TÔNG HUẤN RECONCILIATIO ET PAENITENTIA

(HÒA GIẢI VÀ SÁM HỐI)

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
GỞI CÁC GIÁM MỤC, GIÁO SĨ VÀ TÍN HỮU

HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG
NGÀY 02 THÁNG 12 NĂM 1984

DẪN NHẬP

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA VĂN KIỆN

 
1. Đối với người thời này khi nói về Hòa giải và Sám hối là mời gọi họ tái khám phá và
chuyển ra ngôn ngữ riêng của mình, những lời mà Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ và là Thầy chúng ta
đã khai mạc cuộc giảng thuyết: “Hãy sám hối và tin vào Tin mừng” [1]  nghĩa là đón nhận tin
mừng tình yêu, tin mừng được làm con cái Chúa và trở thành anh em với nhau.
Vì sao một lần nữa Hội Thánh lại đề cập đến chủ đề và lời mời gọi này?
Mối quan tâm để biết rõ hơn và am hiểu con người thời đại và thế giới hiện nay, giải quyết
những khúc mắc và khai mở những bí ẩn của họ cũng như phân định những mầm mống tốt lành
và xấu xa, trong đó, đã khiến từ lâu bao người băn khoăn nhìn vào con người và thế giới. Có cái
nhìn của sử gia, nhà xã hội học, triết và thần học, nhà tâm lý và nhân học, thi sĩ và nhà thần bí,
nhất là cái nhìn lo âu nhưng đầy hy vọng của người mục tử.
Điều này được biểu lộ điển hình trong mỗi trang của Hiến chế Mục Vụ quan trọng của
Công Đồng Vatican II “Vui Mừng và Hy Vọng” nói về Hội Thánh trong thế giới ngày nay, cách
đặc biệt trong phần dẫn nhập rất bao la và sâu sắc. Điều này cũng biểu lộ trong vài văn kiện đầy
khôn ngoan và bác ái của các vị tiền nhiệm khả kính của tôi, mà triều Giáo Hoàng đã ghi dấu
bằng biến cố lịch sử và ngôn sứ của Công Đồng ấy.
Cùng với những người khác, người mục tử cũng có thể nhận thấy, trong số các đặc trưng
bất hạnh của thế giới và nhân loại thời nay, sự hiện hữu của những mối chia rẽ sâu rộng và đau
thương.
Một thế giới bị xâu xé
2. Những mối chia rẽ này biểu lộ trong các mối tương quan giữa các cá nhân và các nhóm
và cả ở bình diện các nhóm lớn hơn: giữa các quốc gia với nhau, cũng như giữa các khối quốc
gia đối nghịch, trong cuộc tranh giành quyền thống trị. Ở cội nguồn của sự phân rã này, không
khó gì nhận ra những xung khắc mà thay vì được giải quyết bằng đối thoại lại càng trở nên
nghiêm trọng hơn trong sự đối đầu và thù nghịch.
Các người quan sát tinh tế, khi nghiên cứu những yếu tố gây chia rẽ, đã khám phá các
nguyên do thuộc nhiều loại rất khác nhau: từ sự mất cân đối đang gia tăng giữa các nhóm người,
các tầng lớp xã hội và các quốc gia với nhau, cho đến sự kìch địch dai dẳng về ý thức hệ; từ sự
cạnh tranh về lợi tức kinh tế đến những phân cực về chính trị; từ sự phân biệt sắc tộc đến những
kỳ thị vì lý do tôn giáo và xã hội. Hơn nữa, một vài sự kiện xem ra hiển nhiên đa cho thấy bộ mặt
thảm não của những mối chia rẽ vốn là nguyên nhân của những sự kiện đó, và cho thấy tính cách
trầm trọng không thể nào làm ngơ được.

Một số hiện tượng xã hội đáng quan ngại đang xảy ra trong thời đại chúng ta là:
– Sự chà đạp những quyền lợi căn bản của con người, tiên vàn quyền được sống và được
mức sống xứng đáng với nhân phẩm; điều trớ trêu là sự chà đạp này vẫn tồn tại bên cạnh những
lời hoa mỹ về nhân quyền.
– Ngấm ngầm tấn công và đàn áp quyền tự do của các cá nhân và các nhóm, kể cả quyền
tự do tin, tuyên xưng và thực hành lòng tin của con người. Đây là quyền tự do thường bị vi phạm
và đe dọa nhất.
– Những hình thức kỳ thị khác nhau: chủng tộc, văn hóa và tôn giáo,.v.v…
– Bạo lực và khủng bố.
– Sử dụng tra tấn và những phương thức đàn áp bất công và phi pháp.
– Tàng trữ vũ khí qui ước và nguyên tử, cuộc chạy đua vũ trang đã tiêu hao vào mục đích
quân sự những số tiền lẽ ra có thể dùng để xoa dịu nỗi thống khổ oan ức của đám người bị chèn
ép về mặt xã hội và kinh tế.
– Sự phân chia không đồng đều các nguồn tài nguyên trên thế giới và những kho tàng văn
hóa, đạt tới đỉnh cao trong một tổ chức xã hội, trong đó khoảng cách giữa người giàu và người
nghèo càng ngày càng gia tăng. [2]  Sức mạnh ghê gớm của sự chia rẽ này làm cho thế giới chúng
ta đang sống trở thành một thế giới bị xâu xé tận chính nền tảng của nó. [3]
Hơn nữa, Hội Thánh tuy không đồng hóa với thế giới hoặc thuộc về thế giới nhưng ở
trong thế giới và dấn thân đối thoại với thế giới. [4]  Cũng không có gì ngạc nhiên khi người ta
nhận thấy rằng ngay trong chính cơ cấu của Hội Thánh cũng có những tàn tích và dấu hiệu của
sự chia rẽ đang chi phối xã hội loài người. Trước hết phải kể đến sự chia rẽ giữa các Cộng đoàn
Kitô giáo đã gây tác hại đáng tiếc từ bao thế kỷ qua. Hội Thánh ngày nay cũng chứng kiến mối
chia rẽ còn rải rác giữa các thành viên của mình, xuất phát từ những quan điểm và lựa chọn khác
nhau, trong lãnh vực đạo lý và mục vụ. [5]
Những chia rẽ này đôi khi cũng có thể có vẻ nan giải. Thoạt đầu người ta có thể bất an
trước những điều chia rẽ này, nhưng chỉ cần thẩm định lại kỹ càng, người ta có thể truy ra căn
nguyên của chúng: căn nguyên được tìm thấy trong “vết thương” nơi chính bản tính thâm sâu
của con người. Trong ánh sáng của niềm tin, chúng ta gọi đó là tội: khởi đi từ tội nguyên tổ, vốn
tất cả mọi người chúng ta đều mang lấy từ lúc sơ sinh như một sự thừa kế từ cha mẹ “tiên
khởi” của chúng ta, cho đến tội mà mỗi chúng ta phạm khi lạm dụng sự tự do của riêng mỗi
người.
Khát mong hòa giải
3. Tuy nhiên, cùng một cái nhìn dò hỏi tương tự, nếu phân tách đủ, sẽ tìm thấy trong
những sự chia rẽ đó một khát vọng dễ nhận ra trong số những người có thiện ý và trong những
Kitô hữu đích thực muốn hàn gắn những chia rẽ đó, muốn chữa lành những vết thương và muốn
tái thiết một sự hiệp nhất tất yếu ở mọi mức độ. Khát vọng này dậy lên trong nhiều người một
mong muốn thực tâm cho một sự hòa giải, ngay cả trong những trường hợp khi không sử dụng
trực tiếp từ ngừ này.
Một vài người coi việc hòa giải như một giấc mơ viễn vông vốn có lẽ trở thành thang giá
trị nhằm biến đổi thực sự xã hội một cách lý tưởng. Đối với những người khác, việc hòa giải đạt
được bởi những nỗ lực gian khổ, và vì vậy mục đích phải đạt được bằng vô vàn, vô số những ưu
tư và hành động.
Dù trong trường hợp nào đi chăng nữa, mong muốn một sự hòa giải thành thực và thích
hợp là một sức mạnh lay chuyển cơ bản trong xã hội chúng ta, phản ảnh một khát vọng hòa bình
không thẻ kìm hãm. Nó cũng mạnh mẽ ngang với những nhân tố gây chia rẽ, dù đây là một (so
sánh) nghịch lý.

Nhưng sự hòa giải không thẻ kém sâu xa hơn chính sự chia rẽ. Mong muốn hòa giải và
chính sự hòa giải, sẽ chỉ hoàn thiện và hữu hiệu trong phạm vi mà nó đạt đến đẻ chữa lành tội
nguyên tổ, vốn là căn nguyên của mọi vết thương khác: còn gọi đó là “tội”.
Quan điểm của Thượng Hội Đồng
4. Vì thế, mỗi định chế hay tổ chức quan tâm đến việc phục vụ con người và bảo vệ họ
trong những chiều kích căn bản, cần phải nghiên cứu cẩn thận tiến trình hòa giải, ngõ hầu thấu
hiểu đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, đồng thời rút ra những kết luận cần thiết.
Hội Thánh Kitô không thể nào lẫn tránh việc nghiên cứu vần đề này. Với sự tận tâm của
Người Mẹ và sự hiểu biết của Nhà giáo, chính Hội Thánh phải sốt sắng và cẩn thận nghiên cứu
để khám phá trong xã hội không chỉ các dấu vết của sự chia rẽ mà còn những dấu hiệu không
kém ý nghĩa và hấp dẫn của việc mưu cầu hòa giải. Thực vậy, Hội Thánh biết rằng mình được
trao ban khả năng và sứ vụ trình bày ý nghĩa đích thực, và thâm thúy về mặt tôn giáo, của việc
hòa giải cũng như sự toàn vẹn của nó. Chỉ nguyên công việc đó Hội Thánh đã đóng góp nhằm
làm sáng tỏ những lãnh vực chính yếu của vấn đề hiệp nhất và hòa bình.
Các vị tiền nhiệm của tôi đã không ngừng rao giảng sự hòa giải và kêu mời hòa giải toàn
thể nhân loại, cũng như từng vùng và từng thành phần thuộc cộng đồng nhân loại, mà các ngài
nhận thấy đang bị phân rã và bị chia rẽ. [6]  Và chính bản thân tôi, với sự thúc đẩy nội tâm mà tôi
xác tín là tuân theo cả thần hứng từ trên cao lẫn những tiếng kêu của nhân loại, tôi đã quyết định
nhấn mạnh đến đề tài Hòa giải, và tiến hành việc này theo hai cách; mỗi cách thức đều có tính
long trọng và cam go của nó. Trước hết là triệu tập Đại hội lần thứ sáu của Thượng Hội Đồng
Giám Mục; kế đến là đặt việc Hòa giải như là trọng tâm của Năm Toàn xá được cử hành mừng
kỷ niệm lần thứ 1950 của biến cố Cứu chuộc. [7]  Khi phải chỉ định đề tài cho Thượng Hội Đồng,
tôi hoàn toàn đồng ý với chủ đề đã được nhiều anh em trong hàng giám mục gợi ra, một đề tài rất
phong phú, đó là hòa giải, được nối kết chặt chẽ với đề tài sám hối. [8]
Hạn từ và khái niệm đúng đắn về Sám hối quả là phức tạp. Nếu chúng ta nối kết sám hối
với hoán cải (metanoia) được nói trong Tin Mừng Nhất lãm, thì chúng có nghĩa là sự thay đổi
tận căn của con tim dưới ảnh hưởng của Lời Chúa và trong viễn cảnh Nước Trời. [9]  Thế nhưng
sám hối cũng có nghĩa là thay đổi đời sống mình cho hài hòa với sự thay đổi của con tim; cũng
theo ý nghĩa này, việc thực thi sám hối được kiện toàn với việc phát sinh hoa trái chứng tỏ lòng
sám hối: [10]  toàn thể cuộc sống trở thành sám hối, nghĩa là cố gắng liên tục hướng tới cái tốt hơn.
Thế nhưng, thực thi sám hối chỉ trở thành chân chính và hiệu nghiệm nếu được diễn tả bằng
những hoạt động và những hành vi sám hối. Theo nghĩa này sám hối trong ngôn ngữ thần học và
tu Đức Kitô giáo, có nghĩa là khổ chế, nghĩa là một nỗ lực cụ thể và thường ngày của một người,
nhờ ân sủng của Thiên Chúa trợ giúp, nhằm từ bỏ mạng sống mình vì Đức Kitô, như là phương
thế duy nhất để lấy lại nó; [11]  một nỗ lực lột bỏ con người cũ mặc lấy con người mới; [12]  một nỗ
lực nhằm khắc phục nơi chính mình những gì thuộc về xác thịt để cho những gì thuộc thần khí có
thể vượt thắng; [13]  một nỗ lực liên tục nhằm vươn lên từ những gì thuộc hạ giới để tới những gì
thuộc hạ giới nơi Đức Kitô đang ngự trị. [14]  Như thế sám hối là sự hoán cải di chuyển từ con tim
đến hành động, và sau cùng tới toàn thể đời sống người Kitô hữu.
Trong mỗi ý nghĩa vừa nói trên, sự sám hối được nối kết chặt chẽ với sự hòa giải, bởi vì
việc hòa giải với Thiên Chúa, với bản thân và với tha nhân bao hàm việc khắc phục sự đổ vỡ căn
bản là tội lỗi. Và việc này chỉ đạt được nhờ sự thay đổi nội tâm hay hoán cải để sinh hoa trái
trong đời sống cá nhân qua những hành vi sám hối.
Văn kiện sơ khởi của Thượng Hội Đồng (được gọi là “Lineamenta”), được soạn thảo với
mục đích duy nhất là trình bày đề tài và nhấn mạnh đến vài chiều kích nền tảng của nó, đã giúp
cho các Giáo Hội trên khắp thế giới có thể suy tư trong suốt hai năm trời về những khía cạnh của

một vấn đề có liên quan đến mỗi người, tức là vấn đề hoán cải và hòa giải. Nó cũng giúp họ rút
ra được một động lực mới cho đời sống Kitô hữu và công tác tông đồ. Cuộc suy tư ấy được đào
sâu hơn nữa trong việc chuẩn bị gần cho hoạt động của Thượng Hội Đồng, nhờ vào Tài Liệu làm
việc (Instrumentum Laboris) đã được kịp thời gởi cho các giám mục và những cộng sự viên của
các ngài. Sau đó, nhờ sự hỗ trợ của những người tham dự các phiên họp, các nghị phụ của
Thượng Hội Đồng đã dành trọn một tháng để bàn kỹ lưỡng về chính đề tài đó cùng với nhiều vấn
đề có liên quan tới nó. Từ những cuộc tranh luận, công tác nghiên cứu chung và sự làm việc cần
cù và cẩn thận, đã thâu lượm được một kho tàng phong phú và quý giá, được tổng hợp vào các
Propositiones (kiến nghị).
Quan điểm Thượng Hội Đồng đã không xem thường các hành vi hòa giải (một số đó diễn
ra cách bình thường không được ai chú ý) mà trong những cấp độ khác nhau đã giúp giải quyết
nhiều căng thẳng, vượt qua nhiều xung đột và hàn gắn bao chia rẽ cả lớn lẫn bé, qua việc tái lập
sự hiệp nhất. Tuy nhiên mối quan tâm chính của Thượng Hội Đồng là khám phá giữa những
hành động rải rác này, căn rễ ngấm ngầm – tạm gọi là sự hòa giải ở cội nguồn – đang diễn ra
trong tâm trí của mọi người.
Đứng trước vấn đề hòa giải, dù phải thực hiện ở cấp độ nào đi nữa, thì đoàn sủng và tính
độc đáo của Hội Thánh nằm ở chỗ Hội Thánh luôn phải quay về sự hòa giải tận cội nguồn nói
trên. Bởi vì do sứ vụ thiết yếu của mình, Hội Thánh có bổn phận phải đi tới tận gốc rễ của vết
thương nguyên thủy là tội lỗi ngõ hầu mang lại sự chữa trị, và tái lập sự hòa giải nguyên thủy,
nguyên uỷ hiệu nghiệm của mọi hòa giải đích thực. Đây là sự hòa giải Hội Thánh quan niệm và
khai triển nhờ Thượng Hội Đồng.
Kinh Thánh trình bày cho chúng ta về sự hòa giải này, khi mời gọi chúng ta cố gắng hết
sức để đạt tới nó. [15]  Thế nhưng, Kinh Thánh cũng nói tiên vàn đó là hồng ân thương xót của
Thiên Chúa dành cho nhân loại. [16]  Lịch sử cứu độ, cho dù là của toàn thể nhân loại hay của từng
cá nhân đều là lịch sử tuyệt vời về sự hòa giải: Sự hòa giải trong đó Thiên Chúa là Cha qua bửu
huyết và thập giá của Con Ngài làm người đã giao hòa thế gian với chính Ngài, và như thế Ngài
thiết lập một gia đình mới gồm những ai đã được giải hòa.
Việc hòa giải trở nên cần thiết bởi vì đã có những đổ vỡ do tội, từ đó phát sinh ra mọi hình
thức đổ vỡ khác trong con người và xung quanh con người. Chính vì thế để sự hòa giải được
hoàn toàn thì cần phải có sự giải phóng khỏi tội lỗi, tội lỗi cần phải nhổ tận rễ. Như vậy có một
mối liên kết chặt chẽ nội tại giữa sự hoán cải với việc hòa giải, không thể nào tách rời hai thực
thể đó, hay nói về cái này mà không nói về cái kia.
Thượng Hội Đồng đã đồng thời đề cập đến sự hòa giải của toàn thể gia đình nhân loại và
sự thay đổi nơi con tim của từng cá nhân, đến việc trở về với Thiên Chúa. Thượng Hội Đồng làm
như thế là vì muốn thừa nhận và cho thấy sự kiện là không thể có sự hiệp nhất giữa con người,
nếu không có sự thay đổi nội tâm của từng cá nhân. Sự hoán cải bản thân là con đường cần thiết
dẫn tới sự hòa hợp giữa các cá nhân. [17]  Khi công bố Tin mừng về sự hòa giải hoặc đề nghị thực
hiện việc hòa giải nhờ các bí tích, Hội Thánh đang thi hành vai trò đích thực của mình là ngôn
sứ, lên án những sự dữ nơi con người trong cội nguồn nhiễm độc của chúng, phơi bày cội rễ của
những phân rẽ và mang lại niềm hy vọng có thể vượt thắng những căng thẳng và tranh chấp mà
vươn đến tình huynh đệ thuận thảo và an bình ở mọi cấp độ, mọi tầng lớp của xã hội con người,
Hội Thánh đang chuyển đổi điều kiện lịch sử của hận thù và bạo lực thành một nền văn minh
tình yêu. Hội Thánh đang cống hiến cho mỗi người nguyên lý của Tin mừng và có tính bí tích về
một sự hòa giải tại nơi cội nguồn của nó. Từ cội nguồn này mới phát sinh được các cử chỉ và
hành động hòa giải khác, ngay cả trên bình diện xã hội.

Chính sự hòa giải đó là kết quả của sự hoán cải, là nội dung của Tông huấn này. Vì, như
đã diễn ra khi kết thúc ba khóa họp Thượng Hội Đồng trước đây lần này các nghị phụ cũng đệ
trình kết luận của Thượng Hội Đồng lên Giám mục Roma, vị chủ chăn toàn cầu của Hội Thánh
và là người đứng đầu giám mục đoàn, với tư cách là chủ tịch Thượng Hội Đồng. Như là một bổn
phận nghiêm minh và quý mến của tác vụ của tôi, tôi đã chấp nhận công tác phải soạn ra, từ
nguồn phong phú lớn lao của Thượng Hội Đồng, một sứ điệp tín lý và mục vụ về đề tài sám hối
và hòa giải để cống hiến cho dân Chúa như thành quả của Thượng Hội Đồng.
Trong phần một, tôi sẽ nói về Hội Thánh trong công tác thực hiện sứ mạng hòa giải của
mình, trong việc làm cho các tâm hồn có thể quay về trong vòng tay Thiên Chúa, làm cho con
người nối lại vòng tay với con người, với toàn thể vũ trụ.
Trong phần hai, tôi sẽ cho thấy nguyên nhân cội rễ gây nên mọi vết thương, mọi phân rẽ
giữa con người với con người, nhất là giữa con người với Thiên Chúa: đó là tội lỗi.
Sau đó, tôi sẽ đề ra các phương tiện hỗ trợ cho Hội Thánh trong việc cỗ vũ và khích lệ một
sự hòa giải tròn đầy giữa con người với Thiên Chúa và từ đó giữa con người với nhau.
Tông Huấn mà giờ đây tôi muốn trao đến tay các con cái của Hội Thánh cũng như tất cả
những người dù có tín ngưỡng hay không, đang thành tâm chú ý đến Hội Thánh, là một lời đáp
trả tương xứng với những gì Thượng Hội Đồng yêu cầu tôi. Và tôi nói rõ, vì đây là một bổn phận
đối với sự thật và sự công bằng, Tông Huấn này cũng là một tác phẩm của chính Thượng Hội
Đồng. Vì rằng nội dung của những trang sau đây phát xuất từ Thượng Hội Đồng, từ công việc
chuẩn bị xa gần của Thượng Hội Đồng, từ bản “Tài liệu làm việc” (Instrumentum Laboris), từ
những sự can thiệp của phòng họp hay trong các nhóm (Circuli Minores) của Thượng Hội Đồng,
và nhất là từ “tập kiến nghị” (Propositiones). Ở đây chúng tôi có được thành quả công việc hợp
tác của các Nghị phụ, trong đó có đại diện của các Giáo Hội Đông Phương với di sản thần học,
tu đức và phụng vụ rất phong phú và đáng kính trọng kể cả trong đề tài chúng ta bàn luận ở đây.
Hơn nữa chính ban Thư ký Thượng Hội Đồng đã đánh giá cao trong hai khóa họp quan trọng,
những thành quả và những phương hướng do cuộc họp Thượng Hội Đồng đề ra sau khi bế mạc.
Chính ban Thư ký làm nổi bật tính năng động của những Propositiones trên, và đã vạch ra những
đường nét thích hợp nhất cho việc soạn thảo Tông Huấn này. Tôi chân thành biết ơn tất cả những
ai đã cộng tác trong việc biên soạn bản thảo này và, trung thành với sứ mệnh của tôi, tôi muốn
trao lại những điều rút ra từ kho tàng tín lý và mục vụ của Thượng Hội Đồng, mà theo tôi có tính
cách quan phòng cho cuộc sống con người vào thời điểm huy hoàng tuy cam go này của lịch sử.
Thật là thích hợp và ý nghĩa để làm điều này trong khi ký ức về Năm Thánh vẫn còn đậm
nét trong tâm trí người dân, một năm đã được sống trong tinh thần sám hối, hoán cải và hòa giải.
Ước gì khi được gởi đến anh em của tôi trong giám mục đoàn, đến các cộng viên của ngài như
các linh mục, và phó tế, đến các nam nữ tu sĩ, và tất cả những ai có lương tâm chính trực, Tông
Huấn này là một phương tiện để đức tin được thanh luyện, phong phú hóa và đào sâu. Ước gì
Tông Huấn này cũng là chất men kích thích giữa lòng thế giới sự tăng trưởng của hòa bình, tình
huynh đệ, hy vọng và niềm vui, – những giá trị nảy sinh từ Tin mừng được đón nhận, suy gẫm và
sống ngày này qua ngày nọ theo gương Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu Kitô, nhờ Người mà
Thiên Chúa đã vui lòng hòa giải tất cả mọi sự với mình. [18]
***
PHẦN I. HOÁN CẢI VÀ HÒA GIẢI: BỔN PHẬN VÀ SỰ DẤN THÂN CỦA HỘI THÁNH

CHƯƠNG I. DỤ NGÔN VỀ SỰ HÒA GIẢI

 

