TÔNG HUẤN
AUDETE ET EXSULTATE CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ
VỀ LỜI KÊU GỌI NÊN THÁNH TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

 

  1. “HÃY VUI SƯỚNG VÀ HÂN HOAN” (Mt 5, 12), đó là lời Chúa Giêsu nói với những người bị bắt bớ hoặc khinh khi vì Ngài. Chúa xin chúng ta mọi sự và đáp lại Ngài ban cho ta sự sống thật, ban cho ta hạnh phúc mà ta được tạo dựng để tận hưởng. Ngài muốn ta là thánh chứ không muốn ta hài lòng với một cuộc sống tầm thường, nhạt nhẽo. Lời kêu gọi nên thánh hiện diện trong nhiều cách ngay từ những trang đầu Kinh thánh. Ta thấy lời kêu gọi ấy được diễn tả trong lời Chúa nói với Abraham: “Hãy bước đi trước nhan Ta, và đừng để ai trách điều gì!” (St 17, 1).
  2. Những điều dưới đây không phải là một chuyên luận về sự thánh thiện, hàm chứa những định nghĩa và phân biệt hữu ích để hiểu chủ đề quan trọng này, hay là một bàn thảo về những phương thế khác nhau của sự thánh hóa. Mục đích khiêm tốn của tôi chỉ nhằm đưa ra lời kêu gọi nên thánh cách thực tiễn cho thời đại ta, với tất cả những liều lĩnh, thách thức và cơ hội của nó. Vì Chúa đã chọn mỗi chúng ta “để nên thánh và vô tỳ tích trước nhan Ngài trong tình yêu” (Ep 1, 4).

 

CHƯƠNG I

LỜI KÊU GỌI NÊN THÁNH

CÁC THÁNH LUÔN KHÍCH LỆ VÀ ĐỒNG HÀNH VỚI TA

  1. Thư gửi tín hữu Hipri trình bày một số chứng tá khích lệ ta “hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta” (Hr 12, 1). Lời ấy nói đến Abraham, Sara, Môsê, Giđeon và những người khác (x. 11, 1 – 12, 3). Trước hết, lời ấy mời gọi ta nhìn nhận rằng “một đám mây nhân chứng lớn” (12, 1) buộc ta không ngừng tiến về cùng đích. Các nhân chứng này có thể bao gồm mẹ, nội ngoại, và những người thân yêu của ta (x. 2 Tim 1, 5). Cuộc đời các ngài có lẽ không phải lúc nào cũng hoàn thiện, nhưng cả trong những khiếm khuyết và thất bại các ngài vẫn cứ đi tới và đã chứng tỏ họ luôn làm vui lòng Chúa.
  2. Nay các thánh đang ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa vẫn duy trì những mối liên hệ yêu thương và hiệp thông với ta. Sách Khải Huyền làm chứng cho điều đó khi nói về việc chuyển cầu của các nhân chứng tử đạo: “Tôi thấy dưới bàn thờ linh hồn của những người đã bị giết vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và đã làm chứng. Họ lớn tiếng kêu: ‘Lạy Chúa chí thánh và chân thật, cho đến bao giờ Ngài còn trì hoãn, không xét xử?’” Mỗi chúng ta cũng có thể nói: “Được vây quanh, lãnh đạo và hướng dẫn bởi những bạn hữu của Thiên Chúa… Tôi không phải mang một mình những gì tôi không bao giờ có thể mang một mình trong chân lý. Mọi thánh nhân của Thiên Chúa đề có đó để bảo vệ, che chở và chống đỡ tôi”[1].
  3. Các tiến trình phong chân phước và phong thánh bao giờ cũng ghi nhận các dấu chỉ của các nhân đức anh hùng, sự hy sinh cuộc sống trong việc tử đạo và một số trường hợp là một cuộc sống không ngừng hiến trao cho tha nhân, thậm chí còn hiến trao cho đến chết. Điều này cho thấy việc bắt chước gương sáng của Đức Kitô, một sự bắt chước đáng cho các tín hữu phải thán phục[2]. Ví dụ, ta có thể nghĩ tới Chân phước Maria Gabriella Sagheddu, đã hiến dâng cuộc đời cho sự hiệp nhất các Kitô hữu.

CÁC THÁNH “Ở KỀ BÊN”

  1. Ta không cần chỉ nghĩ tới những vị đã được phong chân phước và phong thánh. Chúa Thánh Thần luôn ban sự thánh thiện dư tràn trong dân thánh và trung thành của Thiên Chúa, vì “làm cho con người nên thánh và cứu độ họ luôn là điều đẹp lòng Thiên Chúa, không phải với tư cách cá nhân không có sự ràng buộc nào giữa họ, nhưng với tư cách một dân tộc nhìn nhận Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong sự thánh thiện”[3]. Trong lịch sử cứu độ, Đức Chúa cứu một dân tộc. Ta không bao giờ là mình cách trọn vẹn trừ phi ta thuộc về một dân tộc nào đó. Đó là lý do vì sao người ta không được cứu một mình, với tư cách là một cá nhân riêng rẽ. Nhưng, Thiên Chúa luôn lôi kéo chúng ta tới với Ngài, vì thấy được kết cấu phức tạp của các mối tương quan liên vị cố hữu của ta trong cộng đoàn nhân loại. Thiên Chúa muốn đi vào trong cuộc sống và lịch sử của một dân tộc.
  2. Tôi thích chiêm ngưỡng sự thánh thiện ở nơi những người Thiên Chúa: nơi những người làm cha, làm mẹ nuôi dạy con cái bằng tình yêu khôn tả, nơi những người làm việc cực nhọc để nâng đỡ gia đình, nơi những người yếu đau, các tu sĩ tuổi già sức yếu mà nụ cười vẫn nở trên môi. Trong sự kiên trì hằng ngày của những người ấy, tôi thấy được sự thánh thiện của các chiến binh của Hội thánh. Thường đó là sự thánh thiện ta tìm được nơi những người hàng xóm sát cửa nhà ta, những người, đang sống giữa ta ấy, luôn phản ánh sự hiện diện của Thiên Chúa. Ta có thể gọi họ là “giai cấp trung lưu của sự thánh thiện”[4].
  3. Ta hãy để cho các dấu chỉ của sự thánh thiện thúc đẩy, các dấu chỉ mà Chúa chỉ cho ta qua các thành viên khiêm tốn nhất của dân ấy, một dân “được tham dự chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô, đang làm chứng cách sống động cho Ngài, nhất là qua đời sống đức tin và đức ái”[5]. Ta cũng nên xem xét sự kiện như thánh Teresa Benedicta Thánh giá đưa ra, một lịch sử có thật do nhiều người trong số các vị dệt nên. Như bà viết: “Những nhân vật ngôn sứ và thánh thiện vĩ đại bước ra khỏi đêm đen nhất. Nhưng phần lớn, dòng sự sống huyền bí vẫn vô hình. Chắc chắn khúc quanh có tính quyết định nhất trong lịch sử thế giới này chủ yếu là do các linh hồn mà không một quyển sách lịch sử nào đề cập tới cùng quyết định. Và ta cũng sẽ chỉ khám phá ra về những linh hồn mà ta mắc nợ ấy những khúc quanh quyết định vào ngày khi mọi sự kín ẩn được phơi bày”[6].
  4. Sự thánh thiện là khuôn mặt hấp dẫn nhất của Hội thánh. Nhưng ngay cả bên ngoài Hội thánh Công giáo và trong các bối cảnh rất khác nhau, Chúa Thánh Thần vẫn khơi lên “các dấu chỉ của sự hiện diện của Ngài, trợ giúp các môn đệ Đức Kitô”[7]. Thánh Gioan Phaolô II nhắc ta rằng “việc làm chứng cho Đức Kitô đến độ đổ máu đào đã trở thành di sản chung của ngươi Công giáo, Chính thống, Anh giáo và Tin lành”[8]. Nhân dịp kỷ niệm đại kết rất xúc động tổ chức tại Colosseum suốt năm thánh 2000, ngài đã tuyên bố rằng các vị tử vì đạo là “một di sản lên tiếng mạnh mẽ hơn mọi nguyên nhân chia rẽ”[9].

CHÚA LUÔN KÊU GỌI

  1. Tất cả những điều này rất quan trọng. Nhưng với Tông huấn này tôi xin nhấn mạnh trước hết đến lời kêu gọi nên thánh Chúa dành cho mỗi chúng ta, lời kêu gọi này chính Ngài cũng đang đích thân nói với anh chị em: “Hãy thánh, vì Ta là thánh” (Lv 11, 44; x. 1 Pr 1, 16). Công đồng Vatican II tuyên bố rõ điều này: “Được củng cồ bằng rất nhiều và bằng những đại phương thế cứu độ, mọi tín hữu, bất kể trong hoàn cảnh hay bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi – theo cách riêng của mỗi người – tiến tới sự thánh thiện trọn hảo như chính Chúa Cha là đấng trọn hảo”[10].
  2. Công đồng nói, “mỗi người theo cách của mình”. Ta không được chán nản trước những gương thánh thiện dường như không thể đạt tới được. Có một số chứng tá có thể cho thấy hữu ích và hứng khởi, nhưng ta lại không phải là người bắt chước, vì có thể đẩy ta tới chỗ lạc xa con đường đặc biệt Chúa dành sẵn cho ta. Điều quan trọng là mỗi tín hữu sẽ phân định con đường của mình, con đường mà họ đưa ra được điều tốt nhất cho mình, đưa ra được những quà tặng đích thân nhất Thiên Chúa đã đặt trong lòng họ (x. 1 Cr 12, 7); thay vì cố gắng bắt chước cách tuyệt vọng một cái gì đó không dành cho mình. Tất cả chúng ta được mời gọi để thành các chứng nhân, nhưng thật ra có nhiều cách làm chứng[11]. Quả thế, khi một nhà thần bí vĩ đại, thánh Gioan Thánh giá, viết quyển Spiritual Canticle, Ngài thích tránh các qui luật ăn chay nghiệt ngã đối với cho mọi người. Ngài giải thích rằng các câu thơ được sáng tác để mọi người đều được hưởng nhờ “theo cách của họ”[12]. Vì sự sống của Thiên Chúa được truyền thông “cho một số người theo cách này, những người khác lại theo cách khác”[13].
  3. Trong những hình thức khác nhau này, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng ta phải nhìn “tài năng của phụ nữ” theo các kiểu thánh thiện của phụ nữ, là những phương thế chủ yếu phản ánh sự thánh thiện của Thiên Chúa trên trần gian này. Quả thật, đã có lần phụ nữ có khuynh hướng bị coi thường nhất, Chúa Thánh Thần đã nâng lên các vị thánh, vẻ hấp dẫn của các ngài đã sản sinh ra sức mạnh thiêng liêng mới và các cuộc cải tổ quan trọng trong Hội thánh. Ta có thể đề cập tới Thánh Hildegard Bingen, thánh Bridget, Thánh Catherine Siena, Thánh Teresa Avila và Thánh Teresa Lisieux. Nhưng tôi cũng nghĩ tới tất cả các phụ nữ ta không biết hay đã bị quên lãng, mỗi người theo cách của họ, vẫn duy trì và biến đổi gia đình và cộng đoàn mình nhờ sức mạnh của chứng tá của họ.
  4. Điều này phải kích thích và khích lệ ta dâng hiến mọi sự của ta và ấp ủ chương trình độc nhất vô nhị mà Thiên Chúa muốn cho mỗi chúng ta từ đời đời: “Trước khi ngươi hình thành trong dạ mẹ ngươi, ta đã biết ngươi, trước khi ngươi lọt lòng mẹ ngươi ta đã hiến thánh ngươi” (Gr 1, 5).

CHO CẢ NGƯƠI NỮA

  1. Thánh không đòi phải là giám mục, linh mục hay tu sĩ. Ta thường bị cám dỗ nghĩ rằng sự thánh thiện chỉ dành cho những ai có thể rút lui khỏi các sự việc bình thường để dành nhiều thời gian cho việc cầu nguyện. Thánh không phải thế. Tất cả chúng ta đều được kêu gọi nên thánh qua việc sống cuộc đời yêu thương và làm chứng trong mọi việc ta làm, và bất cứ ở đâu. Bạn được gọi vào đời sống thánh hiến ư? Hãy thánh bằng cách sống cam kết của mình với niềm hân hoan. Bạn là người lập gia đình ư? Hãy thánh bằng cách yêu thương và chăm sóc cho vợ cho chồng, như Đức Kitô đã yêu thương và chăm sóc Hội thánh. Bạn đang phải làm việc để mưu sinh ư? Hãy thánh bằng cách lao động với sự chính trực và khả năng để phục vụ anh chị em mình. Bạn là cha mẹ, ông bà ư? Hãy thánh bằng cách kiên trì dạy dỗ con cháu để chúng biết đi theo Đức Kitô. Bạn là người có quyền ư? Hãy thánh bằng cách làm việc cho công ích và từ bỏ cách lợi lộc bản thân[14].
  2. Hãy để cho ân sủng của bí tích Thánh tẩy sinh hoa trái trên con đường thánh thiện. Hãy để cho mọi sự mở ra cho Thiên Chúa; hãy hướng về Ngài trong mọi hoàn cảnh. Đừng nhụt chí, vì quyền năng của Chúa Thánh Thần luôn làm cho các con có thể làm điều ấy, và sự thánh thiện, cuối cùng, sẽ là hoa quả của Chúa Thánh Thần trong đời sống các con (x. Gal 5, 22 – 23). Khi cảm thấy bị cám dỗ dừng lại nơi sự yếu hàn của mình, các con hãy hướng mắt nhìn về Đức Kitô chịu đóng đinh và nói: “Lạy Chúa, con là kẻ tội lỗi khốn cùng, nhưng Chúa có thể làm phép lạ cho con khá hơn một chút”. Trong Hội thánh, tuy thánh thiện thật, nhưng cũng là một Hội thánh được hình thành bởi những kẻ tội lỗi, nên các con sẽ tìm được mọi sự các con cần để hướng đến sự thánh thiện. Chúa vẫn ban cho Hội thánh các quà tặng như Kinh thánh, các bí tích, các nơi thánh, các cộng đoàn sống động, các chứng tá của các thánh và vẻ đẹp muôn mặt xuất phát từ tình yêu Ngài, “như cô dâu được trang điểm bằng trân châu bảo ngọc” (Is 61, 10).
  3. Sự thánh thiện Chúa mời gọi các con tới này sẽ lớn lên nhờ những hành động nho nhỏ. Đây là một ví dụ: một phụ nữ kia đi mua sắm, chị ta gặp một người hàng xóm và họ bắt đầu trò truyện, bắt đầu đàm tiếu. Nhưng rồi chị tự nhủ: “Không, tôi sẽ không nói xấu ai”. Đó là một bước tiến đi vào trong sự thánh thiện. Sau này, lúc ở nhà, một trong những đứa con của chị muốn nói chuyện với chị về những ước mơ và hy vọng, dù mệt, chị vẫn ngồi dậy, kiên nhẫn lắng nghe với tình yêu thương. Đó là một hy sinh đem lại sự thánh thiện. Rồi khi gặp phải âu lo, nhưng nhớ lại lòng yêu mến của Đức Trinh Nữ Maria, chị lấy chuỗi mân côi ra và cầu nguyện với lòng tin tưởng. Đó là một con đường khác của sự thánh thiện. Sau này nữa, chị đi ra phố, gặp một người nghèo, chị dừng lại nói với người nghèo ấy một lời ân cần. Chị bước thêm được một bước nữa.
  4. Có lúc, cuộc sống cho thấy những thách thức lớn. Qua những thách thức ấy, Chúa luôn kêu gọi ta hoán cải cách mới mẻ, một cuộc hoán cải làm cho ân sủng của Ngài rõ hơn trong đời ta, “để ta có thể chia sẻ sự thánh thiện của Ngài” (Hr 12, 10). Lúc khác, ta chỉ cần tìm cách làm những gì ta đã làm rồi cách hoàn hảo hơn thôi: “Có những thôi thúc chỉ nhắm đến việc hoàn thành cách phi thường những việc bình thường ta vẫn làm trong đời”[15]. Khi bị tù, Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận đã không chấp nhận lãng phí thời gian đợi ngày được thả tự do. Thay vào đó, ngài đã chọn “sống giây phút hiện tại, làm cho giây phút ấy chan chứa tình yêu”. Ngài quyết định: “Tôi sẽ nắm lấy những cơ hội xuất hiện hằng ngày; tôi sẽ hoàn tất những hoạt động bình thường cách phi thường”[16].

Theo cách này, được ân sủng của Thiên Chúa dẫn dắt, nhờ nhiều hành vi nho nhỏ, ta hình thành nên sự thánh thiện Thiên Chúa muốn cho ta, không phải với tư cách là những người tự mình đã có đầy đủ, nhưng “như các thừa tác viên của ân sủng thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1 Pr 4, 10). Các giám mục New Zealand đã dạy ta cách chí lý rằng ta có thể yêu thương bằng tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, vì Chúa phục sinh vẫn luôn chia sẻ cuộc sống đầy quyền năng của Ngài với cuộc đời mỏng dòn của ta: “Tình yêu của Ngài vô giới hạn, một khi được trao ban, sẽ không bao giờ bị lấy lại. Tình yêu ấy vô điều kiện và luôn trung thành. Yêu như thế không dễ vì ta thường rất yếu đuối. Nhưng khi cố yêu như Đức Kitô đã yêu thương ta chứng tỏ rằng Đức Kitô đang chia sẻ với ta sự sống phục sinh của Ngài. Theo cách ấy, cuộc đời ta luôn thể hiện quyền năng đang hoạt động của Ngài – ngay cả trong những yếu hèn của con người”[17].

SỨ VỤ CỦA CÁC CON TRONG ĐỨC KITÔ

  1. Kitô hữu không thể nghĩ về sứ vụ của mình trên trần gian này mà lại không thấy được sứ vụ ấy chính là con đường đưa tới sự thánh thiện, vì “đây là ý Thiên Chúa, sự thánh hóa của anh em” (1 Thes 4, 3). Mỗi vị thánh đều là một sứ vụ, do Chúa Cha hoạch định để phản ánh và thể hiện, vào một khoảnh khắc đặc biệt của lịch sử, một khía cạnh nào đó của Tin mừng.
  2. Sứ vụ ấy có được ý nghĩa trọn vẹn nhất của nó nơi Đức Kitô, và chỉ có thể hiểu được nhờ Ngài. Tại cốt lõi của sứ vụ ấy, sự thánh thiện đang kinh nghiệm được, trong sự hiệp thông với Đức Kitô, các mầu nhiệm của cuộc đời Ngài. Sứ vụ ấy bao hàm việc kết hợp bản thân ta với sự chết và phục sinh của Chúa cách độc nhất vô nhị và đích thân, khi không ngừng chết và trỗi dậy cách mới mẻ với Ngài. Nhưng sứ vụ ấy cũng có thể bao hàm việc sản sinh trong cuộc sống ta các khía cạnh khác nhau của cuộc sống trần thế của Đức Kitô: cuộc đời ẩn dật, cuộc sống trong trong cộng đoàn của Ngài, việc Ngài gần gũi với những người bị ruồng bỏ, sự nghèo khó của Ngài và những cách thức khác trong đó Ngài cho bày tỏ tình yêu tự hiến của Ngài. Việc chiêm ngưỡng các mầu nhiệm này, như Thánh Ignatiô Loyola cho thấy, luôn đưa dẫn ta tới chỗ để chúng nhập thể vào trong các chọn lựa và thái độ của ta[18]. Vì “mọi sự trong cuộc đời Chúa Giêsu đều là dấu chỉ của mầu nhiệm Ngài”[19], “toàn bộ cuộc đời của Đức Kitô đều là một mặc khải về Chúa Cha”[20], “toàn bộ cuộc đời của Đức Kitô đều là mầu nhiệm cứu chuộc”[21], “toàn bộ cuộc đời của Đức Kitô đều là mầu nhiệm qui tụ về một đầu một mối”[22], “Đức Kitô làm cho ta có thể sống trong Ngài tất cả những gì Ngài đã sống, và Ngài đang sống tất cả những cái ấy trong ta”[23].
  3. Kế hoạch của Chúa Cha là Đức Kitô, và bản thân ta trong Ngài. Cuối cùng, chính Đức Kitô mới là Đấng yêu thương nơi ta, vì “sự thánh thiện chẳng là gì cả chỉ là đức ái được sống tới mức viên mãn”[24]. Kết quả là, “mức độ của sự thánh thiện xuất phát từ tầm vóc mà Đức Kitô đạt được nơi ta, tới mức, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, ta rập toàn bộ cuộc đời ta theo khuôn mẫu cuộc sống Ngài”[25]. Mỗi vị thánh đều là một sứ điệp Chúa Thánh Thần lấy ra từ sự phong phú của Đức Giêsu Kitô và ban cho dân Ngài.
  4. Để nhận ra lời Chúa muốn nói với ta qua một trong các vị thánh nào đó của Ngài, ta không cần phải hiểu cách chi tiết, vì nơi các ngài, ta vẫn gặp phải những khiếm khuyết và thất bại. Không phải mọi điều các thánh nói đều hoàn toàn trung thành với Tin mừng; cũng không phải mọi việc các ngài làm đều đáng tin và hoàn hảo. Điều ta cần chiêm ngắm là sự toàn diện của cuộc đời các ngài, toàn bộ cuộc hành trình của việc lớn lên trong sự thánh thiện, việc phản chiếu Đức Giêsu Kitô xuất hiện khi ta hiểu tường tận ý nghĩa toàn diện của các ngài với tư cách là một con người[26].
  5. Đây là lời kêu gọi uy quyền đối với tất cả chúng ta. Các con cũng cần nhìn toàn bộ cuộc đời các con như là một sứ vụ. Hãy cố nhìn thế đi bằng cách lắng nghe Thiên Chúa trong cầu nguyện và nhận ra các dấu chỉ Ngài đang ban cho các con. Mọi lúc và mọi quyết định trong đời, các con hãy luôn hỏi Thần khí xem Chúa Giêsu đang chờ mong gì nơi các con, để có thể thấy được chỗ của nó trong sứ vụ các con đã lãnh nhận. Hãy để cho Thần khí rèn đúc nơi các con mầu nhiệm của cuộc đời các con, một mầu nhiệm có thể phản ánh Đức Giêsu Kitô trong thế giới hôm nay.
  6. Ước gì các con sớm nhận ra lời và sứ điệp của Chúa Giêsu mà Thiên Chúa muốn nói với thế gian này qua cuộc sống các con. Hãy để Thiên Chúa biến đổi mình. Hãy để Thần khí canh tân mình, hãy để điều ấy có thể xảy ra, nếu không, các con sẽ thất bại trong sứ vụ cao cả của mình. Chúa sẽ đem sứ vụ ấy tới chỗ thành toàn bất kể các khiếm khuyết và vấp ngã của các con, miễn là các con không từ bỏ con đường tình yêu nhưng luôn mở ra cho ân sủng siêu nhiên, ân sủng luôn thanh luyện và soi sáng của Ngài.

