mục vụ. Tự thâm tâm, “hãy có sự nhạy cảm thiêng liêng để đọc sứ điệp của Thiên Chúa trong các biến cố” [121], điều này quan trọng hơn là đi tìm điều thích thú để thuyết giảng. Cần phải khám phá “điều Chúa muốn nói trong chính hoàn cảnh này” [122]. Như thế, việc chuẩn bị bài giảng sẽ chuyển thành một sự thực tập về sự phân định theo Tin Mừng, trong đó, dưới ánh sáng của Thánh Thần – chúng ta phải tìm để nhận thức “một lời mời gọi mà Chúa đã làm vang lên trong hoàn cảnh lịch sử ; cũng như trong và nhờ lời mời gọi này – Chúa kêu gọi người tín hữu” [123].
6. Hãy tin tưởng vào Chúa Thánh Thần và Mẹ Maria
280. Để giữ cho lòng nhiệt thành truyền giáo luôn sống động, phải vững tin vào Chúa Thánh Thần, vì chính Người “đến trợ giúp những yếu đuối của chúng ta” (Rm 8,26). Sự tin tưởng phó thác này cần phải được nuôi dưỡng, vì thế phải luôn kêu cầu Người. Người có thể chữa lành những gì làm chúng ta mệt mõi trong sự dấn thân truyền giáo. Thật vậy, việc tin tưởng vào Đấng vô hình có thể làm chúng ta chóng mặt : tương tự như việc nhảy vào đại dương mà không biết sẽ đi về đâu. Chính tôi cũng đã có kinh nghiệm này nhiều lần rồi. Dù vậy, không có tự do nào lớn hơn khi để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, khi từ bỏ mọi thứ tính toán và kiểm soát, và để Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn, định hướng và dẫn chúng ta đến nơi Người muốn. Người biết rõ chúng ta cần gì ngay trong mỗi thời đại và trong giây phút này. Người ta gọi điều này là sự phong phú của huyền nhiệm.
288. Có một cách thức Thánh Mẫu trong hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Vì, mỗi khi nhìn vào Đức Maria, chúng ta lại tin vào sức mạnh chuyển đổi của tình âu yếm và thân thương. Nơi Mẹ, chúng ta thấy được sự khiêm tốn và dịu dàng không phải là nhân đức của kẻ yếu đuối, nhưng là của kẻ mạnh, không cần phải hành hạ kẻ khác để cảm thấy mình quan trọng. Khi nhìn lên Mẹ, chúng ta khám phá ra rằng Mẹ ca ngợi Thiên Chúa vì “Người đã hạ người quyền hành xuống khỏi vị cao” và “để người giàu có trở về tay không” (Lc 1,52.53) và chính Mẹ đã ban cho chúng ta sự nồng ấm của tình mẫu tử trong cuộc tìm kiếm công bằng của chúng ta. Chính Mẹ, là Người “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19). Đức Maria biết nhận ra dấu vết của Thánh Thần Thiên Chúa trong những biến cố lớn lao, cũng như trong những điều không thể nhận ra được. Mẹ chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa giữa trần gian, trong lịch sử và trong đời sống hằng ngày của mỗi người chúng ta và của tất cả mọi người. Mẹ là người phụ nữ cầu nguyện và siêng năng tại Nazareth, Mẹ của sự sẵn sàng, vội vã ra đi khỏi làng để giúp đỡ kẻ khác (x. Lc 1,39-45). Sự năng động của công chính và thân thương, của chiêm niệm và hướng đến kẻ khác, đó là điều làm cho Mẹ trở thành mẫu gương cho Giáo hội để Phúc Âm hóa. Chúng ta cầu xin Mẹ, nhờ lời cầu bầu của người mẹ, giúp Giáo hội trở thành ngôi nhà dành cho nhiều người, một người mẹ cho tất cả mọi dân tộc và có thể sinh ra một thế giới mới. Đấng Phục sinh đã nói với chúng ta, với sức lực đã được đổ tràn trong chúng ta một niềm tin tưởng vô biên, một hy vọng vững chắc : “Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5). Với Đức Maria, chúng ta hãy tiến bước với niềm tin tưởng hướng đến lời hứa này và thưa cùng Người rằng:
Lay Mẹ Maria !
Là Trinh nữ và Mẹ hiền
Nhờ tác động của Thánh Thần,
Mẹ đã đón nhận Lời sự sống
trong sâu thẳm niềm tin khiêm tốn của Mẹ,
hoàn toàn phó thác cho Đấng Vĩnh Hằng,
Xin giúp chúng con nói tiếng “Xin vâng”
trong lúc khẩn cấp và nặng nề hơn bao giờ hết
để làm vang dội Tin Mừng của Đức Giêsu.
Mẹ được tràn đầy ân sủng nhờ sự hiện diện của Đức Kitô,
Mẹ đã mang niềm vui cho Gioan Tẩy Giả
giúp cho ngài nhảy mừng trong dạ me.
Mẹ tràn đầy vui sướng,
đã ca tụng những kỳ công của Chúa.
Mẹ vững vàng bên thập giá
với một niềm tin không hề lay chuyển
và đã lãnh nhận sự an ủi vui mừng của mầu nhiệm Phục sinh,
Mẹ đã qui tụ các môn đệ chờ đón Thánh Thần
để Giáo hội truyền giáo được xuất hiện.
Xin ban cho chúng con một lòng nhiệt thành của những người đã được phục sinh
để đem Tin Mừng sự sống đến cho mọi người,
Tin Mừng đã chiến thắng sự chết.
Xin ban cho chúng con sự can đảm thánh thiện
để tìm những con đường mới
để có thể đem đến cho mọi người
vẻ đẹp hồng ân không bao giờ tàn úa.
Lạy Đức Maria, Trinh Nữ lắng nghe và chiêm niệm,
Mẹ của tình yêu tốt đẹp, hiền thê của những tiệc cưới vĩnh cửu,
cầu bầu cho Giáo hội, mà Mẹ luôn là ảnh hình trinh khiết nhất,
hầu Giáo hội đừng tự khép kín và không bao giờ dừng lại
trong khát vọng thiết lập Nước Trời.
Lạy Mẹ là ngôi sao của việc Tân Phúc Âm hóa,
xin giúp chúng con tỏa sáng
nhờ chứng cứ hiệp thông, phục vụ, niềm tin mãnh liệt và quảng đại,
khao khát công bằng và tình yêu đối với kẻ nghèo
để cho niềm vui của Tin Mừng có thể đi sâu vào các xung khắc của thế giới
và không một ngoại vi nào thiếu vắng ánh sáng của Tin Mừng.
Lạy Mẹ của Tin Mừng sống động,
nguồn vui cho kẻ thấp hèn,
xin cầu cho chúng con,
Amen.
Alléluia !