5. Mở đầu Tông Huấn này, tôi nghĩ đến một đoạn văn tuyệt vời của Tin mừng theo thánh
Luca mà tôi đã cố gắng giải thích tính cách sâu thẳm về đạo nghĩa cũng như về nhân bản trong
một văn kiện trước đây. [19]  Tôi muốn nói đến dụ ngôn “người con hoang đàng”. [20]
Từ người em bị lạc mất…
Đức Giêsu nói: “Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: “Thưa
cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng”, và Người bắt đầu kể câu chuyện bi thương về
người con thứ: bỏ nhà mạo hiểm ra đi, quẳng hết phần tài sản vào một cuộc sống buông thả và
trống rỗng, những ngày tha hương đen tối và đói khát, nhất là mất hết cả phẩm giá, nhục nhã, tủi
khổ và rồi nỗi nhớ nhà, can đảm đứng lên trở về, người cha giang tay đón rước. Chắc hẳn người
cha đã không quên con, luôn cất giữ mối tình trìu mến và qúy trọng đối với con. Vì thế ông ta đã
luôn ngóng đợi con, và giờ đây giang tay ôm choàng lấy con, truyền lệnh mở tiệc chiêu đãi con
trở về, người con “đã chết nay sống lại, đã lạc mất nay lại tìm thấy”.
Người con hoang đàng này là con người, là mỗi một con người: bị mê hoặc do cám dỗ
tách lìa khỏi Cha để sống tự lập; bị thất vọng về những ảo ảnh trống rỗng đã làm mình mê muội;
cô đơn, bị hạ nhục, bị khai thác khi cố xây dựng một thế giới cho riêng mình; bị nỗi ước muốn
trở về hiệp thông với cha dày vò trong khi lặn hụp trong hố sâu khốn khổ. Như người cha trong
dụ ngôn, Thiên Chúa ngóng trông đợi con mình trở về, và khi nó đến ôm choàng lấy nó trong
vòng tay, mở tiệc mừng sự giao hòa phát sinh từ sự tái ngộ.
Yếu tố đánh động nhất trong dụ ngôn là sự tiếp đón tưng bừng và đầy yêu thương dành
cho người con trở về: đây chính là biểu hiện lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn sẵn
sàng tha thứ. Chúng ta hãy nói ngay rằng: hòa giải chủ yếu là ân huệ của Cha trên Trời.
… đến người anh ở lại nhà
6. Nhưng dụ ngôn cũng họa nên bức tranh người anh từ chối không ngồi vào bàn tiệc. Anh
ta chê trách người em đã lêu lổng và anh ta cũng trách cả người cha đã nồng hậu đón tiếp người
con hoang đàng, còn bản thân anh, một người sống chừng mực làm việc cần cù, luôn trung thành
với cha, với gia đình – theo như anh nói – thì lại không bao giờ có được một bữa tiệc liên hoan
với bạn bè. Điều này chứng tỏ anh ta không hiểu được tấm lòng nhân hậu của người cha. Bao lâu
mà người anh quá cầm chắc về mình, về những đức tính tốt của mình, nhưng lại ganh tỵ, kiêu
căng, chua chát và giận dữ, đã không trở về và không giao hòa với cha và em mình, thì bữa tiệc
vẫn chưa phải là một bữa tiệc mừng vui của sự đoàn tụ và tái khám phá.
Con người, mỗi một con người cũng là hiện thân của người anh cả. Tính ích kỷ làm anh ta
trở thành ganh tỵ, làm chai cứng con tim, làm mù mắt anh ta và làm anh ta đóng chặt cửa tách
biệt khỏi người khác và tách lìa khỏi Thiên Chúa. Lòng nhân hậu yêu thương và thương xót của
người cha làm anh ta tức tối nổi khùng. Đối với anh ta, niềm hạnh phúc của việc tìm lại được đứa
em thấm vị chua chát. [21]  Từ quan điểm này, anh ta cũng cần phải được trở lại để hòa giải.
Dụ ngôn “người con hoang đàng”, trước hết là câu chuyện về tình yêu khôn tả của người
cha, của Thiên Chúa, của Đấng đã ban cho người con quà tặng của sự hòa giải hoàn toàn khi nó
quay về với Người. Nhưng dụ ngôn, qua bức chân dung của người anh cả, cũng làm nổi bật tính
ích kỷ làm anh em chia rẽ nhau, đây cũng là câu chuyện của gia đình nhân loại: nó nói lên hiện
trạng của chúng ta và vạch cho chúng ta con đường phải theo…
Đứa con hoang đàng, trong niềm ao ước hoán cải và trở về trong vòng tay của người Cha
để được tha thứ, tiêu biểu cho những ai ý thức tận trong tâm khảm họ sự hiện diện của lòng khao

khát hòa giải ở mọi khía cạnh và không chút dè dặt, và những ai trong thâm tâm nhận ra được
một cách chắc chắn rằng sự hòa giải này chỉ có thể có được nếu nó bắt nguồn từ sự hòa giải tiên
khởi và nền tảng, sự hòa giải mang con người từ tình trạng phân ly đến tình thân hữu con cái với
Thiên Chúa, Đấng mà họ nhìn nhận là có lòng thương xót không bờ bến. Nhưng nếu dụ ngôn
được đọc từ một quan điểm của người anh, nó miêu tả sinh động một hoàn cảnh gia đình nhân
loại bị chia rẽ bởi những hình thức ích kỷ. Nó nêu rõ những sự việc khó khăn hàm chứa trong
việc thể hiện lòng ước ao và khát mong được thấy một gia đình được hòa giải và đoàn kết. Bởi
vậy nó nhắc nhở chúng ta về sự cần thiết phải biến đổi con tim thật sâu xa để tái khám phá ra
được tấm lòng nhân hậu của người cha và qua việc vượt thắng những hiểu lầm và thù nghịch
giữa anh chị em với nhau.
Dưới ánh sáng của dụ ngôn bất tận về lòng nhân hậu rửa sạch tội lỗi, Hội Thánh đón nhận
tiếng kêu gọi mà câu chuyện này chứa đựng, và hiểu thấu được sứ mạng của mình, noi gương
Chúa Kitô, phải hoạt động nhằm cải hoán các tâm hồn và hoà giải con người với Chúa và với
nhau. Hai ý thực tại này liên kết với nhau một cách chặt chẽ.
***
CHƯƠNG II. TÌM VỀ NHỮNG NGUỒN MẠCH CỦA SỰ HÒA GIẢI

 
Dưới ánh sáng Đức Kitô Đấng hòa giải
7. Từ dụ ngôn đứa con hoang đàng chúng ta kết luận rằng sự hòa giải là quà tặng của
Thiên Chúa, là sáng kiến của Người. Nhưng đức tin dạy chúng ta rằng sáng kiến đó được cụ thể
hóa trong mầu nhiệm của Đức Kitô, Đấng cứu thế, Đấng hòa giải và Đấng giải thoát nhân loại
khỏi tội lỗi dưới hết mọi hình thức của nó. Thánh Phaolô đã không ngần ngại tóm tắt trong
nhiệm vụ và chức phận ấy tất cả sứ mạng vô song của Đức Giêsu Nazareth, Ngôi Lời và Con
Thiên Chúa làm người.
Chúng ta cũng có thể bắt đầu với mầu nhiệm trọng yếu của kế hoạch cứu rỗi, chìa khóa
của Kitô học theo Thánh Phaolô, ngài viết: “Khi chúng ta còn là thù nghịch chúng ta đã được
giao hòa với Thiên Chúa nhờ cái chết của Con của Người. Phương chi, bây giờ chúng ta đã
được hòa giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Con của Người, không phải chỉ có
thế, chúng ta còn được vui mừng hoan hỷ trong Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta,
nhờ Người giờ đây chúng ta được sự hòa giải”, [22]  bởi vì trong Đức Kitô Thiên Chúa đã hòa giải
thế gian với mình, Thánh Phaolô cảm thấy hứng khởi khuyên nhủ các tín hữu Côrintô: “Xin anh
em hãy làm hòa với Thiên Chúa”. [23]
Sứ mạng hòa giải này thông qua cái chết trên thập giá được Thánh Gioan phát biểu với
diễn ngữ khác, khi ông nhận xét rằng Đức Kitô phải chết, “để quy tụ con cái Thiên Chúa đang
tản mác khắp nơi về một mối”. [24]
Nhưng một lần nữa, Thánh Phaolô cho phép chúng ta mở rộng tầm mắt về công trình của
Chúa ra chiều kích của vũ trụ, khi viết rằng trong Đức Kitô, Chúa Cha hòa giải với mình toàn thể
thụ tạo trên trời dưới đất. [25]  Có thể nói một cách xác đáng về Đức Giêsu Kitô rằng: “Trong cơn
giận dữ Người đã đứng ra giao hòa, [26]  và nếu Người là “Sự bình an của chúng ta” [27]  thì Ngài
cũng là “Sự hòa giải của chúng ta”.
Thật là hữu lý khi phụng vụ gọi cuộc khổ nạn và cái chết của Người, được tái diễn trong
Bí tích Thánh Thể, là “Hy tế hòa giải”: [28]  hòa giải với Thiên Chúa, và với anh em, vì Đức Giêsu
dạy rằng: phải hòa giải với anh em trước khi dâng của lễ. [29]

Bởi vậy, từ những điều này và những đoạn đầy ý nghĩa khác trong Tân Ước, chúng ta có
thể tập trung cách hợp lý những suy nghĩ của chúng ta về toàn bộ sứ mệnh của Đức Kitô như là
Đấng hòa giải. Vì vậy, phải được công bố một lần nữa niềm tin của Hội Thánh vào công việc
cứu chuộc của Đức Kitô, trong mầu nhiệm Vượt Qua của cái chết và sự phục sinh như là nguyên
nhân sự hòa giải nhân loại, dưới hai khía cạnh: giải thoát con người khỏi tội lỗi và hiệp thông ơn
nghĩa với Thiên Chúa.
Chính khi đứng trước cảnh tượng buồn thảm của những chia rẽ và những khó khăn trong
cuộc hòa giải giữa “con người” mà tôi muốn mời gọi mọi người hãy ngước nhìn lên “mầu
nhiệm Thập giá” như cao trào của vở kịch, trong đó Đức Kitô cảm nhận và hứng chịu tột độ bi
kịch của việc con người tách rời khỏi Thiên Chúa, cho nên Người đã kêu lên những lời sau đây
trong Thánh Vịnh: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi, sao Ngài bỏ tôi!”, [30]  và đồng thời
Người hoàn tất sự hòa giải của chúng ta. Với cặp mắt nhìn cắm lên mầu nhiệm Gôngôtha luôn
luôn phải nhắc nhở chúng ta về “chiều thẳng đứng” của sự chia rẽ và sự hòa giải trong mối
tương quan con người và Thiên Chúa. Chiều kích đó, với cặp mắt đức tin luôn luôn đi
trước “chiều ngang”, nghĩa là đi trước thực tại về sự chia rẽ giữa con người với nhau và về sự
cần thiết phải hòa giải với nhau. Chúng ta biết rằng sự hòa giải giữa con người chỉ là, và chỉ có
thể là kết quả của hành động cứu chuộc của Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại để chiến thắng
vương quốc tội lỗi, để tái lập giao ước với Thiên Chúa và phá đổ bức tường ngăn cách mà tội lỗi
đã dựng nên giữa con người. [31]
Hội Thánh hòa giải
8. Bàn về cuộc khổ nạn của Đức Kitô, Thánh Giáo Hoàng Lêô Cả nói: “Tất cả những điều
mà Con Thiên Chúa đã làm và đã dạy về sự hòa giải của thế giới thì chúng ta không chỉ biết
được từ những hành động của Người trong lịch sử đã qua, nhưng chúng ta cũng cảm nghiệm
được hiệu năng qua những điều mà Người đang thể hiện trong hiện tại”. [32]  Chúng ta cảm
nghiệm được sự hòa giải mà Người đã hoàn tất trong nhân tính của mình qua hiệu quả của những
mầu nhiệm thánh, được cử hành trong Hội Thánh của Người. Chính vì Hội Thánh mà Người đã
trao hiến mạng sống và thiết lập Hội Thánh làm dấu hiệu và phương thế cứu rỗi.
Điều này được Thánh Phaolô tuyên bố khi viết rằng Thiên Chúa đã ban cho các tông đồ
của Đức Kitô được chia sẻ công việc hòa giải của Người. Ông viết: “Thiên Chúa đã trao ban
cho chúng tôi tác vụ hòa giải… và lời hòa giải”. [33]  Chúa Cha đã thương ký thác cho bàn tay và
môi miệng của các tông đồ, những sứ giả của Người, tác vụ hòa giải, mà họ sẽ chu toàn một cách
độc đáo, do quyền năng hành động “hiện thân của Đức Kitô” (in persona Christi). Nhưng lời
hòa giải cũng được ký thác cho toàn thể cộng đoàn tín hữu, cho toàn thể tổ chức Hội Thánh,
nghĩa là bổn phận phải thực thi những gì có thể để làm chứng nhân cho sự hòa giải và để thực
hiện trong thế giới.
Có thể nói được là Công Đồng Vatican II, khi định nghĩa Hội Thánh như là một “bí tích,
nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ của sự thông hiệp với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất giữa loài
người”, và khi xác định nhiệm vụ của Hội Thánh là đạt tới “sự hiệp nhất toàn vẹn nơi Đức
Kitô”, đối với con người ngày nay đang “càng ngày càng gắn bó với nhau nhờ những mối dây
xã hội, kỹ thuật, văn hóa”, [34]  thì đã nhìn nhận rằng Hội Thánh phải nỗ lực hết mình để đưa toàn
thể nhân loại đến sự hòa giải trọn vẹn.
Vì thế, gắn liền với sứ mạng của Đức Kitô, chúng ta có thể tóm lược sứ mạng của Hội
Thánh, tuy dù phong phú và phức tạp, vào bổn phận trung tâm là hòa giải con người với Thiên
Chúa và với chính mình, với tha nhân, với toàn thể thụ tạo. Điều này mang tính cách trường tồn,
bởi vì như tôi đã từng nói trong một dịp khác: “Bản tính của Hội Thánh là luôn luôn hòa
giải”. [35]

Giáo Hội thực hiện công cuộc hòa giải khi công bố sứ điệp hòa giải như vẫn làm xuyên
suốt lịch sử của mình, kể từ Công Đồng các tông đồ ở Giêrusalem cho đến Thượng Hội Đồng
Giám Mục cuối cùng và năm toàn xá ơn cứu rỗi gần đây. [36]  Tính độc đáo của sự công bố này hệ
tại sự kiện, đối với Hội Thánh sự “hòa giải” được nối kết chặt chẽ với việc hoán cải con tim,
đây là đường lối cần thiết để con người hiểu biết lẫn nhau.
Hội Thánh cũng thực hiện công cuộc hòa giải khi trình bày cho con người những đường
lối và cống hiến những phương thế nhằm đạt đến sự hòa giải theo 4 khía cạnh nói trên. Những
đường lối là sự hoán cải con tim và chiến thắng tội lỗi, cho dù tội lỗi đó là sự ích kỷ hay bất
công, là tự đắc hay là khai thác người khác, là gắn bó với vật chất hoặc việc tìm kiếm khoái lạc
vô độ. Các phương thế là chú ý lắng nghe Lời Chúa cách bền tâm, và yêu quý cầu nguyện cá
nhân hay cộng đoàn; và đặc biệt là các bí tích, là những dấu chỉ và khí cụ thực sự cho việc hòa
giải. Về phương diện này, trong số các bí tích, trổi vượt hơn hết là Bí Tích quen gọi là Bí Tích
Hòa Giải hay Sám hối; chúng ta còn trở lại vấn đề này sau.
Hội Thánh được giao hòa
9. Đức Phaolô VI, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã có công làm nổi bật sự kiện là để
truyền giảng Tin Mừng thì Hội Thánh phải bắt đầu bằng việc cho thấy chính mình đã được Tin
Mừng hóa, nghĩa là Hội Thánh mở rộng đối với Tin Mừng Đức Giêsu Kitô một cách đầy đủ và
trọn vẹn để đón nhận cũng như đem ra thực hành. [37]  Cũng vậy, khi thu gom các suy tư của Đại
Hội lần thứ tư của Thượng Hội Đồng Giám Mục ra thành văn kiện, tôi cũng đã nói về một Hội
Thánh phải được huấn giáo ngõ hầu thi hành công tác huấn giáo. [38]
Bây giờ, tôi không ngại lấy lại sự so sánh đó để áp dụng vào đề tài tôi đang bàn đến, nhằm
khẳng định rằng nếu Giáo Hội “thực hiện công cuộc hòa giải”, cần phải bắt đầu bằng một Giáo
Hội “được giao hòa”. Đàng sau lối diễn tả đơn giản và đầy ý nghĩa ấy là niềm xác tín rằng để có
khả năng công bố và đề nghị việc hòa giải cho thế giới một cách hữu hiệu hơn, Hội Thánh càng
phải trở thành một cộng đoàn đích danh của môn đệ Đức Kitô (dẫu rằng Hội Thánh vẫn là “một
đoàn chiên bé nhỏ” của những ngày đầu tiên), được liên kết với nhau trong cuộc dấn thân không
ngừng hoán cải về với Chúa và sống như một đoàn dân mới trong tinh thần và thực hành việc
hòa giải.
Với con người thời đại vốn rất nhạy cảm với những chứng từ sống động cụ thể, Hội Thánh
được kêu mời hãy đưa ra một gương mẫu cho việc hòa giải trước tiên riêng trong nội bộ của
mình. Và vì mục đích này tất cả chúng ta phải làm việc để đem lại sự bình an cho tâm trí con
người, để làm giảm bớt những căng thẳng, để vượt qua những sự chia rẽ, và để chữa lành những
vết thương đau mà anh em đã gây ra cho nhau khi mà sự đối chọi lập trường trong những vấn đề
tư kiến trở thành kịch liệt, và ngược lại, chúng ta phải cố gắng hiệp nhất trong những gì là trọng
yếu cho đức tin và đời sống Kitô giáo theo như phương châm của người xưa rằng: “Trong những
điểm hồ nghi thì để tự do, trong những điểm thiết yếu thì phải thống nhất, và trong hết mọi sự
cần có bác ái” (in dubiis libertas; in necessatiis unitas; in omnibus caritas).
Dựa theo chuẩn mực đó mà Hội Thánh phải tiến hành hoạt động đại kết của mình. Để
được hoàn toàn hòa giải, Giáo Hội biết rằng mình phải tiếp tục mưu cầu sự hiệp nhất giữa những
người hiên ngang xưng mình là Kitô hữu nhưng lại phân rẽ nhau, ngay cả phân rẽ thành các Giáo
Hội và giáo đoàn và phân ly khỏi Giáo Hội Rôma. Giáo Hội Rôma tìm kiếm sự hiệp nhất được
coi như hoa trái và diễn tả sự hòa giải thực sự. Sự hiệp nhất được đặt nền không phải trên sự che
dấu những điểm gây nên chia rẽ,cũng không phải trên những thỏa hiệp dễ dãi có tính cách nông
cạn và dòn mỏng. Sự hiệp nhất phải là thành quả của việc hoán cải thực sự nơi mỗi người, là
thành quả của sự tha thứ cho nhau, của việc đối thoại thần học và tương giao huynh đệ, của cầu

nguyện và ngoan ngoãn hoàn toàn đối với tác động của Thánh Thần, Đấng cũng là “Thần Khí
của sự Hòa Giải”.
Sau cùng, để có thể nói được rằng mình đã được hoàn toàn hòa giải, Hội Thánh cảm thấy
có bổn phận phải nỗ lực hơn nữa qua việc thúc đẩy cuộc “đối thoại cứu rỗi”, [39]  để đem Tin
Mừng đến những khu vực rộng lớn của nhân loại trong thế giới hôm nay nhưng không được chia
sẻ niềm tin với mình, thậm chí do hậu quả của phong trào tục hóa đang phát triển, họ đứng xa
Hội Thánh và chống lại Hội Thánh với một thái độ hờ hững lạnh lùng, nếu chưa đến nỗi là họ
ngăn cản và bắt bớ Hội Thánh. Hội Thánh cảm thấy bổn phận cần nói một lần nữa cho mọi người
những lời của Thánh Phaolô: “Xin hãy hòa giải với Thiên Chúa”. [40]
Dù sao đi nữa, Hội Thánh cổ động việc hòa giải “trong sự thật” và biết rằng không thể có
hòa giải hay hợp nhất ở ngoài hoặc nghịch lại với sự thật.
***
CHƯƠNG III. SỰ KHỞI XƯỚNG CỦA THIÊN CHÚA VÀ TÁC VỤ CỦA HỘI THÁNH

 

10. Là một cộng đoàn hòa giải và được giao hòa, Hội Thánh không thể nào quên nguồn
mạch của hồng ân và sứ mạng hòa giải của mình là sáng khởi đầy tình nhân ái và thương xót của
Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu và do tình yêu, [41]  Người đã tạo dựng nên con người; [42]  và Người
tạo dựng con người để họ sống trong tình thân hữu với Người và thông hiệp với nhau.
Sự hòa giải đến từ Thiên Chúa
Thiên Chúa trung thành trong kế hoạch đời đời, cả khi con người bị Thần Dữ thúc
đẩy [43]  và bị tính kiêu ngạo lôi kéo, đã thay vì sử dụng tự do mà Chúa đã ban cho để yêu mến và
đi tìm điều thiện một cách quảng đại, con người lại từ chối vâng phục Chủ Tể và Cha của mình.
Thiên Chúa trung thành cả khi con người thay vì dùng tình yêu để đáp trả tình yêu của Thiên
Chúa, lại đối đầu với Người và coi Người như một đối thủ, và đã tự lừa dối mình, cậy dựa vào
sức riêng mình, mà cắt đứt mối liên hệ với Đấng đã tạo nên mình. Bất chấp lỗi phạm về phía con
người, Thiên Chúa vẫn “trung tín với Tình Yêu”. Quả thực, câu chuyện nơi vườn Eden làm
chúng ta nghĩ về những hậu quả bi thảm khi chối từ người Cha, mang lại cảnh xáo trộn trong nội
tâm con người, và phá hủy sự hòa điệu giữa nam nữ, giữa anh em. [44]  Dụ ngôn Tin Mừng cũng
cho thấy hai người anh em, mỗi người mỗi cách, đã tách ly khỏi cha mình và gây nên một vết rạn
nứt giữa họ với nhau. Việc từ chối tình yêu của Thiên Chúa là Cha mình và những tặng phẩm âu
yếm của Người luôn là cội rễ của những phân rẽ nơi nhân loại.
Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa, “Đấng giàu lòng từ bi”, [45]  giống như người cha
trong dụ ngôn, không đóng lòng lại với bất cứ đứa con nào. Người chờ đợi, tìm kiếm và đến gặp
họ ở chính nơi mà sự từ chối hiệp thông đã khép chặt họ trong cô lập và phân ly. Người mời gọi
họ tụ họp quanh bàn tiệc với niềm vui của buổi lễ mừng sự tha thứ và hòa giải.
Sáng khởi này từ phía Thiên Chúa đã được thực hiện cụ thể và hiển nhiên trong công cuộc
cứu độ của Đức Kitô, rộng tỏa khắp thế giới nhờ tác vụ của Giáo Hội.
Theo đức tin của chúng ta. Ngôi Lời Thiên Chúa đã làm người và đến cư ngụ giữa thế
giới; Người đã đi vào lịch sử của thế giới, thâu hồi và quy tụ nó trong Người. [46]  Người mặc khải
cho chúng ta rằng Thiên Chúa là tình yêu, và Người ban cho chúng ta “giới luật mới” của tình
yêu, [47]  đồng thời thông chuyển cho chúng ta sự đoan chắc rằng con đường tình yêu đang mở ra
cho tất cả mọi người, như vậy nỗ lực xây dựng tình huynh đệ toàn cầu không là việc vô
ích. [48]  Bằng cuộc chiến thắng sự dữ và quyền lực tội lỗi nhờ cái chết trên thập giá, với tâm tình