HOẠT ĐỘNG LUÔN THÁNH HÓA

  1. Các con không thể hiểu được Đức Kitô nếu tách Ngài khỏi vương quốc Ngài đã đến xây dựng thế nào, thì sứ vụ của các con cũng không thể tách khỏi việc xây dựng nước ấy như vậy: “Trước tiên hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt 6, 33). Việc các con đồng hóa với Đức Kitô và ý của Ngài bao giờ cũng kéo theo việc dấn thân cùng với Ngài xây dựng vương quốc của tình yêu, của sự công chính và của nên hòa bình phổ quát. Chính Đức Kitô cũng muốn kinh nghiệm việc này cùng với các con, trong mọi nỗ lực và hy sinh mà việc xây dựng ấy đòi hỏi, nhưng cũng trong niềm vui và sự phong phú mà việc xây dựng ấy đem lại. Các con không thể lớn lên trong sự thánh thiện mà lại không hiến mình cả hồn lẫn xác, không cố hết sức cho nỗ lực này.
  2. Sẽ không lành mạnh khi yêu mến sự tĩnh lặng mà lại chạy trốn việc tiếp xúc với người khác, muốn sự bình an và yêu tĩnh mà lại trốn tránh hoạt động, tìm kiếm việc cầu nguyện mà lại coi khinh việc phục vụ. Trên trần gian này, mọi sự đều có thể được chấp nhận và đưa vào trong cuộc sống ta, và trở thành một phần của con đường nên thánh. Ta được gọi để là những nhà chiêm niệm ngay cả trong hoạt động, và để lớn lên trong sự thánh thiện nhờ thực hiện cách có trách nhiệm và quảng đại sứ vụ riêng của ta.
  3. Chúa Thánh Thần có thể thúc đẩy ta thực hiện một sứ vụ nào đó, rồi sau đó lại xin ta từ bỏ sứ vụ đó hay không tham gia trọn vẹn để duy trì sự bình an nội tâm của ta sao? Nhưng cũng có những lần khi ta bị cám dỗ hạ sự tham gia hay dấn thân lo việc mục vụ trên trần gian này xuống hàng thứ cấp, như thể những việc ấy là “những thứ làm xao lãng” trên con đường tiến tới sự lớn mạnh trong sự thánh thiện và bình an nội tâm. Ta có thể quên rằng “cuộc sống không có sứ vụ, mà là sứ vụ”[27].
  4. Không cần phải nói, bất cứ việc gì ta làm vì âu lo, kiêu hãnh hay nhu cầu muốn gây ấn tượng trên người khác đều sẽ không đưa tới sự thánh thiện. Ta bị thách thức chứng tỏ việc dấn thân của ta theo cách mọi sự ta làm đều phải có ý nghĩa Tin mừng và đều đồng hóa tất cả chúng ta với Đức Giêsu Kitô. Ví dụ như ta hay nói về linh đạo của các giáo lý viên, linh đạo của các linh mục giáo phận, của việc làm. Cũng vì lý do đó, trong Evangelii Gaudium, tôi đã kết luận bằng cách nói về một nền linh đạo của sứ vụ, trong Laudato Si về linh đạo môi trường, và trong Amoris Laetitia, về linh đạo của đời sống gia đình.
  5. Điều này không có nghĩa là ta coi thường nhu cầu cần có những lúc tĩnh mịch, cô tịch và yên lặng trước Thiên Chúa. Trái lại là khác. Sự hiện diện của các đồ đạc thường xuyên mới, sự hồi hộp của một chuyến đi xa và việc mải mê sắp xếp các vật dụng nhiều lúc đã không còn chỗ để ta nghe được tiếng Thiên Chúa. Ta đang bị tràn ngập bởi lời nói, những thú vui bên ngoài và tiếng ầm ĩ không ngừng, ta không được chất ngất niềm vui mà còn bị nhồi nhét bằng sự bất bình của những người đã đánh mất ý nghĩa của cuộc đời. Vì sao ta lại có thể không nhận ra nhu cầu cần ngưng ngay cuộc đấu tranh quyết liệt ấy để phục hồi lại không gian của bản thân cần thiết để tiếp tục cuộc đối thoại chân thành với Thiên Chúa? Tìm được không gian ấy có thể đau đớn nhưng bao giờ cũng sinh hoa trái. Sớm muộn gì ta cũng phải đương đầu với bản ngã thật của ta và để Thiên Chúa bước vào. Điều này có lẽ không xảy ra trừ phi “ta thấy mình đang nhìn vào vực thẳm của một cơn cám dỗ ghê hồn hay đang có cảm giác say sẩm khi đang đứng ngọn dốc cao của tuyệt vọng, hay thấy mình hoàn toàn cô đơn và bị bỏ rơi”[28]. Trong những hoàn cảnh ấy, ta tìm được động cơ sâu thẳm nhất cho việc sống trọn vẹn việc dấn thân cho công việc của ta.
  6. Những lo ra ở đâu cũng có đó cũng làm cho ta có khuynh hướng tuyệt đối hóa các giờ rảnh của ta, đến độ ta có thể lao hẳn những thứ đem lại cho ta sự giải trí hay những niềm vui chóng tàn[29]. Kết quả là, ta dần dần bực bội với sứ vụ, chểnh mảng với việc dấn thân, tinh thần quảng đại và sẵn sàng phục vụ bắt đầu suy thoái. Điều này hủy hoại kinh nghiệm tâm linh của ta. Sự hăng say về tinh thần có thể vững mạnh chăng khi tồn tại song song với sự biếng nhác trong việc loan báo Tin mừng và phục vụ tha nhân?
  7. Ta cần một tinh thần của sự thánh thiện có thể xâm chiếm hết cả sự cô tịch lẫn việc phục vụ của ta, cả cuộc sống lẫn các nỗ lực loan báo Tin mừng của ta, đến độ lúc nào cũng có thể diễn tả tình yêu tự hiến dưới mắt Chúa. Theo cách này, mọi phút giây trong đời ta đều có thể là một bước đi trên con đường lớn lên trong sự thánh thiện.

SỐNG ĐỘNG HƠN, NHÂN BẢN HƠN

  1. Đừng sợ sự thánh thiện. Sự thánh thiện ấy không lấy đi một năng lực, một sức sống hay niềm vui nào của các con. Trái lại, các con sẽ trở nên những gì Chúa Cha muốn khi dựng nên các con, và các con sẽ trung thành với bản ngã sâu xa nhất của mình. Cậy dựa vảo Thiên Chúa sẽ giải thoát ta khỏi mọi hình thức nô lệ và luôn đưa dẫn ta tới chỗ nhận ra phẩm giá vĩ đại của ta. Ta thấy được điều này nơi Thánh Josephine Bakhita: “Bị bắt và bị bán làm nô lệ khi mới bảy tuổi, một độ tuổi còn rất ngây thơ nhẹ nhàng, thánh nhân đã phải chịu rất nhiều đau khổ trong tay các chủ nô tàn ác. Nhưng dần dần ngài hiểu được sự thật sâu xa này là Thiên Chúa, chứ không phải con người, mới là Chủ của mọi người, mọi cuộc sống nhân phàm. Kinh nghiệm này trở thành nguồn khôn ngoan vĩ đại cho người nữ tử khiêm nhu này của Phi châu”[30].
  2. Nếu mỗi khi Kitô hữu đều lớn lên trong sự thánh thiện, thì họ sẽ sinh nhiều hoa trái hơn cho thế giới này. Các đức giám mục Tây Phi nhận xét rằng “ta đang được kêu gọi theo tinh thần của cuộc Tin mừng hóa mới để được loan báo Tin mừng và cũng để loan báo Tin mừng nhờ việc ban quyền cho mọi anh em, những người được thánh tẩy, để anh em đảm nhận các vai trò là muối đất và ánh sáng cho trần gian của mình ở bất cứ nơi đâu”[31].
  3. Đừng sợ hướng nhìn lên cao hơn, để các con được Thiên Chúa yêu thương và giải thoát. Đừng sợ để mình được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Sự thánh thiện không làm cho các con ít là người hơn đâu, vì đó là một cuộc gặp gỡ giữa sự yếu hèn của các con với quyền năng của ân sủng của Thiên Chúa. Vì theo lời của Leon Bloy, khi mọi sự đều được nói và làm, thì “bi kịch lớn duy nhất trong cuộc sống, không phải là phải thành một vị thánh”[32].

Chuyển ngữ: Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R.

Chú thích:

[1] Benedict XVI, Bài Giảng lễ ngày đăng quang Giáo hoàng (25. 4. 2005); AAS (2005), 708.

[2] Điều này bao giờ cũng giả thiết danh thơm của sự thánh thiện và việc thực hành các nhân đức Kitô giáo, ít ra cũng ở mức độ bình thường; x. MOTU PROPRIO MAIOREM HAC DILICTIONEM (11.7.2017, khoản 2c: L’osservatore Romano, 21.7.2017, tr. 8.

[3] CÔNG ĐỒNG ĐẠI KẾT VATICAN II, Lumen Gentium, 9.

[4] JOSEPH MALEGUE, Pierres noires. Les classes moyenenes du Salut, Paris, 1958.

[5] CÔNG ĐỒNG VATICAN II, Lumen Gentium, 12.

[6] Verbogenes Leben und Epiphanie,GW XI, 145.

[7] GIOAN PHAOLO II, Thông Điệp Novo Milennio Ineunte (6.1.2001), 56: ASS 93 (2001), 307.

[8] Thông điệp Tertio Milennio Adveniente (10.10.1994), 37: AAS 87 (1995), 29.

[9] Bài giảng lễ nhân dịp tưởng niệm các Nhân chứng Đức tin của thế kỷ 20 (7.5.2000), 680 – 681.

[10] Lumen Gentium, 11.

[11] X. HANS VON BALTHASAR, “Theology and Holiness”, in Communio 14/4 (1987), 345.

[12] Spiritual Canticle, Red. B, Prologue, 2.

[13] Ibid., 14 – 15, 2.

[14] Xem Catechesis, General Audience of 19 November 2014Insegnamenti II/2 (2014), 555.

[15] FRANCIS DE SALES, Treatise on the Love of God, VIII, 11.

[16] Năm chiếc Bánh và hai con cá, Pauline Books and Media, 2003, pp. 9, 13.

[17] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC NEW ZEALAND, Healing Love, 1 January 1988.

[18] Spiritual Exercises, 102-312.

[19] Giáo lý của Hội thánh Công giáo, 515.

[20] Ibid., 516.

[21] Ibid., 517.

[22] Ibid., 518.

[23] Ibid., 521.

[24] BENEDICT XVI, Giáo lý, General Audience of 13 April 2011Insegnamenti VII (2011), 451.

[25] Ibid., 450.

[26] Cf. HANS URS VON BALTHASAR, “Thần học và sự Thánh thiện”, in Communio 14/4 (1987), 341-350.

[27] XAVIER ZUBIRI, Naturaleza, historia, Dios, Madrid, 19933, 427.

[28] CARLO M. MARTINI, Le confessioni di Pietro, Cinisello Balsamo, 2017, 69.

[29] Ta cần phân biệt các loại giải trí hời hợt bên ngoai với nền văn hóa vui chơi lành mạnh, giúp ta mở lòng ra cho tha nhân và cho chính thực tại trong tinh thần cởi mở và chiêm niệm.

[30] JOHN PAUL II, Bài giảng Lễ phong thánh(1 October 2000), 5: AAS 92 (2000), 852.

[31] REGIONAL EPISCOPAL CONFERENCE OF WEST AFRICA, Pastoral Message at the End of the Second Plenary Assembly, 29 February 2016, 2.

[32] La femme pauvre, Paris, II, 27.

 

CHƯƠNG II
HAI KẺ THÙ TINH VI CỦA SỰ THÁNH THIỆN

  1. Ở đây tôi muốn đề cập tới hai hình thức sai lầm của sự thánh thiện có thể làm ta trệch đường: ngộ giáo vàlạc thuyết pelagio. Đó là hai lạc giáo có từ khi mới có Kitô giáo, nhưng chúng vẫn tiếp tục quấy rầy ta. Vào thời của ta, có lẽ nhiều Kitô hữu, vì không nhận ra chúng, có thể bị mê hoặc bởi các ý tưởng lừa đảo này, các ý tưởng ấy phản ánh một thuyết tự tại qui nhân được ngụy trang là chân lý Công giáo[1]. Ta hãy nhìn qua hai hình thức an toàn về đạo lý hay kỷ luật tạo nên “một thứ chủ nghĩa ưu tú độc đoán và tập trung vào mình, một chủ nghĩa mà thay vì Tin mừng hóa lại phân tích và phân loại tha nhân, và thay vì mở cửa ra cho ân sủng lại dốc cạn sức lực vào việc thanh tra và dò xét. Trong cả hai trường hợp ấy, người ta đều không thực sự quan tâm tới Chúa Giêsu và tha nhân”[2].

NGỘ GIÁO ĐƯƠNG THỜI

  1. Ngộ giáo presunes cho là “một đức tin thuần tùy chủ quan, quan tâm duy nhất của đức tin ấy là một kinh nghiệm nào đó hay một loạt các ý tưởng và một chút thông tin được coi là an ủi và soi sáng, nhưng cuối cùng ra lại kìm hãm con người trong các suy nghĩ và tình cảm riêng của họ”[3].

MỘT NGƯỜI TRÍ THỨC KHÔNG CÓ THIÊN CHÚA VÀ KHÔNG CÓ XÁC THỊT

  1. Nhờ Thiên Chúa, suốt dòng lịch sử Hội thánh, điều cho đến nay lúc nào cũng rõ là sự hoàn thiện của con người không được đo lường bằng thông tin hay sự hiểu biết mình sở hữu, nhưng nhờ chiều sâu của đức ái của mình. “Những người theo ngộ giáo” không hiểu điều này, vì họ xét đoán tha nhân dựa trên khả năng hiểu biết sự phức tạp của một số đạo lý nào đó của người ấy. Họ nghĩ về người trí thức ấy như tách khỏi xác thịt và như thế cũng không còn khả năng đụng chạm được xác thịt khổ đau của Đức Kitô nơi tha nhân, người ấy như bị khóa lại như họ đang ở trong quyển bách khoa tự điển trừu tượng vậy. Cuối cùng, do đưa mầu nhiệm ra khỏi thân xác, họ chuộng “một Thiên Chúa không có Đức Kitô, một Đức Kitô không có Hội thánh và một Hội thánh không có dân mình”[4].
  2. Chắc chắn, đây là một ý nghĩ kỳ lạ bên ngoài: bề mặt vẫn còn cử động, nhưng tâm trí thì không bị đánh động cũng không ảnh hưởng sâu. Tuy thế, ngộ giáo vẫn đánh lừa được một số người, vì lối xử trí của ngộ giáo rất nghiêm túc và được coi là tinh tuyền, và có thể có vẻ như có được một sự hòa hợp hay trật tự nào đó hoàn thiện mọi sự.
  3. Ở đây ta phải thận trọng. Tôi không ám chỉ tới chủ nghĩa duy lý trái nghịch với đức tin Kitô giáo. Chủ nghĩa ấy có thể vẫn đang hiện diện trong Hội thánh, cả nơi giáo dân trong các giáo xứ lẫn các giáo sư triết, thần trong các trung tâm đào tạo. Những người theo ngộ giáo nghĩ rằng các giải thích của họ có thể làm nên sự toàn diện của đức tin và làm cho Tin mừng có thể hiểu được cách hoàn hảo. Họ tuyệt đối hóa các lý thuyết của họ và áp lực người khác phải tuân theo lối suy nghĩ của họ. Việc sử dụng lý trí cách lành mạnh và khiêm tốn để suy nghĩ về giáo huấn thần học và luân lý của Tin mừng là một chuyện. Hạ thấp giáo huấn của Chúa Giêsu xuống chỉ còn là một lập luận khó nghe và nhạt nhẽo để tìm cách thống trị mọi sự lại là chuyện khác[5].

MỘT ĐẠO LÝ KHÔNG CÓ MẦU NHIỆM

  1. Ngộ giáo là một trong những ý thức hệ nham hiểm nhất vì, trong khi ca tụng tri thức hay một kinh nghiệm đặc biệt nào đó cách quá đáng, nó còn coi cái nhìn của nó về thực tại là hoàn hảo. Như thế, có lẽ ngay cả không nhận ra nó, ý thức hệ này vẫn tự tự mãn và thậm chí còn trở thành thiển cận hơn. Nó có thể trở thành ảo tưởng hơn khi tự gán cho mình là một nền linh đạo không thân xác. Vì “ngộ giáo do bản chất của nó luôn tìm cách kiểm soát mầu nhiệm[6], bất kể mầu nhiệm của Thiên Chúa và ân sủng Ngài hay mầu nhiệm của các cuộc sống khác.
  2. Khi một ai đó có được giải đáp cho mọi thắc mắc, đó là dấu cho thấy người ấy không còn đi trên đường ngay chính. Rất có thể họ là các ngôn sứ giả, sử dụng tôn giáo vì các mục đích riêng, sử dụng tôn giáo để đề cao các thuyết về tâm lý và trí tuệ của kình. Thiên Chúa vượt quá chúng ta vô cùng; Ngài ắp đầy những thứ bất ngờ. Ta không phải là người quyết định ta sẽ gặp Ngài khi nào và cách nào; thời gian và không gian chính xác của cuộc gặp gỡ ấy không tùy thuộc ta. Ai muốn mọi sự phải rõ ràng và chắc chắn đều muốn kiểm soát sự siêu việt của Thiên Chúa.
  3. Ta cũng không thể tuyên bố chỗ nào không có Thiên Chúa, vì Thiên Chúa hiện diện cách nhiệm mầu trong cuộc sống mọi người, theo cách thức chính Ngài chọn, và ta không thể loại trừ điều ấy chỉ vì sự không biết chắc của ta. Cả khi cuộc sống của một người nào đó có vẻ như bị đổ vỡ hoàn toàn, cả khi ta thấy cuộc đời ấy bị tội lỗi hay sự nghiện ngập tàn phá đi nữa, thì Thiên Chúa vẫn hiện diện ở đó. Nếu ta để Thần khí chứ không để các định kiến hướng dẫn mình, ta có thể và phải cố tìm cho ra Chúa trong cuộc sống mọi người. Đây là một phần mầu nhiệm mà một não trạng ngộ giáo không thể chấp nhận, vì vượt quá sự kiểm soát của nó.

NHỮNG GIỚI HẠN CỦA LÍ TRÍ

  1. Hiểu được sự thật ta lãnh nhận được từ nơi Chúa không dễ. Và diễn tả sự thật ấy ra còn khó hơn nữa. Vì thế, ta không thể khẳng định rằng cách ta hiểu sự thật ấy cho phép ta giám sát chặt chẽ cuộc sống của người khác. Ở đây, tôi xin lưu ý rằng trong Hội thánh vẫn có sự cùng hiện hữu của các cách giải thích khác nhau về nhiều khía cạnh của đạo lý và đời sống Kitô hữu; trong sự khác nhau ấy, chúng “giúp diễn tả rõ hơn sự phong phú mênh mông của thế giới của Thiên Chúa”. Đúng là “đối với những ai mong ước có được một bộ phận đạo lý vững như đá khối được mọi người canh giữ và không còn để chỗ cho những khác biệt, thì đây chắc chắn là điều không đáng mong ước và sẽ đưa tới hoang mang”[7]. Thật vậy, một số dòng ngộ giáo khinh thường sự đơn sơ cụ thể của Tin mừng và đã cố thay thế Thiên Chúa Ba Ngôi và Nhập thể bằng một sự Hợp Nhất siêu việt, nơi sự đa dạng phong phú của lịch sử của ta sẽ tan biến.
  2. Thật vậy, đạo lý, hay đúng hơn, sự hiểu biết và cách diễn tả của ta về đạo lý, “không phải là một hệ thống khép kín, không thể khơi lên thắc mắc, nghi ngờ hay tìm kiếm cách sôi nổi… Những vấn đề của con người, những đau khổ, các cuộc đấu tranh, các ước mơ, các thử thách và âu lo của họ, tất cả đều có một giá trị không thể giải thích được, một giá trị ta không thể làm ngơ nếu ta muốn coi trọng nguyên tắc của việc nhập thể. Thắc mắc của họ luôn giúp ta tự hỏi, vấn đề của họ bao giờ cũng đòi ta phải nghi vấn[8].
  3. Một sự hoang mang nguy hiểm có thể bật lên. Ta có thể nghĩ rằng vì ta biết một cái gì đó, hay có thể diễn tả cái ấy bằng những thuật ngữ chắc chắn, ta đã là thánh rồi, hoàn hảo và tốt lành hơn “đám dân mê muội” rồi. Thánh Gioan Phaolô II cảnh báo về cơn cám dỗ ấy về phía những người trong Hội thánh, những người có được nền giáo dục cao hơn, “thường cảm thấy vượt hơn các tín hữu khác”[9]. Về điểm này, những gì ta nghĩ là ta biết bao giờ cũng phải động viên ta đáp trả tình yêu Thiên Chúa cách trọn vẹn hơn. Quả vậy, “các con học để sống: tha và sự thánh thiện không thể tách rời được”[10].
  4. Khi Thánh Phanxicô Assisi thấy rằng một số các môn đệ ngài tham gia vào việc giảng dạy, ngài muốn tránh cơn cám dỗ hướng về ngộ giáo. Ngài viết cho thánh Antôn Padua: “Tôi vui vì cha dạy thần học cho anh em, miễn là … cha đừng dập tắt tinh thần cầu nguyện và lòng đạo đức suốt thời gian học kiểu này”[11]. Thánh Phanxicô nhận ra cơn cám dỗ muốn biến kinh nghiệm Kitô giáo thành một bộ các thực hành trí thức khiến ta xa cách sự mới mẻ của Tin mừng. Trái lại, Thánh Bonaventura đã cho thấy rằng sự ngôn đích thật của Kitô giáo không bao giờ có thể bị tách khỏi lòng xót thương ta dành cho đồng loại; “Sự khôn ngoan vĩ đại nhất có thể có là chia sẻ cách hiệu quả những gì ta phải cho đi… Cả khi lòng xót thương là bạn đường của sự khôn ngoan, thì lòng tham lam vẫn là kẻ thù của lòng xót thương”[12]. “Có các hoạt động, đã gắn với chiêm niệm, không cản trở việc chiêm niệm, nhưng làm cho việc ấy được dễ dàng, như các việc của lòng xót thương và đạo đức”[13].

LẠC THUYẾT PELAGIO HIỆN NAY

  1. Ngộ giáo mở đường cho một lạc giáo khác, hệt như ngày hôm nay của ta vậy. Khi thời gian trôi qua, nhiều người bắt đầu nhận ra rằng không phải sự hiểu biết làm cho ta tốt hơn hay làm cho ta thành thánh, mà là một nếp sống nào đó ta sống. Nhưng nhận thức này đã đưa ta trở về lại với sai lầm xưa của những người theo ngộ giáo cách tinh tế, một sai lẫm mới chỉ được thay đổi chứ chưa xóa bỏ được.
  2. Cũng sức mạnh ngày xưa những người theo ngộ giáo gán cho tri thức, thì nay những người khác lại bắt đầu gán cho ý chí, cho nỗ lực của con người. Đây chính là trường hợp của những người theo lạc thuyết pelagio và bán pelegio. Nay không còn là sự thông minh thay thế mầu nhiệm và ân sủng nhưng là ý chí của con người. Lạc thuyết ấy đã quên mất rằng mọi sự “không lệ thuộc ý chí hay cố gắng của con người mà lệ thuộc Thiên Chúa Đấng luôn bày tỏ lòng xót thương” (Rm 9, 16) và “Ngài đã yêu thương ta trước” (1 Ga 4, 19).

MỘT Ý CHÍ THIẾU KHIÊM TỐN

  1. Những ai đầu hàng não trạng pelagio hay bán pelagio này, dù họ vẫn nói cách nhiệt thành về ân sủng Thiên Chúa, nhưng “cuối cùng họ chỉ tin tưởng vào các sức mạnh của họ và cảm thấy mình vượt hơn người khác vì họ tuân giữ một số qui luật hay đã trung thánh cách cứng nhắc với cung cách Công giáo đặc biệt”[14]. Khi một số người trong họ nói với những người yếu đuối rằng mọi sự đều có thể hoàn tất với ơn Thiên Chúa, thì tận trọng cõi lòng mình họ luôn có khuynh hướng nghĩ rằng mọi sự đều có thể nhờ ý chí con người, như thể ý chí ấy là một cái gì đó tinh tuyền, hoàn hảo, toàn năng, ân sủng chỉ được thêm vào cho ý chí ấy thôi. Họ không nhận ra rằng “không phải mọi người đều có thể làm hết mọi sự”[15], và trong cuộc sống này, ân sủng không thể chữa lành được những yếu hèn cách hoàn toàn và chỉ một lần thay cho tất cả[16]. Trong mọi trường hợp, như Thánh Augustinô dạy, Thiên Chúa luôn đòi các con làm những gì các con có thể và cầu xin những gì các con không thể[17]và thật vậy, khiêm tốn cầu nguyện với Ngài: “xin ban những gì Chúa đòi và đòi những gì Chúa muốn”[18].
  2. Cuối cùng, việc thiếu lòng biết ơn chân thành và cầu nguyện về những giới hạn của mình cũng ngăn cản ân sủng hoạt động cách hiệu quả hơn trong ta, vì không để chỗ cho tiềm năng tốt lành là một phần của cuộc hành trình đích thật của sự phát triển[19]. Ân sủng, chính vì được xây dựng trên tự nhiên, nên không làm cho ta thành siêu nhân ngay được. Kiểu suy nghĩ như thế thường tỏ ra quá tin tưởng vào các khả năng của mình. Dưới sự chính thống của mình, thái độ của ta có lẽ đã không ăn khớp với những gì ta nói về nhu cầu cần đến ân sủng, và trong những hoàn cảnh đặc biệt ta có thể chẳng tin tưởng gì mấy vào ân sủng. Trừ phi ta biết nhìn nhận hoàn cảnh giới hạn cụ thể của mình, ta mới không thể thấy được những bước thật sự có thể Chúa đòi hỏi nơi ta mọi lúc, khi ân sủng của Ngài hấp dẫn và ban sức mạnh cho ta. Ân sủng luôn hoạt động trong lịch sử; cách thông thường ân sủng vẫn không ngừng nắm lấy và biến đổi ta[20]. Nếu ta chối bỏ thực tại lịch sử và tiến triển này, ta cũng thực sự có thể khước từ và ngăn chặn ân sủng, kể cả khi ngoài miệng ta vẫn tán dương.
  3. Khi nói với Abraham, Thiên Chúa bảo ông: “Ta là Thiên Chúa toàn năng, hãy bước đi trước nhan ta và hãy tinh tuyền” (St 17, 1). Để được vô tỳ tích, như Ngài đòi hỏi ta, ta cần sống khiêm tốn trong sự hiện diện của Ngài, mặc lấy vinh quang của Ngài; ta cần bước đi trong sự hiệp thông với Ngài, nhìn nhận tình yêu chung thủy của Ngài trong đời ta. Ta cần dẹp bỏ sợ hãi trước sự hiện diện ấy, một sự hiện diện chỉ vì lợi ích của ta. Thiên Chúa là Cha, Đấng đã ban cho ta sự sống và đã hết mực yêu thương ta. Một khi đã chấp nhận Ngài, và không cố sống thiếu vắng Ngài, thì nỗi đớn đau do cô đơn sẽ tan biến (x. Tv 139, 23 – 24). Theo cách này, ta sẽ biết được ý định tốt lành và hoàn hảo của Chúa (x. Rm 12, 1 – 2) và để cho Ngài nắn đúc nên ta như một thợ gốm (x. Is 29, 16). Vì thế, ta thường nói rằng Thiên Chúa ở trong ta, nhưng tốt hơn ta nên nói rằng ta ở trong Ngài, Ngài làm cho ta có thể ở lại trong ánh sáng và tình yêu của Ngài. Ngài là đền thờ của ta; ta xin được ở lại trong nhà Chúa mọi ngày suốt đời ta (x. Tv 27, 4). Ở trong Ngài là sự thánh thiện của ta.

MỘT GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH THƯỜNG BỊ BỎ QUA

  1. Hội thánh đã không ngừng dạy rằng ta được công chính hóa không phải do các công việc hay những nỗ lực của riêng ta, nhưng nhờ ân sủng của Chúa, Đấng luôn có sáng kiến. Các Giáo phụ, cả các vị trước Thánh Augustinô, đã diễn tả rõ ràng niềm tin căn bản này. Thánh Gioan Chrysostom nói rằng Thiên Chúa đổ vào lòng ta chính nguồn mọi ân sủng của Ngài trước cả khi ta đi vào chiến trận[21]. Thánh Basiliô Cả nhận xét rằng các tín hữu chỉ có được vinh quang nơi một mình Thiên Chúa thôi, vì “họ nhận ra rằng họ thiếu sự công chính thật và họ được công chính hóa chỉ nhờ đức tin vào Đức Giêsu Kitô”[22].
  2. Thượng Hội Dồng Giám mục Orange lần thứ hai đã dạy với một căn cứ vững chắc rằng không gì nơi con người có thể đòi hỏi, xứng đáng hay mua được ân sủng của Thiên Chúa, và mọi sự cộng tác với ân sủng ấy chỉ là việc ơn ấy được ban trước thôi: “Cả khát vọng muốn được nên trong sạch cũng xảy ra nơi ta nhờ việc đổ tràn và hoạt động của Chúa Thánh Thần”[23]. Sau đó, Công đồng Trento, trong khi vẫn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự cộng tác của ta trong việc phát triển tâm linh, đã tái khẳng định giáo huấn tín lý này: “ta được công chính hóa cách nhưng không vì chẳng có gì đi trước sự công chính hóa cả, cả đức tin lẫn việc làm đều không đáng nhận được ơn công chính hóa; vì nếu chính nhờ ân sủng, thì không còn dựa vào công việc nữa; nếu không, ân sủng sẽ không còn là ân sủng” (Rm 11, 6)[24].
  3. Giáo lý của Hội thánh Công giáo cũng nhắc ta nhớ rằng việc ban ân sủng “vượt quá sức mạnh của lý trí và ý chí con người”[25]và “liên quan tới Thiên Chúa, công nghiệp của con người không có một quyền tuyệt đối nào cả. Giữa Thiên Chúa và chúng ta có một sự khác biệt vô biên”[26]. Tình bằng hữu của Ngài vượt quá chúng ta nghìn trùng; ta không thể mua được tình bằng hữu ấy bằng các công việc của ta, đó chỉ có thể là một ân ban phát sinh từ sáng kiến yêu thương của Ngài. Điều này mời gọi ta sống trong lòng hân hoan biết ơn vì ân huệ ta chẳng xứng đáng chút nào ấy, vì “sau khi người ta có được ân sủng, thì ân sủng đã được sở hữu ấy, không thể lại do công nghiệp được”[27]. Các thánh luôn tránh đặt tin tưởng vào các công việc của mình: “Vào lúc đời đã xế, con sẽ lại ra trước mặt Chúa tay không, vì lạy Chúa, con không xin Chúa kể đến các công việc của con. Mọi sự công chính của chúng con đều hoen ố trước mắt Ngài”[28]
  4. Đây là một trong những xác tín mạnh mẽ Hội thánh vẫn luôn nắm giữ cách vững chắc. Xác tín ấy được diễn tả cách rõ ràng trong lời Chúa đến độ không ai còn có thể thắc mắc gì nữa. Hệt như điều răn yêu thương quan trọng nhất, chân lý này cũng phải tác động trên cách ta sống, vì sự thật này xuất phát từ trọng tâm của Tin mừng và đòi ta không chỉ chấp nhận cách trí thức mà còn phải làm cho nó thành nguồn vui lan tỏa nữa. Nhưng ta không thể ăn mừng sự tự do ban tặng tình bằng hữu này của Chúa trừ phi ta nhìn nhận rằng cuộc sống trần thế và các khả năng tự nhiên của ta là quà tặng của Ngài. Ta cần “hân hoan nhìn nhận rằng cuộc sống của ta chủ yếu là một quà tặng, một ân ban, và sự tự do của ta là một ân huệ. Nhìn nhận thế hôm nay không dễ, nhất là trong một thế giới luôn nghĩ rằng nó có thể giữ lấy một cái gì đó, những kết quả của sự sáng tạo hay tự do của nó, cho riêng mình”[29].
  5. Chỉ trên nền tảng ân sủng của Thiên Chúa, được tự do chấp nhận và khiêm tốn đón nhận, ta mới có thể cộng tác bằng các nỗ lực của ta trong sự biến đổi không ngừng của ta[30]. Ta phải thuộc về Thiên Chúa trước, bằng cách dâng chính bản thân cho Ngài, là Đấng đã ở đó trước và ký thác cho Ngài các khả năng, nỗ lực, cuộc chiến chống sự dữ và sáng kiến của ta, để ân nan tự do của Ngài có thể lớn lên và phát triển trong ta: “Vì thế, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi nài xin anh em hiến dâng thân xác anh em làm của lễ sống động, thánh thiện và tinh tuyền dâng lên Thiên Chúa” (Rm 12, 1). Vì vấn đề này, Hội thánh luôn dạy rằng chỉ mình đức ái mới làm cho việc lớn lên trong đời sống ân sủng có thể có được, vì “Nếu tôi không có lòng mến, thôi chỉ là không” (1 Cr 13, 2).

NHỮNG NGƯỜI THEO PELEGIO MỚI

  1. Nhưng, một số Kitô hữu lại nhấn mạnh đến việc đi theo một con đường khác, con đường của sự công chính hóa bằng các nỗ lực riêng, tôn thờ ý chí và các khả năng của con người. Kết quả là việc qui về mình và sự hài lòng của người theo chủ nghĩa ưu tú, tước mất tình yêu đích thật. Điều này được diễn tả bằng những cách suy nghĩ và hành động rời rạc khác nhau: một sự ám ảnh về luật, việc hấp thụ các đặc quyền, đặc lợi về mặt xã hội, một mối bận tâm quá câu nệ về phụng vụ, đạo lý và danh dự của Hội thánh, lòng tự phụ về khả năng kiểm soát các vấn đề thực tiễn và sự bận tâm quá đáng về các chương trình tự lực và việc hoàn tất bản thân. Một số Kitô hữu đã dành thời gian và công sức vào những việc ấy, hơn là để mình được Thần khí hướng dẫn theo con đường tình yêu, hơn là say mê truyền rao vẻ đẹp và niềm vui của Tin mừng và tìm kiếm những người lạc mất trong những đám đông đang khao khát Đức Kitô[31].
  2. Không phải hiếm, đi ngược với những thúc đẩy của Thần khí, đời sống Hội thánh có thể trở thành một đồ cổ trong viện bảo tàng hay chỉ là sở hữu của một thiểu số được chọn. Điều này có thể xảy ra khi một số nhóm Kitô hữu quá coi trọng một số luật, thói quen hay cách hành động nào đó. Khi ấy Tin mừng có khuynh hướng bị hạ thấp và bị giới hạn lại, bị tước mất tính mộc mạc, sự quyến rũ và hương vị của nó. Đây rất có thể là một hình thức tinh tế của thuyết pelagio, vì dường như nó đang đẩy cuộc sống ân sủng vào trong một số cấu trúc của con người. Việc ấy cũng có thể có ảnh hưởng trên các nhóm, các phong trào và các cộng đoàn và luôn giải thích vì sao các nhóm ấy thường bắt đầu với cuộc sống mạnh mẽ trong Thần khí, chỉ để kết thúc cách cứng nhắc… hay suy đồi.
  3. Một khi ta tin rằng mọi sự đều tùy thuộc nỗ lực của con người như đã được các luật và cấu trúc của Hội thánh hình thành, ta vô tình làm cho Tin mừng thành phức tạp và trở thành nô lệ cho một kế hoạch chỉ dành rất ít chỗ hoạt động của ân sủng. Thánh Tôma Aquinô nhắc ta nhớ rằng các qui tắc được Hội thánh thêm vào cho Tin mừng phải được áp đặt cách điều độ “để việc hướng dẫn các Kitô hữu khỏi trở thành một gánh nặng”, vì khi ấy tôn giáo của ta sẽ trở thành một hình thức nô dịch[32].

Việc hoàn tất lề luật

  1. Để tránh điều này, ta làm đúng khi luôn nhớ rằng có một trật tự các nhân đức, trật tự ấy đòi ta phải tìm kiếm cái gì là quan trọng nhất. Đứng đầu bao giờ cũng là các nhân đức đối thần, coi Thiên Chúa là đối tượng và động cơ của chúng. Trung tâm là đức mến. Thánh Phaolô nói rằng điều thật sự đáng kể là “đức tin hoạt động nhờ đức mến” (Gal 5, 6). Ta được mời gọi để dành mọi nỗ lực duy trì đức mến: “Ai yêu tha nhân, người ấy chu toàn lề luật… vì yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13, 8, 10). “Vì toàn bộ lề luật được tóm lại trong điều răn duy nhất này là: “ngươi hãy yêu đồng loại như chính mình” (Gal 5, 14).
  2. Nói cách khác, giữa đám lề luật và qui định, Chúa Giêsu luôn dọn sạch một con đường đề thấy được hai khuôn mặt, một mặt của Chúa Cha và một mặt của người anh em ta. Ngài không đưa ra cho ta hai công thức hay hai mệnh lệnh. Ngài đưa ra hai khuôn mặt, hay đúng hơn, chỉ một khuôn mặt thôi: khuôn mặt của Thiên Chúa được phản ánh trong nhiều khuôn mặt khác. Vì trong mọi người trong số các anh chị em ta, nhất là những người bé mọn, mỏng dòn nhất, những người không được bảo vệ và những người thiếu thốn, ta tìm được hình ảnh của chính Thiên Chúa. Thật vậy, với những vụn vỡ của nhân loại mong manh này, Chúa sẽ hình thành nên tác phẩm nghệ thuật sau cùng của Ngài. Vì “Cái gì tồn tại, cái gì có giá trị trong cuộc sống, cái gì lộng lẫy mà sẽ không biến mất? Chắc chắn là hai cái này: Chúa và đồng loại ta. Hai cái lộng lẫy này sẽ không biến mất”[33].
  3. Xin Chúa giải thoát Hội thánh khỏi những hình thức ngộ giáo, còn thuyết pelagio xin Ngài đập tan và ngăn chặn đà tiến của nó trên con đường tiến tới sự thánh thiện. Những sai lầm của hai thuyết này có nhiều dạng thức khác nhau, tùy theo tính chất và đặc tính của mỗi người. Vì thế, tôi khuyến khích mọi người suy nghĩ và phân định trước Thiên Chúa xem chúng có hiện diện trong đời ta chăng.

Chuyển ngữ: Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R.

Chú thích:

[1] Cf. CONGREGATION FOR THE DOCTRINE OF THE FAITH, Letter Placuit Deo on Certain Aspects of Christian Salvation (22 February 2018), 4, in L’Osservatore Romano, 2 March 2018, pp. 4-5: “Cả chủ nghĩa cá nhân theo pelagio mới và Ngộ giáo mới đều coi thường thân xác, làm mất uy tín của việc tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô, là Đấng Cứu độ duy nhất của toàn vũ trụ”. Tài liệu này cung cấp các nền tảng đạo lý cho sự hiểu biết ơn cứu độ Kitô giáo liên quan tới các khuynh hướng Ngộ giáo và pelegio mới hiện nay.

[2] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 94: AAS 105 (2013), 1060.

[3] Ibid.: AAS 105 (2013), 1059.

[4] Bài giảng Lễ tại Casa Santa Marta, 11 November 2016: L’Osservatore Romano, 12 November 2016, p. 8.

[5] Như thánh Bonaventura dạy: “Chúng ta phải đình chỉ mọi hoạt động của tâm trí và phải biến đổi chóp đỉnh của các tình cảm của ta, hướng chúng về một mình Thiên Chúa thôi… Vì tự nhiên chẳng có thể đạt được gì và nỗ lực bản thân chỉ đạt được một chút thôi, điều cần thiết là phải coi việc điều tra là ít quan trọng, và xức đầu quan trọng hơn, nói không quan trọng và niềm vui nội tâm quan trọng hơn, lời nói hay viết lách không quan trọng nhưng ơn Thiên Chúa, nghĩa là Chúa Thánh Thần là quan trọng hơn tất cả, thụ tạo ít hoặc không quan trọng nhưng quan trọng nhất là Tạo hóa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” : BONAVENTURA, Itinerarium Mentis in Deum. VII, 4 – 5.

[6] Cf. Letter to the Grand Chancellor of the Pontifical Catholic University of Argentina for the Centenary of the Founding of the Faculty of Theology (3 March 2015): L’Osservatore Romano, 9-10 March 2015, p. 6.

[7] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 40: AAS 105 (2013), 1037.

[8] Video Message to Participants in an International Theological Congress held at the Pontifical Catholic University of Argentina (1-3 September 2015): AAS 107 (2015), 980.

[9] Post-Synodal Apostolic Exhortation Vita Consecrata (25 March 1996), 38: AAS 88 (1996), 412.

[10] Letter to the Grand Chancellor of the Pontifical Catholic University of Argentina for the Centenary of the Founding of the Faculty of Theology (3 March 2015): L’Osservatore Romano, 9-10 March 2015, p. 6.

[11] Letter to Brother Anthony, 2: FF 251.

[12] De septem donis, 9, 15.

[13] In IV Sent. 37, 1, 3, ad 6.

[14] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 94: AAS 105 (2013), 1059.

[15] Cf. Bonaventure, De sex alis Seraphim, 3, 8: “Non omnes omnia possunt”. The phrase is to be understood along the lines of the Catechism of the Catholic Church, 1735.

[16] Cf. THOMAS AQUINAS, Summa Theologiae II-II, q. 109, a. 9, ad 1: “But here grace is to some extent imperfect, inasmuch as it does not completely heal man, as we have said”.

[17] Cf. De natura et gratia, 43, 50: PL 44, 271.

[18] Confessiones, X, 29, 40: PL 32, 796.

[19] Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 44: AAS 105 (2013), 1038.

[20] In the understanding of Christian faith, grace precedes, accompanies and follows all our actions (cf. ECUMENICAL COUNCIL OF TRENT, Session VI, Decree on Justification, ch. 5: DH 1525).

[21] Cf. In Ep. ad Romanos, 9, 11: PG 60, 470.

[22] Homilia de Humilitate: PG 31, 530.

[23] Canon 4: DH 374.

[24] Session VI, Decree on Justification, ch. 8: DH 1532.

[25] No. 1998.

[26] Ibid., 2007.

[27] Thomas Aquinas, Summa Theologiae, I-II, q. 114, a. 5.

[28] Thérése of the Child Jesus, “Act of Offering to Merciful Love” (Prayers, 6).

[29] Lucio Gera, Sobre el misterio del pobre, in P. GRELOT-L. GERA-A. DUMAS, El Pobre, Buenos Aires, 1962, 103.

[30] Tóm lại, đây là đạo lý Công giáo về “công nghiệp” theo sau sự công chính hóa: đạo lý ấy có liên quan tới sự cộng tác của những người được công chính hóa để lớn lên trong cuộc đời ân sủng (x. Giáo lý của Hội thánh Công giáo, 2010). Nhưng sự cộng tác này không làm nên chính sự công chính hóa hay tình bẳng hữu với Thiên Chúa thành đối tượng của công nghiệp của con người.

[31] Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 95: AAS 105 (2013), 1060.

[32] Summa Theologiae I-II, q. 107, art. 4.

[33] FRANCIS, Homily at Mass for the Jubilee of Socially Excluded People (13 November 2016): L’Osservatore Romano, 14-15 November 2016, p. 8.

 

CHƯƠNG III
DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA VỊ TÔN SƯ DUY NHẤT

  1. Có thể có một số lý thuyết về những gì đã làm nên sự thánh thiện, với những giải thích và những phân biệt khác nhau. Suy tư như thế rất hữu ích, nhưng chẳng có gì có thể soi sáng cho ta bằng việc hướng về những lời của Chúa Giêsu và thấy được cách dạy sự thật của Ngài. Chúa Giêsu giải thích cách rất đơn sơ thánh là gì khi Ngài ban cho ta Tám mối phúc (x. Mt 5, 3 – 12; Lc 6, 20 – 23). Tám mối phúc giống như thẻ căn cước của các Kitô hữu vậy. Nên nếu có ai hỏi: “Họ phải làm gì để là một Kitô hữu tốt lành?” câu trả lời này rất rõ. Ta phải làm, theo cách của ta, những gì Chúa đã bảo ta trong Bài giảng trên Núi[1]. Trong Tám mối phúc, ta thấy được chân dung của vị Tôn sư duy nhất, một chân dung ta được mời gọi phản chiếu trong đời sống hằng ngày của ta.
  2. Từ ngữ “hạnh phúc” hay “phúc thay” như thế trở thành đồng nghĩa với “thánh”. Từ ngữ ấy diễn tả sự kiện này là ai trung thành với Thiên Chúa và lời Ngài, qua việc trao hiến mạng sống, đều đạt được hạnh phúc thật.

ĐI NGƯỢC DÒNG

  1. Tuy những lời của Chúa Giêsu có thể đánh động ta vì rất thị vị, nhưng các lời ấy cũng đi ngược với cách người ta thường làm các sự việc trên trần gian này. Dù ta thấy sứ điệp của Chúa Giêsu hấp dẫn, nhưng thế gian này vẫn luôn đẩy ta tới một cách sống khác. Các Mối phúc không tầm thường hay không phải là đòi hỏi, trái lại là khác. Ta chỉ có thể thực hành các mối phúc ấy nếu Chúa Thánh Thần đổ đầy lòng ta sức mạnh của Ngài và giải thoát ta khỏi sự yếu hèn, khỏi sự ích kỷ, sự tự mãn và lòng kiêu hãnh của ta.
  2. Ta hãy lắng nghe Chúa Giêsu lần nữa, với tất cả lòng yêu mến và tôn trọng mà một Tôn sư đáng được. Ta hãy để cho lời Ngài khuấy động, thách thức ta và đòi hỏi một sự thay đổi thật trong cách sống của ta. Nếu không, sự thánh thiện vẫn chẳng hơn gì một từ ngữ rỗng tuếch. Bây giờ ta hãy hướng tới từng mối một trong các Mối phúc trong Tin mừng theo thánh Mathêu (x. Mt 5, 3 – 12)[2].