yêu mến vâng phục, Người đã đem ơn cứu độ đến cho mọi người và trở thành “sự hòa giải” cho
tất cả. Trong Người Thiên Chúa hòa giải con người với chính mình.
Hội Thánh tiếp tục công bố sự hòa giải mà Đức Kitô đã làm vang vọng khắp miền Galilê
và khắp xứ Palestin, [49]  và Hội Thánh không ngừng mời gọi mọi người hoán cải và tin vào Tin
Mừng. Mượn lời kêu gọi của Thánh Phaolô, mà chúng tôi đã nhắc đến làm lời của mình, Hội
Thánh nhân danh Đức Kitô tuyên bố: “Chúng tôi là những sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể
chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà kêu gọi. Vậy nhân danh Đức Chúa Kitô, chúng tôi nài xin
anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa”. [50]
Những ai đón nhận lời mời gọi này thì bước vào nhiệm cục hòa giải và cảm nhận được sự
thật chất chứa trong một lời khẳng định khác của Thánh Phaolô, ngài nói Đức Kitô “là bình an
của chúng ta, Người đã liên kết đôi bên lại và đã phá đổ bức tường thù nghịch ngăn cách… như
vậy, khi thiết lập hòa bình” Người làm cho đôi bên chúng ta được hòa giải với Thiên
Chúa. [51]  Đoạn văn này trực tiếp đến tình trạng xóa tan việc phân rẽ tôn giáo giữa Israel như dân
tộc được tuyển chọn trong Cựu Ước – và các dân tộc khác, tất cả đều được kêu mời làm nên
thành phần của Tân Ước. Tuy vậy, nó còn chứa đựng việc xác nhận đặc tính phổ quát tinh thần
mà Thiên Chúa muốn và được Người hoàn thành nhờ hy lễ của Người Con, Ngôi Lời làm người,
không có giới hạn hay một loại trừ nào, dành cho tất cả nhưng ai đã hoán cải và tin vào Đức
Kitô. Vì thế tất cả chúng ta – mọi người và mọi dân tộc – được kêu gọi vui hưởng hoa trái của
việc hòa giải do Chúa muốn.
Hội Thánh – Đại Bí tích Hòa Giải
11. Hội Thánh có sứ mệnh loan báo sự hòa giải này, và là bí tích của sự hòa giải trong thế
giới. Hội Thánh là “Bí Tích”, nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ hòa giải trong nhiều cách thế khác
nhau tuy khác biệt về giá trị nhưng tất cả đều kết hợp để đạt tới điều mà sáng khởi của lòng
Thiên Chúa thương xót muốn dành cho con người.
Trước hết, Hội Thánh là Bí Tích bằng chính sự hiện hữu của mình như là một cộng đoàn
được hòa giải để làm nhân chứng và hiện thực công cuộc của Đức Kitô trong thế giới.
Hội Thánh cũng là Bí Tích qua việc làm kẻ bảo vệ và giải thích Kinh Thánh, là Tin Mừng
của sự hòa giải, bởi vì Tin Mừng thuật lại cho các thế hệ kế tiếp về kế hoạch tình yêu của Thiên
Chúa, và trình bày cho mỗi thế hệ những đường lối dẫn đến sự hòa giải phổ quát trong Đức Kitô.
Sau cùng, Hội Thánh là Bí Tích nhờ có bảy Bí Tích, mà mỗi Bí Tích “làm nên Giáo
Hội” theo cách thức riêng của mình. [52]  Do việc tưởng nhớ và tái diễn Mầu Nhiệm Vượt Qua của
Đức Kitô, các Bí Tích là nguồn mạch sự sống của Hội Thánh, và trong tay của Hội Thánh chúng
là những phương thế cho việc trở về với Thiên Chúa và hòa giải giữa nhân loại.
Các phương thế hòa giải khác
12. Sứ mạng hòa giải là đặc hữu của toàn thể Hội Thánh, đặc biệt của Hội Thánh đã được
đón nhận vào chia sẻ tràn đầy vinh quang của Thiên Chúa, cùng với Đức Trinh Nữ Maria, các
thiên thần và các thánh, những kẻ đang chiêm ngắm và thờ kính Ba Ngôi Thiên Chúa, Hội Thánh
trên trời, Hội Thánh trần gian và Hội Thánh trong luyện ngục được liên kết nhiệm mầu trong
việc cộng tác với Đức Kitô để hòa giải thế giới về với Thiên Chúa.
Phương thế thứ nhất của hoạt động cứu rỗi là cầu nguyện. Chắc chắn rằng Đức Trinh Nữ,
Thân mẫu của Đức Kitô và của Hội Thánh, [53]  cũng như các thánh đã tới đích điểm của cuộc lữ
hành dương thế và chiếm được vinh quang Thiên Chúa, bằng sự chuyển cầu, các ngài nâng đỡ
anh em mình còn đang tiến bước trong cuộc lữ hành trần thế, để được quyết tâm trong việc hoán
cải, trong đức tin, trong việc chỗi dậy sau mỗi lần vấp ngã, trong việc hoạt động để thăng tiến sự
hiệp thông và hòa bình trong Hội Thánh và trong thế giới. Trong mầu nhiệm các thánh hiệp

thông, sự hòa giải phổ quát được hoàn tất trong thể thức thâm sâu nhất, và cũng có hiệu quả nhất
cho việc cứu độ mọi người.
Còn có một phương thế khác đó là sự giảng thuyết. Là môn đệ của Thầy duy nhất Giêsu
Kitô, đến lượt mình Hội Thánh là Mẹ và là Thầy, không hề mệt mỏi thúc giục con người hãy hòa
giải. Và Hội Thánh cũng không hề ngại ngùng lên án sự dữ của tội, công bố sự cần thiết hoán
cải, mời gọi và yêu cầu con người hãy “giao hòa” với nhau. Thực ra, đây là sứ mạng ngôn sứ
của Hội Thánh trong thế giới hôm nay, cũng như trong thế giới hôm qua. Đó cũng là một sứ
mạng giống như Đức Giêsu, là Thầy và là Thủ lãnh của mình. Cũng như Người, Hội Thánh luôn
chu toàn sứ mạng này với tâm tình của lòng thương xót và muốn đem đến cho mọi người những
lời tha thứ, và mời gọi đến niềm hy vọng xuất phát từ thập giá.
Còn có phương thế hoạt động mục vụ khác, thường khó khăn và cam go, nhắm về đường
lối, đôi khi khá dài, đưa mỗi người dù là ai hay ở đâu, trở về nhà Cha và thông hiệp với tất cả anh
em.
Sau cùng là phương thế làm chứng tá, thường là luôn âm thầm. Điều này phát sinh từ hai
điều nhận thức về phần Hội Thánh: Hội Thánh “hoàn toàn thánh thiện”; [54]  nhưng Hội Thánh
cũng cần phải tiến tới và “hàng ngày phải thanh luyện và đổi mới hơn cho đến ngày Đức Kitô
giới thiệu Hội Thánh trong vinh quang không còn tì vết, nhăn nheo”. Thực vậy, vì tội lỗi của
mình, nên đôi khi sự “chiếu tỏa trên khuôn mặt của Hội Thánh giảm bớt đi vẻ sáng” trước mắt
những người nhìn ngắm Hội Thánh. [55]  Việc làm chứng tá không thể nào bỏ qua hai khía cạnh căn
bản. Khía cạnh thứ nhất là dấu chỉ của lòng bác ái phổ quát mà Đức Giêsu Kitô đã để lại làm gia
sản cho các môn đệ như một bằng chứng họ đã thuộc về Nước Trời. Khía cạnh thứ hai là việc
chuyển tả ra trong những biểu hiện mới mẻ của việc hoán cải và hòa giải bên trong và ngoài Hội
Thánh, bằng cách vượt lên những căng thẳng, bằng việc tha thứ lẫn cho nhau, bằng việc tăng
trưởng trong tình huynh đệ và hòa bình là điều phải được trải rộng ra trên khắp thế giới. Bằng
phương thế này, Hội Thánh sẽ trở thành hữu hiệu hơn cho việc kiến tạo điều mà Đức Phaolô VI,
vị tiền nhiệm của tôi đã đặt tên là “văn minh của tình yêu”.
***
PHẦN II. TÌNH YÊU LỚN HƠN TỘI LỖI

Bi kịch của con người
13. Theo lời của thánh Thánh Gioan tông đồ: “Nếu chúng ta nói chúng ta không có tội, thì
chúng ta tự lừa dối mình và sự thật không có trong chúng ta. Nếu chúng ta xưng thú tội lỗi
chúng ta, thì Đấng trung tín và công minh sẽ tha thứ tội lỗi cho chúng ta”. [56]  Được viết ra từ
buổi sơ khai của Hội Thánh, những lời đầy linh hứng này dẫn nhập một cách chính xác hơn bất
cứ diễn ngữ nào khác của loài người về đề tài tội lỗi, một đề tài liên hệ chặt chẽ với sự hòa giải.
Những lời ấy trình bày vấn đề tội lỗi trong chiều kích nhân bản: tội lỗi như một phần trọn vẹn
của sự thật về con người. Nhưng những lời ấy đã nối kết lập tức chiều kích nhân bản với chiều
kích thiên linh, nơi mà tội lỗi đối diện với sự thật của tình yêu Thiên Chúa, tình yêu công minh,
rộng lượng, và đầy tín trung, tình yêu được tỏ lộ nhất là nơi sự tha thứ và cứu chuộc. Vì thế, sau
đó ít hàng, Thánh Gioan viết thêm “nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, thì Thiên Chúa còn
cao hơn lòng chúng ta”. [57]
Ý thức tội lỗi của mình, – hơn thế nữa, khi càng đi sâu vào bản ngã của mình – nhìn nhận
rằng mình là một tội nhân, có khả năng phạm tội và có xu hướng phạm tội, là bước đầu thiết yếu

trong việc quay về với Thiên Chúa. Đây là kinh nghiệm của Vua Đavít “đã làm điều ác trước
nhan Chúa”, và khi bị tiên tri Nathan khiển trách, [58]  Vua đã thốt lên: “Vâng, con biết tội mình đã
phạm, và tội lỗi con cứ ở trước mặt con, con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều
dữ trước mắt Ngài”. [59]  Tương tự như vậy, Chúa Giêsu đã đặt những lời thâm thúy sau đây vào
miệng và trong tâm hồn của người con hoang đàng: “Cha ơi! Con đã phạm tội đến trời và đến
Cha”. [60]
Thực vậy, việc trở về hòa giải với Thiên Chúa ngụ ý và bao gồm ý thức tự mình tách rời,
một cách có ý thức và dứt khoát, ra khỏi tội lỗi mà mình đã rơi vào. Do đó, nó ngụ ý và bao gồm
việc “sám hối” với ý nghĩa đầy đủ nhất của thuật ngữ: hối hận, bày tỏ sự hối hận này, chấp nhận
một thái độ thực sự hối hận – tức là thái độ của người bắt đầu đi vào con đường trở về với Cha.
Đây là một luật chung, và mỗi cá nhân phải tuân thủ dựa theo hoàn cảnh riêng biệt của mình. Vì
không thể nào bàn đến tội lỗi và hoán cải chỉ bằng những thuật ngữ trừu tượng được.
Trong những hoàn cảnh cụ thể của con người tội lỗi, trong đó không thể nào có hoán cải
mà không có việc nhìn nhận tội lỗi của mình, tác vụ của Hội Thánh về sự hòa giải là can thiệp
vào từng trường hợp cụ thể với một mục tiêu sám hối xác định. Tác vụ của Hội Thánh là can
thiệp vào nhằm đưa con người đến chỗ “biết mình” – theo lối nói của Thánh Catarina thành
Siena [61]  – đến chỗ loại bỏ tội lỗi, tái lập tình thân hữu với Thiên Chúa, đến một trật tự nội tâm
mới, đến một cuộc hoán cải mới với Hội Thánh. Dĩ nhiên, ngay cả bên ngoài biên cương của Hội
Thánh và các cộng đoàn tín hữu, sứ điệp và tác vụ sám hối được nhắm tới tất cả mọi người, bởi
vì hết mọi người đều cần hoán cải và hòa giải. [62]
Để chu toàn tác vụ sám hối cách thích đáng, chúng ta cần phải đánh giá những hậu quả
của tội lỗi dưới “con mắt được soi dẫn” bởi đức tin. [63]  Những hậu quả của tội lỗi là nguyên nhân
của sự chia rẽ và rạn nứt, không chỉ trong mỗi cá nhân mà còn trong nhiều khâu của cuộc sống
con người: trong quan hệ với gia đình, với nghề nghiệp và môi trường xã hội, như kinh nghiệm
thường thấy, điều này được củng cố bởi một đoạn văn trong Kinh Thánh về thành Babel và tháp
của nó. [64]  Với ý đồ xây dựng một công trình được coi làm biểu tượng và tổ ấm của sự hiệp nhất,
những con người này nhận thấy họ bị phân tán hơn trước đó, chia rẽ trong ngôn ngữ, chia rẽ giữa
chính họ với nhau, không có khả năng nhất trí và đồng tâm.
Tại sao dự án đầy tham vọng đó đã thất bại? Tại sao “các thợ nề xây cất uổng
công”? [65]  Họ đã thất bại vì họ đã thiết kế như là dấu chỉ và bảo chứng của sự hợp nhất mà họ mơ
ước, một công trình duy chỉ bằng chính tay họ, và quên đi hoạt động của Chúa. Họ chỉ chú ý đến
chiều ngang của hoạt động và đời sống xã hội mà quên đi chiều dọc mà lẽ ra họ phải cắm rễ nơi
Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa và Chủ Tể của họ, lẽ ra họ phải hướng về với Người như là cứu cánh
tối hậu của các tiến bộ của mình.
Có thể nói rằng bi kịch của con người ngày nay, cũng giống như của mọi thời kỳ lịch sử,
chính là ở chỗ nó tương tự như kinh nghiệm của Babel.
***
CHƯƠNG I. MẦU NHIỆM TỘI LỖI

14. Nếu chúng ta đọc đoạn trình thuật trong Kinh Thánh về thành và tháp Babel dưới ánh
sáng Tin Mừng, và nếu đối chiếu với đoạn văn khác về sự sa ngã của nguyên tổ, chúng ta có thể
rút ra những yếu tố đáng giá để hiểu về “mầu nhiệm tội lỗi”. [66]  Thành ngữ này, phỏng theo kiểu
nói của Thánh Phaolô về “mầu nhiệm của sự gian ác”, giúp chúng ta nắm được yếu tố tối tăm và

mờ mịt hàm chứa trong tội. Dĩ nhiên, tội là sản phẩm của tự do con người. Nhưng nằm sâu trong
thực tại nhân sinh còn có những thành tố làm cho tội vượt thực tại nhân sinh, trong một vùng
chung đụng giữa lương tâm, ý chí, cảm giác của con người với các quyền lực đen tối, mà theo
Thánh Phaolô, thì nó đang tác động trong thế giới đến nỗi gần như đô hộ thế giới. [67]
Không tuân phục Thiên Chúa
Điểm đầu tiên giúp chúng ta hiểu về tội lỗi được rút ra từ tường thuật của Kinh Thánh về
việc xây dựng tháp Babel: con người tìm cách xây một thành phố, tự tổ chức thành một xã hội,
và trở nên hùng mạnh và quyền uy mà “không cần Thiên Chúa”, nếu không muốn nói là chống
lại Thiên Chúa. [68]  Theo nghĩa đó, câu chuyện về tội đầu tiên trong vườn Địa Đàng và câu chuyện
về tháp Babel, mặc dù khác nhau đáng kể về nội dung và hình thức, nhưng có một điểm chung:
trong cả hai chuyện đều có việc “loại trừ Thiên Chúa”, qua việc chống cự thẳng vào một trong
những mệnh lệnh của Người, qua một hành động kình địch, qua kỳ vọng hão huyền là
được “giống như Người”. [69]  Trong câu chuyện về tháp Babel, việc “loại trừ Thiên Chúa” được
trình bày không phải dưới khía cạnh chống cự lại Người cho bằng lãng quên và thờ ơ đối với
Người, ra như Thiên Chúa không có chỗ đứng trong những kế hoạch chung của con người.
Nhưng trong cả hai trường hợp, “mối quan hệ với Thiên Chúa” đều bị cắt đứt cách tàn bạo.
Trường hợp ở vườn Địa Đàng cho thấy hết thực tại nghiêm trọng và bi kịch tạo nên bản chất cuối
cùng và đen tối của tội lỗi: “không tuân phục Thiên Chúa”, bất tuân luật của Người, bất tuân quy
tắc luân lý mà Người đã trao ban cho con người, khắc sâu vào tâm hồn con người, củng cố và
hoàn thiện nó nhờ mạc khải.
“Sự loại trừ Thiên Chúa”, “đoạn tuyệt với Thiên Chúa”, “không tuân phục Thiên Chúa”:
trải qua suốt lịch sử nhân loại, đó là tội qua nhiều hình thức khác nhau. Nó còn có thể đi xa hơn
tới chỗ “phủ nhận” Thiên Chúa và sự hiện hữu của Người, đây là hiện tượng được gọi là “vô
thần”.
Đó là sự “bất tuân” của một người, do một hành vi tự do, đã không nhận biết quyền chủ
tể tối cao của Thiên Chúa trên cuộc sống của họ, ít là vào giây phút cụ thể mà họ vi phạm luật
Thiên Chúa.
Chia rẽ giữa anh em
15. Trong những trình thuật Kinh Thánh vừa nói ở trên, đoạn tuyệt của con người với
Thiên Chúa đưa đến bi kịch là sự chia rẽ giữa các anh em.
Trong cuộc mô tả về “tội đầu tiên”, sự đoạn tuyệt với Giavê đồng thời phá vỡ mối dây
thân hữu đã liên kết gia đình nhân loại. Vì vậy, những trang tiếp theo của sách “Sáng Thế” cho
chúng ta thấy người nam và người nữ ra như đã giơ ngón tay buộc tội lẫn nhau. [70]  Sau đó, chúng
ta còn thấy người anh đã ghét em mình và cuối cùng đã cướp đi mạng sống của nó. [71]
Theo câu chuyện về tháp Babel, hậu quả của tội lỗi là phân tán gia đình nhân loại, đã bắt
đầu với tội đầu tiên và đã đạt tới hình thức tột đỉnh trên bình diện xã hội.
Đối với người muốn nghiên cứu về mầu nhiệm tội lỗi, không thể không biết mối liên hệ
giữa nguyên nhân và hậu qua đó. Như là sự đoạn tuyệt với Thiên Chúa, tội là một hành động bất
tuân của một thụ tạo đã chối bỏ, ít là cách ám tàng, Đấng là nguồn gốc hiện hữu của nó và gìn
giữ cho nó được sống. Vì thế đó là hành động tự sát. Bởi vì khi phạm tội, con người từ chối phục
tùng Thiên Chúa, cho nên sự cân bằng nội tâm cũng bị phá vỡ và chính vì thế trong họ nảy sinh
những sự bất đồng và xung đột. Bị tổn thương như thế, con người cũng không thể tránh gây ra tai
hại cho cấu trúc của mối quan hệ với người khác và với thế giới thụ tạo. Đây là một định luật
khách quan và là một hiện thực khách quan, được kiểm chứng nhiều cách trong nội tâm con
người, trong đời sống tinh thần cũng như trong xã hội, nơi mà người ta dễ nhìn thấy những dấu
hiệu và hậu quả của sự hỗn loạn nội tâm.

Mầu nhiệm tội lỗi bao gồm hai vết thương mà tội nhân đã mở ra trong chính mình và
trong mối quan hệ với đồng loại. Vì thế, ta có thể nói về tội “cá nhân” và tội “xã hội”: dưới một
phương diện, mọi tội đều là “cá nhân”; dưới phương diện khác, mọi tội đều là “xã hội”, xét vì
và bởi vì nó có những âm hưởng xã hội.
Tội Cá Nhân và Tội Xã Hội
16. Tội lỗi, theo đúng nghĩa, luôn luôn là một “hành vi cá nhân”, bởi vì nó là một hành vi
tự do của một cá nhân, chứ không phải là của một nhóm hay một cộng đồng. Cá nhân này có thể
bị chi phối, kích động và ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố mạnh mẽ bên ngoài. Cá nhân cũng có thể
bị tùy thuộc vào các khuynh hướng, các khuyết điểm di truyền và các thói quen gắn liền với điều
kiện bản thân. Không ít lần những yếu tố bên trong và bên ngoài đó có thể làm suy giảm, hoặc
nhiều hoặc ít, tự do của chủ thể và vì thế giảm bớt trách nhiệm và lỗi của họ. Nhưng một chân lý
đức tin, được củng cố bằng kinh nghiệm và lý luận, đó là con người có tự do. Sự thật này không
thể bị loại bỏ, chuyển sự khiển trách các tội của cá nhân sang các yếu tố bên ngoài, tựa như các
cơ cấu, các hệ thống hay người khác. Nhất là điều này sẽ phủ nhận sự tự do và phẩm giá của con
người, được biểu hiện – tuy một cách tiêu cực và khốc hại – trong trách nhiệm về tội đã phạm. Do
đó, không có gì có tính cách cá nhân và bất khả chuyển nhượng trong mỗi cá nhân cho bằng
công trạng về nhân đức hay trách nhiệm về tội.
Như một hành vi cá nhân, tội mang những hậu quả nghiêm trọng trước hết và trên hết
nơi “bản thân người phạm tội”: nghĩa là trong mối quan hệ với Thiên Chúa, Đấng là nền tảng
của đời sống con người, cũng như trong tinh thần của nó, bởi vì làm nhụt ý chí và làm lu mờ trí
tuệ của nó.
Tới đây, chúng ta phải đề cập đến điều mà trong thời gian chuẩn bị Thượng Hội Đồng và
trong quá trình làm việc, người ta thường gọi là “tội xã hội”.
Thực ra, diễn ngữ và cách quan niệm của nó mang nhiều nghĩa khác nhau.
Trước hết, nói tới “tội xã hội” là nhìn nhận rằng do tình liên đới nhân loại là một điều vừa
huyền nhiệm và khó tả vừa thực sự và cụ thể, tội của mỗi cá nhân đều có ảnh hưởng cách nào đó
đến những người khác. Đây là mặt trái của tính liên đới mà theo quan điểm tôn giáo được biểu lộ
trong mầu nhiệm sâu thẳm và huy hoàng về “sự thông hiệp các thánh”, nhờ đó có thể nói
rằng: “mỗi linh hồn vươn lên cao thì cũng nâng cả thế giới lên”. Tiếc rằng luật thăng tiến này
cũng được đối lại bằng luật “suy thoái”, do đó người ta có thể nói về “sự thông hiệp tội lỗi”, do
đó một linh hồn hạ thấp mình trong tội sẽ lôi kéo theo cả Hội Thánh và một cách nào đó, kéo
theo toàn thế giới. Nói cách khác, không có tội nào, kể cả tội thâm sâu kín đáo nhất, tội hết sức
riêng tư, lại chỉ liên quan đến người đã phạm mà thôi. Mỗi tội đều có những âm hưởng đến toàn
Hội Thánh và trên toàn thể gia đình nhân loại, tuy với nhiều hay ít trầm trọng và tổn thất. Theo
nghĩa đầu tiên của từ này, chắc hẳn là mỗi tội đều có thể được coi như là “tội xã hội”.
Tuy nhiên, một vài tội tự chúng tạo thành một cuộc tấn công trực tiếp vào đồng loại của
mình, và nói một cách chính xác hơn theo ngôn ngữ của Tin Mừng là, chống lại anh em hay chị
em của mình. Chúng xúc phạm đến Thiên Chúa, chính vì chúng xúc phạm đến đồng loại của
mình. Những tội này thường được gọi là “tội xã hội” và đây là nghĩa thứ hai của từ này. Theo
nghĩa này, “tội xã hội” là tội chống lại tình yêu đồng loại, và theo luật của Đức Kitô nó trở nên
rất nghiêm trọng bởi vì nó liên can tới giới luật thứ hai, “cũng ngang với điều thứ nhất”. [72] Cũng
vậy, từ “xã hội” áp dụng cho mọi tội chống lại sự công bình giữa tương giao người với người, cá
nhân đối với cộng đồng hoặc do cộng đồng đối với cá nhân. Cũng là “xã hội”, mọi tội chống lại
các quyền của con người, bắt đầu bằng quyền được sống và gồm cả quyền được sinh ra, hoặc tội
chống lại sự toàn vẹn của thân thể con người. Cũng vậy, “xã hội” là những tội chống lại sự tự do
của người khác, đặc biệt chống lại sự tự do tối thượng được tin vào Thiên Chúa và thờ lạy