“Phúc thay những người có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ”

  1. Tin mừng mời gọi ta nhìn kỹ vào chiều sâu của tâm hồn mình, để thấy ta tìm được sự an toàn trong cuộc sống ở đâu. Thường, người giàu cảm thấy an toàn trong tài sản của họ, và nghĩ rằng, nếu tài sản ấy bị đe dọa, thì toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống trần gian này của họ có thể sụp đổ. Chính Chúa Giêsu cũng nói với ta điều này trong dụ ngôn anh khờ giàu có: Ngài nói về một người rất tin vào mình, nhưng lại ngu muội, vì anh ta đã không hề nghĩ rằng hôm nay có thể anh sẽ chết (x. Lc 12, 16 – 21).
  2. Tài sản chẳng bảo đảm được gì: quả thế, một khi ta nghĩ rằng ta giàu có, ta có thể trở thành tự mãn đến độ ta không còn để chỗ cho lời Chúa, cho lòng yêu mến anh chị em mình, hay cho niềm vui của những điều quan trọng nhất trong đời. Theo cách này, ta bỏ mất cơ hội đạt được tài sản lớn nhất. Đó là lý do vì sao Chúa Giêsu gọi những người có tình thần nghèo khó, những người có tâm hồn nghèo khó là những người được chúc phúc, vì Chúa có thể đi vào tâm hồn ấy với sự mới mẻ vĩnh cửu của Ngài.
  3. Sự nghèo khó về tinh thần liên kết mật thiết với những gì Thánh Ignatiô Loyola gọi là “sự dửng dưng thánh thiện”, một sự dửng dưng đem lại cho ta sự tự do nội tâm chói ngời: “ta cần huấn luyện mình sao cho có được thái độ dửng dưng với các vật thụ tạo, dửng dưng trong những gì ý chí tự do của ta được phép, chứ không phải với những gì không được phép; đến độ về phần mình, ta không để tâm tới những của cải tốt chứ đừng nói tới của cải xấu, sự giàu có chứ không phải nghèo khó, danh dự chứ không phải những điều sỉ nhục, cuộc sống trường thọ chứ không phải cuộc đời ngắn ngủi, và cứ thế trong tất cả các thứ còn lại”[3].
  4. Thánh Luca không nói về sự nghèo khó “về tinh thần” mà chỉ nói tới những người “nghèo” (x. Lc 6, 20). Theo cách này, ngài cũng mời gọi ta sống một cuộc sống giải dị và đơn sơ. Ngài kêu gọi ta tham dự vào cuộc sống của những người thiếu thốn nhất, cuộc sống các tông đồ đã sống và cuối cùng làm cho mình nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, Đấng tuy giàu có, “đã làm cho mình nên nghèo khó” (2 Cr 8, 9).

Nghèo khó trong lòng: đó là sự thánh thiện

“Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được đất làm gia nghiệp”

  1. Đây là những lời rất mạnh trong một thế giới mà ngay từ đầu đã là nơi xung đột, tranh chấp và hận thù từ mọi phía, nơi ta thường xuyên dán nhãn cho người khác dựa trên ý tưởng, tập quán và ngay cả cách nói hay phục sức của họ. Cuối cùng, đó là nơi kêu hãnh và tự ái ngự trị, nơi mỗi người nghĩ rằng họ có quyền thống trị người khác. Dẫu có vẻ như không thể được, Chúa Giêsu vẫn đề nghị một cung cách thực hành khác: cung cách của sự hiền lành. Đó là điều ta thấy Ngài làm với các môn đệ. Đó là điều ta chiêm ngắm khi Ngài vào thành Giêrusalem: “Này, vua người đang đến, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa” (Mt 21, 5; Za 9, 9).
  2. Đức Kitô nói: “hãy học cùng tôi, vì tôi hiền lành và khiêm ngường trong lòng, và các ngươi sẽ tìm được sự nghỉ ngơi trong linh hồn” (Mt 11, 25). Nếu ta thường xuyên bực bội và bất nhẫn với người khác, cuối cùng ta sẽ kiệt sức và mệt mỏi. Nhưng nếu ta nhìn các lỗi lầm và giới hạn của tha nhân với sự nhẹ nhàng và hiền lành, không coi mình là kẻ cả, ta mới thực sự giúp đỡ họ và không phung phí công sức vào việc than phiền vô ích. Thánh Têrêsa Lisieux nói với chúng ta rằng “đức ái hoàn hảo bao gồm việc chịu đựng khuyết điểm của người khác và không bị sốc vì những khuyết điểm của họ.”[4]
  3. Thánh Phaolô nói về sự hiền lành như một trong những hòa quả của Chúa Thánh Thần (x. Gal 5, 23). Ngài đề nghị rằng, nếu một hành động sai trái của một trong những anh chị em ta làm phiền ta, ta phải cố gắng sửa lỗi cho họ, nhưng “với tinh thàn hiền lành”, vì “anh em cũng có thể bị cám dỗ” (Gal 6, 1). Cả khi ta bảo vệ đức tin và các xác tín của mình, ta cũng phải bảo vệ “với sự hiền lành” (x. 1 Pr 3, 16). Kẻ thù của ta cũng phải được đối xử “với sự hiền lành” (2 Tim 2, 25). Trong Hội thánh ta thường mắc phải sai lầm vì đã không ấp ủ lệnh truyền này của lời Thiên Chúa.
  4. Hiền lành còn là một cách diễn tả khác của sự khó nghèo nội tâm của những ai đặt tin tưởng vào một mình Thiên Chúa. Quả thật, trong Kinh thánh từ ngữ – anawim– thường ám chỉ cả người nghèo lẫn người hiền lành. Một số người phản đối: “Nếu tôi hiền thế, người ta sẽ nghĩ tôi là thằng khùng, thẳng ngu hay thằng hèn thì sao”. Đôi khi người ta có thể nghĩ thế, nhưng kệ họ. Hiền lành bao giờ cũng tốt hơn, vì khi ấy những ước vọng sâu xa nhất của ta sẽ được thực hiện. Người hiền “sẽ được đất làm gia nghiệp”, vì họ sẽ thấy được lời hứa của Thiên Chúa hoàn tất trong đời mình. Trong mọi hoàn cảnh, người hiền luôn đặt hy vọng của mình vào Chúa, và những ai hy vọng vì Ngài sẽ chiếm được đất… và sẽ tận hưởng được một nền hòa bình viên mãn (x. Tv 37, 9 – 11). Về phần mình, Chúa luôn tin tưởng họ: “Kẻ được ta đoái nhìn là kẻ, đó là người nghèo khổ, người có tâm hồn tan nát, người kinh sợ trước lời ta” (Is 66, 2).

Đối xử cách hiền lành và khiêm nhường: đó là sự thánh thiện

“Phúc thay ai khóc lóc, vì họ sẽ an ủi”

  1. Thế giới này nói với ta ngược hẳn: giải trí, khoái lạc, tiêu khiển và chạy trốn làm nên cuộc sống tốt lành. Con người thuộc thế giới này coi thường những vấn đề về bệnh hoạn hay ưu phiền trong gia đình hay thế giới chung quanh; họ nhìn ra phía khác. Thế giới này không muốn khóc than; không thích để ý gì tới những hoàn cảnh khổ đau, muốn che đậy hay ém nhẹm chúng đi.
  2. Ai, sự vật sao thấy được y như vậy và thông cảm được với đau khổ và ưu phiền, người ấy là người có thể đụng vào những cõi thẳm sâu của sự sống và tìm được hạnh phúc thật[5]. Họ được chính Chúa Giêsu chứ không phải thế giới này an ủi. Những người như thế không hề sợ tham dự vào những đau khổ của tha nhân; họ không chạy trốn những hoàn cảnh khốn khổ. Họ khám phá ra ý nghĩa của cuộc sống nhờ sự trợ giúp của những người đau khổ, khi hiểu được nỗi đớn đau của những người ấy và đem lại sự xoa dịu. Họ ý thức rằng tha nhân là xác thịt của họ, và họ không ngại đến gần, thậm chí họ còn dám đụng vào các vết thương. Họ thấy xót thương tha nhân đến độ không còn sự ngăn cách nào. Theo cách này, họ có thể ấp ủ lời khuyên của thánh Phaolô: “Khóc với ngưởi khóc” (Rm 12, 15).

Biết than khóc với người khác: đó là sự thánh thiện.

“phúc thay những ai đói khát sự công chính vì họ sẽ được no thỏa”

  1. Đói khát là những kinh nghiệm mãnh liệt, vì nó liên quan tới các nhu cầu căn bản và bản năng sinh tồn của ta. Có những người khao khát sự công chính và mong ước điều chính trực cách mãnh liệt y như đói khát cơm bánh vậy. Chúa Giêsu bảo họ sẽ được no thoả, vì sớm muộn gì sự công chính cũng sẽ đến. Ta có thể cộng tác làm cho sự công chính mau đến, dù có lẽ ta vẫn không thấy được kết quả của những nỗ lực của ta.
  2. Chúa Giêsu đem lại sự công chính không phải sự công chính của thế gian này, một sự công chính thường bị những quyền lợi chẳng ra gì phá hỏng và thao túng bằng nhiều cách. Kinh nghiệm cho thấy bị nhúng chàm trong tham nhũng, sập bẫy trong trò chính trị ăn miếng trả miếng hằng ngày, nơi mọi sự đều thành thương mại dễ biết bao. Biết bao người đang phải chịu đựng bất công, chờ đợi cách bất lực trong khi những người khác lại đang chia chác các sự tốt lành của thế gian này. Một số từ bỏ cuộc đấu tranh cho công lý thật và chọn đi theo đoàn người chiến thắng. Điều này không liên quan gì tới đói khát sự công chính Chúa Giêsu ca ngợi cả.
  3. Sự công chính thật xuất hiện trong cuộc sống con người khi chính họ công chính trong các quyết định của mình; sự công chính ấy được diễn tả trong việc theo đuổi công lý cho những người nghèo khổ và yếu thế. Trong khi đúng là từ ngữ “công chính” có thể đồng nghĩa với sự trung thành với ý Thiên Chúa trong mọi khía cạnh của cuộc sống, nhưng nếu ta mặc cho từ ngữ này một ý nghĩa quá chung chung, ta sẽ quên rằng từ này được bày tỏ cách đặc biệt trong công lý đối với những người mỏng dòn nhất: “Hãy tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt kẻ áp bức, bảo vệ cô nhi, bênh đỡ người góa bụa” (Is 1, 17).
    Đói khát sự công chính: đó là sự thánh thiện“Phúc thay những ai có lòng xót thương, vì họ sẽ được thương xót”
  4. Lòng thương xót có hai khía cạnh. Lòng thương xót ấy liên quan tới việc cho, giúp đỡ và phục vụ tha nhân, nhưng cũng bao gồm sự tha thứ và hiểu biết. Thánh Mathêu tóm tắt lòng thương xót ấy trong một luật vàng: “Trong mọi sự, hãy làm cho người ta những gì anh muốn người ta làm cho anh” (Mt 7, 12). Giáo lý cũng nhắc ta rằng luật này phải được áp dụng “trong mọi trường hợp”[6]nhất là khi ta phải đương đầu với những hoàn cảnh làm cho các phán quyết luân lý không được chắc chắn lắm hay làm cho việc đưa ra những quyết định gặp khó khăn”[7].
  5. Cho và tha thứ có nghĩa là sản sinh ra trong đời ta một lượng nhỏ của sự hoàn thiện của Thiên Chúa, một sự hoàn thiện bao giờ cũng cho và tha thứ cách dư dật. Vì lý do này, trong Tin mừng theo thánh Luca, ta không nghe được những lời này: “Hãy nên hoàn thiện” (Mt 5, 48), nhưng là, “hãy nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ. Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán; đừng kết án để khỏi bị kết án; hãy tha thứ và anh em sẽ được thứ tha; hãy cho và anh em sẽ được cho” (Lc 5, 36 – 38). Sau đó Thánh Luca thêm một điều ta không được bỏ qua: “Anh em đong bằng đầu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy” (6, 38). Tiêu chuẩn ta dùng để hiểu và tha thứ cho tha nhân cũng sẽ đo lượng sự tha thứ ta đón nhận. Tiêu chuẩn ta dùng để cho cũng sẽ đo những gì ta lãnh nhận. ta không bao giờ được quên điều đó.
  6. Chúa Giêsu không nói: “Phúc thay những ai âm mưu trả thù”. Ngài gọi những người tha thứ và tha thứ “ bảy mươi lần bảy” (Mt 18, 22) là “những người được chúc phúc”. Tất cả chúng ta được nhìn đến bằng lòng xót thương của Thiên Chúa. Nếu ta đến gần Chúa với lòng chân thành và lắng nghe cách cẩn thận, thì có thể có những lần ta nghe được lời trách móc này của Ngài: “Anh lại chẳng phải xót thương bạn anh như Ta đã xót thương anh sao?” (Mt 18, 33).

Thấy và hành động vơi lòng xót thương: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa”

  1. Mối phúc này nói về những người có tâm hồn đơn sơ, thanh sạch và vô tỳ tích, vì một tâm hồn có khả năng yêu thương thường không chấp nhận những gì có thể gây nguy hại, làm suy yếu hay nguy hiểm cho tình yêu ấy. Kinh thánh sử dụng tâm hồn để mô tả những ý định thật sự của ta, những điều ta thực sự tìm kiếm và khao khát, khác hẳn với mọi vẻ bên ngoài. “Con người chỉ thấy được vẻ bên ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn thấu tận tâm can” (1 Sam 16, 7). Thiên Chúa muốn nói với tâm hồn ta (x. Hs 2, 16); ở đó Ngài muốn khắc ghi luật Ngài (x. Gr 31, 33). Tóm lại, Ngài muốn ban cho ta một tâm hồn mới (x. Ez 36, 26).
  2. “Hãy tỉnh thức canh giữ tâm hồn anh em” (Cn 4, 23). “Những vấy bẩn do sự sai lầm không có giá trị gì trước mắt Chúa. Ngài “luôn tránh thói lọc lừa, xa rời những lý luận ngu dốt” (Kn 1, 5). Chúa Cha, Đấng “thấu suốt mọi kín ẩn” (Mt 6, 6), bao giờ cũng nhận ra cái gì không thanh sạch, không chân thật, chỉ phô trương hay ngoại diện, Chúa Con cũng thế, Ngài biết có gì trong con người” (x. Ga 2, 25).
  3. Dĩ nhiên, ngay trong những việc làm vì tình yêu rất có thể cũng không có tình yêu, nhưng Mối phúc này nhắc ta nhớ rằng Chúa luôn chờ mong việc ta dấn thân cho anh chị em mình xuất phát từ trong lòng ta. Vì “nếu tôi đem phát chẩn hết những gì tôi có và nếu tôi hiến mình để chịu thiêu đốt, mà tôi không có lòng mến, thì tôi cũng chẳng được gì” (1 Cr 13, 3). Cũng trong Tin mừng Mathêu, ta thấy rằng chỉ những gì xuất phát từ cõi lòng mới làm cho người ta ra ô uế (x. Mt 15, 18), từ cõi lòng ấy phát sinh sự sát nhân, trộm cắp, làm chứng gian và các việc xấu xa khác (x. Mt 15, 19). Từ những ý định trong lòng nẩy sinh những khát vọng và những quyết định sâu xa nhất xác định các hành động của ta.
  4. Một tấm lòng yêu mến Thiên Chúa và đồng loại (x. Mt 22, 36 – 40), chân thành chứ không chỉ ngoài môi ngoài miệng, bao giờ cũng là một tâm hồn trong sạch; tâm hồn ấy có thể thấy Thiên Chúa. Trong bài ca đức mến, thánh Phaolô nói rằng “hiện nay ta thấy cách mường tượng như ở trong gương” (1 Cr 13, 12), nhưng khi sự thật và lòng mến thắng thế, khi ấy ta sẽ có thể thấy “cách diện đối diện”. Chúa Giêsu hứa rằng những ai thanh sạch trong lòng, “sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”.

Giữ cho tâm hồn khỏi tất cả những gì làm lu mờ tình yêu: đó là sự thánh thiện.

“Phúc thay những ai tác tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”

  1. Mối phúc này làm ta nghĩ ngay đến những hoàn cảnh chiến tranh triền miên trong thế giới này. Nhưng chính ta cũng thường là nguyên nhân của xung đột hay ít ra cũng là nguyên nhân gây hiểu lầm. Ví dụ, có lẽ tôi nghe thấy một điều gì đó về một người nào đó rồi tôi đi và nhắc lại điều ấy. Thậm chí lần sau khi nhắc lại tôi còn thêm thắt một chút… Và điều ấy càng tác hại, tôi lại càng thỏa mãn vì nó. Thế giới ngồi lê đôi mách này, do những kẻ tiêu cực và phá hoại đang sống, không bao giờ đem lại hòa bình. Những người như thế đúng là kẻ thù của hòa bình; họ không “được chúc phúc”[8].
  2. Người tác tạo hòa bình là người thực sự “tạo nên” hòa bình và tình thân hữu trong xã hội. Đối với những người gieo rắc hoà bình, Chúa Giêsu thực hiện một lời hứa cao quý: “Họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5, 9). Ngài nói với các môn đệ rằng, các ông có đi đâu đi nữa, thì cũng phải nói: “Bình an cho nhà này” (Lc 10, 5). Lời Chúa khuyên mọi tín hữu phải làm việc cho hòa bình, “cùng với tất cả những người kêu cầu Chúa với tấm lòng trong sạch” (x. 2 Tim 2, 22), vì “mùa gặt sự công chính được những người tác tạo hòa bình gieo trong hòa bình” (Gcb 3, 18). Và nếu có lần trong cộng đoàn khi thắc mắc ta phải làm gì, thì “ta hãy theo đuổi những gì đem lại hòa bình” (Rm 14, 19) vì sự hợp nhất bao giờ cũng được quý trọng hơn xung đột[9].
  3. Không dễ “tạo nên” một nền hòa bình theo Tin mừng, một nền hòa bình không loại trừ nhưng ôm ấp cả những người hơi kỳ cục, gây rắc rối hay khó chịu, đòi hỏi, bất đồng, thất vọng vì cuộc sống hay đơn giản không tha thiết gì. Đó là một công việc khó nhọc; đòi hỏi phải mở rộng lòng trí, vì đó không phải là tạo nên “một sự nhất trí trên giấy hay một nền hòa bình thoáng qua cho một thiểu số mãn nguyện”[10]hay một dự án “của một ít người tạo nên cho một ít người”[11]. Nền hòa bình ấy cũng không thể cố phớt lờ hoặc không đếm xỉa gì tới xung đột, trái lại, phải “trạm chán với xung đột, giải quyết và làm cho xung đột thành một mắt trong sợi xích của một tiến trình mới”[12]. Ta cần phải là những người thợ xây dựng hòa bình, vì xây dựng hòa bình là một công việc đòi hỏi sự trầm lặng, sáng tạo, nhạy bén và khéo léo.

Gieo vãi hòa bình cho mọi người chung quanh: đó là sự thánh thiện

“Phúc thay những ai bị bắt bớ vì sự công chính, vì nước trời là của họ”

  1. Chính Chúa Giêsu đã cảnh cáo ta rằng con đường Ngài đề nghị thường đi ngược với mọi người, thậm chí còn làm cho ta thách thức xã hội do cách sống của mình và, kết quả là, trở thành một thứ phiền toái. Ngài nhắc cho ta biết rằng biết bao người đã, và hiện vẫn đang bị bắt bớ chỉ vì họ đấu tranh cho công lý, vì đã coi trọng việc dấn thân cho Thiên Chúa và tha nhân. Trừ phi ta muốn chìm vào trong tình trạng tầm thường khó hiểu, ta mới sẽ không mong ước một cuộc sống dễ dãi, vì “ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất” (Mt 16, 25).
  2. Trong việc sống Tin mừng, ta không chờ mong mọi sự sẽ dễ dàng, vì sự thèm khát quyền lực và những lợi lộc trần thế thường chặn đường ta. Thánh Gioan Phaolô II lưu ý rằng: “Xã hội sẽ bị tha hóa, nếu các hình thức tổ chức xã hội, sản xuất và tiêu thụ làm cho việc hiến mình và thiết lập một sự liên đới giữa người với người trở thành khó khăn hơn”[13]. Trong một xã hội như thế, chính trị, các phương tiện truyền thông và kinh tế, các cơ sở văn hóa và tôn giáo trở thành rối rắm đến độ thành một chướng ngại vật đối với sự phát triển của con người và xã hội. Như thế, sống các mối phúc không dễ; mọi cố gắng muốn sống các mối phúc ấy đều bị nhìn cách tiêu cực, bị nhìn với sự nghi kỵ và bị chế nhạo.
  3. Bất kể có thể ta đang có kinh nghiệm nào về sự chán chường và đau khổ trong việc sống điều răn yêu thương và theo đuổi con đường công chính, thì thập giá vẫn luôn là nguồn phát triển và thánh hóa của ta. Ta không bao giờ được quên rằng khi nói với ta rằng ta sẽ phải chịu đau khổ vì Tin mừng, Tân Ước đang nói cách chính xác về sự bắt bớ đấy (x. Cv 5, 41; Pl 1, 29; Col 1, 24; 2 Tim 1, 12; 1 Pr 2, 20; 4, 14 – 16; Kh 2, 10).
  4. Ở đây, ta đang nói về sự bắt bớ không thể tránh khỏi, chứ không nói tới một thứ bắt bớ ta có thể mang vào thân do cách hành xử sai trái của tha nhân. Các thánh không kỳ cục và không xa cách, không thể không dung thứ vì tự ái, sự tiêu cực và cay đắng của các ngài. Các Tông đồ của Đức Kitô không giống như thế. Sách Công vụ không ngừng tuyên bố rằng các ngài được “toàn dân mến chuộng” (Cv 2, 17; x. 4, 21 – 33; 5, 13), cả khi một số nhà cầm quyền quấy phá và bắt bớ các ngài (x. 4, 1 – 3; 5, 17 – 18).
  5. Các cuộc bắt bớ không phải là thực tế của quá khứ, vì hôm nay ta vẫn đang có kinh nghiệm về những chuyện ấy, bất kể đó là việc đổ máu như trường hợp của nhiều vị thánh tử vì đạo hiện nay, hay do các phương tiện tinh tế hơn, do các cuộc vu khống hay gian dối. Chúa Giêsu gọi chúng ta là “những người được chúc phúc” người ta “nop1i toàn những lời xấu xa chống lại các con vì cớ thầy” (Mt 5, 11).
    Vào những lần khác, sự bắt bớ có thể xảy ra dưới hình thức nhạo báng cố châm biếm đức tin của ta và làm cho ta có vẻ như lố bịch.
    Chấp nhận con đường của Tin mừng, dù có thể gây cho ta những rắc rối: đó là sự Thánh thiện.

MỘT TIÊU CHUẨN LỚN

  1. Trong chương 25 của Tin mừng Mathêu (31 – 46), Chúa Giêsu mở rộng Mối phúc này khi gọi những người nhân từ xót thương là những người được chúc phúc. Nếu ta tìm kiếm sự thánh thiện dẹp mắt Chúa, thì bản văn này đem lại cho ta một tiêu chuẩn rõ ràng, một tiêu chuẩn dựa vào đó ta sẽ bị phán xét. “Ta đói, các ngươi đã cho ăn, ta khát các ngươi đã cho uống, ta là khách lạ, các ngươi đã đón tiếp, ta mình trần các ngươi đã cho mặc, ta đau yếu, các ngươi đã chăm nom, ta bị tù các ngươi đã ghé thăm” (35 – 36).

Trung thành với Tôn sư

  1. Vậy sự thánh thiện không phải là ngất ngây trong trạng thái mê ly huyền bí. Như Thánh Gioan Phaolô II nói: “Nếu ta thật sự khởi sự cách mới mẻ từ việc chiêm ngắm Đức Kitô, ta phải học cách thấy được Ngài cách riêng trong các khuôn mặt mà chính Ngài đã muốn tự đồng hóa với”[14]. Bản văn của Thánh Mathêu 25, 35 – 36 không “chỉ là một lời mời gọi đến với đức ái: đó là một trang của Kitô học, một trang tỏa sáng trên mầu nhiệm của Đức Kitô”[15]. Trong lời kêu gọi nhận ra Ngài trong những nghèo khổ này, ta thấy cõi chính lòng của Đức Kitô, những tình cảm và chọn lựa sâu xa nhất của Ngài, đang được mặc khải ra, đó là điều tất cả các thánh luôn tìm cách họa lại.
  2. Dựa vào những đòi hỏi không khoan nhượng này của Chúa Giêsu, nhiệm vụ của tôi là xin các Kitô hữu nhận ra và chấp nhận những đòi hỏi ấy theo tinh thần cởi mở thật, sine glossa. Nói cách khác, không “có nếu hay nhưng” vì như thế sẽ giảm bớt sức mạnh. Chúa nói rất rõ rằng người ta không thể hiểu và sống sự thánh thiện cách tách khỏi những đòi hỏi này, vì lòng xót thương chính là “con tim luôn đập của Tin mừng”[16].
  3. Nếu tôi gặp một người đang ngủ ngoài cửa vào một đêm giá buốt, tôi có thể nhìn họ như một sự phiền toái, một người lười biếng, một chướng ngại trên đường, một cảnh tượng khó chịu, một vấn đề khiến các chính trị gia phải phân loại, hay thậm chí một đồ phế thải làm bừa bộn nơi công cộng. Hay tôi có thể đáp lại bằng đức tin và đức ái và thấy nơi người ấy một con người có cùng một phẩm giá như tôi, một thụ tạo được Chúa Cha yêu vô cùng, một hình ảnh của Thiên Chúa, một người anh chị em được Đức Giêsu Kitô cứu chuộc. Là Kitô hữu là như thế đó! Ta có thể hiểu sự thánh thiện một cách nào đó tách khỏi việc nhìn nhận cách sống động phẩm giá của mỗi con người chăng?[17]
  4. Đối với các Kitô hữu, điều này bao giờ cũng kéo theo một sự khó chịu lành mạnh. Dù nếu chỉ giúp đỡ một mình người này thôi cũng có thể để biện minh cho mọi nỗ lực của ta, nhưng vẫn chưa đủ. Ví dụ các giám mục Canada cho tháy rõ điều này khi lưu ý rằng năm thánh trong Kinh thánh muốn nói về một cái gì đó hơn hẳn việc thực hành một số việc tốt lành. Năm thánh muốn nói đến việc tìm cách thay đổi xã hội: “Vì các thế hệ sau cũng phải được giải thoát, nên rõ ràng mục đích phải là duy trì các hệ thống kinh tế xã hội công bằng, sao cho không còn có thể có sự loại trừ nào nữa”[18].

Các ý thức hệ đánh trúng vào trọng tâm của Tin mừng

  1. Tôi tiếc rằng các ý thức hệ đôi khi cũng đưa dẫn chúng ta tới hai sai lầm tai hại. Một mặt, có sự sai lầm của các Kitô hữu, những người tách những đòi hỏi của Tin mừng ra khỏi mối tương quan đích thân của họ với Chúa, khỏi sự hợp nhất nội tâm với Ngài, khỏi việc mở ra cho ân sủng Ngài. Vì thế, Kitô giáo trở thành một thứ NGO (tổ chức phi chính phủ) bị tước mất thực tại thần nhiệm minh bạch có bằng chứng rõ ràng trong cuộc đời Thánh Phanxicô Assisi, Thánh Vincent Phaolô, Thánh Têrêsa Calcutta và nhiều vị thánh khác. Đối với các vị đại thánh này, tâm nguyện, lòng yêu mến Thiên Chúa và việc đọc Tin mừng không lấy mất của các ngài việc dấn thân cách hăng say và hiệu quả cho đồng loại, trái lại là khác.
  2. Một sai lầm tai hại khác về ý thức hệ ta tìm được trong những người nghi ngờ về sự dấn thân xã hội của những ngưởi khác, coi đó là giả hình, thế tục, trần tục, theo chủ nghĩa duy vật, theo cộng sản hay theo chủ nghĩa dân túy. Hay họ lại tương đối hóa việc dấn thân ấy, như thể còn những vấn đề khác quan trọng hơn, hay một điều duy nhất đáng kể là vấn đề đạo đức đặc biệt duy nhất hay một nguyên nhân chính họ phải bảo vệ. Việc ta bảo vệ các thai nhi vôi tội chẳng hạn, cần phải làm rõ, chắc chắn và hăng say, vì phẩm giá của cuộc sống con người đang bị đe dọa, một sự sống bao giờ cũng thánh thiêng và đòi hỏi tình yêu đối với mỗi người, bất kể tình trạng phát triển của họ tới đâu. Tuy nhiên, cũng thánh thiêng không kém là cuộc sống của những người nghèo, những người đã được sinh ra rồi, những người thiếu thốn, những người bị bỏ rơi và những người không có đặc quyền, đặc lợi, những người mỏng dòn yếu đuối và những người già cả dễ rơi vào trong những cái chết êm dịu bí mật, những nạn nhân của nạn buôn người, những hình thức nô lệ mới và mọi hình thức loại bỏ[19]. Ta không thể tán thành lý tưởng của sự thánh thiện nào không đếm xỉa gì tới bất công trong một thế giới nơi một số ít đang chè chén say sưa, tiêu sài hoang phí và chỉ sống vì những mặt hàng mới nhất, cả khi những người khác chỉ biết đứng ngó từ xa, sống trọn đời trong cảnh lầm than khốn khổ.
  3. Ta thường nghe nói rằng, vì chủ nghĩa tương đối và vì những rạn nứt của thế giới hiện nay, hoàn cảnh của những người di dân chẳng hạn, là một vấn đề ít quan trọng hơn. Một số người Công giáo coi đó là vấn đề phụ so với những vấn đề “nặng” về đạo đức sinh học. Việc một chính trị gia nào đó tìm phiếu nói thế thì cũng có thể hiểu được, nhưng một Kitô hữu mà nói thế thì không thể được, vì thái độ đúng đắn của Kitô hữu là đặt mình trong địa vị của anh chị em mình, những người đang liều mạng để đem lại tương lai cho con em họ. Ta không thể nhận ra rằng đây chính là điều Chúa Giêsu đòi hỏi ta, khi Ngài bảo ta khi ta đón tiếp khách lạ là đón tiếp chính Ngài sao? (x. Mt 25, 35). Thánh Benedicto luôn sẵn sàng làm thế và tuy làm thế thường làm cho đời sống của các đan sĩ “phức tạp thêm”, ngài vẫn ra lệnh phải đón tiếp mọi người khách gõ cửa tu viện bằng thái độ tôn kính[20], “như đón tiếp Đức Kitô” vậy[21], phải gặp gỡ những người nghèo và hành khất “với sự quan tâm và âu lo nhất”[22].
  4. Ta cũng tìm được một cách thế tương tự trong Cựu Ước: “Người ngoại kiều ngươi không được ngược đãi và ức hiếp vì chính các ngươi đã là ngoại kiều trong đất Ai cập” (Xh 22, 21). “Khi có người ngoại kiều cư ngụ với các ngươi trong xứ các ngươi, các ngươi đừng ức hiếp nó, các ngươi phải đối xử với người ngoại kiều cư ngụ với các ngươi như một người bản xứ, một người trong các ngươi, vì các ngươi đã từng là ngoại kiều tại đất Ai cập” (Lv 19, 33 – 34). Đây không phải là một khái niệm do một Đức Giáo Hoàng nào đó sáng chế ra, hay là một ham mê nhất thời. Cũng trong thế giới hôm nay, ta được kêu gọi đi theo con đường khôn ngoan thiêng liêng ngôn sứ Isaia đề nghị để chứng tỏ cái gì làm vui lòng Thiên Chúa. “Đó chẳng phải là chia cơm sẻ áo cho đói, cho người vô gia cư một chỗ cư ngụ; khi ngươi thấy kẻ mình trần, hay cho nó mặc, đứng ngoảnh mặt làm ngơ với người cốt nhục. Khi ấy ánh sáng của ngươi sẽ bất lệ như bình minh chiếu tỏa” (58, 7 – 8).

Một việc phụng thờ đáng được Thiên Chúa chấp nhận nhất

  1. Ta có thể nghĩ rằng ta chỉ tôn vinh Thiên Chúa qua việc thờ phượng và cầu nguyện của ta hay cách đơn giản qua việc theo đuổi một số qui tắc đạo đức nào đó. Đúng là ưu tiên hàng đầu thuộc về mối tương quan của ta với Thiên Chúa, nhưng ta vẫn không thể quên rằng tiêu chuẩn cuối cùng qua đó ta sẽ bị xét xử là những gì ta đã làm cho những người khác. Cầu nguyện cao quý nhất, vì dưỡng nuôi việc dấn thân hằng ngày cho tình yêu. Việc thờ phượng của ta làm vui lòng Thiên Chúa khi ta hiến mình sống cách quảng đại và để cho ơn Thiên Chúa, được ban trong cầu nguyện, tỏa sáng trong mối bận tâm của ta về anh chị em mình.
  2. Tương tự, cách tốt nhất để phân định xem cầu nguyện có chân thành không là xem xem cuộc sống của ta được biến đổi tới mức nào dưới ánh sáng của lòng xót thương. Vì “lòng thương xót không chỉ là một hành động của Chúa Cha; lòng thương xót ấy đang trở thành tiêu chuẩn để khẳng định ai thực sự là con cái Ngài”[23]. Lòng thương xót “chính là nền tảng của đời sống Hội thánh”[24]. Trong lãnh vực này, tôi xin nhắc lại rằng lòng thương xót không loại trừ sự công chính và sự thật; quả thế, “ta phải nói rằng lòng thương xót là sự viên mãn của sự công chính và là sự thể hiện chói ngời của sự thật của Thiên Chúa”[25]. Đó là “chìa khóa nước trời”[26].
  3. Ở đây, tôi nghĩ tới Thánh Tôma Aquinô, người đã đặt câu hỏi các hành động nào của ta là những hành động cao cả nhất, các công việc bên ngoài nào cho thấy rõ tình yêu của ta dành cho Thiên Chúa. Thánh Tôma trả lời cách không do dự rằng đó là những công việc của lòng xót thương hướng đến đồng loại ta[27], những việc ấy thậm chí còn hơn cả các hành vi thờ phượng: “Ta tôn thờ Thiên Chúa qua các lễ hy sinh và lễ vật bên ngoài, không phải vì lợi ích của Ngài, nhưng vì lợi ích của ta và của đồng loại ta. Vì Ngài không cần những lễ hy sinh của ta, nhưng Ngài muốn các hy tế ấy được dâng lên cho Ngài để khơi gợi lòng đạo đức của ta và để mưu ích cho đồng loại ta. Vì thế, lòng xót thương, nhờ đó, ta bổ khuyết cho các khiếm khuyết của tha nhân, chính là một lễ hy sinh đáng được Ngài chấp nhận hơn, vì trực tiếp đem lại hạnh phúc cho đồng loại ta hơn”[28].
  4. Những ai thật sự muốn đem lại vinh quang cho Thiên Chúa bằng đời sống mình, những ai thật sự muốn lớn lên trong sự thánh thiện, đều được kêu gọi chuyên tâm và kiên trì trong việc thực hành các công việc của lòng xót thương. Thánh Têrêsa Calcutta rõ ràng công nhận điều này: “Vâng, tôi có nhiều lầm lỗi và thất bại của con người… Nhưng Thiên Chúa vẫn cúi xuống và sử dụng ta, bạn và tôi, để ta là tình yêu và lòng xót thương của Ngài trên thế giới này; Ngài mang lấy các tội lỗi, các phiền hà và khuyết điểm của ta. Ngài lệ thuộc ta trong việc yêu thương thế gian này và cho thấy Ngài yêu thế gian ấy biết chừng nào. Nếu ta quá quan tâm đên mình, ta sẽ không còn giờ để quan tâm tới tha nhân”[29].
  5. Chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa tiêu thụ có thể chứng tỏ sự suy sụp của ta, vì khi ta bị ám ảnh bởi thú vui của mình, ta thường kết cục trong việc quá quan tâm tới mình và quyền lợi của mình và ta cảm thấy một nhu cầu muốn có giờ rảnh cách tuyệt vọng để tận hưởng hạnh phúc. Ta sẽ thấy khó cảm thấy và bày tỏ sự quan tâm thật đối với những người thiếu thốn, trừ phi ta có thể vun trồng một sự giản dị nào đó của cuộc sống, hạn chế các đòi hỏi bệnh hoạn của một xã hội tiêu thụ, một xã hội luôn bỏ mặc ta nghèo khổ và thèm khát, bồn chồn muốn có mọi sự ngay tức khắc. Tương tự, khi ta để mình bị cuốn vào trong thông tin bên ngoài, vào việc tuyền thông mau qua và vào thực tại ảo, ta có thể phung phí thời giờ vàng ngọc và hờ hững với các xác thịt đau khổ của anh chị em mình. Nhưng ngay cả và ở giữa cơn lốc của hoạt động này, thì Tin mừng vẫn tiếp tục âm vang, đem lại cho ta lời hứa về một cuộc đời khác, một cuộc đời lành mạnh và hạnh phúc hơn.
  6. Chứng tá mạnh mẽ của các thánh được mặc khải trong cuộc đời của các ngài, được hình thành bởi các Mối phúc và bởi tiêu chuẩn của cuộc phán xét sau cùng. Những lời của Chúa Giêsu ít và rất thẳng thắn, nhưng thực tế và vững chắc cho mọi người, vì Kitô giáo, hơn ai khác, phải đem ra thực hành. Đó cũng là đối tượng của việc nghiên cứu và suy tư nhưng chỉ để giúp ta sống Tin mừng cách tốt đẹp hơn trong đời sống hằng ngày. Tôi đề nghị thường xuyên đọc lại những bản văn Kinh thánh quan trọng này, quay về lại với những đoạn ấy, cầu nguyện với chúng và cố gắng cụ thể hóa những đoạn ấy. Chúng sẽ đem lại lợi ích cho ta; chúng sẽ làm cho ta hạnh phúc thật.

Chuyển ngữ: Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R.

Chú thích:

[1] Cf. Homily at Mass in Casa Santa Marta, 9 June 2014: L’Osservatore Romano, 10 June 2014, p. 8.

[2] Thứ tự của mối thứ hai và thứ ba khác theo các truyền thống văn bản khác nhau.

[3] Spiritual Exercises, 23d.AAS 107 (2015), 407.

[4] Manuscript C, 12r.

[5] Từ thời các Giáp phụ, Hội thánh đã coi trọng việc rơi nước mắt, như ta thấy trong lời cầu nguyện rất hay này “Ad petendam conpunctionem cordis”. Lời ấy có nghĩa là: lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu nhất, Đấng đã làm cho nước sự sống vọt ra từ tảng đá cho đoàn dân đang khát: xin đem lại nước mắt ăn năn từ những tâm hồn chai đá, để chúng con đau đớn về những tội lỗi của chúng con và nhờ lòng nhân từ của Chúa, chúng con được thứ tha” (x. Missale Romanum, ed. typ. 1962, p. [110]).

[6] Giáo lý của Hội thánh Công giáo 1789; Xem 1970.

[7] Ibid., 1787.

[8] Sự điên cuồng và vu khống là những hành vi khủng bố: một quả bỏ được thả, nó nổ tung và những kẻ tấn công lặng lẽ bỏ đi, hài lòng. Điều ấy khác hẳn với sự cao cả của những người luôn trực tiếp nói với tha nhân, cách thanh thản và chân thành, vì tha thiết với lợi ích của những người ấy.

[9] Đôi khi, có thể cần phải nói về những khó khăn của một anh chị em nào đó. Trong những trường hợp như thế, điều cần phải làm là chuyển giao một giải thích sự việc khách quan. Tình cảm có thể gây hiểu lầm và làm sai lạc các sự kiện của vấn đề, và khi được truyền đi thì đã ắp đầy những yếu tố chủ quan. Như thế, cả các sự kiện, tự chúng chũng như sự thật đều không được tôn trọng.

[10] Apostolic Exhortation, Evangelii Gaudium (24 November 2013), 218: AAS 105 (2013), 1110.

[11] Ibid., 239: 1116.

[12] Ibid., 227: 1112.

[13] Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 41c: AAS 81 (1993), 844-845.

[14] Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 49: AAS 93 (2001), 302.

[15] Ibid.

[16] Tự Sắc, Misericordiae Vultus (11 April 2015), 12:

[17] Ta nhớ lại cách xử sự của người Samarita Nhân hậu khi gặp một người bị bọn cướp tấn công và bỏ mặc cho chết (x. Lc 10, 30 – 37).

[18] ỦY BAN CÁC CÔNG VIỆC XÃ HỘI CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC CÔNG GIÁO CANADA, Thư ngỏ gửi cho các thành quốc hội, The Common Good or Exclusion: A Choice for Canadians (1 February 2001), 9.

[19] Hội Dồng giám mục Châu Mỹ Latinh và Carribe lần thứ năm, làm vang vọng giáo huấn muôn đời của Hội thánh, tuyên bố rằng con người “bao giờ cũng thánh thiêng, ngay từ lúc mới được cưu mang, ở mọi giai đoạn của sự sống, cho tới cái chết tự nhiên và sau khi chết”, và sự sống ấy phải được canh giữ “ngay từ lúc mới được cưu mang, trong mọi giai đoạn, cho tới cái chết tự nhiên” (Aparecida Document, 29 June 2007, 388; 464).

[20] Qui luật.

[21] Qui luật, 53, 1: PL 66, 749.

[22] Ibid., 53, 15: PL 66, 751.

[23] Tự sắc Misericordiae Vultus (11 April 2015), 9: AAS 107 (2015), 405.

[24] Ibid., 10, 406.

[25] Tông huấn, Hậu Thượng Hội Đồng Giám mục, Amoris Laetitia (19 March 2016), 311: AAS 108 (2016), 439.

[26] Tông huấn Evangelii Gaudium (24 November 2013), 197: AAS 105 (2013), 1103.

[27] Cf. Summa Theologiae, II-II, q. 30, a. 4.

[28] Ibid., ad 1.

[29] Cited (in Spanish translation) in: Cristo en los Pobres, Madrid, 1981, 37-38.

 

CHƯƠNG IV

CÁC DẤU CHỈ CỦA SỰ THÁNH THIỆN TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

  1. Trong khuôn khổ của sự thánh thiện do các Mối phúc và Tin mừng Mathêu 25, 31 – 46 đem lại, tôi xin đề cập tới một ít dấu chỉ hay thái độ tâm linh mà, theo tôi, là cần thiết, nếu ta phải hiểu cách sống Chúa mời gọi ta. Tôi sẽ không dừng lại để giải thích các phương thế của ơn thánh hóa mà ta đã biết rồi: các phương pháp cầu nguyện khác nhau, các bí tích vô giá là Thánh thể và Hòa giải, việc dâng các hy sinh của bản thân, các hình thức đạo đức khác nhau, việc hướng dẫn thiêng liêng cũng như nhiều phương thế khác. Ở đây, tôi sẽ chỉ nói về một số khía cạnh của lời mời gọi nên thánh mà tôi hy vọng sẽ chứng minh có ý nghĩa đặc biệt.
  2. Các dấu chỉ tôi muốn nhấn mạnh không phải là một sự tóm tắt toàn diện một mô hình nào đó của sự thánh thiện, nhưng đó là năm cách diễn tả quan trọng của tình yêu dành cho Thiên Chúa và người thân cận tôi cho là có tầm quan trọng đặc biệt dưới ánh sáng của những nguy hiểm và giới hạn vốn có trong nền văn hóa hiện nay. Trong nền văn hóa ấy, ta thấy được một cảm thức âu lo, đôi khi bạo động, làm rối trí và suy nhược; ta thấy sự tiêu cực và ảm đạm; một sự tự mãn được chủ nghĩa tiêu thụ nuôi dưỡng; chủ nghĩa cá nhân; và mọi hình thức của một nền linh đạo thế phẩm – chẳng có liên quan gì tới Thiên Chúa – đang thống trị thị trường tôn giáo hiện nay.