Người; “xã hội”; là mọi tội chống lại phẩm giá và danh dự của đồng loại, cũng là “xã hội” mọi
tội chống lại công ích và những đòi buộc của nó liên quan tới toàn thể những quyền lợi và bổn
phận của người công dân. Tiếng “xã hội” còn có thể áp dụng cho những tội đã phạm hoặc thiếu
sót – về phía những người lãnh đạo chính trị, kinh tế hay công đoàn, những người này tuy ở địa
vị phải làm nhưng đã không làm một cách cần cù và khôn ngoan trong việc cải thiện và biến đổi
xã hội theo những đòi hỏi và khả năng của một thời điểm lịch sử cụ thể; cũng nói như thế về phía
các người công nhân, qua việc vắng mặt hoặc bất hợp tác, đã không chịu dùng tài nghệ của mình
thăng tiến an sinh cho chính các công nhân, cho gia đình họ và cho toàn bộ xã hội.
Nghĩa thứ ba của “tội xã hội” ám chỉ các mối quan hệ giữa các cộng đồng nhân loại khác
nhau. Những mối quan hệ này không phải lúc nào cũng phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa,
Đấng muốn có công bình trong thế giới, tự do và hòa bình giữa các cá nhân, các nhóm, và giữa
các dân tộc. [73]  Như thế, cuộc đấu tranh giai cấp, cho dù người lãnh đạo hoặc người biện minh
cho nó bằng ý thức hệ là ai đi nữa, là một “tội xã hội”. Cũng vậy, cuộc đối đầu ương bướng giữa
các khối quốc gia, giữa một quốc gia này với quốc gia khác, giữa những nhóm khác nhau trong
một quốc gia – tất cả đều là “tội xã hội”. Trong cả hai trường hợp, người ta tự hỏi có thể gán các
trách nhiệm luân lý của những điều xấu đó, và do bởi tội, cho một người nào cụ thể hay không.
Phải chấp nhận rằng những thực tại và hoàn cảnh vừa mô tả trên, khi chúng trở thành tổng quát
và đạt những tầm kích rộng lớn như là những hiện tượng xã hội, thì hầu như trở nên không tên,
cũng như những nguyên nhân của chúng thì phức tạp và không thể chỉ điểm được. Vậy nếu ai
nói về tội xã hội thì diễn ngữ này có một nghĩa loại suy. Tuy nhiên kể cả khi nói, tội xã hội theo
nghĩa loại suy, chúng ta đừng hạ giá trách nhiệm của những cá nhân có liên can tới nó. Đây là lời
kêu gọi đến lương tâm của tất cả mọi người, để mỗi người nghiêm túc và can đảm nhận trách
nhiệm của mình, hầu có thể thay đổi những điều kiện tai hại đó và những hoàn cảnh không thể
chịu đựng được.
Sau khi đã trình bày cách rõ ràng và minh bạch như vậy, cần phải thêm rằng còn có một ý
nghĩa đôi khi được gán cho tội xã hội một nghĩa không chính đáng và cũng không thể chấp nhận
được mặc dầu hiện nay nó rất phổ biến trong một vài khu vực. [74]  Người ta đối chọi một cách
không phải là thiếu hàm hồ giữa tội xã hội và tội cá nhân, trong một phương thức mà cố tình hay
hữu ý dẫn tới việc làm giảm nhẹ và gần như hủy bỏ tội cá nhân và chỉ nhìn nhận lỗi lầm và trách
nhiệm của xã hội. Theo quan điểm đó, một quan điểm biểu lộ khá rõ về nguồn gốc của nó từ
những ý thức hệ và chế độ ngoài kitô giáo – đôi khi ngày nay đã bị chối bỏ bởi chính những
người trước đây đã từng chính thức ủng hộ chúng, – hầu như mọi tội đều là tội xã hội, theo nghĩa
người ta ít qui chiếu trách nhiệm cho những lương tâm cá nhân, nhưng cho một đơn vị mơ hồ
hay tập thể vô danh, như là hoàn cảnh, chế độ, xã hội, cơ cấu và thể chế.
Khi Hội Thánh nói về những tình trạng tội lỗi hay khi Hội Thánh lên án như là tội xã hội
một vài tình trạng nào đó hay cách cư xử tập thể của vài nhóm xã hội nào đó dù lớn hay nhỏ,
hoặc ngay cả toàn thể quốc gia hay những khối các quốc gia, thì Hội Thánh biết và công bố rằng
những trường hợp tội xã hội như thế là kết quả của sự tích lũy và tập trung của nhiều tội cá nhân.
Đó là tội lỗi hoàn toàn mang tính cá nhân của những người tạo nên hay ủng hộ sự dữ, hoặc khai
thác nó; những người có nhiệm vụ phải tránh, phải bài trừ hay ít là giới hạn những sự dữ xã hội
nhưng họ đã không làm do sự lười biếng, sợ hãi hay có âm mưu giữ im lặng qua sự đồng lõa bí
mật hay lãnh đạm; những người trốn tránh trách nhiệm vì cho là họ không có khả năng thay đổi
thế giới; hay cả những người tránh né các vấn đề đòi hỏi nỗ lực và hy sinh bằng cách viện ra
những lý do của một trật tự cao hơn. Vì thế trách nhiệm thực sự nằm nơi chính những cá nhân.
Một tình trạng – hay cách tương tự, một thể chế, một cơ cấu, một xã hội, – tự nó không
phải là chủ thể của những hành vi luân lý, vì thế tự nó không thể là tốt hay xấu.

Ở nguồn gốc mọi “tình trạng của tội lỗi” người ta luôn luôn tìm thấy những con người tội
lỗi. Đây là một sự thật đến nỗi ngay cả khi một tình trạng có thể được thay đổi trong những khía
cạnh cơ cấu và thể chế của nó bởi sức mạnh của luật pháp hay, như thường xẩy ra cách đáng tiếc,
bởi luật của sức mạnh, thì thực tế sự thay đổi vẫn bất toàn, không kéo dài và sau cùng thành mây
khói không có tác dụng – nếu không nói là phản tác dụng bao lâu những người có trách nhiệm
trực tiếp hay gián tiếp về những tình trạng đó không chịu hoàn cải.
Tội Nặng và Tội Nhẹ
17. Tới đây chúng ta đi đến một chiều kích sâu xa hơn của mầu nhiệm tội lỗi, một chiều
kích mà tâm trí không bao giờ ngừng đắn đo suy nghĩ: đó là vấn đề sự trầm trọng của tội lỗi. Đây
là vấn đề không thể tránh né và lương tâm Kitô giáo không bao giờ từ chối trả lời. Tại sao và tới
mức độ nào tội có tính cách nghiêm trọng, trong việc xúc phạm đến Thiên Chúa và trong những
hiệu quả gây cho con người? Hội Thánh có một giáo huấn về vấn đề này, Hội Thánh đã tái xác
nhận những yếu tố cơ bản của giáo huấn đó, cho dù nhìn nhận rằng không luôn luôn dễ gì mà
định nghĩa những giới hạn rõ ràng và chính xác trong những tình trạng cụ thể.
Ngay từ trong Cựu Ước, những cá nhân lỗi phạm một vài thứ tội – những tội phạm có chủ
tâm, [75]  những hình thức khác nhau của dâm ô, [76]  ngẫu tượng, [77]  thờ các tà thần, [78]  – thì bị ra lệnh
là “phải cất khỏi loài người” điều này cũng có nghĩa là bị xử tử hình. [79]  Đối lại, có những tội
khác, đặc biệt là những tội phạm cách vô tình thì chúng được tha thứ bởi hy lễ đền tội. [80]
Qui chiếu những đoạn văn trên, Hội Thánh qua nhiều thế kỷ đã nói về tội chết và tội tha
được. Nhưng nhất là Tân ước đã làm sáng tỏ sự phân biệt này và những từ ngữ này. Tân ước có
nhiều đoạn văn liệt kê và khiển trách mạnh mẽ những tội đáng bị luận phạt. [81]  Ngoài ra còn có
việc Đức Giêsu tái xác nhận của Thập giới. [82]  Ở đây tôi muốn lưu ý đặc biệt đến hai đoạn văn
đầy ý nghĩa thâm thúy.
Trong thư thứ nhất của Thánh Gioan, tác giả nói về tội dẫn đến cái chết (pros thánaton),
đối lại với tội không dẫn đến cái chết (mè pros thánaton). [83]  Dĩ nhiên quan niệm về cái chết ở
đây là chết về tinh thần. Đó là vấn đề mất sự sống đích thực, “sự sống đời đời”, mà theo Thánh
Gioan, là nhận biết Chúa Cha và Chúa Con, [84]  cùng hiệp thông và thân mật với Thiên Chúa.
Trong đoạn văn đó, tội dẫn đến cái chết xem ra là tội từ chối Chúa Con [85]  hay tôn thờ các tà
thần. [86]  Dù sao đi nữa, bằng sự phân biệt về quan niệm như vậy, Thánh Gioan có vẻ muốn nhấn
mạnh đến sự nghiêm trọng vô lường của điều tạo thành chính bản chất của tội, đó là sự loại trừ
Thiên Chúa. Điều này được bày tỏ nhất là trong hành động bội giáo và thờ ngẫu tượng: khước từ
tin vào chân lý mạc khải và đặt vài thực tại thụ tạo nào đó ngang hàng với Thiên Chúa, nâng
chúng lên địa vị các ngẫu tượng hay tà thần. [87]  Nhưng trong đoạn văn này, ý định của vị tông đồ
cũng nhấn mạnh đến niềm chắc chắn được ban cho người kitô hữu do sự kiện là họ được “sinh
bởi Thiên Chúa” qua việc Con Thiên Chúa đến trần gian: người kitô hữu có một quyền lực bảo
vệ mình khỏi sa ngã vào tội lỗi; Thiên Chúa bảo vệ họ và “sự dữ không thể chạm đến họ”. Nếu
họ có phạm tội vì sự yếu đuối hay vô tình thì họ tin tưỏng sẽ được tha thứ, cũng vì họ được nâng
đỡ bởi sự liên kết cầu nguyện của cộng đoàn.
Trong một đoạn văn khác của Tân ước, đó là Tin mừng Thánh Matthew, [88]  chính Đức
Giêsu nói về tội “lộng ngôn” phạm đến Chúa Thánh Thần mà “sẽ không được tha thứ”, với lý
do là vì nó biểu lộ một sự từ chối ngoan cố, không chịu trở về với tình yêu của Chúa Cha đầy
khoan nhân.
Dĩ nhiên ở đây là những kiểu nói mang tính cách triệt để và cực đoan loại bỏ Thiên Chúa,
loại bỏ ân sủng của Ngài, và vì thế kháng cự lại với chính nguồn ơn cứu độ. [89]  Qua đó dường như
con người tự ý trục xuất mình khỏi con đường tha thứ. Hy vọng rằng có rất ít người cố chấp tới
tận cùng trong thái độ nổi loạn hay thậm chí thách thức đối với Thiên Chúa như thế. Hơn nữa

Thiên Chúa trong tình yêu thương xót, thì cao cả hơn tấm lòng của chúng ta, như Thánh Gioan
đã dậy chúng ta, [90]  và có thể đánh bại tất cả những kháng cự tâm lý và tinh thần của chùng ta. Vì
thế, như Thánh Thomas Aquinas viết: “xét đến sự toàn năng và lòng thương xót của Thiên Chúa,
không ai phải tuyệt vọng về ơn cứu độ của bất cứ người nào trong cuộc sống đời này”. [91]
Nhưng khi chúng ta suy nghĩ đến vấn đề giữa ý muốn phản nghịch và Thiên Chúa công
minh vô tận, chúng ta không thể không cảm nhận “sợ hãi và run rẩy” tốt lành như Thánh Phaolô
gợi ý. [92]  Hơn nữa lời cảnh cáo của Đức Giêsu về tội “sẽ không được tha thứ” xác nhận sự hiện
hữu của những tội có thể đem đến cho tội nhân sự trừng phạt của “cái chết đời đời”.
Dưới ánh sáng của những đoạn Kinh thánh này, và những đoạn khác, các tiến sĩ và thần
học gia, các thầy dạy tu đức và mục tử đã phân chia tội lỗi thành tội chết và tội tha được. Thí dụ
như Thánh Augustin nói đến: Crimina letalia hay mortifera (tội tử thương, tội chết người) đối lại
với tội venialia (tha được) levia (nhẹ) hay quotidiana (lặt vặt thường ngày). [93]  Ý nghĩa mà người
gán cho những tĩnh từ này đã gây ảnh hưởng tới huấn quyền tiếp sau của Hội Thánh. Sau Thánh
Augustin, Thánh Thomas đã phát biểu bằng những đạo lý hết sức khúc triết và trở thành vững
vàng trong Hội Thánh.
Khi định nghĩa và phân biệt giữa tội chết và tội tha được, thần học về tội lỗi theo Thánh
Thomas và những người tiếp nối không thể không qui chiếu về Kinh Thánh và do đó không thẻ
không biết đến khái niệm về cái chết tinh thần. Theo Thánh Thomas, để có thể sống theo Thần
Khí, con người phải duy trì sự hiệp thông với nguyên lý tối thượng của sự sống là Thiên Chúa,
bởi vì Thiên Chúa là cùng đích tội hậu của sự hiện hữu và sự hoạt động của con người. Thế mà
tội lỗi là sự rối loạn do con người gây ra, chống lại nguyên lý sự sống ấy. Và khi “qua tội lỗi,
linh hồn gây ra một sự rối loạn tới mức độ quay lưng với cùng đích tối hậu – Thiên Chúa – mà nó
được ràng buộc nhờ đức ái, đó là tội chết; ngược lại, khi sự rối loạn không đạt đến mức độ quay
lưng với Thiên Chúa, đó là tội tha được. Vì lý do này, tội tha được không làm mất ơn thánh sủng,
tình thân hữu với Thiên Chúa, đức ái, và vì thế hạnh phúc vĩnh cửu; trong khi rõ ràng tội nặng
làm mất những điều ấy”. [94]
Hơn nữa khi tội được xét từ quan điểm của sự trừng phạt đáng chịu, đối với Thánh
Thomas và các tiến sĩ khác, tội chết là tội nếu không được tha thứ, sẽ dẫn đến hình phạt đời đời;
Trong khi tội tha được là tội chỉ đáng lãnh hình phạt tạm thời (nghĩa là hình phạt bán phần có
thể được đền ở đời này hay trong luyện ngục).
Khi nhìn tội từ quan điển chất thể của nó, những ý tưởng về sự chết về sự đoạn tuyệt với
Thiên Chúa, Đấng thiện hảo tối cao, về sự lạc hướng trên đường dẫn đến Thiên Chúa hay về sự
gián đoạn hành trình hướng về Ngài (đó là tất cả những cách thức định nghĩa tội chết), đều được
nối liền với ý tưởng về sự trầm trọng hàm chứa trong nội dung khách thể của tội. Do đó, trong
đạo lý và hoạt động mục vụ của Giáo Hội, tội trọng được đồng hóa trong thực hành với tội chết.
Ở đây chúng ta có cái cốt lõi trong giáo huấn cổ truyền của Hội Thánh, đã được lập lại
cách thường xuyên và mãnh liệt trong Thượng Hội Đồng vừa qua. Thật vậy, Thượng Hội Đồng
không chỉ xác nhận lại giáo huấn của Công Đồng Trento liên hệ đến sự hiện hữu và bản chất của
tội chết và tội tha được, [95]  mà còn nhắc nhở rằng tội chết là tội mà đối tượng của nó là nội dung
nặng và phạm với ý thức đầy đủ cùng ý chí ưng thuận. Còn phải thêm rằng – như Thượng Hội
Đồng đã làm – một vài tội tự nội tại là nặng và đáng chết bởi vì nội dung của nó. Nghĩa là có
những hành động tự nó và trong nó, không bi tùy thuộc vào các hoàn cảnh, thì luôn luôn sai lầm
nghiêm trọng bởi đối tượng của nó. Những hành động này, nếu làm với sự nhận thức và tự do
đầy đủ thì luôn luôn là tội nặng. [96]
Đạo lý này, dựa trên Thập giới và lời rao giảng của Cựu ước, được thu nhập vào lời giảng
Keryma của các Tông đồ, và thuộc về giáo huấn tiên khởi của Hội Thánh cùng được Hội Thánh

liên tục khẳng định tới ngày hôm nay, được kiểm chứng cách chính xác qua kinh nghiệm của các
tín hữu qua các thời đại. Bằng kinh nghiệm con người biết rất rõ rằng dọc theo con đường của
đức tin và công chính dẫn đến sự hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa trong đời sống tại thế này,
cùng hướng tới sự hiệp nhất hoàn hảo với Người trong sự sống vĩnh cửu, con người có thể ngừng
đi tiếp hay có thể đi lệch hướng, tuy vẫn không bỏ rơi con đường của Thiên Chúa và trong
trường hợp này xảy ra tội nhẹ (tội tha được). Tuy nhiên không bao giờ được coi thường tội nhẹ,
ra như nó có thể tự động bỏ quên hay là “nó chẳng đáng gì”.
Vì con người cũng biết qua kinh nghiệm đau thương rằng, bởi một hành động ý thức và tự
do của ý muốn, nó có thể đổi tiến trình và đi theo hướng đối nghịch với ý muốn của Thiên Chúa,
tự tách rời khỏi Thiên Chúa (aversio a Deo), từ chối hiệp thông thân ái với Ngài, tự cắt đứt khỏi
nguyên lý sự sống là Thiên Chúa và hậu quả là chọn cái chết.
Cùng với toàn thể truyền thống của Hội Thánh, chúng ta gọi tội chết là tội do con người
với tự do và ý thức, loại bỏ Thiên Chúa và lề luật của Người, giao ước tình yêu mà Ngài ban
tặng, thích quay về với chính bản thân mình hơn, hay quay về với tạo vật hữu hạn, một điều trái
với ý muốn của Chúa (conversio ad naturam). Điều này có thể xảy ra cách trực tiếp và chính
thức trong những tội thờ ngẫu tượng, bội giáo và vô thần, hay bằng một cách tương đương như là
trong mỗi hành động bất tuân giới răn của Chúa trong một chất thể nặng. Con người nhận ra rằng
sự bất tuân Thiên Chúa phá hủy mối dây liên kết con người với nguyên lý sự sống: đó là tội chết
nghĩa là một hành động xúc phạm đến Thiên Chúa cách nặng, và sau cùng quay ra phản lại với
chính mình với sức phá hủy đen tối và đầy mãnh lực.
Trong khóa họp Thượng Hội Đồng, một vài nghị phụ đã đề nghị phân biệt tội thành ba
loại theo thứ tự là tội nhẹ, tội nặng và tội đáng chết. Sự phân biệt ba loại như vậy có thể cho thấy
rằng có một cấp độ nghiêm trọng giữa những tội nặng, nhưng một điều vẫn còn đúng là sự phân
biệt chính yếu và tất định vẫn là giữa tội phá hủy đức ái và tội không hủy diệt đời sống siêu
nhiên: không có cái gì khác nằm giữa sự sống và sự chết.
Cũng vậy, cần phải cẩn thận đừng giản lược tội chết vào hành động “lựa chọn cơ bản”
(optio fundamentalis) – chống lại Thiên Chúa như người ta thường nói ngày nay; hạn từ được
hiểu như là sự khinh miệt rõ ràng và chính thức đối với Thiên Chúa và tha nhân. Vì tội nặng
cũng hiện hữu khi người nào chọn lựa, với ý thức và tự do, vì bất cứ lý do gì, một điều rối loạn
trầm trọng. Thật vậy, một lựa chọn như the tự nó bao gồm một sự khinh miệt lề luật Thiên Chúa,
loại bỏ tình yêu Thiên Chúa dành cho con người và toàn thể tạo vật: con người quay lưng lại với
Thiên Chúa và mất tình yêu mến. Như vậy sự định hướng cơ bản có thể được thay đổi cách triệt
để bởi các hành động cá biệt. Dĩ nhiên có những tình trạng xảy ra cách phức tạp và tăm tối trên
bình diện tâm lý, và có ảnh hưởng tới trách nhiệm chủ quan của tội nhân. Nhưng từ một nhận
định thuộc lãnh vực tâm lý người ta không thể tiến hành xây dựng một phạm trù thần học như
là “sự lựa chọn cơ bản”, hiểu theo nghĩa, một cách khách quan nó có thể làm thay đổi hay gây
hồ nghi khái niệm truyền thống về tội chết.
Tuy dù mọi nỗ lực chân thành và khôn ngoan để làm sáng tỏ khía cạnh tâm lý và thần học
của mầu nhiệm tội lỗi cần được trân trọng, nhưng Hội Thánh vẫn có bổn phận nhắc nhở tất cả
những ai nghiên cứu vấn đề này về sự cần thiết phải trung tín với Lời Chúa dạy dỗ chúng ta về
tội lỗi. Cũng vậy Hội Thánh phải nhắc nhở họ về nguy cơ làm giảm bớt cảm thức tội lỗi trong
thế giới hôm nay.
Mất cảm thức về tội
18. Trải qua bao thế hệ, nhờ Tin Mừng được đọc trong cộng đoàn Hội Thánh, tâm trí
người Kitô hữu đã đạt đến một sự nhạy bén tinh tế, và một nhận thức sâu sắc về những hạt giống
của sự chết được chứa đựng trong tội, cũng như một sự hiểu biết nhạy bén và sâu sắc để vạch

mặt chúng dưới hàng ngàn chiêu bài mà tội lỗi xuất hiện trá hình. Đó là điều mà người ta gọi là
cảm thức về tội.
Cảm thức này được đâm rễ trong lương tâm con người và như thể là nhiệt kế của nó. Nó
được nối liền với cảm thức về Thiên Chúa, vì nó xuất phát từ mối tương quan có ý thức của con
người với Thiên Chúa như là Đấng Tạo Hóa, là Chủ Tể và là Cha của mình. Do đó cũng như
không thể nào bứng nhổ hoàn toàn cảm thức về Thiên Chúa hay bóp nghẹt hoàn toàn tiếng lương
tâm, thì cũng không tài nào hủy diệt hoàn toàn cảm thức về tội được.
Tuy vậy, không hiếm lần trong lịch sử, với những thời kỳ dài ngắn khác nhau và dưới ảnh
hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, ý thức luân lý của nhiều người trở nên bị vẩn đục cách
nghiêm trọng. “Chúng ta có ý tưởng đúng đắn về lương tâm hay không?” – Tôi đã hỏi cách đây
hai năm trong một diễn từ với các tín hữu – “phải chăng con người thời nay đang bị đe dọa vì
lương tâm đã xuống dốc? Vì lương tâm bị biến dạng? Vì lương tâm bị tê liệt? Và chết hay
không?. [97]  Có nhiều dấu hiệu cho thấy sự xuống dốc như thế đang xảy ra trong thời đại chúng ta.
Điều này trở thành đáng lo ngại hơn nữa, bởi vì lương tâm được Công Đồng định nghĩa như là
“thâm cung và thánh điện của con người”. [98]  “Có liên hệ mật thiết với tự do của con người… Vì
lý do đó, lương tâm tạo nên nền tảng của phẩm giá nội tại của con người và đồng thời của mối
quan hệ với Thiên Chúa. [99]  Vì thế điều không thể tránh được là trong tình trạng này cũng có một
sự lu mờ cảm thức về tội, điều có liên hệ mật thiết với lương tâm, sự tìm kiếm chân lý và khát
vọng sử dụng tự do một cách có trách nhiệm. Khi lương tâm bị yếu nhược thì cảm thức về Thiên
Chúa cũng bị lu mờ, hậu quả là khi đã mất đi hai điều qui chiếu nội tại này thì cảm thức về tội
cũng bị mất đi. Điều nay giải thích tại sao vị tiền nhiệm của tôi Đức Piô XII có lần tuyên bố
những lời trở thành thời danh rằng “tội của thế kỷ là sự mất cảm thức về tội”. [100]
Tại sao điều này đã xảy ra trong thời đại của chúng ta? Một cái nhìn vào vài khía cạnh của
văn hóa đương thời có thể giúp chúng ta hiểu sự suy yếu dần dần của cảm thức về tội, chỉnh bởi
vì những khủng hoảng của lương tâm và của cảm thức về Thiên Chúa vừa nói trên.
“Trào lưu tục hóa” tự bản chất và định nghĩa là một phong trào về tư tưởng và thái độ chủ
trương một nền nhân bản tuyệt đối không có Thiên Chúa, hoàn toàn tập trung vào sự sùng bái
hành động và sản xuất, bị thu hút bởi sự say mê hưởng thụ và tìm kiếm hưởng lạc mà không
quan tâm gì đến mối nguy “mất linh hồn mình”. Thế nào trào lưu tục hóa cũng làm hao mòn
cảm thức về tội. Cùng lắm tội chỉ còn là một điều xúc phạm đến con người. Nhưng chính đây là
điều, chúng ta phải đương đầu với kinh nghiệm chua xót, như tôi đã nói đến trong thông điệp đầu
tiên, đó là con người có thể xây dựng một thế giới không có Thiên Chúa, nhưng rồi thế giới đó sẽ
quay ra chống lại con người. [101]  Thực vậy, Thiên Chúa là nguyên khởi và cùng đích của con
người và con người mang trong mình mầm mống thần linh. [102]  Do đó, mầu nhiệm Thiên Chúa
mạc khải và soi sáng mầu nhiệm về con người. Bởi vậy thực là hão huyền nếu hy vọng đặt nền
tảng cho một cảm thức về tội chống lại con người và chống lại những giá trị nhân loại, nếu
không có cảm thức về tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa, nghĩa là cảm thức đích đáng về tội.
Lý do khác làm mất đi cảm thức về tội trong xã hội hiện đại cần phải tìm thấy trong những
sai lầm, trong việc đánh giá một vài khám phá khoa học về con người dựa trên vài quả quyết của
tâm lý học, mối quan tâm muốn tránh tạo ra những mặc cảm tội lỗi hoặc không muốn đặt giới
hạn cho tự do đã đưa tới việc khước từ không chịu chấp nhận ngay cả sự thất bại. Qua việc
phóng đại bừa bãi về những tiêu chuẩn của xã hội học, người ta đã kết luận rằng tất cả những lỗi
lầm đều qui trách cho xã hội như tôi đã nói, và cá nhân được tuyên bố là vô can. Ngoài ra một
ngành Nhân-học-văn-hóa đã nhấn mạnh đến điều kiện và ảnh hưởng không thể thiếu được của
môi trường và lịch sử tác dụng đến con người và hạ thấp trách nhiệm con người, đến nỗi không
còn nhìn nhận khả năng thực hiện những hành vi nhân linh và do đó khả năng phạm tội.