SỰ KIÊN TRÌ, KIÊN NHẪN VÀ HIỀN LÀNH

  1. Dấu chỉ đầu tiên trong các dấu chỉ quan trọng này là việc đặt nền vững chắc trong Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và chống đỡ cho ta. Nguồn sức mạnh nội tâm này làm cho ta có thể kiên trì giữa những thăng trầm của cuộc sống, nhưng cũng làm cho ta có thể chịu đựng được sự thù địch, phản bội và thất bại về phía những người khác. “Nếu Thiên Chúa bênh đỡ ta, ai còn chống lại được ta?” (Rm 8, 31): đây là nguồn bình an ta tìm được nơi các thánh. Sức mạnh nội tâm này làm cho ta có thể làm chứng cho sự thánh thiện nhờ sự kiên nhẫn và trung kiên trong việc làm điều tốt trong thế giới bước nhanh, ồn ào và hung hãn này. Đó là dấu chỉ của sự trung thành nẩy sinh từ tình yêu, vì những ai đặt niềm tin vào Thiên Chúa (pistis) đều có thể trung thành với người khác (pistos). Họ không bỏ mặc người khác trong những lúc hiểm nghèo; họ đồng hành với những người ấy trong sự băn khoăn và đau đớn của họ dù làm thế có thể không đem lại sự vui thỏa tức thời.
  2. Thánh Phaolô nói với tín hữu Rôma đừng lấy ác báo ác (x. Rm 12, 17), đừng trả thù (c. 19) và đừng để cho sụ ác thắng được mình, nhưng hãy để cho sự lành thắng sự dữ” (c. 21). Thái độ này không phải là dấu chỉ của sự yếu hèn nhưng là của sức mạnh thật, vì chính Thiên Chúa cũng “chậm giận và sức mạnh của Ngài thật phi thường” (Nk 1, 3). Lời Chúa khuyên chúng ta “Đừng bao giờ chua cay, gắt gỏng, nóng nảy giận hờn hay la lối thóa mạ và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác” (Ep 4, 31).
  3. Ta cần nhận ra và chiến đấu với những xu hướng hung hăng và ích kỷ của ta, và không để cho chúng mọc rễ. “Anh em có giận thì giận nhưng đừng phạm tội, đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4, 26). Khi cảm thấy bị lấn át, ta có thể không ngừng bám vào việc cầu nguyện, việc ấy sẽ đặt ta lại vào trong bàn tay của Thiên Chúa và nguồn bình an của ta. “Anh em đừng lo lắng chi, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời khẩn cầu, van xin và tạ ơn mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh cầu. Và bình an của Thiên Chúa, vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ canh giữ linh hồn anh em…” (Pl 4, 6 – 7).
  4. Kitô hữu cũng có thể bị vướng vào các mạng lưới của bạo lực bằng lời nói qua internet và những diễn đàn khác nhau của việc truyền thông kỹ thuật số. Ngay cả truyền thông Công giáo, người ta cũng có thể đạp lên các giới hạn, việc phỉ báng và nói hành nói xấu có thể trở thành bình thường, và mọi tiêu chuẩn đạo đức và việc tôn trọng danh thơm tiếng tốt người khác cũng bị người ta dẹp bỏ. Kết quả là một sự phân đôi nguy hiểm, vì những gì người ta nói ở đó, thường là những điều không thể chấp nhận được trong diễn đàn công khai, và người ta tìm cách trả thù cho những bất bình của mình bằng cách bất ngờ đá vào người khác. Điều bất công là có khi vì quả quyết muốn giữ các điều răn khác, người ta đã coi nhẹ điều răn thứ tám, điều răn cấm làm chứng dối hay nói dối và đã nhẫn tâm phỉ báng tha nhân. Ở đây, ta thấy miệng lưỡi không được canh giữ, bén lửa hỏa ngục, đốt cháy hết mọi sự (x. Gcb 3, 6).
  5. Sức mạnh nội tâm, vì là công việc của ân sủng, bao giờ cũng ngăn chặn ta khỏi bị bạo động, một phần của cuộc sống hiện nay, cuốn trôi, vì ân sủng xoa dịu kiêu hãnh và làm cho có thể có được sự dịu hiền của tâm hồn. Các thánh không phí sức trong việc càm ràm về những thất bại của người khác; các ngài có thể giữ mồm giữ miệng trước những lầm lỗi của anh chị em mình và tránh bạo động bằng lời nói là những thứ thường hạ bệ và đối xử tàn tệ với người khác. Các thánh rất ngại đối xử với người khác cách thô bỉ; các ngài luôn coi tha nhân hơn bản thân mình (x. Pl 2, 3).
  6. Không tốt khi ta khinh khi người khác như các thẩm phán nhẫn tâm, khống chế và lúc nào cũng cố lên lớp người ta. Điều ấy tự nó là một hình thức tinh tế của bạo lực[1]. Thánh Gioan Thánh giá đề nghị một con đường khác: “Hãy luôn luôn thích được mọi người dạy bảo, hơn là muốn dạy cả những người nhỏ bé nhất”[2]. Và ngài thêm lời khuyên về cách giữ cho ma quỉ không đến gần mình: “Hãy vui mừng vì điều tốt của người khác như thể đó là điều tốt của bạn và mong ước rằng họ luôn được ưu tiên hơn bạn trong mọi sự; đây là điều bạn phải làm hết mình. Nhờ đó bạn sẽ thắng được sự dữ bằng sự tốt lành, sẽ xua trừ ma quỉ và có được một tâm hồn hạnh phúc. Hãy cố thực hành điều này hơn nữa với những người ít hấp dẫn bạn nhất. Hãy nhớ rằng nếu không huấn luyện mình theo cách này, bạn sẽ không đạt được đức ái thật hay không tiến bộ gì về đức ái cả”[3].
  7. Khiêm tốn chỉ có thể cắm rễ sâu trong tâm hồn nhờ những việc chịu sỉ nhục. Không có những sỉ nhục ấy, không có sự khiêm nhường hay thánh thiện. Nếu bạn không thể chịu đau khổ và hiến dâng một ít sỉ nhục, bạn không khiêm tốn và không đi trên con đường tiến tới sự thánh thiện. Sự thánh thiện Thiên Chúa ban cho Hội thánh Ngài đến nhờ tình trạng bị lăng nhục của Con Ngài. Ngài là đường. Việc chịu sỉ nhục làm cho ta giống Chúa Giêsu; đó là một khía cạnh không thể tránh được của việc bắt chước Chúa Giêsu. Vì “Đức Kitô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại cho anh em một gương sáng, để anh dõi bước theo Ngài (1 Pr 2, 21). Đến lượt mình, Ngài cũng đã mặc khải sự khiêm nhường của Chúa Cha, Đấng luôn hạ mình xuống để đồng hành với dân Ngài, chịu đựng những bất trung và trách móc của họ (x. Xh 34, 6 – 9; Kn 11, 23 – 12, 2; Lc 6, 36). Vì lý do đó, các Tông đồ, sau khi chịu sỉ nhục, đã vui sướng hân hoan vì “được kể là xứng đáng chịu khinh miệt vì danh [Chúa Giêsu]” (Cv 5, 41).
  8. Ở đây, tôi không chỉ nói về những hoàn cảnh khắc nghiệt của việc tử vì đạo, mà còn nói về những sự chịu nhục hằng ngày của những người giữ im lặng để cứu gia đình, những người thích ca tụng tha nhân hơn là huênh hoang về chính mình hay những người chọn những công việc ít người thích, đôi khi còn chọn mang lấy bất công để dâng lên cho Chúa. “Nếu anh em làm việc lành mà phải chịu đau khổ thì đó là ơn Thiên Chúa ban” (1Pr 2, 21). Điều này không có nghĩa là cúi gằm mặt bước đi, không nói một lời hay trốn tránh bầu bạn với tha nhân. Đôi khi, chính vì được giải thoát khỏi ích kỷ, mà một người nào đó có thể dám bày tỏ bất đồng cách nhẹ nhàng, dám đòi hỏi công lý hay bảo vệ những người yếu thế trước những người quyền thế, dù làm thế có thể làm tổn hại danh dự mình.
  9. Tôi không bảo rằng việc chịu sỉ nhục như thế rất đẹp, vì đó thường là một thứ khổ dâm, nhưng tôi bảo rằng đó là một cách noi gương Chúa Giêsu và lớn lên trong sự hiệp thông với Ngài. Dựa vào mức độ tự nhiên, thì đây là điều không thể hiểu được và thế gian bao giờ cũng bôi bác bất cứ khái niệm nào như thế. Nhưng, đó là một ơn ta phải tìm trong cầu nguyện: “Lạy Chúa, khi những điều nhục nhã tới, xin giúp con biết rằng con đang theo bước chân Ngài”.
  10. Hành động theo cách này giả thiết phải có một tâm hồn bình an do Đức Kitô ban, được giải thoát khỏi sự hung hăng nẩy sinh từ lòng tự cao tự đại. Sự bình an ấy, kết quả của ân sủng, làm cho ta bền đỗ trong sự tin tưởng nội tâm và trong sự tốt lành, “dù ta đang bước đi trong thung lũng của bóng tối sự chết” (Tv 23, 4) hay “một đạo quân vây đánh tôi” (Tv 27, 3). Đứng vững trong Chúa, Đá tảng, ta có thể hát vang: “Thư thái bình an vừa nằm con đã ngủ; vì chỉ mình Ngài, Lạy Chúa, làm cho con được nghỉ ngơi an toàn” (Tv 4, 8). Tóm lại, Đức Kitô “là sự bình an của ta” (Lc 1, 79). Như Ngài nói với Thánh Faustina Kowaiska: “Nhân loại sẽ không có hòa bình cho tới khi biết đặt tin tưởng vào lòng xót thương của Thầy”[4]. Vì thế ta đừng để mình bị cám dỗ tìm kiếm sự an toàn trong thành công, trong các vui thú phù vân, trong của cải, quyền lực trên người khác hay tình trạng xã hội. Chúa Giêsu nói: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em; thầy không ban như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27).

NIỀM VUI VÀ CẢM THỨC VỀ SỰ HÀI HƯỚC

  1. Khác với nhút nhát, buồn rầu, gay gắt hay u uất, hoặc mang bộ mặt chán chường, các thánh luôn vui tươi và đầy hài hước. Tuy rất thực tế, nhưng các ngài luôn phản ánh một tinh thần tích cực và tràn trề hy vọng. Đời sống Kitô hữu là “niềm hân hoan trong Chúa Thánh Thần” (Rm 14, 17), vì “hoa quả thiết yếu của đức ái là vui mừng; vì mọi người đang yêu đều hân hoan vì được hợp nhất với người mình yêu… hoa quả của đức ái là niềm vui[5]. Vì đón nhận ơn lành của lời Thiên Chúa, ta ấp ủ niềm vui “trong rất nhiều thương đau, với niềm vui do Chúa Thánh Thần gợi hứng” (1 Thes 1, 6). Nếu ta để Chúa kéo ta ra khỏi vỏ bọc của ta và thay đổi cuộc sống, ta có thể làm như thánh Phaolô nói với ta: “hãy vui luôn trong Chúa, tôi xin nhắc lại, hãy vui lên!” (Pl 4, 4).
  2. Các ngôn sứ loan báo thời của Chúa Giêsu, tức thời ta đang sống, là thời bày tỏ niềm vui. “Hãy reo hò, mừng rỡ!” (Is 12, 6). “Hãy trèo lên núi cao, hỡi kẻ loan báo Tin mừng cho Sion, hãy cất tiếng lên cho thật mạnh, hỡi kẻ loan Tin mừng cho Giêrusalem” (Is 40, 9). “Trời hãy hò reo, đất hãy múa nhảy, núi non hãy bật tiếng reo hò, vì Chúa an ủi dân Ngài đã chọn và chạnh thương những kẻ nghèo khổ của Ngài” (Is 49, 13). “Hãy vui lên, hỡi nữ tử Sion! Reo lớn lên, hỡi con gái Giêrusalem! Kìa, vua ngươi đang đến với ngươi; Đấng oai hùng, chiến thắng chính là ngài!” (Za 9, 9). Ta cũng không được quên lời khuyến dụ của Nehemia: “Đừng sầu thương khóc lóc, vì niềm vui của Chúa là sức mạnh của anh em” (Nhm 8, 10).
  3. Đức Maria, vì nhận ra sự mới mẻ Chúa Giêsu mang tới, đã hát: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng” (Lc 1, 47), và chính Chúa Giêsu cũng “hân hoan trong Chúa Thánh Thần” (Lc 10, 21). Khi Ngài đi ngang, “toàn dân vui mừng” (Lc 13, 17). Sau khi Chúa phục sinh, các môn đệ đi đến đâu, ở đó “chứa chan niềm vui” (Cv 8, 8). Chúa Giêsu bảo đảm với ta: “Anh em sẽ đau buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ thành niềm vui… thầy sẽ gặp lại anh em và lòng anh em sẽ tràn ngập niềm vui, và không ai lấy mất được niềm vui của anh em” (Ga 16, 20, 22). “Những điều này, thầy đã nói với anh em để niềm vui của thầy có ở nơi anh em, và niềm vui của anh em còn mãi” (Ga 15, 11).
  4. Thời buổi khó khăn sẽ đến, khi bóng thập giá ngả xuống che phủ, nhưng không gì có thể phá hủy niềm vui siêu nhiên “đang thích nghi và thay đổi, nhưng bao giờ cũng tồn tại, khi ánh sáng lung linh xuất phát từ lòng tin vững chắc của bản thân ta rằng, khi mọi sự được nói và làm, ta sẽ được yêu thương vô bờ bến[6]. Niềm vui đó đem lại sự bình an sâu thẳm, một niềm hy vọng sáng ngờ và một sự hoàn chỉnh thiêng liêng thế gian không thể hiểu và lượng giá được.
  5. Niềm vui Kitô giáo thường đi kèm với cảm thức về sự hài hước. ta thấy được điều này rất rõ, trong Thánh Tô ma More, Thánh Vincent Phaolô, và Thánh Philip Neri III. Hài hước không phải là dấu chỉ của sự thánh thiện. “Hãy dẹp bỏ những bực dọc khỏi tâm trí” (Hc 11, 10). Ta nhận được rất nhiều tứ Chúa “để ta hưởng dùng” (1Tim 6, 17) đến độ nỗi buồn có thể là dấu chỉ của sự vô ơn. Ta có thể qui vào mình đến độ ta không thể nhận ra những ân huệ của Thiên Chúa[7].
  6. Với tình yêu của một người cha, Thiên Chúa nói với ta: “Con ơi, hãy xứ tốt với mình… Đừng tước mất của mình một ngáy hạnh phúc” (Sir 14, 11, 14). Ngài muốn ta tích cực, biết ơn và giản dị: “Trong ngày thịnh vượng, hãy hân hoan… Thiên Chúa đã tạo dựng con người thẳng thắn, nhưng họ đã bày ra lắm kế nhiều mưu” (Eccl 7, 14, 29). Bất cứ trường hợp nào, ta cũng phải kiên trì và noi gương thánh Phaolô: “Tôi đã biết bằng lòng với những gì tôi có” (Pl 4, 11). Thánh Phanxicô Assisi sống nhờ điều này; ngài có thể dạt dào lòng biết ơn chỉ vì một miếng bánh mì khô, hay hân hoan ca tụng Thiên Chúa chỉ vì một làn gió mát thoảng trên mặt ngài.
  7. Đây không phải là một niềm hân hoan do nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân hay tiêu thụ đưa ra. Chủ nghĩa tiêu thụ chỉ làm tâm hồn sưng phồng lên. Chủ nghĩa ấy chỉ có thể đem lại những niềm vui nhất thời chóng qua, chứ không đem lại niềm hân hoan. Ở đây, tôi đang nói tới một niềm hân hoan được sống trong sự hiệp thông, một niềm hân hoan chia sẻ và được sẻ chia, vì “cho thì có phúc hơn nhận” (Cv 20, 35) và “Thiên Chúa yêu thương những người cho cách vui vẻ” ( 2 Cr 9, 7). Tình yêu thương huynh đệ làm tăng khả năng vui mừng, vì làm cho ta có thể vui vì sự tốt lành của tha nhân: “Hãy vui với người vui” (Rm 12, 15). “Chúng tôi vui mừng khi chúng tôi yếu đuối còn anh em mạnh mẽ” (2 Cr 13, 9). Mặt khác, khi ta “tập trung trước tiên vào các nhu cầu của mình, ta sẽ buộc mình với một cuộc sống không có niềm vui[8].

SỰ DŨNG CẢM VÀ SAY MÊ

  1. Thánh thiện cũng là parrhesia. Đó là sự dũng cảm, là một thôi thúc phải Tin mừng hóa và để lại dấu ấn trên trần gian này. Để ta làm được điều ấy, chính Chúa Giêsu luôn đến và nói với ta một lần nữa, nhẹ nhàng nhưng chắc nịch: “Đừng sợ!” (Mc 6, 50). “Thầy ở với anh em mọi ngày cho tới tận thế” (Mt 28, 20). Những lời này làm ta có thể ra đi và phục vụ cùng với sự can trường mà Chúa Thánh Thần khơi lên nơi các Tông đồ, buộc họ phải loan báo Đức Giêsu Kitô. Dũng cảm, nhiệt thành, tự do nói ra, lòng nhiệt thành tông đồ, tất cả những điều này đều được bao hàm trong từ ngữ Kinh thánh cũng sử dụng từ ngữ này để mô tả sự tự do của một cuộc sống biết mở ra Thiên Chúa và tha nhân (x. Cv 4, 29; 9, 28; 28, 31; 2 Cr 3, 12; Ep 3, 12; Hr 3, 6; 10, 19).
  2. Chân phước Phaolô VI, khi ám chỉ tới những trở ngại của việc Tin mừng hóa, đã nói về sự thiếu tha thiết (parrhesia) sự thiếu ấy “nghiêm trọng hơn vì xuất phát từ bên trong”[9]. Biết bao lần ta đã bị cám dỗ bám lấy bờ! Nhưng Chúa lại gọi chúng ta ra chỗ nước sâu thả lưới (x. Lc 5, 4). Ngài bảo ta dành trọn cuộc đời phục vụ Ngài. Bám vào Ngài, ta được gợi hứng đạt tất cả đặc sủng của ta vào việc phục vụ tha nhân. Ước gì ta luôn tình yêu của Ngài thúc bách (2 Cr 5, 14) và luôn nói với thánh Phaolô: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng” (1 Cr 9, 16).
  3. Hãy nhìn Chúa Giêsu. Lòng thương xót thẳm sâu của Ngài đã đạt tới người khác. Lòng thương xót ấy không làm cho Ngài do dự, nhút nhát hay e dè, như thường xảy ra với ta. Trái lại là khác. Lòng thương xót ấy làm cho Ngài chủ động đi ra rao giảng và sai người khác đi làm sứ vụ chữa lành và giải thoát. Ta hãy nhìn nhận những yếu hèn của ta, nhưng hãy để Chúa Giêsu nắm lấy chúng và sai ta đi vào sứ vụ. Ta yếu hèn, nhưng ta đang giữ một kho tàng có thể làm ta phát triển và làm cho những ai đón nhận kho tàng ấy trở nên tốt hơn và hạnh phúc hơn. Dũng cảm và lòng can đảm của người tông đồ là một phần rất quan trọng của sứ vụ.
  4. Parrhesiachính là ấn tín của sự can thiệp của Thần khí; nó làm chứng cho sự chân thật của việc rao giảng của ta. Đó là một bảo đảm vui mừng đưa ta tới vinh quang trong Tin mừng ta công bố. Đó là sự tin tưởng không lay chuyển vào vị Chứng nhân trung thành Đấng luôn bảo đảm với ta rằng không gì có thể “tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa” (Rm 8, 39).
  5. ta cần sự can thiệp của Chúa Thánh Thần để khỏi bị sợ hãi và sự thận trọng quá đáng làm cho thành đờ đẫn, để khỏi quen với việc ở trong các biên giới an toàn. Ta hãy nhớ rằng không gian khép kín thường bụi bặm và không khỏe mạnh. Khi bị cám dỗ để cho những đe dọa và sợ hãi làm cho mình thành tê liệt, các Tông đồ đã họp nhau cầu nguyện xin ơn parrhesia: “Và nay lạy Chúa, xin nhìn đến những lời ngăm đe của họ, và ban cho các tôi Chúa ơn bạo dạn nói lời Ngài” (Cv 4, 29). Kết quả là, “khi các ngài cầu nguyện, thì chỗ các ngài đang họp nhau bỗng rung chuyển; và các ngài được đầy Chúa Thánh Thần và nói lời Thiên Chúa các hiên ngang” (Cv 4, 31).
  6. Hệt như ngôn sứ Giôna, ta cũng thường xuyên bị cám dỗ chạy tới nơi ẩn náu an toàn. Nơi ấy có thể có nhiều tên gọi: cá nhân chủ nghĩa, chủ thuyết tinh thần, sống trong thế giới nhỏ, nghiện ngập, không khoan nhượng, từ bỏ các tư tưởng và những phương pháp mới, chủ nghĩa giáo điều, luyến tiếc quá khứ, bi quan, núp sau lề luật và qui tắc. Ta có thể không chấp nhận bỏ lại sau lưng một cách làm việc quen thuộc, dễ dàng. Nhưng những thách thức liên quan có thể vẫn như cơn bão ấy, như con cá voi ấy, như con sâu làm héo cây thầu dầu ấy, hay như nắng gió ấy thiêu đốt đầu ông Giô na. Đối với chúng ta cũng như đối với ông, các thứ ấy có thể giúp đưa ta trở về lại với vị Thiên Chúa hiền lành, Đấng luôn mời gọi ta lên đường cách luôn luôn mới.
  7. Thiên Chúa là sự mới mẻ muôn đời. Ngài buộc ta cũng khởi sự cách luôn luôn mới, vượt ra ngoài những thứ quen thuộc, tới các vùng ven và vượt ra ngoài những vùng ấy. Ngài đưa ta tới những nơi nhân loại đang bị thương tích nhất, nơi con người cả nam lẫn nữ, dưới vẻ chuẩn mực nông cạn bên ngoài, vẫn không ngừng tìm kiếm giải đáp cho vấn nạn về ý nghĩ của cuộc sống. Thiên Chúa không sợ gì! Ngài không hề sợ! Bao giờ Ngài cũng hơn các chương trình và kế hoạch của ta. Không sợ các vùng ven, chính Ngài đả trờ thành một vùng ven (x. Pl 2, 6 – 8; Ga 1, 14). Vì thế, nếu ta dám đi tới các vùng ven, tha sẽ thấy Ngài ở đó; thật vậy, Ngài đã ở đó rồi. Chúa Giêsu đã ở đó rồi, ở trong cõi lòng của các anh chị em ta, trong xác thịt mang thương tích của họ, trong những rắc rối và trong nỗi buồn thăm thẳm của họ. Ngài đã ở đó rồi.
  8. Thật đấy, ta chỉ cần mở lòng ra cho Chúa Giêsu, ngài vẫn đứng đó và gõ (x. Kh 3, 20). Tuy ta cũng tự hỏi, Chúa Giêsu ở trong ta rồi, không biết có lần nào Ngài gõ cửa xin ta để Ngài trốn khỏi sự qui ngã đã nặng mùi của ta không. Trong Tin mừng, ta thấy “Chúa Giêsu đã đi qua các làng mạc, thành phố, rao giảng và mang Tin mừng Nước Thiên Chúa” ra sao (Lc 8, 1). Sau phục sinh, khi các môn đệ đi khắp nơi, Chúa đã đồng hành với họ (x. Mc 16, 20). Đó là điều vẫn đang xảy ra như kết quả của cuộc gặp gỡ thật.
  9. Hài lòng có sức cám dỗ; nó bảo ta rằng chẳng có việc gì để phải cố thay đổi cả, chẳng có gì ta có thể làm, vì đây là cách duy nhất các sự việc vẫn thế nhưng đã vẫn biết cách để tồn tại. Do sức mạnh của thói quen, ta không còn đứng vững trước sự dữ. “Việc thế nào ta cứ để thế” hay người khác đã quyết định thì cứ phải để vậy. Nhưng ta hãy để Chúa đánh thức ta khỏi tình trạng đờ đẫn, giải thoát ta khỏi sự ì ạch của ta. Ta hãy nghĩ lại các làm việc của ta; hãy mở mắt mở tai và nhất là mở lòng, để đừng hài lòng với sự việc sao cứ để vậy, mà hãy để cho lời hằng sống và hiệu quả của Chúa phục sinh khuấy động ta.
  10. Ta đang có hứng để hành động nhờ gương sáng của mọi linh mục, tu sĩ và giáo dân, những người đang dấn thân loan báo Tin mừng và phục vụ tha nhân với lòng trung thành vĩ đại, và thường phải liều mạng sống và dĩ nhiên cũng phải trả giá cho sự thoải mái của họ. Chứng tá của họ nhắc ta nhớ rằng, hơn các công chức và quan lại, Hội thánh cần các thừa sai nhiệt thành, hăng say với việc chia sẻ đời sống thật. Các thánh luôn làm ta sững sờ, vì qua đời sống mình các ngài thúc đẩy ta từ bỏ sự tầm thường buồn chán và ảm đạm.
  11. Ta hãy xin Chúa ban cho ta ân sủng để ta khỏi do dự khi Thần khí kêu gọi ta bước tới. Ta hãy cầu xin cho được ơn cam đảm của các tông đồ để chia sẻ Tin mừng với tha nhân và không cố làm cho đời sống Kitô hữu thành viện bảo tàng của những kỷ niệm. Trong mọi hoàn cảnh, xin Chúa Thánh Thần thôi thúc ta chiêm ngắm lịch sử dưới ánh sáng của Chúa Giêsu phục sinh. Theo cách này, Hội thánh sẽ không đứng im, nhưng không ngừng đón nhận những sự bất ngờ của Chúa.

TRONG CỘNG ĐOÀN

  1. Khi ta sống tách biệt với tha nhân, việc chống lại nhục dục, cạm bẫy và cám dỗ của ma quỉ và tính ích kỷ của thế gian này sẽ rất khó. Đang bị quá nhiều cám dỗ oanh tạc như hiện nay, ta có thể bị quá cô lập, có thể đánh mất cảm thức về thực tại và sự trong sáng nội tâm và dễ đầu hàng.
  2. Việc lớn lên trong sự thánh thiện là một cuộc hành trình, sát cánh cùng tha nhân trong cộng đoàn. Ta thấy được điều này trong một số cộng đoàn thánh thiện. Đôi khi, Hội thánh đã tuyên thánh cho toàn bộ những cộng đoàn đã sống Tin mừng cách anh hùng hay đã dâng cho Thiên Chúa đời sống của các thành viên của mình. Ví dụ như ta có thể nghĩ đến bảy vị sáng lập Hội dòng Tôi tớ Đức Maria, bảy nữ tu chân phước của đan viện Đức Maria Thăm viếng tại Madrid, thánh Phaolô Miki và các bạn Nhật bản tử vì đạo, thánh Anrê Teagon và các bạn Hàn quốc tử đạo hay thánh Roque Gonzales, thánh Alonso Rodriguez và các bạn Nam Mỹ tử đạo. Ta cũng nên nhớ chứng tá mới đây của các anh em Trappist Tibhirine, Algeria, những người đã được chuẩn bị như một cộng đoàn tử vì đạo. Trong nhiều cuộc hôn nhân thánh thiện, mỗi vợ chồng đều trở thành phương thế Đức Kitô sử dụng để thánh hóa người kia. Sống và làm việc với người khác chắc chắn là một con đường phát triển thiêng liêng. Thánh Gioan Thánh giá nói với một trong những đệ tử ngài: “Con đang sống với những người khác để được nắn đúc và tôi luyện”[10].
  3. Mỗi cộng đoàn đều được mời gọi tạo nên một “không gian được Thiên Chúa soi sáng để có thể kinh nghiệm được sự hiện diện kín ẩn của Chúa phục sinh”[11]. Chia sẻ lời và cử hành Thánh thể với nhau bao giờ cũng nuôi dưỡng tình huynh đệ và làm cho ta thành một cộng đoàn thừa sai thánh thiện. Các việc ấy cũng làm phát triển các kinh nghiệm thần bí chung đích thật. Đó là trường hợp của thánh Benedicto và Scholastica. Ta cũng có thể nghĩ tới kinh nghiệm thiêng liêng siêu phàm Thánh Augustinô chia sẻ với mẹ ngài là bà thánh Monica. “Vì nay ngày mẹ con sắp phải từ giã cuộc sống này đã gần, ngày chỉ mình Chúa biết, chúng con không biết, nó đã đến vì con tin rằng do sự sắp xếp bí mật của Chúa, mà chỉ mình mẹ con và con đứng dựa vào cửa sổ nhìn ra vườn… Chúng con mở rộng lòng uống trong các dòng suối của Chúa, nguồn sự sống vốn có trong Chúa… Và khi chúng con nói về sự khôn ngoan ấy và cố hết sức để đạt cho bằng được, chúng con đã chạm được sự khôn ngoan ấy ở một mức độ nào đó nhờ sự thúc đẩy của tâm hồn… sự sống đời đời có lẽ giống như lúc hiểu biết duy nhất này, hiện chúng con khao khát”[12].
  4. Tuy nhiên, những kinh nghiệm ấy không nhiều cũng không phải là quan trọng nhất. Cuộc sống chung, bất kể trong gia đình, giáo xứ, cộng đoàn tu hay bất cứ cộng đoàn nào khác, bao giờ cũng được hình bởi những chuyện nho nhỏ hằng ngày. Điều này rất đúng với cộng đoàn thánh duy nhất do Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse tạo nên, một cộng đoàn phản ánh cách mẫu mực vẻ tuyệt mỹ của sự hiệp thông Ba ngôi. Điều đó cũng đúng với cuộc sống mà Chúa Giêsu chia sẻ với các môn đệ và với những người bình thường.
  5. Ta đừng quên rằng Chúa Giêsu đã xin các môn đệ để ý đến các chi tiết.

Chi tiết nhỏ của việc tiệc cưới hết rượu
Chi tiết nhỏ về một con chiên mất
Chi tiết nhỏ của việc để ý đến hai đồng xu bà góa dâng cúng
Chi tiết nhỏ về đèn hết dầu, chú rể tới trễ
Chi tiết nhỏ của việc hỏi xem các môn đệ có bao nhiêu ổ bánh.
Chi tiết nhỏ của việc nhóm lửa, nước cá khi chờ các môn đệ lúc bình minh.

  1. Cộng đoàn nào ấp ủ các chi tiết nhỏ của tình yêu[13], các thành viên quan tâm, chăm sóc nhau và tạo được môi trường cởi mở và Tin mừng hoá, bao giờ cũng là nơi Chúa phục sinh hiện diện, thánh hóa cộng đoàn ấy theo kế hoạch của Chúa Cha. Có những lúc, khi do quà tặng tình yêu của Chúa, ta được ban cho, giữa những chi tiết nhỏ này, các kinh nghiệm an ủi về Thiên Chúa. “Một đêm đông nọ, tôi đang làm nhiệm vụ thường ngày… Thình lình, tôi nghe thấy từ đằng xa, một điệu nhạc du dương. Rồi bất chợt tôi thấy phòng khách đèn sáng trưng, các phụ nữ trẻ phục sức lộng lẫy, sang trọng đang nói chuyện với nhau và hết lời tán dương, ca tụng nhau. Rồi tôi liếc nhìn một người nghèo tàn tật tôi đang đỡ đần. Thay vì các khúc nhạc réo rắt, tôi chỉ nghe được những lời oán trách bất thường… Tôi không thể diễn tả thành lời những gì đã xảy ra trong linh hồn tôi; điều tôi biết là Chúa đã soi sáng cho linh hồn tôi bằng các tia sự thật, một sự thật vượt xa sự huy hoàng tăm tối của các lễ hội của trần gian này đến độ tôi không thể tin rằng đó là hạnh phúc của tôi”[14].
  2. Trái với chủ nghĩa cá nhân của những người theo chủ nghĩa tiêu thụ luôn có khuynh hướng cô lập ta trong việc tìm kiếm hạnh phúc tách khỏi tha nhân, con đường tiến tới sự thánh thiện của ta chỉ có thể làm cho ta đồng hóa hơn nữa với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “để mọi người nên một; như Cha ở trong con và con ở trong Cha” (Ga 17, 21).

TRONG VIỆC CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG

  1. Cuối cùng, tuy có vẻ rõ ràng, ta vẫn phải nhớ rằng sự thánh thiện bao hàm việc thường xuyên mở ra cho đấng siêu việt, được diễn tả trong việc cầu nguyện và thờ phượng. Ta nhận ra các thánh nhờ tinh thần cầu nguyện và nhu cầu hiệp thông với Thiên Chúa. Các ngài quan tâm đến toàn thế giới nhỏ bé và ngột ngạt này và giữa những bận tâm và dấn thân ấy của mình, các ngài khát mong Thiên Chúa, khi quên mình để ca tụng và chiêm ngắm Chúa. Tôi tin rằng không có cầu nguyện thì không thể có sự thánh thiện, dù việc cầu nguyện ấy không cần dài hay huy động các tình cảm mãnh liệt.
  2. Thánh Gioan Thánh Giá nói với ta: “Hãy cố luôn ở lại trong sự hiện diện của Thiên Chúa, hoặc hiện diện thật, tưởng tượng hay cả hai theo mức độ công việc cho phép”[15]. Cuối cùng khát vọng Thiên Chúa của ta chắc chắn sẽ tìm được cách diễn tả trong đời sống hằng ngày của ta: “Hãy cố không ngừng cầu nguyện, và cả khi luyện tập thân thể cũng đừng bỏ cầu nguyện. Dù anh em ăn, uống, trò chuyện với người khác, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy luôn đến với Thiên Chúa và hết lòng gắn bó với Ngài”[16].
  3. Tuy nhiện để việc này xảy ra, ta cũng cần dành một số thời gian cho Thiên Chúa. Đối với Têrêsa Avila, cầu nguyện “chẳng là gì hết chỉ là giao tiếp thân mật và thường xuyên truyện trò một mình với Đấng ta biết là luôn yêu thương ta”[17]tôi xin nhấn mạnh rằng điều này không chỉ đúng cho một ít người đặc biệt mà đúng cho tất cả chúng ta, vì “tất cả chúng ta đều cần sự thinh lặng này, một sự thinh thặng ắp đầy sự hiện diện của Đấng ta tôn thờ”[18]. Lời cầu nguyện đầy tin tưởng là việc đáp trả của một tấm lòng mở ra cho sự gặp gỡ diện đối diện với Thiên Chúa, nơi mọi sự đều bình an và ta có thể nghe được tiếng thì thầm của Chúa giữa sự thinh lặng ấy.
  4. Trong sự thing lặng ấy, ta có thể phân định, dưới ánh sáng của Thần khí, Chúa đang mời gọi ta đi trên những con đường thánh thiện nào. Nếu không, bất cứ quyết định nào ta thực hiện đều có thể chỉ là vẻ lòe loẹt bên ngoài thay vì đề cao Tin mừng trong đời ta, sẽ che khuất hay nhận chìm Tin mừng ấy. Đối với mỗi môn đệ, điều thiết yếu là dành thời gian ở với Chúa, lắng nghe lời Ngài, và luôn học với Ngài. Nếu ta không lắng nghe, mọi lời của ta sẽ chẳng là gì, chỉ là lời tán gẫu vô ích.
  5. Ta cần nhớ rằng “chiêm ngắm dung nhan Chúa Giêsu, chết và phục sinh, luôn phục hồi loài người chúng ta, cả khi nhân loại ấy đang bị các rắc rối trong cuộc đời này phá vỡ hoặc bị tội lỗi phá hỏng. Ta không được đập tan sức mạnh của dung nhan Đức Kitô”[19]. Vì thế, cha xin hỏi các con: Có khi nào các con đặt mình trong sự hiện diện của Chúa, âm thầm dành giờ ở với Ngài và phơi mình trong ánh mắt Ngài không? Các con có để cho ngọn lửa của Ngài đốt cháy lòng mình? Nếu các con không để Ngài ngày càng sưởi ấm mình bằng tình yêu và sự dịu dàng của Ngài, các con sẽ không cháy được. Vậy bằng lời nói và chứng tá của mình, các con có thể làm thế nào để thiêu đốt tâm hồn của tha nhân? Nếu, khi nhìn vào dung nhan Đức Kitô, các con cảm thấy có thể để mình được chữa lành và biến đổi, thì các con đang đi vào trong cõi lòng của Chúa, vào trong các thương tích của Ngài, vì đó là nơi ở của lòng thương xót của Thiên Chúa[20].
  6. Tôi xin chúng ta đừng coi việc thinh lặng cầu nguyện như một hình thức chạy trốn và từ bỏ thế giới chung quanh ta. Một khách hành hương người Nga, là người đã cầu nguyện không ngừng, nói rằng việc cầu nguyện đã không tách ông ta ra khỏi những gì đang xảy ra chung quanh ông. “Mọi người đều tử tế với tôi; như thể mọi người đều yêu tôi… tôi không chỉ cảm thấy [hạnh phúc và an ủi] trong linh hồn thôi mà còn cảm thấy toàn bộ thế giới bên ngoài tôi đối với tôi cũng ngập tràn duyên dáng và mừng vui”[21].
  7. Lịch sử cũng không biến mất. Cầu nguyện, vì được nuôi dưỡng bằng ơn Thiên Chúa hiện diện và hoạt động trong ta, bao giờ cũng phải được đánh dấu bằng hồi tưởng. Việc tưởng nhớ các công trình của Thiên Chúa là trọng tâm của kinh nghiệm về giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Thiên Chúa muốn đi vào trong lịch sử, nên lời cầu nguyện của ta cũng được đan dệt bằng các kỷ niệm. Ta không chỉ nghĩ lại về Lời mặc khải, mà con nghĩ về cuộc sống của riêng ta, cuộc sống của tha nhân và mọi sự Thiên Chúa đã thực hiện trong Hội thánh: đây là một ký ức đầy lòng biết ơn mà thánh Ignatiô Loyola ám chỉ tới trong bài Contemplation for Attaining Love[22]khi ngài xin ta để ý tới mọi phúc lành ta đã nhận được từ nơi Chúa. Hãy nghĩ về lịch sử của các con khi các con cầu nguyện và trong lịch sử ấy, các con sẽ tìm được rất nhiều lòng thương xót. Điều này cũng sẽ gia tăng ý thức của các con rằng Chúa luôn luôn để mắt tới các con; Ngài không bao giờ quên các con. Vì thế, xin Ngài tỏa sáng trên những chi tiết nhỏ nhất của đời mình là điều thật ý nghĩa, vì Ngài thấy hết mọi sự.
  8. Cầu nguyện xin ơn là cách diễn tả của một tâm hồn phó thác cho Thiên Chúa và nhận ra rằng tự mình tâm hồn ấy chẳng làm được gì. Cuộc sống của những người trung thành của Thiên Chúa được đánh dấu bằng việc không ngừng xin ơn, một sự xin ơn nẩy sinh từ lòng mến tràn ngập đức tin và từ sự tin tưởng mãnh liệt. Ta đừng coi thường việc cầu nguyện xin ơn này, một việc cầu nguyện thường làm cho tâm hôn ta yên tĩnh và giúp ta kiên trì trong niềm hy vọng. Chuyển cầu có một giá trị đặc biệt, vì đó là một hành vi của sự tin tưởng vào Thiên Chúa và đồng thời, cũng là một cách diễn tả lòng yêu thương đồng loại. Có những người nghĩ rằng, dựa vào nền linh đạo một chiều, cầu nguyện phải là việc chiêm ngắm Thiên Chúa cách thuần khiết, thoát khỏi mọi chia trí, như thể các tên gọi và khuôn mặt của những người một cách nào đó đang xâm nhập đều phải tránh. Nhưng trên thực tế, việc cầu nguyện của ta sẽ làm vui lòng Thiên Chúa hơn và có kết quả hơn trong việc lớn lên trong sự thánh thiện, nếu nhờ việc chuyển cầu, ta cố thực hành điều răn hai phần Chúa Giêsu để lại cho ta. Lời chuyển cầu là một cách diễn tả mối tương quan huynh đệ của ta đối với tha nhân, vì ta có thể ôm ấp cuộc sống, những khó khăn sâu xa nhất và những ước mơ cao cả nhất của họ. Về những người quảng đại trong việc cầu nguyện chuyển cầu, ta có thể áp dụng lời Kinh thánh sau: “Đây là người yêu thương anh em mình và cầu nguyện nhiều cho dân chúng” ( 2 Mcb 15, 14).
  9. Nếu ta nhìn nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, ta không thể không tôn thờ Ngài, đôi khi trong âm thầm kinh ngạc, và ca tụng Ngài bằng khúc hát hân hoan. Như thế, ta tham dự vào kinh nghiệm của Chân phước Charles de Foucauld, đã nói: “Ngay khi tôi tin rằng có Thiên Chúa, tôi đã hiểu rằng tôi không thể làm gì ngoài việc sống cho Ngài[23]. Trong đời sống của dân lữ hành của Thiên Chúa, có nhiều cử chỉ thờ phượng thuần túy, đơn sơ, như khi “ánh mắt của một khách hành hương dừng lại trên một hình ảnh là biểu tượng cho tình cảm và sự gần gũi của Thiên Chúa. Lòng mến bao giờ cũng dừng lại, chiêm ngắm mấu nhiệm, và âm thầm tận hưởng mầu nhiệm ấy[24].
  10. Việc đọc lời Chúa trong tinh thần cầu nguyện, lời “ngọt hơn mật ong” (Tv 119, 103), nhưng lại là “thanh gươm hai lưỡi” (Hr 4, 12) làm cho ta có thể dừng lại và lắng nghe tiếng của Thầy chí thánh. Lời ấy trở thành chiếc đèn soi cho con bước là ánh sáng chỉ đường con đi (x. Tv 119, 105). Như các giám mục Ấn độ nhắc ta: “việc tôn sùng lời Chúa không đơn giản là một trong nhiều việc đạo đức, rất tuyệt và một cách nào đó là do tùy chọn. Việc tôn sùng ấy đi tới chính trọng tâm và căn tính của đời sống Kitô hữu. Lời ấy có sức biến đổi cuộc đời”[25]
  11. Việc gặp gỡ Chúa Giêsu trong Kinh thánh đưa ta tới Thánh thể, nơi lời thành văn đạt được hiệu quả lớn nhất, vì nơi Thánh thể, Lời hằng sống hiện diện thật. Trong Thánh thể, vị Thiên Chúa duy nhất chân thật đón nhận nền phượng tự quan trọng nhất trần gian có thể dâng hiến, vì chính Đức Kitô là Đấng được hiến tế. Khi ta đón nhận Ngài nhờ việc Hiệp lễ, ta canh tân giao ước của ta với Ngài và để Ngài thực hiện cách luôn trọn vẹn hơn công trình biến đổi đời sống ta.

Chuyển ngữ: Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R.

Chú thích:

[1] Có một số hình thức ăn hiếp, trong khi có vẻ tế nhị và tôn trọng và thậm chí còn thiêng liêng nữa, nhưng lại gây ra những tác hại lớn đối với lòng tự trọng của người khác.

[2] Precautions, 13.

[3] Ibid., 13.

[4] Cf. Nhật ký. Divine Mercy in My Soul, Stockbridge, 2000, p. 139 (300).

[5] THOMAS AQUINAS, Summa Theologiae, I-II, q. 70, a. 3.

[6] Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 6: AAS 105 (2013), 1221.

[7] Tôi xin đề nghị cầu nguyện theo lời vẫn được gán cho Thánh Tôma More: “Ôi lạy Chúa, xin ban cho con được hệ tiêu hóa tốt và cũng ban cho con một cái gì đó để con tiêu hóa. Xin ban cho con một thân xác khỏe mạnh và sự hài hước cần thiết để duy trì sự sống ấy. Xin ban cho con một tâm hồn đơn sơ biết quý trọng mọi sự tốt lành và không dễ dàng sợ hãi khi thấy sự dữ, nhưng tìm được phương thế để đặt mọi sự vào chỗ của chúng. Xin ban cho con một linh hồn không biết buồn chán, càm ràm, thở dài và than trách, cũng không căng thẳng quá, vì như thế sẽ che khuất một cái gì đó được gọi là “con”. Ôi lạy Chúa, xin ban cho con một cảm thức về sự hài hước. Cho con ơn biết nói đùa và khám phá ra một chút niềm vui trong cuộc sống, và có thể chia sẻ niềm vui ấy cho tha nhân”.

[8] Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng, Amoris Laetitia (19 March 2016), 110: AAS 108 (2016), 354.

[9] Tông huấn Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 80: AAS 68 (1976), 73. Điều đáng lưu ý là trong bản văn này Chân phước Phaolô VI liên kết niềm vui với parrhesia. Trong khi than phiền rằng “sự thiếu niềm vui và hy vọng” chính là một trở ngại đối với việc Tin mừng hóa, thì ngài lại ca ngợi “niềm vui hoan lạc và an ủi của việc Tin mừng hóa”, được liên kết với “một lòng nhiệt thành bên trong không ai và không gì có thể dập tắt”. Điều này bảo đảm rằng thế giới không đón nhận Tin mừng “từ những người loan báo chán nản và thất vọng”. Suốt năm thánh 1975, Đức Giáo Hoàng Phao lô đã dấn thân cho niền hoan vui trong Tông huấn Gaudete in Domino của ngài (9.5.1975): AAS 67 (1975), 289-322.

[10] Precautions, 15.

[11] JOHN PAUL II, Tông huấn Vita Consecrata (25 March 1996), 42: AAS 88 (1996), 416.

[12] Tự thuật, IX, 10, 23-25: PL 32, 773-775.

[13] Tôi nghĩ cách đặc biệt về ba từ khóa “làm ơn”, “cám ơn” và “xin lỗi”. “Những từ ngữ chính xác, được nói và thời điểm chính xác, bao giờ cũng bảo vệ và nuôi dưỡng tình yêu”: Tông huấn Hậu thượng Hội đồng,  Exhortation Amoris Laetitia (19 March 2016), 133: AAS 108 (2016), 363.

[14] THÉRÈSE HÀI ĐỒNG GIÊSU, Manuscript C, 29 v-30r.

[15] Degrees of Perfection, 2.

[16] ID., Counsels to a Religious on How to Attain Perfection, 9.

[17] Tự thuật 8, 5.

[18] JOHN PAUL II, Apostolic Letter Orientale Lumen (2 May 1995), 16: AAS 87 (1995), 762.

[19] Cuộc họp các tham dự viên Hội nghị lần thứ năm của Hội thánh Ý, Florence, (10 November 2015): AAS 107 (2015), 1284.

[20] Cf. BERNARD OF CLAIRVAUX, Sermones in Canticum Canticorum, 61, 3-5: PL 183:1071-1073.

[21] The Way of a Pilgrim, New York, 1965, pp. 17, 105-106.

[22] Cf. Spiritual Exercises, 230-237.

[23] Thư gửi cho Henry de Castries, 14.8.1901.

[24] HỘI NGHỊ LẦN THỨ NĂM  CÁC GIÁM MỤC CHÂU MỸ LATINH VÀ  CARIBBE, Aparecida Document (29 June 2007), 259

[25] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC ÂN ĐỘ,  Tuyên bố chung quyết của Hội nghị lần thứ 21, 18.2. 2009, 3.2.