Cảm thức về tội cũng dễ dàng bị suy sụp do ảnh hưởng của một lịch sử hệ thống luân lý
muốn tương đối hóa các qui tắc luân lý, phủ nhận giá trị tuyệt đối và vô điều kiện của chúng, và
từ đó phủ nhận những hành vi xấu xa tự bản chất, không tùy thuộc vào những hoàn cảnh mà chủ
thể thực hiện. Đây là là một sự “đảo lộn và sụp đổ những giá trị luân lý” và “vấn đề này không
phải do chỗ dốt nát về luân lý Kitô Giáo”, nhưng là “dốt về ý nghĩa, về những nền tảng và tiêu
chuẩn của hành động luân lý”. [103]  Một hậu quả khác của việc đảo lộn luân lý là giảm thiểu khái
niệm về tội đến nỗi nói rằng tuy tội có thực nhưng không ai biết đã có người nào phạm tội hay
không.
Cuối cùng tâm thức về tội biến mất như đã xảy ra trong việc giáo dục giới trẻ, trong ngành
truyền thông xã hội và ngay cả trong giáo dục gia đình, – khi mà tội được đồng hóa cách sai lầm
với mặc cảm bệnh hoạn về tội lỗi, hay với việc vi phạm các qui tắc luật lệ mà thôi.
Do đó, sự mất cảm thức về tội là một hình thức hoặc hậu quả của sự phủ nhận Thiên
Chúa: không chỉ dưới hình thức chủ nghĩa vô thần, nhưng còn dưới hình thức trào lưu tục hóa.
Nếu tội phá vỡ mối liên hệ con cái với Thiên Chúa ngõ hầu xếp đặt đời sống của mình ra ngoài
sự vâng phục Thiên Chúa, thì phạm tội không phải chỉ là phủ nhận Thiên Chúa. Phạm tội còn là
sống dường như không có Chúa, khai trừ Chúa ra khỏi đời sống hằng ngày của họ. Một khuôn
mẫu xã hội đã bị què quặt hay lệch lạc do một trong hai cách sống trên, như thường được các
phương tiện truyền thông xã hội truyền bá, rất dễ làm mất dần dần cảm thức về tội. Trong tình
trạng đó, việc che mờ hay suy giảm cảm thức về tội phát sinh từ nhiều nguồn: từ chỗ loại bỏ hết
mọi qui chiếu về Đấng Siêu Việt, nhân danh khát vọng của cá nhân muốn dành độc lập cho nhân
vị; từ sự chấp nhận những khuôn mẫu đạo đức bị áp đặt bởi dư luận và lối sống quần chúng, cho
dù bị kết án bởi lương tâm cá nhân; từ những điều kiện bi đát của xã hội và kinh tế đang đè bẹp
một phần lớn nhân loại, gây nên khuynh hướng chỉ nhìn thấy các sai sót và lỗi lầm nơi bối cảnh
của xã hội; sau cùng và một cách đặc biệt, từ sự lu mờ ý niệm về Thiên Chúa là Cha và Ngài có
quyền chủ tể trên đời sống con người.
Ngay cả trong phạm vi suy tư và sinh hoạt của Hội Thánh, một vài trào lưu đã dẫn tới sự
sa sút cảm thức về tội. Ví dụ: một số người đã thay thế những thái độ phóng đại của quá khứ
bằng những lối phóng đại khác: từ chỗ nhìn thấy tội ở khắp mọi nơi, họ đi tới chỗ không thấy tội
ở nơi nào hết; từ chỗ nhấn mạnh quá đáng về sự sợ hãi án phạt đời đời, tới chỗ rao giảng về một
tình yêu Thiên Chúa khai trừ hết mọi hình phạt xứng đáng với tội; từ chỗ khắc nghiệt khi cố
gắng sửa chữa lương tâm sai lầm, với việc tôn trọng lương tâm mà không dám nói lên sự thực.
Và có cần phải thêm rằng sự hoang mang gây ra cho lương tâm của nhiều tín hữu do những sự
khác biệt về ý kiến và giáo huấn trong môn thần học, trong việc giảng thuyết huấn giáo và linh
hướng chung quanh những vấn đề quan thiết và tế nhị của luân lý Kitô giáo, đưa tới hậu quả là
giảm sút cảm thức đích thực về tội, đến nỗi hoàn toàn khai trừ cảm thức đó hay không? Và cũng
không thể bỏ qua vài sai sót trong việc thực hành Bí tích Sám Hối. Những sai sót ấy bao gồm
những xu hướng làm lu mờ ý nghĩa Hội Thánh của tội lỗi và cải hoán, và chỉ coi những chuyện
đó như là chuyện riêng tư cá nhân; hay ngược lại, xu hướng tiêu diệt giá trị cá nhân của điều tốt
và điều xấu, và chỉ nhìn chúng dưới chiều kích cộng đoàn mà thôi. Còn nguy cơ nữa, điều chưa
hoàn toàn bị diệt trừ, đó là cách cử hành máy móc làm mất đi ý nghĩa thâm sâu và hiệu năng đào
tạo của Bí tích.
Việc khôi phục cảm thức đứng đắn về tội là cách thức ưu tiên để đương đầu với cơn khủng
hoảng tinh thần trầm trọng đang đè nặng trên con người thời này. Nhưng chỉ có thể khôi phục
cảm thức tội lỗi nhờ việc nhắc nhở cách minh bạch những nguyên tắc của lý trí và đức tin mà
giáo huấn luân lý của Hội Thánh vẫn chủ trương.

Có những lý do vững chắc cho phép hy vọng rằng một cảm thức lành mạnh về tội sẽ tái
phát triển, đặc biệt là trong thế giới Kitô giáo và trong Hội Thánh. Điều này sẽ được hỗ trợ nhờ
một nền giáo huấn chân chính được soi sáng bởi Thần học Kinh thánh về Giao ước, nhờ việc
chăm chú lắng nghe và tin tưởng đón nhận Huấn quyền của Hội Thánh không ngừng soi dẫn các
lương tâm, và nhờ việc thực hành chu đáo hơn nữa Bí tích Sám Hối.

***
CHƯƠNG II. MYSTERIUM PIETATIS

19. Để có thể hiểu được tội lỗi, cần phải lưu ý đến bản tính của nó được mặc khải cho
chúng ta trong nhiệm cục cứu rỗi: đó là mysterium inniquitatis (mầu nhiệm gian ác). Thế những
trong nhiệm cục ấy tội không phải là nguyên lý chính yếu, lại càng không phải là kẻ chiến thắng.
Tội lỗi giao tranh với một nguyên lý năng động khác mà ta có thể dùng kiểu nói hoa mỹ và gợi
hình của Thánh Phaolô mà đặt tên là mysterium hoặc sacramentum pietatis (mầu nhiệm hay
nhiệm tích đạo nghĩa). Giả như “mysterium pietatis” không làm nên toàn bộ của động lực lịch
sử ngõ hầu chinh phục tội lỗi con người, thì tội lỗi của con người sẽ làm kẻ chiến thắng và hủy
hoại cho đến tận cùng, chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa sẽ bất toàn và thậm chí thất bại.
Chúng ta gặp thấy hạn từ mysterium pietatis trong một trong những lá thư mục tử của
Thánh Phaolô, thư thứ nhất gởi ông Timothê, nó xuất hiện một cách bất ngờ, ra như là do ngẫu
hứng. Thánh Tông đồ đã dành nhiều đoạn sứ điệp của mình để giải thích ý nghĩa của trật tự trong
cộng đoàn (trật tự phụng vụ và trật tự phẩm trật). Tiếp đó, Người nói đến vai trò của những
người lãnh đạo, trước khi sang đến cách cư xử của ông Timothê trong “Hội Thánh của Thiên
Chúa hằng sống, cột trụ và điểm tựa của chân lý”. Thế rồi, ở cuối đoạn văn, một cách đột nhiên
tuy cũng có chủ ý sâu sắc, Người đã gợi lên yếu tố mang lại ý nghĩa cho tất cả những gì đã
viết: “Chúng ta tuyên xưng rằng cao cả thay mầu nhiệm đạo nghĩa của chúng ta”. [104]
Tuy không dám phản lại nghĩa đen của bản văn, chúng ta có thể mở rộng trực giác thần
học đầy khởi sắc của Thánh Phaolô ra thành một viễn ảnh toàn diện hơn về vai trò của sự thật mà
Người tuyên xưng đã giữ trong nhiệm cục cứu rỗi. Chúng ta lặp lại theo Người “Cao cả thay
mầu nhiệm của đạo nghĩa”, bởi vì nó chinh phục tội lỗi.
Thế nhưng, ý nghĩa của đoạn văn ấy như thế nào theo tư tưởng của Thánh Phaolô?
Đó chính là Đức Kitô
20. Thật là thâm thúy khi Thánh Phaolô trình bày “mysterium pietatis” thì Người chuyển
tải nguyên văn một bài thánh thi về Đức Kitô mà không lo móc nối những dòng trước đó cho
hợp với cú pháp. Theo ý kiến của các học giả chuyên môn, thánh thi này được sử dụng trong các
cộng đoàn Kitô nói tiếng Hy Lạp. [105]
Theo lời lẽ của thánh thi, với nội dụng thần học phong phú và với lối hành văn hoa mỹ,
các Kitô hữu thuộc thế kỷ thứ nhất đã tuyên xưng niềm tin vào mầu nhiệm Đức Kitô, theo đó:
– Người đã xuất hiện trong thực tại xác thịt con người, và đã được Thánh Thần đặt làm
Đấng Công chính hiến thân cho những kẻ bất chính;
– Người đã hiện ra với các thiên thần, bởi vì Người đã được đặt lên trên họ, và Người được
rao giảng cho muôn dân như là kẻ mang lại ơn cứu độ;
– Người đã được kính tin trong thế giới, như là kẻ được Chúa Cha sai đến, và được Chúa
Cha cất về trời làm Đức Chúa. [106]

Mầu nhiệm hay nhiệm tích “pietas” là chính mầu nhiệm Đức Kitô. Nói cách vắn tắt, đó là
mầu nhiệm Nhập thể và Cứu chuộc, mầu nhiệm vượt qua của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa và
Con của đức Maria: mầu nhiệm cuộc Khổ nạn và Chết, Phục sinh và tôn vinh của Người. Điều
mà Thánh Phaolô đã muốn nêu bật khi trích dẫn những câu của thánh thi là mầu nhiệm này là
nguyên lý sinh động tiềm ẩn làm cho Hội Thánh trở thành nhà của Chúa, cột trụ và điểm tựa của
chân lý. Noi theo giáo huấn của Thánh Phaolô, chúng ta có thể quả quyết rằng cũng chính “mầu
nhiệm của tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa đối với chúng ta” có khả năng thấm nhập vào
tận cỗi rễ sâu kín của nỗi khắc khoải chúng ta. Khêu lên trong linh hồn một chuyển động hoán
cải, ngõ hầu cứu chuộc nó và đặt nó trên nẻo đường hòa giải.
Cả Thánh Gioan nữa, chắc hẳn là cũng bàn về mầu nhiệm với những ngôn ngữ khác với
Thánh Phaolô, đã có thể viết như sau: “phàm ai sinh bởi Chúa thì không phạm tội, nhưng Đấng
sinh bởi Chúa gìn giữ họ, và sự dữ không thể đụng đến họ”. [107]  Trong lời khẳng định của Thánh
Gioan có một niềm hy vọng dựa trên những lời hứa của Chúa: người Kitô hữu đã nhận bảo đảm
và sức mạnh cần thiết để khỏi phạm tội. Do đó, không phải là chuyện không phạm tội nhờ nhân
đức riêng của mình hay do bẩm sinh, như nhóm Ngộ đạo chủ trương. Nó là kết quả của tác động
Thiên Chúa. Để khỏi phạm tội, người Kitô hữu đã được biết Chúa, như Thánh Gioan viết trong
cùng một đoạn. Nhưng trước đó một ít, người viết: “Không ai sinh bởi Chúa lại phạm tội: bởi vì
mầm giống của Chúa ở lại trong họ”. [108]  Nếu chúng ta hiểu “mầm giống” của Chúa, như vài nhà
chú giải gợi ý, là Đức Giêsu Con Thiên Chúa, thì chúng ta có thể nói rằng để khỏi phạm tội, hay
để có thể được giải phóng khỏi tội, người Kitô hữu mang trong mình sự hiện diện của Đức Kitô
và mầu nhiệm của Đức Kitô, tức là mầu nhiệm của lòng thương nhân hậu của Thiên Chúa.
Nỗ lực của người Kitô hữu
21. Còn một khía cạnh của mysterium pietatis. Lòng thương nhân hậu của Thiên Chúa đối
với người Kitô hữu cần phải được kết hợp với lòng hiếu thảo của người Kitô hữu đối với Thiên
Chúa. Đây là ý nghĩa thứ hai của tiếng “pietas” (eusébeia), đó là thái độ của người Kitô hữu
bằng lòng hiếu thảo con cái của mình đáp lại lòng thương nhân hậu của Thiên Chúa như là người
Cha.
Theo nghĩa này chúng ta có thể nói cùng với Thánh Phaolô rằng “cao cả thay mầu nhiệm
đạo nghĩa của chúng ta”. Theo nghĩa này pietas, xét như là sức mạnh mang lại hoán cải và hòa
giải, đối kháng sự gian ác và tội lỗi. Cũng theo nghĩa này, những khía cạnh cốt yếu của mầu
nhiệm Đức Kitô là đối tượng của pietas, theo nghĩa là người Kitô hữu đón nhận và chiêm ngắm
mầu nhiệm, và từ đó rút ra sức mạnh tinh thần cần thiết để sống hợp với Tin Mừng. Ở đây chúng
ta cũng có thể nói rằng “không ai sinh bởi Chúa lại phạm tội”; nhưng diễn ngữ mang một mệnh
lệnh truyền khiến: được nâng đỡ bởi mầu nhiệm Đức Kitô như là một nguồn nội tại của năng lực
tinh thần, người Kitô hữu, bởi vì là con Thiên Chúa, được khuyến cáo đừng phạm tội, và dĩ nhiên
họ nhận được mệnh lệnh là đừng phạm tội nhưng hãy sống cách xứng đáng với “nhà của Thiên
Chúa, nghĩa là Hội Thánh của Thiên Chúa hằng sống”. [109]
Hướng tới đời sống giao hòa
22. Như vậy khi lời Kinh thánh mặc khải cho ta mầu nhiệm của “pietas” thì cũng mở rộng
tâm trí con người tới sự hoán cải và hòa giải, được hiểu không phải là những khái niệm trừu
tượng cao siêu nhưng như là những giá trị Kitô giáo cần được thể hiện ra trong đời sống hằng
ngày của chúng ta.
Con người thời nay bị lừa đảo bởi việc mất cảm thức về tội và đôi lúc bị cám dỗ bởi ảo
tưởng không phạm tội, đó là những điều không hợp tí nào với Kitô giáo, họ cần được nghe lần
nữa lời khuyên của Thánh Gioan như là nói riêng với từng người một: “Nếu chúng ta nói rằng
chúng ta không phạm tội, thì chúng ta lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta”, [110] và

quả thật là “toàn thế giới đang ở dưới quyền lực của sự dữ”. [111]  Bởi thế mỗi người được lời chân
lý của Chúa mời gọi hãy kiểm vấn lương tâm của mình cách xác thực, và hãy thú nhận rằng mình
đã được sinh ra trong tội, như chúng ta đọc trong thánh vịnh “Miserere”. [112]
Tuy nhiên, dù bị đe dọa bởi sợ hãi và thất vọng, con người thời nay cần cảm thấy được
nâng dậy bởi lời hứa của Chúa, lời mở ra hy vọng được hòa giải hoàn toàn.
Mầu nhiệm pietas, xét về phía Thiên Chúa, là chính lòng thương xót mà, tôi xin nhắc lại
lần nữa – Chúa và Cha chúng ta giàu sang vô tận. [113]  Như tôi đã nói trong thông điệp về lòng
thương xót của Thiên Chúa, [114]  đó là tình thương mãnh liệt hơn tội lỗi, mạnh hơn sự chết. Khi
nhận ra rằng tình thương của Thiên Chúa không chấm dứt trước tội lỗi của ta hay chùn lại trước
những xúc phạm của ta, nhưng lại càng trở nên quan tâm và quảng đại hơn nữa; khi chúng ta
nhận ra rằng tình thương đó đi tới chỗ gây ra cuộc Khổ nạn và cái Chết của Ngôi Lời làm người,
Đấng đã đồng ý cứu chuộc chúng ta bằng giá máu của mình, lúc đó chúng ta thốt lên lòng biết
ơn: “Đúng vậy, Thiên Chúa giàu lòng thương xót”, và hơn thế nữa: “Thiên Chúa là lòng thương
xót”.
Mầu nhiệm pietas là con đường mà lòng thương xót của Chúa mở ra cho đời sống giao
hòa.

***
PHẦN III. MỤC VỤ SÁM HỐI VÀ HÒA GIẢI

 
Cổ võ việc sám hối và hòa giải
23. Việc khơi dậy trong tâm hồn con người lòng hoán cải và sám hối và việc trao ban cho
họ ơn hòa giải là sứ mạng chuyên biệt của Hội Thánh nhờ thế công trình cứu chuộc của Đấng
Sáng Lập được tiếp tục. Sứ vụ này không bị hạn chế vào một số xác quyết lý thuyết cũng như
việc đề ra một lý tưởng đạo đức mà không kèm theo đó những nghị lực cần thiết để thực hiện lý
tưởng ấy. Sứ mạng đã tìm cách diễn tả ra những công việc xác định của thừa tác vụ nhắm tới
việc thực hành cụ thể Bí tích Sám Hối và hòa giải.
Thừa tác vụ này, được đặt nền và được soi dẫn do những nguyên lý đức tin đã được trình
bày trên đây, hướng về những mục tiêu cụ thể, và được nâng đỡ bởi những phương tiện tương
xứng, chúng ta có thể gọi đó là mục vụ sám hối và hòa giải. Khởi điểm của nó là điều xác tín của
Hội Thánh rằng, con người mà mọi hình thức mục vụ – đặc biệt mục vụ về sám hối và hòa giải –
nhắm đến là con người mang dấu ấn tội lỗi mà David là ví dụ điển hình cho chúng ta. Khi đón
nhận những lời khiển trách của Nathan, David đã chấp nhận đương đầu với tội ác của chính mình
và ông thú nhận “Tôi đã phạm tội chống lại Đức Chúa”. [115]  Ông tuyên bố: “Phải, tôi biết tội
mình, lỗi lầm tôi luôn ở trước mặt tôi”. [116]  Nhưng ông cũng cầu xin: “Xin rửa tôi bằng cành
hương thảo và tôi sẽ được tinh tuyền, xin rửa và tôi sẽ trắng hơn tuyết”. [117]  Và ông đã nhận được
lời đáp trả của Thiên Chúa thương xót: “Chúa đã tha thứ tội con, con sẽ không chết”. [118]
Vì thế Hội Thánh đứng trước con người – trước toàn thể nhân loại- tổn thương do tội và bị
tội tấn công nơi thâm sâu của hữu thể; nhưng đồng thời con người lại được thúc đẩy bởi một ước
muốn không thể cưỡng lại là được giải thoát khỏi tội, và, đặc biệt nếu người ấy là Kitô hữu, họ ý
thức rằng mầu nhiệm đạo thánh (pietas), tức Đức Giêsu Kitô đang hoạt động nơi họ và nơi thế
giới nhờ quyền năng của ơn cứu chuộc.
Vì thế nhiệm vụ hòa giải của Hội Thánh phải được thể hiện ra phù hợp với mối dây thâm
sâu nối kết chặt chẽ ơn tha thứ và việc tha tội của mỗi người với việc hòa giải căn bản và trọn

vẹn của nhân loại được thực hiện nhờ ơn cứu chuộc. Mối dây này làm cho chúng ta hiểu rằng
nếu tội là nguyên lý tác động việc chia rẽ – chia rẽ con người với Đấng Tạo Hóa, chia rẽ trong
con tim và trí óc của con người, chia rẽ những cá nhân và nhóm người với nhau, chia rẽ con
người với thiên nhiên được dựng nên bởi Thiên Chúa – thì chỉ có việc hoán cải quay lưng lại với
tội mới có khả năng thực hiện một cuộc hòa giải sâu xa và bền bỉ tại những nơi mà sự chia rẽ đã
thâm nhập.
Không cần phải nhắc lại ở đây điều mà tôi đã bàn về tầm quan trọng của “tác vụ hòa
giải”, [119]  và việc mục vụ tương đương thực thi tác vụ này trong ý thức và đời sống của Hội
Thánh. Việc mục vụ này sẽ thiếu hụt đi một khía cạnh cốt yếu và sẽ bỏ qua một trong những
nhiệm vụ tất yếu của nó nếu “sứ điệp hòa giải” [120]  không được công bố cách vững chắc và rõ
ràng trong lúc thuận cũng như lúc nghịch, và nếu ơn hòa giải không được trao cho thế giới.
Nhưng thật thích hợp để nhắc lại tầm quan trọng của việc phục vụ ơn hòa giải của Hội Thánh lan
rộng đến toàn thế giới, vượt khỏi các biên cương của Hội Thánh.
Như thế, bàn về mục vụ sám hối và hòa giải có nghĩa là kể ra các nhiệm vụ Hội Thánh, ở
trên mọi bình diện, nhằm quảng bá nó. Một cách rõ rệt hơn, nói về mục vụ này có nghĩa là khơi
dậy tất cả mọi hoạt động qua đó Hội Thánh, nhờ tất cả và từng phần tử – Mục tử và giáo dân, ở
mọi tầng lớp và mọi môi trường, và bằng tất cả những phương tiện có trong tầm tay, qua hành
động, lời nói, qua việc dạy dỗ và cầu nguyện – Hội Thánh dẫn đưa con người, cá nhân hay tập
thể, đến việc sám hối thực sự và như thế dẫn đưa họ vào con đường hòa giải trọn vẹn. [121]
Các nghị phụ của Thượng Hội Đồng – với tư cách là đại diện cho các Giám mục anh em,
và là những người hướng dẫn đoàn dân được trao phó – đã quan tâm tới những yếu tố thực tiễn
và cụ thể nhất của việc mục vụ này. Và tôi sung sướng được làm tiếng vang cho họ bằng việc
liên kết mình với những nỗi lo lắng và những hy vọng của họ, bằng việc đón nhận những thành
quả của công cuộc tìm kiếm và kinh nghiệm của họ, bằng việc khích lệ họ trong những dự án và
những công tác thực thi. Hy vọng họ sẽ tìm thấy trong phần này của sứ điệp sự đóng góp của họ
vào Thượng Hội Đồng, phần góp mà tôi cũng muốn dựa vào trong những trang sau để làm lợi
cho Hội Thánh.
Vì thế tôi thấy rất đúng lúc để đưa ra ánh sáng những nét căn bản về việc mục vụ sám hối
và hòa giải khi quảng diễn hai điểm sau:
1/. Những phương tiện được dùng và những đường lối Hội Thánh theo đuổi để cổ vũ việc
sám hối và hòa giải.
2/. Bí tích Sám Hối và Hòa giải.

***
CHƯƠNG I. SỰ CỔ VŨ CHO VIỆC SÁM HỐI VÀ HÒA GIẢI
NHỮNG PHƯƠNG THẾ VÀ ĐƯỜNG LỐI

 
24. Để cổ vũ việc sám hối và hòa giải, Hội Thánh có trong tầm tay hai phương thế được
chính Đấng Sáng Lập giao phó: Huấn giáo và các bí tích. Hội Thánh thực thi chúng theo cách
thức mà Hội Thánh xét thấy hoàn toàn phù hợp với những đòi hỏi của sứ mạng cứu độ và đồng
thời đáp trả được những đòi hỏi và những nhu cầu thiêng liêng của con người ở mọi thời đại;
dưới những thể thức và đường lối mới và cũ. Trong những thể thức ấy, rất tốt để nhắc lại một
cách đặc biệt điều mà chúng ta gọi là phương pháp đối thoại, tiếp theo đấng tiền nhiệm của tôi là
Đức Phaolô VI.

Đối thoại
25. Đối với Hội Thánh, đối thoại là một phương thế xét theo một nghĩa nào đó, và đặc biệt
là một đường lối để hành động trong thế giới hiện đại.
Thật vậy, Công Đồng Vaticano II tuyên bố rằng: “Theo như sứ vụ của Hội Thánh là phải
soi sáng toàn vũ trụ bằng sứ điệp Tin Mừng và qui tụ mọi người trong Thần khí duy nhất… Hội
Thánh xuất hiện như một dấu hiệu của tình huynh đệ làm cho cuộc đối thoại chân thành trở nên
khả dĩ và mạnh sức”. Sau đó Công Đồng nói thêm rằng Hội Thánh phải có khả năng “thiết lập
một cuộc đối thoại không ngừng mở rộng giữa mọi thành phần làm nên Dân Chúa duy nhất”,
cũng như có khả năng “thiết lập một cuộc đối thoại với xã hội nhân loại”. [122]
Đấng tiền nhiệm của tôi Đức Phaolô VI đã dành một phần đáng kể trong thông điệp đầu
tiên của ngài Ecclesiam suam để bàn về đối thoại, trong đó người mô tả và biểu thị đặc tính của
nó một cách có ý nghĩa như là một cuộc đối thoại cứu độ. [123]
Thật vậy Hội Thánh sử dụng phương pháp đối thoại để đưa nhiều người hơn – những
người tự nhận mình là thành phần của cộng đoàn Kitô hữu nhờ bí tích Thanh tẩy và lời tuyên
xưng đức tin cũng như những người ở ngoài cộng đoàn – đến với việc hoán cải và sám hối, trên
con đường đổi mới sâu sắc lương tâm và đời sống của họ, dưới ánh sáng của mầu nhiệm cứu
chuộc và cứu độ được thực hiện nhờ Đức Kitô và phó thác cho tác vụ của Hội Thánh. Như thế,
cuộc đối thoại chân thật trước tiên nhắm đến việc tái tạo mỗi người, bằng việc hoán cải nội tâm
và bằng sám hối, trong khi vẫn tôn trọng cách sâu xa lương tâm của họ, trong tiến trình kiên
nhẫn và tiệm tiến mà điều kiện con người ngày nay đòi hỏi.
Cuộc đối thoại mục vụ nhắm đến việc hòa giải ngày nay vẫn luôn là một cuộc dấn thân
căn bản của Hội Thánh trong nhiều lãnh vực và cấp độ khác nhau.
Trước hết Hội Thánh cỗ vũ cách đối thoại đại kết, có nghĩa là với các Giáo Hội và các
cộng đoàn Giáo Hội cùng tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ duy
nhất. Hội Thánh cũng cổ vũ đối thoại với các cộng đoàn khác của những con người tìm Chúa và
muốn có một sự liên kết với Ngài.
Làm nền cho cuộc đối thoại như vậy với các Giáo Hội khác, với các cộng đoàn Giáo Hội
và với các tôn giáo khác – đó cũng là điều kiện của tính khả tín và tính hiệu lực của đối thoại –
cần có một nỗ lực chân thật để đối thoại liên lỉ và mới mẻ ngay trong lòng của chính Hội Thánh
Công giáo. Tự bản tính, Hội Thánh ý thức mình là bí tích của sự hiệp thông phổ quát của đức
ái; [124]  nhưng đồng thời cũng ý thức luôn những căng thẳng hiện diện trong nội bộ và có nguy cơ
trở thành những yếu tố gây chia rẽ.
Lời kêu gọi cương quyết và đầy thống thiết nơi vị tiền nhiệm của tôi dịp Năm Thánh 1975
ngày nay vẫn còn hiệu lực. [125]  Để có thể vượt qua những tranh chấp và tránh cho những căng
thẳng không gây nguy hại đến sự hợp nhất của Hội Thánh, tất cả chúng ta phải tự đặt mình trước
lời Chúa; chúng ta phải loại bỏ những cái nhìn chủ quan và cần tìm kiếm chân lý ở nơi có chân
lý, có nghĩa là trong Lời Chúa và trong việc giải thích thính thức do Huấn quyền Hội Thánh.
Dưới ánh sáng đó, việc lắng nghe lẫn nhau; sự tôn trọng và tránh những xét đoán hấp tấp, sự kiên
nhẫn, khả năng tránh cho niềm tin gây liên kết phải chịu lệ thuộc vào những ý kiến, những thời
trang, những lựa chọn ý thức hệ gây chia rẽ: tất cả những điều này tạo nên bấy nhiêu đức tính
cho cuộc đối thoại cần được theo đuổi trong lòng Hội Thánh một cách bền bỉ, cởi mở và chân
thành. Hiển nhiên cuộc đối thoại sẽ không mang những đức tính và cũng sẽ không trở thành yếu
tố hòa giải nếu huấn quyền không được lắng nghe và chấp nhận.
Dấn thân một cách có hiệu quả trong việc tìm kiếm sự thông hiệp nơi chính nội bộ của
mình, Hội Thánh Công giáo có thể kêu gọi một cuộc hòa giải, như đã từng làm từ thời xa xưa,
đối với các Giáo Hội khác chưa được thông hiệp trọn vẹn cũng như đối với các tôn giáo khác

cùng những người tìm kiếm Chúa với lòng chân thành. Điều này Hội Thánh mới bắt đầu thực
hiện gần đây.
Dưới ánh sáng của Công Đồng và Huấn quyền của các đấng tiền nhiệm mà tôi đã nhận
được từ đó một gia sản quý báu cần phải được giữ gìn và đem ra áp dụng, tôi có thể xác quyết
rằng Hội Thánh Công giáo, ở mọi cấp bậc đang thành thực dấn thân trong cuộc đối thoại đại kết,
vừa tránh thái độ lạc quan dễ dãi, nhưng cũng tránh thái độ đố kỵ, dè dặt hay chần chừ. Những
quy luật căn bản mà Hội Thánh Công giáo tìm cách theo đuổi trong cuộc đối thoại này là, một
mặt xác tín rằng, chỉ có cuộc đại kết thiêng liêng – đặt nền tảng trên kinh nguyện chung và sự
vâng phục cùng một Đức Chúa duy nhất – mới cho phép trả lời cách chân thành và nghiêm túc
cho những đòi hỏi khác của công cuộc đại kết. [126]  Mặt khác, sự xác tín rằng một vài thái độ nhân
nhượng (irenisme) dễ dãi về đạo lý và nhất là trong tín lý có thể đưa đến hình thức “sống
chung”, hời hợt và chiếu lệ, nhưng không phải là sư hiệp thông sâu xa và bền vững mà chúng ta
mong ước. Người ta sẽ đạt được sự hiệp thông này vào giờ Đấng Quan Phòng muốn, nhưng để
đạt tới, Hội Thánh Công Giáo, trong những gì liên hệ với mình, biết rằng cần phải mở rộng và
nhạy cảm với tất cả “những giá trị thực sự kitô bắt nguồn từ gia sản chung và cũng gặp thấy nơi
các anh em ly khai”, [127]  nhưng Hội Thánh Công giáo cũng biết rằng cần phải đặt nền tảng của
cuộc đối thoại chân thành và xây dựng, dựa trên một sự rõ ràng về những lập trường của mình,
và dựa trên sự trung thành và sự gắn bó với đức tin được chuyển giao và được tuyên định bởi
Huấn quyền trong sự liên tục của truyền thống Kitô giáo. Mặt khác, mặc dù có sự đe dọa của một
não trạng sợ thất bại nào đó, và dù có sự chậm trễ không thể tránh được và cách hành động vụng
về không phù hợp, Hội Thánh Công giáo vẫn tiếp tục tìm kiếm những con đường dẫn về hợp
nhất cùng với các anh em kitô hữu, và tìm kiếm sự đối thoại thành thật cùng với các tín đồ của
các tôn giáo khác. Ước mong cuộc đối thoại liên tôn này vượt qua được mọi thái độ thù nghịch,
nghi kị, kết án lẫn nhau và ngay cả những sự lăng nhục lẫn nhau! Đó là điều kiện mở đầu để
chúng ta có thể gặp nhau ít nhất là trong niềm tin vào Thiên Chúa độc nhất và sự xác tín cuộc
sống vĩnh cửu dành cho linh hồn bất tử. Và đặc biệt hơn, cầu xin Chúa cho cuộc đối thoại đại kết
đưa đến cuộc hòa giải chân thật trong khung cảnh của tất cả những gì chúng ta đã có chung cùng
với các Giáo Hội Kitô giáo khác: niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người,
Đấng Cứu thế và là Chúa; việc lắng nghe Lời Chúa; việc nghiên cứu Mạc khải, Bí tích Rửa tội.
Trong mức độ mà Hội Thánh có khả năng sản sinh một sự hòa hợp tích cực – hiệp nhất
trong sự đa dạng – ngay chính giữa lòng mình và có thể hiến mình như là chứng nhân và tác nhân
trung thành của sự hòa giải đối với các Giáo Hội và Cộng Đoàn Giáo Hội khác cũng như các tôn
giáo khác, thì Hội Thánh trở thành “thế giới được hòa giải” theo như định nghĩa đầy ý vị của
Thánh Augustin. [128]  Lúc đó, Hội Thánh có thể là dấu chỉ của sự hòa giải trong thế giới và cho thế
giới.
Khi ý thức về tình cảnh cực kỳ nghiêm trọng tạo nên bởi những động lực gây chia rẽ và
chiến tranh, tình cảnh cấu tạo nên cho ngày nay một sự đe dọa nặng nề không những ảnh hưởng
đến sự thăng bằng hòa điệu của các quốc gia mà còn ảnh hưởng đến sự sống còn của nhân loại,
Hội Thánh cảm thấy có nhiệm vụ phải đề nghị và đóng góp hợp tác đặc biệt để vượt qua những
tranh chấp và tái lập sự hòa hợp.
Đây là một cuộc đối thoại phức tạp và tế nhị cho hòa giải. Hội Thánh dấn bước vào trước
hết bằng hành động của Tòa Thánh và các cơ quan khác của Tòa Thánh. Có thể khẳng định rằng
Tòa Thánh cố gắng can thiệp nơi các vị cầm quyền các nước và những người chức trách của
nhiều cấp thẩm quyền quốc tế, hoặc cộng tác với họ, đối thoại với với họ, hoặc mời gọi họ đối
thoại với nhau, làm thuận lợi cho việc hòa giải ngay giữa nhưng cuộc xung đột. Tòa Thánh làm
những việc ấy không vì những hậu ý, hoặc những lợi ích thầm kín – bởi vì Tòa Thánh không có ý

như thế – mà chỉ vì ưu tư nhân đạo, [129]  đặt cơ cấu và uy tín tinh thần của mình – cả hai chỉ là một –
để phục vụ cho sự hòa hợp và hòa bình. Tòa Thánh làm việc ấy trong niềm xác tín rằng, “trong
cuộc chiến, hai bên nổi lên chống nhau”, cũng thế “trong vấn đề hòa bình, hai bên cùng biết
tình nguyện và cam kết” và như vậy “người ta tìm được ý nghĩa đích thực của đối thoại cho hòa
bình”. [130]
Trong công cuộc đối thoại cho hòa giải, Hội Thánh cũng bắt đầu qua các giám mục, theo
thẩm quyền và trách nhiệm riêng, hoặc từng vị trong việc hướng dẫn giáo phận riêng, hoặc hợp
nhất trong Hội đồng giám mục, với sự cộng tác của các linh mục và của tất cả các thành viên
trong các cộng đồng Kitô hữu. Các vị trung thành chu toàn bổn phận khi cổ vũ cuộc đối thoại
cần thiết, và khi công bố những yêu cầu của con người cũng như của Kitô hữu muốn hòa giải và
hòa bình. Hiệp thông với các chủ chăn, các giáo dân mà “môi trường của hoạt động Phúc Âm
hóa là thế giới rộng lớn và phức tạp của chính trị, xã hội kinh tế và của đời sống quốc
tế”, [131]  giáo dân được gọi trực tiếp dấn thân vào cuộc đối thoại hay cổ võ đối thoại cho hòa giải.
Cũng nhờ cộng tác trung gian của họ mà Hội Thánh chu toàn hành động hòa giải của mình. Sự
tái sinh của các tâm hồn qua việc hoán cải và sám hối là điều tiên quyết cơ bản và là nền tảng
chắc chắn của mọi cuộc đổi mới xã hội bền bỉ và hòa bình giữa các quốc gia.
Cần nhắc lại rằng, về phần Hội Thánh và các thành phần Hội Thánh, cuộc đối thoại bất kỳ
diễn ra dưới hình thức nào – những hình thức này thường là có thể rất khác nhau, bởi vì quan
niệm đối thoại có một giá trị loại suy – cuộc đối thoại vẫn không bao giờ có thể khởi đầu từ thái
độ dửng dưng với chân lý. Trái lại cuộc đối thoại cần được trình bày chân lý một cách thanh
thản, với lòng tôn trọng sự hiểu biết và lương tâm người khác. Cuộc đối thoại hòa giải sẽ không
thể thay thế hay giảm nhẹ việc loan báo chân lý Tin mừng, mà mục đích là hoán cái tội nhân và
hiệp thông với Chúa Kitô và Hội Thánh. Cuộc đối thoại phải phục vụ cho việc truyền thông chân
lý đó qua các phương tiện mà Đức Kitô đã để lại cho Hội Thánh để làm mục vụ giao hòa: huấn
giáo và sám hối.
Huấn giáo
26. Trong lãnh vực rộng lớn mà Hội Thánh mang sứ mạng hoạt động nhờ đối thoại, mục
vụ sám hối và hòa giải được hướng tới các thành phần của Hội Thánh. Trước hết bằng huấn giáo
thích hợp liên quan tới hai thực tại khác nhau, nhưng bổ túc cho nhau mà các nghị phụ Thượng
Hội Đồng đã dành cho một vị trí quan trọng đặc biệt mà các ngài đã làm nổi bật trong nhiều kiến
nghị (Propositiones), đó là: sám hối và hòa giải. Huấn giáo là phương tiện thứ nhất phải dùng.
Lời khuyên hợp thời của Thượng Hội Đồng đặt nền tảng trên một giả thuyết cơ bản là:
điều gọi là mục vụ không thể đối lập với đạo lý. Hoạt động mục vụ không thể tách khỏi nội dung
đạo lý; trái lại, từ đạo lý mà hoạt động mục vụ rút ra bản chất và giá trị thực của mình. Mà nếu
Hội Thánh là “cột trụ và điểm tựa chân lý”, [132]  và nếu Hội Thánh được thiết lập trong thế giới
như người Mẹ và người Thầy, thì làm thế nào Hội Thánh có thể lơ là bổn phận dạy chân lý xây
dựng đường sự sống?
Từ các chủ chăn trong Hội Thánh, trước hết người ta chờ đợi một sự huấn giáo về hòa
giải. Huấn giáo này không thể không dựa trên giáo huấn Thánh Kinh, đặc biệt là Tân ước, liên hệ
tới sự cần thiết tái lập giao ước với Thiên Chúa trong Đức Kitô cứu chuộc và giao hòa. Và theo
ánh sáng sự hiệp thông và tình bạn mới này, dường như là kéo dài nó, huấn giáo cần dựa trên
giáo huấn về sự cần thiết giao hòa với anh em, dù phải hoãn lại việc dâng của lễ. [133]  Chúa Giêsu
nhấn mạnh rất nhiều về chủ đề hòa giải anh em: như khi Người mời ta đưa má kia cho kẻ đánh
ta, ta để áo choàng cho người lấy mất áo trong, [134]  khi người dạy chúng ta một lề luật tha thứ, một
tha thứ mà mỗi người sẽ tiếp nhận trong mức độ mà mình biết tha thứ, [135]  một tha thứ đến mức
dành cho kẻ thù, [136]  một tha thứ tới 70 lần 7, [137] nghĩa là trên thực tế không chút giới hạn. Chính

với các điều kiện ấy, chỉ thực hiện được trong bầu khí thực sự Tin mừng mới có sự hòa giải chân
thực giữa các cá nhân, giữa các gia đình, các cộng đoàn, các quốc gia, các dân tộc. Từ những dữ
kiện Thánh Kinh về sự giao hòa, đương nhiên sẽ phát sinh một huấn giáo thần học đưa vào
những yếu tố tâm lý học, xã hội học và nhiều khoa học nhân văn, những khoa học này có thể làm
sáng tỏ những hoàn cảnh, đặt đúng những vấn đề, thuyết phục được thính giả hay độc giả có
quyết tâm cụ thể.
Từ các chủ chăn trong Hội Thánh, người ta cũng chờ một huấn giáo về sám hối. Ở đây, sứ
điệp phong phú của Thánh Kinh cũng phải là nguồn mạch. Sứ điệp này nhấn mạnh trước nhất –
trong vấn đề sám hối – đến giá trị hoán cải, danh từ mà qua đó người ta tìm cách để dịch từ
métanoia, [138]  nghĩa đen là tác động cho tâm trí quay về ngõ hầu trở lại với Thiên Chúa. Đây còn
là hai yếu tố nền tảng nổi bật trong dụ ngôn người con hoang đàng nay tìm được: sự kiện “trở về
với mình” [139]  và quyết định trở về với cha mình. Không thể có hòa giải mà không có hai thái độ
tiên khởi này, và huấn giáo phải giải thích hai thái độ ấy qua những khái niệm và những từ thích
hợp với từng độ tuổi, từng hoàn cảnh văn hóa, phong tục và xã hội.
Giá trị đầu tiên của sám hối kéo qua giá trị thứ hai: sám hối nghĩa là hối hận. Cả hai nghĩa
của métanoia rất rõ trong lệnh truyền mà Chúa Kitô công bố: “Nếu anh em con hối hận, hãy tha
cho nó. Và nếu một ngày bảy lần y có lỗi với con và bảy lần y trở về với con mà nói: “em hối
hận”, con cũng tha cho nó”. [140]  Bài huấn giáo tốt sẽ chỉ cho biết sự hối hận cũng như sự hoán cải
thay vì là một tình cảm hời hợt, nó phải là trở về của tâm hồn.
Giá trị thứ ba ở trong sám hối: đó là một vận động qua đó thái độ hoán cải và hối hận nói
trên được bộc lộ ra bên ngoài: đó là điều ta gọi là làm việc sám hối. Ý này rất dễ thấy trong từ
métanoia như vị thánh Tiền hô đã dùng theo bản Nhất lãm. [141]  Làm việc sám hối có nghĩa là tái
lập lại sự quân bình hòa hợp bị tội lỗi phá vỡ, đổi hướng đi dù phải trả giá bằng hy sinh.
Tóm lại ta không thể bỏ qua huấn giáo về sám hối một cách đầy đủ và xứng hợp nhất,
trong thời đại như thời đại chúng ta khi mà các thái độ chủ yếu trong tâm lý học và trong cư xử
xã hội đếu đối lập với ba giá trị đã trình bày trên: con người ngày nay hình như gặp nhiều vất vả
hơn mới nhìn nhận được sai lầm của mình và quyết định trở về trên đường sau khi đã điều chỉnh
bước đi của mình; con người hình như ít dám nói: “tôi hối hận” hay “xin lỗi”. Hình như tự bản
năng con người muốn chối từ và thường không cưỡng lại được, những gì là sám hối, theo nghĩa
chấp nhận và thực hành hy sinh để sửa chữa tội lỗi. Về mặt này, tôi muốn nhận mạnh rằng, mặc
dầu mấy năm nay có nhẹ bớt, nhưng kỷ luật sám hối trong Hội Thánh không thể bãi bỏ, mà
không gây thiệt hại cho đời sống nội tâm các Kitô hữu và cộng đoàn Hội Thánh cũng như cho
khả năng lan rộng việc truyền giáo. Không phải là hiếm những người ngoài Kitô giáo đã phải
ngạc nhiên về sự hiếm có chứng từ sám hối thực nơi các môn đệ Đức Kitô. Mặt khác, rõ ràng là
việc sám hối theo Kitô giáo sẽ là chân thực, khi nó được gợi lên do lòng mến Chúa, chứ không
do sợ hãi mà thôi; khi sám hối hệ tại sự cố gắng nghiêm túc để đóng đinh con người cũ hầu có
thể sinh “con người mới” nhờ quyền năng của Đức Kitô; khi sám hối dõi theo gương mẫu Đức
Kitô, Đấng vô tội mà đã chọn con đường nghèo khó, nhẫn nhục, nghiêm nhặt, và có thể nói đời
sống sám hối.
Từ các chủ chăn trong Hội Thánh, ta còn chờ đợi, như huấn giáo Thượng Hội Đồng đã
nhắc nhở, một huấn giáo về lương tâm và đào tạo lương tâm. Ở đây cũng còn một chủ đề mang
tính thời sự lớn, vì do những đảo điên ảnh hưởng tới văn hóa thời đại ta, nên nội cung của con
người, nghĩa là phần thâm sâu nhất của con người tức là lương tâm, thường bị xâm phạm, thử
thách, bị đảo lộn và mờ tối đi. Để có một huấn giáo nghiêm minh về lương tâm, ta có thể tìm
được những chỉ dẫn quý báu nơi các tiến sĩ Hội Thánh hay trong thần học của Công Đồng
Vatican II và đặc biệt trong những văn kiện về Hội Thánh trong thế giới ngày nay [142]  và về tự do

tôn giáo. [143]  Theo dòng tư tưởng ấy Đức Phaolô VI thường can thiệp để nhắc nhở về bản chất và
vai trò lương tâm trong đời sống chúng ta. [144]  Phần tôi, theo đường lối Người, tôi không bỏ qua
dịp nào để làm sáng tỏ những gì thuộc phần cao nhất của sự cao cả và phẩm giá con người, [145]  về
một loại “cảm thức luân lý” đưa ta tới chỗ phân biệt được cái gì là tốt, cái gì là xấu,… “như một
con mắt bên trong, một tài năng trông nhìn của trí khôn có thể hướng dẫn bước đi trên con
đường thiện hảo”. Tôi cũng nhắc lại sự cần thiết phải đào tạo theo Kitô giáo chính lương tâm
mình, để nó đừng trở nên “một sự phá hoại chính lòng nhân đạo của mình, mà phải trở nên nơi
thánh mà Thiên Chúa bày tỏ sự thiện hảo của Ngài”. [146]
Cũng còn những điểm khác không kém phần quan trọng về sự hòa giải mà người ta chờ
nơi huấn giáo của các chủ chăn.
– Cảm thức về tội lỗi đã bị giảm đi trong thế giới hiện nay, như tôi đã trình bày.
– Về thử thách và những cơn cám dỗ: chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, “Người đã chịu
thử thách về mọi phương diện cũng như ta, chỉ trừ tội lỗi”. [147]  Người đã chịu để cho ác thần cám
dỗ để chỉ cho chúng ta biết rằng những kẻ đi theo Người cũng sẽ bị cám dỗ và cho ta biết phải
đối xử thế nào khi bị cám dỗ. [148]  Đối với những ai đã cầu xin Chúa Cha để không bị thử thách
quá sức mình [149]  và không quỵ ngã trước cám dỗ; [150]  đối với những ai không liều lĩnh vào dịp tội,
thì việc bị cám dỗ không có nghĩa là phạm tội, mà đó là dịp để lớn mạnh trong lòng trung thành
và gắn bó qua khiêm nhường và tỉnh thức.
– Về chay tịnh: có thể thực hiện dưới các hình thức cũ hay mới, như dấu hiệu cho sự hoán
cải, hối hận và hãm mình, đồng thời là dấu chỉ kết hợp với Đức Kitô chịu đóng đinh, và liên đới
với các anh em đang đói và đau khổ.
– Về việc bố thí: là cách cụ thể hóa lòng bác ái, chia sẻ những gì mình có với những người
đang chịu những hậu quả của nghèo đói.
– Về dây liên kết giữa sự vượt qua được các chia rẽ trên thế giới và sự hiệp thông đầy đủ
với Thiên Chúa và loài người là mục đích cánh chung của Hội Thánh.
– Về những hoàn cảnh cụ thể trong đó được thực hiện sự giao hòa (trong gia đình hay
cộng đoàn dân sự, trong các tổ chức xã hội) và riêng đặc biệt, về 4 cuộc hòa giải đang sửa lại 4
cuộc cắt đứt căn bản: hòa giải của con người với Thiên Chúa, với chính mình, với anh em, và với
toàn thể tạo vật.
– Hội Thánh không thể bỏ qua mà không cắt xén nghiêm trọng khỏi sứ điệp thiết yếu, vừa
riêng tư, vừa phổ quát của mình, chính giáo lý hằng dạy về điều mà ngôn ngữ truyền thông Kitô
gọi là 4 sự sau cùng của con người: sự chết, phán xét (riêng và chung), hỏa ngục và thiên đàng.
Trong bối cảnh văn hóa muốn giam con người trong cái khung của cuộc sống trên trái đất mà
thôi, nơi mà con người gặt được thành công ít nhiều, người ta đòi các chủ chăn trong Hội Thánh
một huấn giáo rộng mở và soi sáng, bằng các điều chắc chắc của đức tin vào cõi bên kia cuộc
sống hiện tại; đàng sau những cánh cửa huyền bí của sự chết còn chạy dài cả một vĩnh cửu hân
hoan trong hiệp thông với Thiên Chúa, hoặc phải khổ hình vì xa Thiên Chúa. Chỉ trong tầm nhìn
cánh chung ấy ta mới thấy được cái tầm vóc của tội và mới cảm thấy cách quyết định thúc đẩy ta
sám hối và hòa giải.
Các chủ chăn nhiệt tình và sáng kiến không thiếu dịp rao giảng huấn giáo trên trong tầm
rộng lớn và khác biệt của nó, bằng cách lưu ý về sự dị biệt văn hóa và huấn luyện lòng đạo của
những người mà các vị trình bày. Các bài Kinh Thánh và nghi thức thánh lễ, và những bí tích
khác, cũng như các cơ hội cử hành các bí tích thường cũng là cơ hội thuận tiện cho huấn giáo.
Nhiều sáng kiến có thể áp dụng cho mục đích này như các bài giảng, diễn văn, tranh luận và các
lớp dạy tôn giáo… như đã làm tại nhiều nơi. Tôi muốn nêu bật sự quan trọng và hiệu quả của các
Tuần Đại Phúc cho việc huấn giáo này. Nếu được thích nghi với nhu cầu riêng của thời đại ta,