 

CHƯƠNG V
CUỘC CHIẾN ĐẤU, SỰ TỈNH THỨC VÀ PHÂN ĐỊNH THIÊNG LIÊNG

  1. Đời sống Kitô hữu là một cuộc chiến trường kỳ, ta cần sức mạnh và can đảm để chống lại các cám dỗ của ma quỉ và để loan báo Tin mừng. Cuộc chiến này ngọt ngào, vì cho phép ta vui mừng mỗi khi Chúa chiến thắng trên đời ta.

CHIẾN ĐẤU VÀ TỈNH THỨC

  1. Ta không chỉ bàn về cuộc chiến chống lại thế gian và não trạng thuộc thế gian này thường lừa gạt và bỏ mặc ta thờ thẫn, tầm thường, thiếu nhiệt thành và niềm vui. Cuộc chiến này cũng không thể bị hạ xuống chỉ còn là cuộc đấu tranh chống lại những yếu hèn và những xu hướng của con người (đó là biếng nhác, dâm ô, ghen tỵ, hay bất cứ thứ gì khác). Đó cũng là một cuộc đấu tranh dai dẳng chống lại ma quỉ, tên đầu sỏ xấu xa. Chính Chúa Giêsu luôn ăn mừng chiến thắng của ta. Ngài vui khi các môn đệ Ngài tiến bộ trong việc rao giảng Tin mừng và khuất phục được sự chống đối của ác thần: “Thầy thấy Satan như chớp từ trời sa xuống” (Lc 10, 18).

Hơn hẳn một thần thoại

  1. Ta sẽ không chấp nhận sự hiện hữu của ma quỉ nếu ta cứ nhấn mạnh đến việc nhìn sự sống chỉ bằng một mình các tiêu chuẩn thực tiễn thôi mà không có sự hiểu biết siêu nhiên. Đó là xác tín rằng thế lực độc ác luôn hiện diện giữa ta khiến ta có thể hiểu sự ác đôi khi có sức tàn phá ra sao. Quả thật, các tác giả Kinh thánh đã bị giới hạn trong các cách nhận thức đối với việc diễn tả một số thực tại, và vào thời Chúa Giêsu, động kinh chẳng hạn, có thể dễ dàng bị lẫn lộn với bị quỉ ám. Nhưng ta không nên quá đơn giản quá, dễ dàng kết luận rằng mọi trường hợp liên quan trong Tin mừng đều chỉ là những rối loạn tâm lý, nên cũng kết luận rằng ma quỉ không hiện hữu hay không hoạt động. Chúng có mặt ngay từ những trang đầu của Kinh thánh, một quyển sách kết thúc với chiến thắng của Thiên Chúa trên ma quỉ[1]. Thật vậy, khi để lại cho chúng ta Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu muốn ta kết thúc bằng cách xin Chúa Cha “giải thoát chúng ta khỏi ma quỉ”. Lời kết ấy không ám chỉ tới sự ác cách trừu tượng; bản dịch chính xác hơn là “ác thần”. Từ ấy diễn tả một cá thể luôn tấn công ta. Chúa Giêsu dạy ta cầu xin được giải thoát khỏi tên ấy hằng ngày, kẻo sức mạnh của hắn sẽ đánh bại ta.
  2. Vì thế, ta không nên nghĩ về ma quỉ như một thần thoại, một cách trình bày, một biểu tượng, một phóng đại hay một ý tưởng[2]. Sai lầm này thường đưa ta tới chỗ mất cảnh giác, bất cẩn và đi tới chỗ mong manh hơn. Ma quỉ không cần nhập vào ta. Nó đầu độc ta bằng thứ nọc độc của hận thù, thất vọng, ghen tỵ và xấu xa. Khi ta mất cảnh giác, nó sẽ lợi dụng việc ấy để phá hoại đời ta, gia đình và cộng đoàn ta. “Như sư tử gầm gừ, rảo quanh, tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8).

Tỉnh thức và tin tưởng

  1. Lời Chúa mời gọi ta rõ ràng “hãy đứng vững trước những mưu chước của ma quỉ” (Ep 6, 11) và “dập tắc mọi tên lửa của ác thần” (Ep 6, 16). Những cách diễn tả này không có tính khuếch đại, vì con đường nên thánh của ta là một trận chiến trường kỳ. Ai không công nhận điều này sẽ làm mồi cho thất bại hay sự tầm thường. Vì trận chiến thiêng liêng này, ta có thể cậy nhờ các vũ khí mạnh Chúa ban: việc cầu nguyện thấm đẫm đức tin, suy niệm lời Chúa, cử hành Thánh lễ, tôn thờ Thánh thể, bí tích Hòa giải, các việc bác ái, đời sống cộng đoàn, tham gia sứ vụ. Nếu ta bất cẩn, những lời hứa giả trá của ma quỉ sẽ dễ dàng quyến rũ ra. Như Thánh Cura Brochero nhận xét: “Có lợi chi khi Lucifer hứa cho bạn tự do và mưa xuống trên bạn mọi phúc lợi của nó, khi các phúc lợi ấy chỉ là giả trá, gạt gẫm và độc hại?[3].
  2. Trên cuộc hành trình này, việc vun xới mọi sự tốt lành, tiến bộ trong đời sống thiêng liêng và lớn lên trong tình yêu là đối trọng tốt nhất đối với sự dữ. Ai chọn trung lập, thỏa mãn với sự tầm thường, ai từ bỏ lý tưởng hiến mình cách quảng đại cho Chúa, sẽ không bao giờ sống sót trong hoản cảnh nguy nan. Thậm chí còn tệ hơn, nếu họ sa vào chủ nghĩa chủ bại, vì “nếu ta bắt đầu cách không tin tưởng, ta đã thất bại một nửa và đã chôn vùi các tài năng của ta rồi… Sự chiến thắng của Kitô hữu bao giờ cũng là thập giá, nhưng thập giá đồng thời cũng là ngọn cờ chiến thắng, nẩy sinh với sự nhạy cảm tích cực chống lại những đợt tấn công của sự dữ”[4].

Sự suy đồi thiêng liêng

  1. Con đường thánh thiện là nguồn bình an và hân hoan, được Thần khí ban cho ta. Đồng thời, con đường ấy cũng đòi hỏi ta phải “giữ cho ngọn đèn luôn cháy sáng” (Lc 12, 35) và phải chú ý. “Tránh mọi hình thức của sự dữ” (1 Thes 5, 22). “Tỉnh thức” (Mt 24, 42; Mc 13, 35). “Đừng mê ngủ” (1 Thes 5, 6). Ai nghĩ mình không phạm tội trọng chống lại luật Thiên Chúa đều có thể rơi vào tình trạng thờ ơ buồn chán. Vì họ thấy mình chẳng có gì đáng trách, nên cũng không nhận ra rằng đời sống thiêng liêng của mình đang bắt đầu nhạt nhẽo. Họ sẽ kết thúc trong yếu đuối và suy đồi.
  2. Sự suy đồi thiêng liêng còn tệ hơn sự sa ngã của tội nhân, vì đó là một hình thức mù quáng thoải mái và tự mãn. Mọi sự khi ấy đều có vẻ có thể chấp nhận được: lừa đảo, nói hành nói xấu, ích kỷ và những hình thức tinh vi khác của sự qui ngã, vì “cả satan cũng đội lốt thiên thần sáng láng” (2 Cr 11, 14). Salomon đã kết thúc ngày tháng của ông như thế, trong khi David, người đã phạm tội nặng, vẫn có thể đền bù tội lỗi. Chúa Giêsu cảnh cáo ta về sự tự lừa dối này, một sự tự lừa dối dễ đưa ta tới chỗ suy đồi. Ngài nói về một ngưởi được giải thoát khỏi ma quỉ, nghĩ rằng nay đời mình đã ổn, nên đã bị bảy thần ô uế khác ám (x. Lc 11, 24 – 26). Một bản văn Kinh thánh khác nói rất thẳng rằng: “Chó mửa ra, nó liền ăn lại” ( 2 Pr 2, 22; x. Cn 26, 11).

PHÂN ĐỊNH

  1. Ta phải làm thế nào có thể biết rằng một cái gì đó xuất phát từ Chúa Thánh Thần hay từ tinh thần của thế gian này hay tinh thần của ma quỉ? Cách duy nhất là nhờ sự phân định, một sự phân định đòi hỏi một cái gì đó hơn hẳn sự thông minh hay lẽ thường tình. Đó là một ân huệ ta phải nài xin. Nếu ta xin với sự tin tưởng rằng Chúa Thánh Thần sẽ ban cho ta ơn này, và rồi ta tìm cách phát triển ơn ấy nhờ cầu nguyện, suy nghĩ, đọc và những lời khuyên tốt lành, thì chắc chắn ta sẽ lớn lên trong tài năng thiêng liêng này.

Một nhu cầu khẩn thiết

  1. Ơn phân định hiện đang trở nên cần thiết hơn, vì đời sống hiện tại luôn đem lại những khả năng hành động và sự xao lãng mênh mông, và thế giới này cũng luôn coi tất cả những thứ ấy là vững chắc, tốt lành. Tất cả chúng ta, nhưng cách riêng các bạn trẻ, đang bị nhận chìm trong một nền văn hóa lao nhanh. Cùng một lúc ta có thể điều hành hai hay hơn màn ảnh và cùng lúc có thể tiếp xúc với hai hay ba trường hợp. Không có sự khôn ngoan của việc phân định, ta có thể dễ trở thành mồi cho mọi xu hướng mau qua.
  2. Điều này càng quan trọng hơn khi có một sự mới mẻ nào đó xuất hiện trong đời ta. Khi ấy ta phải quyết định đó có phải là rượu mới Thiên Chúa đem đến hay chỉ là một ảo tưởng do tinh thần của thế gian này hay tinh thần của ma quỉ tạo nên. Lúc khác, lại xảy ra điều trái ngược, khi các sức mạnh của sự dữ xúi giục ta không thay đổi, sự việc sao cứ để thế, chọn mạnh mẽ chống lại thay đổi. Nhưng đó thường là một trở lực đối với hoạt động của Thần khí. Ta được tự do, với sự tự do của Đức Kitô. Nhưng, Ngài xin ta kiểm lại những gì đang ở trong ta – các khát vọng, âu lo, sợ hãi và vấn đề của ta – và những gì đang xảy ra quanh ta – “các dầu chỉ thời đại” – và như thế để nhận ra những con đường đưa tới tự do hoàn toàn. “Hãy cân nhắc mọi sự, cái gì tốt thì giữ lấy” (1 Thes 5, 21).

Luôn luôn dưới ánh sáng của Chúa

  1. Phân định không chỉ cần thiết vào những lúc khác thường, khi ta cần giải quyết các vấn đề nghiêm trọng và đưa ra những quyết định quan trọng. Đó là một phương thế của cuộc chiến thiêng liêng giúp ta theo Chúa cách trung thành hơn. Lúc nào ta cũng cần đến sự phân định này, để giúp ta nhận ra thời khóa biểu của Thiên Chúa, để ta luôn để ý đến những can thiệp của ân sủng Ngài và để ta khỏi coi thường lời mời gọi lớn lên của Ngài. Người ta thường thực hành việc phân định này trong các sự việc nhỏ và rõ ràng không thích hợp, vì sự vĩ đại của tinh thần thường được thể hiện trong các thực tại nho nhỏ hằng ngày[5]. Sự phân định bao giờ cũng liên quan tới cố gắng không cản trở những gì vĩ đại, tốt đẹp hơn, trong khi đồng thời vẫn quan tâm tới những sự vật nhỏ bé, vì các trách nhiệm và sự dấn thân hằng ngày. Vì lý do đó, cha xin tất cả các Kitô hữu, khi đối thoại với Chúa, đừng bỏ “việc kiểm xét lương tâm hằng ngày”. Sự phân định làm cho ta có thể nhận ra các phương thế cụ thể Chúa cung cấp trong kế hoạch yêu thương, nhiệm mầu của Ngài, khiến ta vượt quá cả những ý định tốt lành.

Một ơn siêu nhiên

  1. Dĩ nhiên, sự phân định thiêng liêng không loại trừ các nhận thức hiện sinh, tâm lý, xã hội học hay luân lý rút ra được từ các khoa học nhân văn. Đồng thời, sự phân định ấy cũng vượt quá các khoa học ấy. Các qui tắc lành mạnh của Hội thánh thôi chưa đủ. Ta phải luôn nhớ rằng việc phân định là một ân sủng. Dù sự phân định ấy bao gồm lý trí và sự khôn ngoan, nhưng lại vượt xa cả hai thư ấy, vì nó luôn tìm một cái nhìn thoáng qua của kế hoạch độc đáo và nhiệm mầu Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta, một kế hoạch hình thành giữa quá nhiều hoàn cảnh và những giới hạn khác nhau. Sự phân định ấy bao hàm nhiều hơn hạnh phúc nhất thời của tôi, hơn cả sự thỏa mãn của tôi vì đã làm được một cái gì đó hữu ích, hay thậm chí hơn hẳn khát vọng muốn có được sự bình an trong tâm trí. Sự phân định ấy liên quan tới ý nghĩa của đời tôi trước Chúa Cha, Đấng biết và yêu thương tôi, liên quan tới mục đích của đời tôi, một mục đích không ai biết rõ hơn Ngài. Cuối cùng, sự phân định đưa tới suối sự sống không hề chết: biết Cha, vị Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và Đấng Cha sai đến, là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 17, 3). Sự phân định ấy không đòi những khả năng đặc biệt, cũng không chỉ dành cho những người thông minh, học thức. Chúa Cha sẵn sàng mặc khải chính mình cho những ngưởi thấp hèn (x. Mt 11, 25).
  2. Chúa nói với chúng ta bằng những cách thức khác nhau, lúc đang làm việc, qua tha nhân và mọi lúc. Nhưng cách đơn giản ta không thể dập tắt sự thinh lặng của việc cầu nguyện lâu giờ, một việc cầu nguyện giúp ta có thể nhận rõ hơn ngôn ngữ của Thiên Chúa, có thể giải thích ý nghĩa đích thật của những hứng khởi ta tin rằng ta đã nhận được, có thể xoa dịu những âu lo, và thấy được toàn bộ sự sống của ta cách mới mẻ dưới ánh sáng của Ngài. Theo cách này, ta để cho việc khai sinh một sự tổng hợp mới xuất phát từ một cuộc sống được Thần khí linh hứng.

Lạy Chúa, xin hãy nói

  1. Tuy nhiên, có thể là, ngay trong chính việc cầu nguyện, ta cũng có thể khước từ để mình đối diện với sự tự do của Thần khí, Đấng luôn hành động như Ngài muốn. Ta phải nhớ rằng việc biện phân nhờ cầu nguyện phải phát sinh từ việc sẵn sàng lắng nghe: nghe Chúa và tha nhân và nghe chính thực tại, một thực tại bao giờ cũng thách thức ta bằng những cách thức mới mẻ. Chỉ khi ta được chuẩn bị để lắng nghe, ta mới có được sự tự do để dẹp bỏ các ý tưởng rời rạc và khiếm khuyết, những thói quen thông thường của ta và cách ta nhìn sự vật. Theo cách này, ta thực sự mở ra cho việc chấp nhận một tiếng gọi có thể đập nát sự an toàn của ta nhưng lại đưa ta tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Làm cho mọi sự yên bình, thanh thoát thôi chưa đủ. Thiên Chúa có thể ban cho ta một cái gì đó hơn những thứ ấy nhưng nếu ta cứ vô tình không để ý, ta không nhận ra được đâu.
  2. Cách tự nhiên, thái độ lắng nghe này bao hàm việc vâng phục Tin mừng như tiêu chuẩn tối thượng, nhưng cũng còn vâng phục cả Huấn quyền luôn bảo vệ Tin mừng ấy nữa, vì ta đang tìm cách để khám phá ra trong kho tàng của Hội thánh bất cứ thứ gì có kết quả nhất cho ơn cứu độ của ngày “hôm nay”. Đó không phải là việc áp dụng các qui luật hay nhắc lại những gì đã được làm trong quá khứ, vì các giải pháp ấy không hiệu lực trong mọi hoàn cảnh và những gì có ích trong một bối cảnh nào có thể cho thấy không hữu ích trong hoàn cảnh khác. Sự phân định các thần khí giải thoát ta khỏi sự cứng nhắc, một sự cứng nhắc không có chỗ trong “ngày hôm nay” vĩnh cửu của Chúa phục sinh. Chỉ mình Thần khí mới có thể xuyên thấu những gì là trở ngại và bí ẩn trong mọi hoàn cảnh và nắm được mọi khác biệt nho nhỏ của hoàn cảnh ấy, để sự mới mẻ của Tin mừng có thể xuất hiện trong một ánh sáng khác.

Logic của ân huệ và thập giá

  1. Một điều kiện quan trọng cho sự tiến bộ trong việc phân định là một sự hiểu biết không ngừng về sự nhẫn nại và thời khóa biểu của Thiên Chúa, là những thứ không bao giờ là của ta. Thiên Chúa không ném lửa xuống trên những người không trung thành (x. Lc 9, 54), hay cũng không để cho những người nhiệt thành nhổ cỏ dại đang mọc chung với lúa (x. Mt 13, 29). Ngài cũng đòi phải có lòng quảng đại, vì “cho thì có phúc hơn nhận” (CV 20, 35). Việc phân định không phải là khám phá ra xem ta có thể lấy được gì thêm từ cuộc sống này, mà là nhận ra ta có thể làm thế nào để hoàn tất cách tốt hơn sứ vụ đã được ủy thác cho ta khi ta chịu Thánh tẩy. Việc này đòi phải sẵn sàng hy sinh, thậm chí hy sinh hết mọi sự. Vì hạnh phúc là điều nghịch lý. Ta kinh nghiệm được sự nghịch lý này nhiều nhất khi ta chấp nhận logic có tính mầu nhiệm không thuộc thế gian này. Thánh Bonaventura chỉ thập giá, nói: “Đó là loigc của ta”[6]. Một khi bước vào trong sự năng động này, ta sẽ không để cho các lương tâm bị tê cứng và sẽ mở lòng ra cách quảng đại cho sự phân định.
  2. Khi, trong sự hiện diện của Thiên Chúa, ta kiểm xét lại cuộc hành trình của cuộc sống mình, không thể có một lãnh vực nào mà lại không còn hạn chế. Trong mọi khía cạnh của cuộc sống, ta đều có thể tiếp tục lớn lên và dâng hiến một cái gì đó lớn hơn cho Thiên Chúa, ngay cả trong các lãnh vực ấy ta cũng thấy khó khăn. Tuy ta cần xin Chúa Thánh Thần giải thoát ta và xua đi nỗi sợ khiến ta xua trừ Ngài khỏi một số lãnh vực của đời ta. Thiên Chúa xin ta mọi sự, nhưng Ngài cũng cho ta mọi sự. Ngài không muốn đi vào trong đời ta để làm cho chúng thành tàn tật hay bị rút ngắn lại, nhưng để đem chúng đến sự hoàn tất. Khi ấy việc phân định không phải là việc lý giải bản thân theo duy ngã luận hay một hình thức kiểm xét nội tâm cách ích kỷ, nhưng là một tiến trình bỏ mình thật để tiến gần mầu nhiệm của Thiên Chúa, Đấng luôn giúp ta thực hiện sứ vụ Ngài ủy thác vì lợi ích của anh chị em ta.

*        *           *           *

Tôi muốn các suy tư này được Đức Maria làm cho thành hoàn hảo, vì mẹ đã sống các Mối phúc của Chúa Giêsu cách không ai khác có thể sánh bằng. Mẹ là người phụ nữ ấy, người đã vui mừng trong sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng đã gìn giữ mọi sự trong lòng mẹ và đã để cho lòng mình cũng bị đâm thâu. Đức Maria là một vị thánh giữa các thánh, là người diễm phúc hơn mọi người khác. Mẹ luôn dạy ta con đường thánh thiện và luôn bước đi bên cạnh ta. Mẹ không để ta sa ngã và luôn luôn đưa ta vào trong vòng tay mẹ không phán xét ta. Việc ta nói chuyện với mẹ luôn an ủi, giải thoát và thánh hóa ta. Đức Maria, Mẹ ta không cần nói nhiều. Mẹ không cần ta nói cho mẹ biết chuyện gì xảy ra trong đời ta. Tất cả những gì ta cần là luôn thầm thĩ: “|Kính mừng Maria…”

  1. Hy vọng của tôi là những trang này sẽ cho thấy là có ích vì có thể làm cho toàn Hội thánh hiến mình cách mới mẻ cho việc nâng cao khát vọng nên thánh. Ta hãy xin Chúa Thánh Thần đổ xuống trên ta khát vọng tha thiết muốn được là các thánh để Thiên Chúa được vinh quang hơn và ta hãy khích lệ nhau trong nỗ lực này. Theo cách này, ta sẽ chia sẻ một niềm hạnh phúc thế gian này sẽ không sao có thể lấy mất được của ta.

Làm tại Rôma, tại đền thánh Phêrô, ngày 19. 3. 2018, Lễ trọng kính Thánh Giuse, năm 2018, năm thứ sáu triều đại giáo hoàng của tôi.

Chuyển ngữ: Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R.

Chú thích:

[1] Cf. Homily at Mass in Casa Santa Marta, 11 October 2013: L’Osservatore Romano, 12 October 2013, p. 2.

[2] ĐỨC PAUL VI, Giáo lý, Cuộc tiếp kiến chung ngày 15.11.1972: Insegnamenti X (1972), pp. 1168-1170: Một trong những nhu cầu lớn nhất là chống lại sự dữ mà ta gọi mà ma quỉ… Sự dữ không chỉ là một sự bất tài, đó là một tài năng, một hữu thể thiêng liêng, hư hỏng và làm cho người ta hư hỏng. Một thực tại ghê gớm, bí nhiệm và đáng sợ. Ai phủ nhận sự hiện hữu của chúng, coi đó chỉ là một nguyên tắc độc lập không có thật, giống như mọi thụ tạo, có nguồn gốc trong Thiên Chúa hay giải thích đó như một thực tại giả, một cách nhân hóa một khái niệm hay tưởng tượng các nguyên nhân bí ẩn về các rủi ro của ta, đều không còn ở trong khuôn khổ của giáo huấn Kinh thánh vá giáo hội nữa”

[3] JOSÉ GABRIEL DEL ROSARIO BROCHERO, “Plática de las banderas”, in CONFERENCIA EPISCOPAL ARGENTINA, El Cura Brochero. Cartas y sermones, Buenos Aires, 1999, 71.

[4] Tông huấn Evangelii Gaudium (24 .11.2013), 85: AAS 105 (2013), 1056.

[5] Mộ thánh Ignati ô Loyola có khắc hàng chữ đqang cho ta suy nghĩ: Non coerceri a maximo, conteneri tamen a minimo divinum est(“Not to be confined by the greatest, yet to be contained within the smallest, is truly divine”).

[6] Collationes in Hexaemeron, 1, 30.