chúng có thể, hôm nay cũng như hôm qua, trở thành dụng cụ sáng giá để giáo dục đức tin, đặc
biệt trong điều liên quan tới sám hối và hòa giải.
Vì tầm quan trọng rất lớn của hòa giải dựa trên lãnh vực hoán cải, trong lãnh vực tế nhị
của các mối tương quan giữa nhân loại và đời sống xã hội ở mọi đẳng cấp, kể cả bình diện quốc
tế, huấn giáo không thể bỏ qua sự đóng góp quý báu của giáo huấn xã hội của Hội Thánh. Giáo
huấn theo hoàn cảnh và chính xác nơi các vị tiền nhiệm của tôi, từ Đức Lêo XIII, được tiếp nối
bằng sự đóng góp chủ yếu của Hiến chế Mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng của Công Đồng Vatican
II, và giáo huấn của nhiều Hội đồng giám mục được gợi ý can thiệp vào nhiều hoàn cảnh nơi xứ
sở của các giám mục, tất cả đã tạo thành một cơ cấu đạo lý rộng lớn và vững chắc đụng chạm tới
nhiều đòi hỏi gắn liền với cuộc sống cộng đoàn nhân loại, với tương quan giữa các cá nhân, các
gia đình và các nhóm tạo nên cộng đồng ấy và với sự thành lập một xã hội tìm cách gắn bó với
luật luân lý, là nền tảng của văn minh.
Trên nền tảng giáo huấn xã hội của Hội Thánh, hiển nhiên có một cái nhìn, rút ra từ Lời
Chúa về các quyền lợi và bổn phận của các cá nhân, gia đình và cộng đoàn; về giá trị của sự tự
do và các chiều kích của công lý; về vị trí tuyệt đỉnh của đức ái; về phẩm giá nhân vị của con
người và những yêu sách của công ích mà các nền chính trị và kinh tế phải tìm cách thực hiện.
Các nguyên tắc căn bản của huấn quyền về xã hội đã củng cố và tái phát biểu những mệnh lệnh
phổ quát của lý trí và của lương tâm các dân tộc. Phần lớn hy vọng giải quyết ôn hòa các mối
xung đột xã hội, và nói tóm lại, hy vọng hòa giải phổ quát, dựa trên những nguyên tắc ấy.
Các Bí tích
27. Phương thế thứ hai Thiên Chúa thiết lập, mà Hội Thánh cống hiến cho mục vụ sự sám
hối và hòa giải là các Bí tích.
Trong tính năng động huyền nhiệm của các bí tích, rất phong phú về biểu tượng và nội
dung, ta có thể nhận thấy một khía cạnh không phải luôn luôn được nêu bật: mỗi một bí tích là
một dấu chỉ, không những của ân sủng riêng, nhưng còn là của sự sám hối và hòa giải. Như vậy
trong mỗi bí tích có thể làm sống lại những chiều kích thiêng liêng này.
Chác chắn Bí tích Thánh Tẩy là sự tắm gội của ơn cứu rỗi, như thánh Phêrô nói về giá trị
của bí tích: “Nhờ phép rửa này, không phải là anh em được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cầu
xin Thiên Chúa ban cho mình một lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu
Kitô”. [151]  Đó là việc chết, mai táng và sống lại cùng với Đức Kitô Đấng đã chết, mai táng, và
sống lại. [152]  Đó là món quà của Chúa Thánh Thần thông qua Đức Kitô. [153]  Tuy nhiên yếu tố này,
cấu thành bản chất và nguyên ủy phép rửa của Kitô giáo, không thể tách ra được, nhưng lại làm
tăng thêm vẻ sám hối đã hiện diện trong phép rửa mà chính Chúa Giêsu đã lãnh nhận của
Gioan “để hoàn thành mọi sự công chính”. [154]  Nói cách khác, có một sự hoán cải và phục hồi
trong công chính mối tương quan với Thiên Chúa, giao hòa với Thiên Chúa, cùng với việc xóa
bỏ tì ố nguyên tổ và dẫn vào đại gia đình của những kẻ được giao hòa.
Cũng vậy, bí tích Thêm sức, xét như là sự chuẩn nhận Bí tích Thánh Tẩy và họp thành bí
tích khai tâm, trao ban trọn vẹn Chúa Thánh Thần và dẫn tới đời sống kitô hữu trưởng thành, vì
thế nó biểu lộ và thực hiện cuộc hoán cải rộng lớn hơn của con tim và cuộc liên kết chặt chẽ và
hữu hiệu hơn cùng một cộng đoàn những người được giao hòa, tức là Hội Thánh Chúa Kitô.
Thánh Augustin đã định nghĩa về Bí tích Thánh Thể như là: “Bí tích sự thánh hóa, dấu chỉ
sự hiệp nhất, mối dây bác ái”. [155]  Như vậy Người đã khơi sáng lên những hiệu quả thánh hóa bản
thân (pietas) và sự hòa giải cộng đoàn (unitas và caritas), được phát sinh từ yếu tính của mầu
nhiệm Thánh Thể, xét như là sự tái diễn không đổ máu của hy lễ thập giá xưa, và là nguồn mạch
của ơn cứu độ và sự hòa giải cho tất cả mọi người.

Tuy nhiên cần phải nhắc lại rằng Hội Thánh, được đức tin dẫn đưa vào bí tích cao trọng
này, đã dạy rằng: người kitô hữu nào ý thức mình đã phạm một tội trọng, thì không thể rước lấy
Thánh Thể trước khi được Thiên Chúa tha thứ. Chúng ta cũng đọc thấy như thế trong Huấn thị
Eucharisticum Mysterium (mầu nhiệm Thánh Thể), được Đức Phaolo VI phê chuẩn, đã xác nhận
hoàn toàn giáo huấn của Công Đồng Trento: “Thánh Thể được ban cho các tín hữu cũng như là
phương thuốc để giải thoát chúng ta khỏi những lỗi lầm hàng ngày và gìn giữ chúng ta khỏi tội
trọng; các tín hữu cần được chỉ dẫn những phương cách thích hợp để sử dụng những phần sám
hối của nghi thức thánh lễ. Ai muốn rước Mình Thánh Chúa thì hãy nhớ lại mệnh lệnh: “ai nấy
phải tự xét mình”. Tập truyền của Hội Thánh chỉ dạy rằng việc xét mình này là cần thiết, bởi vì
bất cứ ai, nếu ý thức mình có tội trọng, cho dù đã tưởng mình đã sám hối đến đâu, cũng không
được phép đến gần Thánh Thể mà trước đó không lãnh bí tích xưng tội. Nếu ai cảm thấy mình ở
trong trường hợp cần thiết và không thể đi xưng tội, thì trước tiên phải ăn năn tội cách trọn. [156]
Bí tích Truyền Chức đã đem lại cho Hội Thánh những chủ chăn. Họ không chỉ là những
người thầy, những người hướng dẫn, nhưng họ đã được gọi làm chứng nhân và tác nhân của sự
hiệp nhất, họ là những người xây dựng gia đình Thiên Chúa, những người bảo vệ và canh giữ
mối thông hiệp của gia đình này chống lại mọi mầm mống chia rẽ và phân tán.
Bí tích Hôn Nhân mang lại lời ca tụng của tình yêu nhân loại dưới tác động của ân sủng.
Đó chính là dấu chỉ của tình yêu Chúa Kitô đối với Hội Thánh, nhưng cũng là dấu chỉ của cuộc
chiến thắng mà Chúa Kitô đã trao cho các đôi bạn để kháng cự những sức mạnh làm méo mó và
phá hủy tình yêu; nhờ vậy gia đình được sinh ra từ bí tích này trở nên một dấu chỉ của Hội Thánh
hòa giải hướng đến một thế giới được hòa giải trong tất cả những cơ cấu và thể chế.
Sau cùng, Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, trong cuộc thử thách của bệnh tật và tuổi già và
cách đặc biệt vào giờ phút lâm chung của đời sống kitô hữu, là một dấu chỉ của cuộc cải hoán
chung quyết về với Chúa, cũng như dấu chỉ của việc hoàn toàn chấp nhận đau khổ và cái chết
như là sự sám hối những tội lỗi. Và chính đây là việc thực hiện một cuộc giao hòa tuyệt đỉnh với
Chúa Cha.
Tuy nhiên, trong tất cả các bí tích có một bí tích, tuy thường được gọi là Bí tích Xưng Tội
vì lý do của sự cáo những tội đã trót phạm, nhưng có thể được gọi bằng tên thích đáng hơn như
là: “Bí tích của sự sám hối chính nghĩa. Như vậy chúng ta chỉ rõ hiệu quả của nó, khi gọi là: “Bí
tích của sự hoán cải và giao hòa”. Mới đây, Thượng Hội Đồng Giám Mục đã bàn bạc cách đặc
biệt về bí tích này, vì tầm quan trọng của nó đối với sự hòa giải.
***
CHƯƠNG II. BÍ TÍCH SÁM HỐI VÀ HÒA GIẢI

 
28. Trong suốt mọi giai đoạn và cấp bậc, Thượng Hội Đồng Giám Mục đã hết sức chú ý
đến dấu chỉ bí tích biểu hiện và đồng thời thể hiện việc sám hối và hòa giải. Chắc chắn rằng, bí
tích này không gồm chứa hết mọi khái niệm về việc hoán cải và giao hòa. Thực vậy, Hội Thánh
ngay từ đầu đã nhận và sử dụng nhiều hình thức phong phú và đa dạng của việc sám hối: Một vài
hình thức mang tính cách phụng vụ hoặc bán phụng vụ, trong đó có việc sám hối trong thánh lễ,
các nghi thức sám hối, các cuộc hành hương; những hình thức khác thuộc loại khổ hạnh, như là
việc ăn chay. Tuy nhiên, trong số đó, không có hành vi nào có ý nghĩa hơn, có hiệu quả thần linh
hơn hay cao quý hơn, và đồng thời xét như là nghi thức, lại gần tầm tay cho bằng Bí tích Sám
Hối.

Ngay từ giai đoạn chuẩn bị và sau đó, trong nhiều lần can thiệp ở các phiên họp, các tổ
làm việc và các kiến nghị chung kết, Thượng Hội Đồng đã xét lời khẳng định, thường được lại đi
lặp lại dưới nhiều dạng thức và chi tiết, đó là: Bí tích Sám Hối đang trải qua một cơn khủng
hoảng. Thượng Hội Đồng đã lưu ý đến điều đó. Thượng Hội Đồng đã khuyến khích một cuộc
huấn giáo sâu đậm hơn, nhưng cũng khuyến khích một cuộc phân tích không kém phần sâu sắc
về khía cạnh có tính thần học, lịch sử, tâm lý, xã hội và pháp lý trên sự sám hối nói chung và của
Bí tích Sám Hối nói riêng. Như vậy, Thượng Hội Đồng có chủ ý muốn làm sáng tỏ những
nguyên nhân của cuộc khủng hoảng và mở ra con đường giải quyết tích cực, hầu mưu ích cho
nhân loại. Trong khi đó, từ chính Thượng Hội Đồng, Hội Thánh đã nhận được sự củng cố niềm
tin của mình đối với bí tích này. Bí tích Sám Hối mang lại cho mỗi kitô hữu và cho toàn thể cộng
đoàn tín hữu sự chắc chắn được tha thứ do quyền năng của máu thánh cứu chuộc của Đức Kitô.
Thật là điều tốt khi lặp lại và khẳng định lại lòng tin này vào một thời điểm mà lòng tin có
thể tàn yếu dần, mất đi một thứ gì toàn vẹn của nó, hay là bị dồn vào trong bóng tối và thinh
lặng, bị đe dọa bởi những yếu tố tiêu cực của cuộc khủng hoảng. Thực vậy, bí tích Xưng tội bị
khống chế một đàng bởi vì ý thức luân lý và tôn giáo bị lu mờ, cảm thức về tội lỗi bị suy giảm,
quan niệm về sám hối đã bị bóp méo, thiếu nỗ lực để sống đời kitô hữu đích thực. Đàng khác, bí
tích này đôi khi còn bị khống chế bởi ý tưởng lan tràn đó đây, theo đó người ta sẽ có thể được
Thiên Chúa trực tiếp tha thứ, kể cả một cách bình thường, mà không cần lãnh Bí tích hòa giải.
Một ảnh hưởng tiêu cực nữa là thực hành bí tích đôi khi thiếu lòng sốt sắng và tâm tình tự phát,
có lẽ do một quan niệm sai lầm và lệch lạc về những hiệu quả của bí tích.
Vì thế thực là thích hợp khi nhắc lại những khía cạnh chính của Bí tích cao cả này.
“Các con tha tội cho ai…”
29. Sự kiện đầu tiên và cơ bản mà chúng ta rút ra được từ các sách thánh của Cựu ước và
của Tân ước đó là Thiên Chúa khoan nhân và tha thứ. Trong các thánh vịnh và lời giảng dạy của
các ngôn sứ, từ “khoan nhân” (lời chú của người dịch: “khoan nhân” hoặc “nhân hậu, nhân từ,
từ bi hay thương xót, lân tuất”) có lẽ một tiếng được gán cho Chúa nhiều nhất, đối lại với thành
kiến cho rằng Thiên Chúa của Cựu Ước được trình bày như là một vị nghiêm khắc và báo oán.
Trong các Thánh Vịnh, có một đoạn văn dài, thuộc thể văn khôn ngoan, rút từ truyền
thống Xuất hành, gợi lại hành động nhân từ của Thiên Chúa ở giữa dân Người. Tuy hành động
này được diễn tả theo lối “như nhân”, nhưng có lẽ là một trong những lời tuyên bố hùng hồn nhất
trong Cựu ước về Thiên Chúa khoan nhân. Chỉ cần trích dẫn ở đây một câu: “Nhưng Ngài vẫn
xót thương, thứ tha không tiêu diệt, nén giận đã bao lần, chẳng khơi bừng nộ khí. Chúa nhớ
rằng: thân phận chúng bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về”. [157]
Khi đến thời viên mãn, Con Thiên Chúa đã đến như con Chiên cất đi và gánh lấy tội lỗi
của nhân loại. [158]  Người xuất hiện như Đấng có quyền xét xử và tha thứ tội lỗi, [159]  và Đấng đã đến
không phải để luận phạt nhưng để tha thứ và cứu rỗi. [160]
Và rồi, quyền “tha thứ các tội”, Chúa Giêsu, qua Thánh Thần, đã trao cho những con
người tầm thường, cũng bị tội lỗi kềm kẹp, tức là các tông đồ: “Các con hãy nhận lấy Thánh
Thần. Các con tha tội cho ai, thì tội ấy được tha cho họ; các con cầm giữ tội ai, thì tội ấy bị cầm
giữ”. [161]  Chân phúc Isaac Stella trong một bài giảng đã nhấn mạnh sự hòa hợp hoàn toàn giữa
Đức Kitô với Hội Thánh trong việc tha thứ tội lỗi: “Hội Thánh không thể tha cái gì mà không có
Chúa Kitô, và Chúa Kitô không muốn tha thứ mà không có Hội Thánh. Hội Thánh chỉ có thể tha
thứ cho một hối nhân, nghĩa là một người đã được Đức Kitô chọn đến bằng ân sủng của Người.
Đức Kitô không muốn coi cái gì đã được tha nơi một người khinh miệt Hội Thánh”. [162]  Đây là
một trong những điểm mới mẻ kinh khủng nhất của Tin Mừng! Khi trao quyền thọ tạo cho các
tông đồ, Đức Giêsu cũng cho phép họ được chuyển giao như Hội Thánh vẫn hiểu ngay từ thời sơ

khai, quyền đó cho các người kế vị, được chính các Tông Đồ trao sứ vụ và trách nhiệm tiếp tục
công viẹc loan báo Tin Mừng và làm thừa tác viên ơn cứu độ của Đức Kitô.
Ở đây ta thấy trổi lên vẻ cao trọng của tác nhân Bí tích Sám Hối, được truyền thống cố
cựu gọi là Cha giải tội.
Cũng giống như trên bàn thờ khi dâng Thánh lễ và cũng như khi cử hành các bí tích khác,
linh mục tác viên của Bí tích Sám Hối hành động “in persona Christi” (với tư cách của Chúa
Kitô). Chúa Kitô được linh mục làm hiện diện và hoàn tất mầu nhiệm tha thứ cũng chính là Chúa
Kitô xuất hiện như là người anh của nhân loại, [163]  vị Thượng tế đầy lân tuất, trung tín và trắc
ẩn, [164]  mục tử lo lắng tìm con chiên lạc, [165]  lương y chữa bệnh và an ủi, [166]  Thầy duy nhất dạy dỗ
chân lý và chỉ rõ đường lối của Thiên Chúa, [167]  Thẩm phán xét xử kẻ sống và kẻ chết, [168]  Người
xét xử theo sự thật chứ không theo dáng vẻ bề ngoài. [169]
Chắc chắn đây là một tác vụ khó khăn nhất, tế nhị nhất, tổn sức nhất và đòi hỏi nhất của
linh mục, nhưng cũng là một trong những tác vụ cao đẹp và an ủi nhất. Chính vì lý do ấy và
chính vì lời khuyến khích nhiệt liệt của Thượng Hội Đồng, tôi sẽ không bao giờ quản ngại nhắn
nhủ các anh em tôi, các vị giám mục và linh mục, hãy thi hành tác vụ này cách trung thành và
cần mẫn. [170]  Trước lương tâm của các tín hữu vừa lo sợ vừa tin tưởng đang mở ra cho ngài, cha
giải tội được mời gọi đóng vai trò cao quý là phục sự sám hối và hòa giải. Cha giải tội có nhiệm
vụ học biết những yếu đuối và sa ngã của các tín hữu, hỗ trợ lòng ao ước của họ muốn đổi mới
và nỗ lực của họ muốn thực thi lòng ao ước ấy, phân định tác động của Chúa Thánh Thần trong
tâm hồn họ, ban cho họ sự tha thứ mà duy một mình Thiên Chúa mới có thể ban, “cử hành” việc
giao hòa của họ với Thiên Chúa được phác họa trong dụ ngôn người con hoang đàng, dẫn những
tội nhân đã được cứu trở vào cộng đoàn Hội Thánh với các anh chị em, và lấy tình cha mà
khuyên nhủ các hối nhân với câu nói cương nghị, khích lệ và thân mật: “Con đừng phạm tội
nữa”. [171]
Để có thể thi hành tác vụ này cách hữu hiệu, cha giải tội cần phải có những đức tính nhân
bản như khôn ngoan, kín đáo, phân định, và cương nghị hòa lẫn với nhã nhặn và tử tế. Cũng vậy,
cha giải tội cần phải được chuẩn bị nghiêm túc và kỹ lưỡng trong những ngành thần học, sư
phạm và tâm lý. Sự học hỏi các khoa này phải được hài hòa và toàn vẹn chứ không phải từng
mảng rời rạc. Cha giải tội cũng cần được huấn luyện về phương pháp đối thoại và nhất là về sự
hiểu biết Lời Chúa một cách sống động và có thể thông đạt được. Và hơn thế nữa, cha giải tội
cần phải có đời sống thiêng liêng thật sâu đậm. Để có thể hướng dẫn người khác trên đường lối
của sự trọn lành kitô hữu, tác viên của Bí tích Sám Hối phải là kẻ đầu tiên đã đi con đường ấy.
Bằng hành động hơn là bằng lời lẽ dài dòng, cha giải tội phải chứng tỏ mình đã có kinh nghiệm
sống đời cầu nguyện, thực hành các nhân đức đối thần và các nhân đức luân lý theo tin mừng, sự
trung thành tuân theo ý Chúa, lòng yêu mến Hội hánh và ngoan ngoãn với Huấn quyền.
Tất cả những đức tính nhân bản, các nhân Đức Kitô hữu và các khả năng mục vụ cần phải
được tập luyện và chỉ có thể thủ đắc bằng nhiều cố gắng. Mỗi linh mục phải được huấn luyện tác
vụ Bí tích Sám Hối ngay từ những năm tại chủng viện, không những nhờ việc học thần học tín
lý, luân lý, tu đức và mục vụ (tất cả là những bộ môn của một tổng bộ), nhưng còn nhờ việc học
các khoa nhân văn, huấn luyện về đối thoại, cách riêng là cách tiếp xúc trong lãnh vực mục vụ.
Sau đó linh mục cần được hướng dẫn và theo dõi ngay từ giai đoạn bắt đầu hoạt động. Linh mục
cần phải tìm cách thăng tiến và bồi dưỡng nhờ cuộc thường huấn. Thử hỏi sẽ có biết bao ân huệ
dồi dào, đời sống thiêng liêng chói ngời sẽ tỏa rộng trong Hội Thánh đến đâu nếu mỗi linh mục
lo lắng để khỏi mất cơ hội, do sự chểnh mảng hay những cớ thoái thác khác, để gặp gỡ các tín
hữu trong tòa cáo giải, và nếu linh mục ân cần để đừng bao giờ vào tòa giải tội mà thiếu chuẩn bị
hoặc thiếu những đức tính nhân bản cần thiết, và thiếu sửa soạn về thiêng liêng và mục vụ?

Nhân tiện tôi không thể nào không nhắc đến với lòng cảm phục các vị tông đồ của tòa giải
tội, tựa như Thánh Gioan Nêpômuxênô, Thánh Gioan Viannry, thánh Giuse Cafassô, thánh
Leôpôlđô Castelnuovo, đó là mới điểm qua các vị giải tội danh tiếng đã được Hội Thánh ghi vào
sổ các hiển thánh. Nhưng tôi cũng muốn tỏ lòng thán phục với đoàn ngũ đông đảo các vị giải tội
thánh thiện và hầu như vô danh, nhờ các ngài mà biết bao linh hồn đã được ơn cứu rỗi, đã được
giúp đỡ trong việc hoán cải, trong việc chiến đấu chống lại tội lỗi và các chước cám dỗ, trong sự
tiến triển thiêng liêng, và nói tắt một lời, trong việc nên thánh. Tôi không ngại quả quyết rằng
ngay cả các vị hiển thánh thường cũng là kết quả của tòa giải tội, và không những là các vị thánh
mà thôi nhưng cả gia sản và tinh thần của Hội Thánh và sự phát triển văn minh thấm nhuần tinh
thần Kitô giáo nữa. Vì vậy thật đáng ca tụng đoàn ngũ thầm lặng của các anh em chúng ta đã và
đang phục vụ công cuộc hòa giải nhờ tác vụ Bí tích Sám Hối.
Bí tích tha thứ

30. Từ chỗ mặc khải về giá trị của tác vụ này và quyền năng tha tội được Chúa Kitô trao

phó cho các tông đồ và những kẻ kế vị, đã có sự phát triển nhận thức về dấu chỉ tha thứ được
thông ban qua Bí tích Sám Hối. Chính là sự xác tín rằng Chúa Giêsu đã thiết lập và ủy thác cho
Hội Thánh một bí tích riêng dành để tha thứ các tội đã phạm sau khi lãnh Bí tích Thanh Tẩy –
như là một món quà của lòng khoan hậu và nhân ái của Người cần được trao cho hết mọi
người. [172]
Xét về cách thức cử hành, bí tích này đã trải qua một tiến trình phát triển lâu dài, theo như
chứng tích của các Sách Lễ cổ điển, những văn kiện của các Công Đồng và công nghị, những bài
giảng của các Giáo phụ và những giáo huấn của các tiến sĩ Hội Thánh. Nhưng xét về bản chất
của Bí tích, thì ý thức Hội Thánh luôn luôn duy trì niềm xác tín bền vững và bất biến rằng do ý
định của Chúa Kitô, ơn tha thứ được ban cho mỗi người nhờ sự xá giải do các tác viên của Bí
tích Sám Hối. Đó là niềm xác tín được tái khẳng định cách mạnh mẽ do cả Công Đồng
Trento [173]  cũng như Công Đồng Vatican II: “Những ai tiến đến Bí tích Sám Hối thì nhận được sự
tha thứ mọi xúc phạm đến Thiên Chúa nhờ lòng thương xót của Ngài, và đồng thời họ được hòa
giải với Hội Thánh mà họ đã làm tổn thương khi phạm tội. Hội Thánh hành động bằng lòng mến,
bằng gương lành và bằng lời cầu nguyện để giúp cho họ cải hoán”. [174]  Và một chân lý đức tin về
giá trị và mục đích của Bí tích này là sự khẳng định rằng: Đức Giêsu Kitô Chúa Cứu chuộc
chúng ta đã thiết lập trong Hội Thánh của Người Bí tích Sám Hối ngõ hầu các tín hữu đã sa ngã
phạm tội sau Bí tích Thánh Tẩy có thể được lãnh ân sủng và hòa giải với Thiên Chúa. [175]
Đức tin của Hội Thánh về bí tích này bao hàm một vài chân lý căn bản khác không thể nào
bỏ qua được. Nghi thức của Bí tích Sám Hối, trải qua những diễn tiến và những hình thức hiện
hành, vẫn luôn duy trì và nêu bật các chân lý đó. Khi khuyến khích cải tổ nghi thức, Công Đồng
Vatican II muốn rằng các nghi tức phải diễn tả các chân lý đó cách rõ rệt hơn, [176]  và điều này đã
đạt được với sách Nghi thức Sám hối, [177]  bởi vì nó đã thu nhập toàn bộ giáo huấn của Công Đồng
Trento, [178]  chuyển dịch cách trung thực từ khung cảnh lịch sử riêng biệt (tức là cố gắng xác minh
đạo lý đứng trước những sai lạc không phù hợp với giáo huấn nguyên tuyền của Hội Thánh),
sang những hạn từ tích hợp hơn với khung cảnh thời nay.
Một vài xác tín căn bản
31. Các chân lý vừa nói trên đã được nhắc lại cách mạnh mẽ và sáng tỏ trong Thượng Hội
Đồng và được đưa vào trong các kiến nghị. Các chân lý đó có thể được tóm lại trong các xác
định dưới đây, gắn liền với tất cả xác tín khác của đạo lý Công giáo về Bí tích Sám Hối.
I. Xác tín thứ nhất. Đối với một kitô hữu, Bí tích Sám Hối là con đường thông thường để
được tha thứ các tội trọng phạm sau ngày Rửa tội. Chắc chắn rằng Đấng Cứu chuộc và công
trình cứu độ của Người không bị trói buộc vào một vài dấu chỉ của bí tích đến nỗi trong bất cứ

giai đoạn và lãnh vực nào của lịch sử cứu rỗi không thể tác động bên ngoài và bên trên các bí
tích. Nhưng nhờ Hội Thánh, trường dạy đức tin, chúng ta nhận biết rằng cũng một Đấng Cứu
chuộc ấy đã muốn và xếp đặt để cho những Bí tích đức tin, vừa khiêm nhường vừa quý giá, như
là những phương tiện hữu hiệu nhờ đó mà sức mạnh cứu chuộc của Ngài đã được chuyển thông
và tác động. Cho nên thật là điên rồ và tự phụ khi dám tự tiện coi nhẹ các dụng cụ của ân sủng và
chương trình cứu rỗi mà Thiên Chúa đã thiết lập; một cách cụ thể hơn, khi đòi hỏi được tha tội
mà không cần tới bí tích do Chúa Kitô thiết lập với mục đích để tha tội. Sự đổi mới của các nghi
thức từ sau Công Đồng không hề phê chuẩn cái ảo tưởng nào hay sự biến chất nào theo đường
hướng đó. Theo ý của Hội Thánh, sự đổi mới này đã và đang nhằm gợi lên cho mỗi người chúng
ta một động lực mới với mục đích đổi mới thái độ nơi chúng ta. Tôi muốn nói đến sự hiểu biết
sâu xa về bản chất của Bí tích Sám Hối, cũng như về sự lãnh nhận bí tích một cách thấm nhuần
niềm tin hơn, không phải trong lo âu mà tràn đầy tin tưởng. Tôi cũng muốn nói đến việc năng cử
hành bí tích vì nhờ đó chúng ta được tiếp xúc với tình yêu khoan nhân của Thiên Chúa.
II. Xác tín thứ hai liên quan đến chức năng của Bí tích Sám Hối đối với những người lãnh
nhận. Theo quan niệm cổ truyền, Bí tích này là một thứ hành vị xét xử. Nhưng việc xét xử này
diễn ra tại tòa án nhân từ, chứ không phải tòa án công lýkhắt khe, cho nên chỉ có thể so sánh với
tòa án nhân loại theo nghĩa loại suy, nghĩa là: tội nhân xưng thú các tội lỗi của mình và tình trạng
thọ tạo nghiêng chiều về tội lỗi, cam kết từ bỏ và chống lại tội lỗi, nhận lãnh hình phạt (việc đền
tội) mà cha giải tội đã ra, và lãnh sự xá giải.
Nhưng đang khi suy tư về chức năng của bí tích này, Hội Thánh ý thức và nhận thấy,
ngoài phương diện xét xử theo nghĩa đã được gợi ra, còn có khía cạnh chữa trị. Điều này gắn liền
với sự kiện Chúa Kitô như là vị Thầy thuốc mà chúng ta thường gặp trong Tin mừng. [179]  Vả lại
công trình cứu chuộc của Người đã được đặt tên ngay từ thời Hội Thánh sơ khai là “medicina
salutis” (y dược cứu rỗi). “Ta muốn chữa lành chứ không kết tội”, đó là lời mà Thánh Augustin
đã nói về việc thực hành mục vụ Bí tích Sám Hối, [180]  và chính nhờ dược liệu của việc xưng thú
mà cảm nghiệm về tội lỗi không bị đẩy vào chỗ tuyệt vọng. [181]  Sách Nghi thức sám hối cũng ám
chỉ đến phương diện chữa trị của Bí tích, [182]  khía cạnh mà con người thời nay có thể dễ cảm nhận
hơn, và cũng như khi nói đến tội thì họ nhạy cảm đến yếu tố yếu đuối và mỏng dòn của con
người hơn là khía cạnh sai lầm.
Cho dù là tòa án nhân từ hay nơi chữa lành tinh thần, dưới cả hai phương diện, Bí tích đều
đòi hỏi sự hiểu biết nội tâm của hối nhân, để có thể xét xử và tha thứ, trị liệu và chữa lành. Đó
chính là lý do mà Bí tích bao hàm, về phía hối nhân, sự xưng thú các tội một cách chân thành và
trọn vẹn, việc thú tội này không phải chỉ bắt nguồn từ mục tiêu khổ hạnh (như là việc thực tập
đức khiêm nhường và khổ chế) nhưng là từ một mục tiêu nội tại của bản chất Bí tích.
III. Xác tín thứ ba: Xác tín mà tôi muốn nói có liên quan đến những thực tại hay những
thành phần cấu thành dấu chỉ của Bí tích tha thứ và hòa giải. Một vài thực tại ấy là các hành
động của hối nhân, dù không có tầm quan trọng ngang nhau nhưng đều cần thiết cho sự hữu
hiệu, sự toàn vẹn và hiệu quả của dấu chỉ Bí tích.
Điều kiện thiết yếu trước tiên là lương tâm ngay thẳng, và sáng suốt của hối nhân. Người
ta không thể đi tới sự sám hối đích thực, bao lâu người ta không nhận ra rằng tội lỗi đối nghịch
với quy luật luân lý đã được ghi khắc trong tâm khảm; [183]  bao lâu người ta không nhận ra một
cảm nghiệm riêng tư và có trách nhiệm về sự trái nghịch ấy; bao lâu người ta không những nói
rằng “đó là tội” mà còn nói “tôi đã phạm tội”; bao lâu người ta không nhìn nhận rằng tội lỗi đã
đưa vào lương tâm họ sự rạn nứt làm phá hủy bản ngã toàn vẹn của mình, chia cách mình với
Thiên Chúa và với anh em. Dấu chỉ Bí tích của lương tâm sáng suốt là hành vị được truyền thống
gọi là “tự vấn lương tâm”. Hành vi này không thể nào chỉ là một sự chất vấn tâm lý cách xao

xuyến nhưng là cuộc đối chiếu thẳng thắn và minh bạch với luật luân lý nội tâm, với những quy
tắc của Tin mừng mà Hội Thánh giảng dạy, với chính Chúa Kitô là Thầy và là mẫu mực đời sống
của chúng ta, với Cha trên trời, là Đấng kêu gọi chúng ta sốngtoàn hảo và tốt lành. [184]
Nhưng hành vi chính yếu của Bí tích Sám Hối, xét về phía hối nhân, là sự ăn
năn (contritio) tức là cương quyết từ bỏ tội lỗi cùng với dốc tâm không tái phạm nữa. [185]  Dĩ
nhiên, để có thể tiến tới Bí tích Sám Hối, chỉ cần ăn tội cách chẳng trọn (attritio: vì sợ hơn là vì
yêu) thì đã đủ. Nhưng trong phạm vi Bí tích, hành vi ăn năn tội chẳng trọn được biến thành trọn
hảo nhờ tác động của ân sủng (ex attritio fit contritus), bởi vì Bí tích Sám Hối thực sự đã tác
động nơi hối nhân được chuẩn bị đích đáng để họ được ăn năn cách trọn. Vì lòng mến Chúa,
lòng mến này sẽ hồi sinh cùng với việc sám hối. Cho nên sự ăn năn là khởi đầu và trọng tâm của
sự hoán cải, của métanoia trong Tin mừng dẫn con người trở về với Thiên Chúa, tựa như “đứa
con hoang đàng” trở về với Cha. Sự ăn năn mang một dấu chỉ hữu hình ở nơi Bí tích Sám Hối,
và kiện toàn việc úy hối. Do đó “sự thực của việc sám hối tùy thuộc vào việc ăn năn tội”. [186]
Trong khi lặp lại những gì mà Hội Thánh (được gợi ra từ Lời Chúa), đã giảng dạy về việc
ăn năn, tôi muốn nhấn mạnh riêng đến một phương diện của đạo lý quan trọng này, mà chúng ta
cần biết rõ và lưu tâm. Người ta thường coi việc hoán cải và ăn năn dưới khía cạnh của những
yêu sách mà chúng đặt ra, và dưới khía cạnh khổ chế mà chúng đòi hỏi để thay đổi tận căn đời
sống. Nhưng sự hoán cải và ăn năn cần phải được nhắc đến và nhấn mạnh dưới khía cạnh khác
nữa: đó là chúng đưa ta tiến lại gần sự thánh thiện của Thiên Chúa, tìm lại được căn cước nội tại
của mình mà tội lỗi đã đảo ngược và xáo trộn, giải phóng bản ngã của chính mình để khám phá
lại niềm vui đã mất, [187]  niềm vui được cứu độ mà phần lớn con người thời đại không còn khả
năng cảm nghiệm nữa.
Cho nên chúng ta hiểu rằng ngay từ Hội Thánh sơ khai, kế tiếp đường hướng của các tông
đồ và của Chúa Kitô, Hội Thánh đã bao gồm việc xưng thú tội lỗi vào trong dấu chỉ của Bí tích.
Điều này đã mang tầm quan trọng đến mức từ nhiều thế kỷ danh xưng thường dùng để gọi Bí
tích là xưng tội. Xưng thú tội lỗi là điều thiết yếu, trước hết bởi vì tội nhân phải được biết bởi
một vị đóng vai thẩm phán trong Bí tích này. Vị thẩm phán này phải thẩm định về tình trạng
nặng nề của tội lỗi và về lòng sám hối của tội nhân. Và vị này cũng đóng vai thầy thuốc, nên cần
biết tình trạng người bệnh để trị liệu và chữa lành. Nhưng việc xưng thú tội cá nhân cũng có giá
trị như một dấu chỉ: dấu chỉ của cuộc gặp gỡ hối nhân với thừa tác viên làm trung gian của Hội
Thánh; dấu chỉ của việc hối nhân bày tỏ mình như là kẻ tội lỗi trước mặt Thiên Chúa và Hội
Thánh, dấu chỉ của việc đối diện thân phận tội lỗi của mình dưới mắt Chúa. Vì thế, việc xưng thú
tội không thể thu hẹp vào một thứ mưu toan giải thoát về tâm lý, cho dù nó đáp ứng một nhu cầu
chính đáng và tự nhiên, khắc trong con tim con người, đó là thổ lộ tâm tình với người khác.
Xưng thú tội là một hành vi phụng vụ, vừa trang trọng pha đôi chút bi thương vừa khiêm nhường
và sơ sài trong ý nghĩa cao sang. Đó đích thực là hành vi của người con hoang đàng trở về với
cha, và được cha đón nhận với một cái hôn bình an. Đó là hành vi ngay thẳng và can đảm. Đó là
hành vi phó thác chính mình cho lòng khoan nhân tha thứ, vượt lên trên tội lỗi. [188]
Vì thế, chúng ta hiểu được tại sao xưng thú tội lỗi thường phải mang tính cá nhân, chứ
không phải tập thể, cũng như tội lỗi là một chuyện rất là cá nhân. Nhưng đồng thời, một cách nào
đó việc xưng thú lôi kéo tội lỗi thầm kín trong con tim ra khỏi vòng khép kín cá nhân và nêu bật
tính xã hội của nó nữa: quả vậy, qua thừa tác viên môi giới của Bí tích Sám Hối, chính cộng
đoàn Hội Thánh đã bị tổn thương vì tội lỗi, lại đón tiếp người tội nhân hối lỗi và được tha thứ.
Một chặng chính yếu khác của Bí tích Sám Hối, thuộc phạm vi thừa tác viên, trong vai trò
thẩm phán, và thầy thuốc, là hình ảnh của Thiên Chúa là Cha đón nhân và tha thứ cho những ai
trở về cùng Ngài: đó là việc xá giải. Những lời và những cử điệu diễn tả sự xá giải, được ghi

trong sách Nghi thức Sám hối cũ cũng như mới, biểu lộ tính cách đơn giản trong sự cao cả của
nó. Công thức Bí tích là: “Cha tha tội cho con..”, và việc đặt tay kèm theo dấu thánh giá trên hối
nhân; các cử điệu đó biểu lộ rằng ngay lúc ấy, hối nhân ăn năn hoán cải được đối diện với quyền
năng và lòng nhân từ của Thiên Chúa. Đó là lúc mà Ba Ngôi Thiên Chúa đáp lời tội nhân và hiện
diện trong họ để xóa bỏ tội lỗi và đem họ trở về với sự tinh tuyền ban đầu. Chính hối nhân nhận
được sức mạnh cứu chuộc nhờ cuộc khổ nạn, sự chết và sống lại của Đức Giêsu, quyền năng ấy
tỏ hiện như là “lòng nhân từ còn mạnh hơn tội lỗi và sự xúc phạm” như tôi đã có dịp nói rõ
trong Thông điệp “Dives In Misericordia”: Thiên Chúa luôn là Đấng mà tội lỗi đã làm xúc phạm
hơn cả: – tibi soli peccari – và chỉ duy Ngài có thể tha thứ. Vì thế, sự xá giải mà linh mục, thừa
tác viên của việc tha thứ, tuy chính mình cũng là tội nhân, ban cho hối nhân là dấu chỉ hữu hiệu
của việc Thiên Chúa Cha can thiệp mỗi lần sự xá giải được ban. Sự xá giải là dấu chỉ của “sự
phục sinh” từ “cái chết thiêng liêng”, được lặp lại trong mỗi lần cử hành Bí tích Sám Hối. Chỉ
riêng đức tin mới có thể đoan chắc cho ta rằng mọi tội lỗi được tha thứ xóa bỏ vào lúc ấy nhờ sự
can thiệp mầu nhiệm của Đấng Cứu chuộc.
Việc đền tội là hành vi chót hoàn thành dấu chỉ Bí tích Sám Hối. Trong một vài quốc gia
hành vi mà người hối nhân được tha thứ và xá giải đồng ý thực hiện sau khi lãnh ơn xá giải được
gọi là việc sám hối. Việc đền tội, hay việc sám hối có ý nghĩa gì? Chắc hẳn đây không phải là cái
giá phải trả để được tha tội và xá giải: không có một giá nhân loại nào sánh được với thành quả
mà Chúa Kitô đã đạt được nhờ máu châu báu của Người. Những việc đền tội, dấu đơn sơ và tầm
thường, nhưng mang nhiều ý nghĩa, và khi thực hành cần phải biệu lộ các ý nghĩa ấy. Chúng là
dấu chỉ của điều mà người tín hữu, trong bí tích, đã đích thân cam kết với Thiên Chúa, là họ sẽ
bắt đầu cuộc đời mới (vì thế, những việc đền tội không chỉ dừng lại ở một vài kinh đọc thuộc
lòng nhưng cần phải là những việc làm cụ thể như thờ phượng, bác ái, xót thương và bồi
thường). Những việc đền tội bao gồm một ý tưởng là hối nhân được tha thứ có khả năng kết hợp
sự khổ chế thể xác và tinh thần của mình – dù tự ý đặt ra hoặc ít là chấp nhận – với cuộc khổ nạn
của Đức Giêsu, Đấng đã mang lại ơn tha thứ cho họ. Những việc đền tội nhắc lại rằng ngay cả
sau khi đã được tha thứ, ở trong hối nhân vẫn còn có một miền tăm tối là hậu quả do những vết
thương tội lỗi, do sự thiếu sót tình yêu khi sám hối; do sự suy nhược của các quan năng tinh thần.
Đó là miền mà cội rễ nhiễm độc của tội lỗi vẫn hoành hành, vì thế cần phải luôn luôn kháng cự
bằng sự khổ chế và sám hối. Đó là ý nghĩa của việc đền tội tuy tầm thường nhưng thành tâm. [189]
IV. Cần phải nhắc nhở vắn tắt một vài xác tín quan trọng khác liên quan tới bí tích sám hối
Trước hết, cần phải nhắc lại rằng không có gì sâu kín riêng tư ở trong Bí tích này cho bằng
khi hối nhân hiện diện trước mặt Thiên Chúa với tất cả tội lỗi thiếu sót, lòng sám hối và niềm tin
của mình. Không ai có thể sám hối hay xin tha thứ thay cho mình được. Chắc chắn rằng hối nhân
cảm thấy cảnh cô độc khi phạm tội. Điều này được diễn tả cách bi thảm nơi Cain cùng với tội lỗi
của hắn “nép mình vào cửa”, theo lối diễn tả gợi cảm của sách Khởi Nguyên, và mang một dấu
tích nhận dạng ở trên trán; [190]  hoặc nơi vua Đavít bị ngôn sứ Nathan quở trách; [191]  hay là nơi đứa
con hoang đàng khi nhận thấy mình ở trong tình trạng xa cách cha và quyết định trở về với
cha. [192]  Tất cả chỉ triển khai giữa một mình con người với Thiên Chúa. Nhưng đồng thời người ta
không thể phủ nhận chiều kích xã hội của Bí tích này, trong đó toàn thể Hội Thánh, – dù là chiến
đấu, thanh luyện hay vinh hiển trên trời – đến cứu giúp hối nhân và tiếp nhận họ vào lòng mình,
nhất là bởi vì chính Hội Thánh bị xúc phạm và tổn thương vì tội lỗi. Trong chức vụ là thừa tác
viên của Bí tích Sám Hối, linh mục là chứng nhân và đại diện của tính cách Hội Thánh của Bí
tích. Hai tính cách cá nhân và Hội Thánh là hai khía cạnh bổ túc cho nhau trong Bí tích này mà
cuộc canh tân tiệm tiến của nghi thức Sám hối, đặc biệt là theo sách Nghi thức Sám hối (Ordo

Paenitentiae) do Đức Phaolo VI ban hành, đã cố gắng nêu bật và tăng thêm ý nghĩa cho các buổi
cử hành.
V. Kế đến, cần phải nhấn mạnh rằng, hoa quả cao quý nhất của ơn tha thứ được lãnh nhận
trong Bí tích Sám Hối hệ tại việc hòa giải với Thiên Chúa: việc hòa giải này diễn ra trong thâm
sâu cõi lòng của con người đã mất mà tìm lại được, và người con ấy là chính mỗi hối nhân. Tuy
vậy cần phải thêm rằng, việc hòa giải với Thiên Chúa còn đưa đến các việc hòa giải khác, sửa
chữa lại những rạn nứt mà tội đã gây ra. Hối nhân được hòa giải với chính mình trong nơi thẳm
sâu của chính mình, để nhận ra chân ngã của mình. Hối nhân được hòa giải với anh em, người
mà mình đã tấn công và đả thương cách nào đó, hòa giải với Hội Thánh, hòa giải với mọi thụ
tạo. Nhờ việc nhận thức các điều ấy, khi kết thúc việc cử hành bí tích hòa giải hối nhân cảm thấy
tràn ngập một tâm tình biết ơn vô hạn đối với Thiên Chúa vì tình thương xót mà mình đã nhận
được, Hội Thánh mời gọi mỗi hối nhân hãy có tâm tình tạ ơn đó.
Mỗi tòa giải tội là một nơi đặc biệt hồng phúc, từ nơi đó, các sự chia rẽ đã được xóa sạch,
sinh ra một con người mới, không tỳ ố, một con người được giao hòa, một thế giới được giao
hòa.
VI. Sau hết, tôi muốn nói đến một nhận định cuối cùng. Nó liên quan đến tất cả chúng ta,
các linh mục là những thừa tác viên của Bí tích Sám Hối, nhưng cũng là hối nhân – chúng ta cần
phải đón nhận những ơn phúc phát sinh từ Bí tích Hòa Giải. [193]  Đời sống siêu nhiên và mục vụ
của các linh mục cũng như đời sống của các anh em giáo dân và tu sĩ, xét về phẩm chất và về lửa
nhiệt tình, sự miệt mài và ý thức đều phụ thuộc vào việc thực hành cá nhân Bí tích Hòa Giải.
Việc cử hành Bí tích Thánh Thể và các bí tích khác, lòng nhiệt tâm mục vụ, những tương quan
với các Kitô hữu, sự hiệp thông với các anh em linh mục, sự cộng tác với hàng giám mục, đời
sống cầu nguyện, tựu trung đời sống linh mục có thể bị suy thoái nếu như chính họ do thờ ơ hoặc
vì một lý do nào khác, không đến với Bí tích Giải Tội một cách đều đặn với một đức tin và một
lòng sốt sắng đích thực. Nếu một linh mục không còn đi xưng tội nữa hoặc không thực hiện được
việc thú tội thì bản chất linh mục và hoạt động linh mục của mình sẽ sớm bị ảnh hưởng và chính
cộng đoàn mà linh mục dẫn dắt sẽ nhận ra điều đó.
Nhưng tôi cũng thêm rằng, để trở thành một thừa tác viên tốt và đắc lực của Bí tích Sám
Hối, linh mục cần phải chạy đến nguồn ân sủng và thánh thiện vốn hiện diện trong bí tích này.
Chúng ta, các linh mục khởi đi từ kinh nghiệm cá nhân của mình, có thể nói một cách chắc chắn
rằng, càng đến với Bí tích Sám Hối thường xuyên với sự chuẩn bị kỹ lưỡng chúng ta càng đảm
nhiệm tốt hơn tác vụ giải tội và đảm bảo rằng, các hối nhân sẽ hưởng được ân phúc nhiều hơn.
Trái lại, tác vụ này sẽ mất nhiều hiệu năng nếu một cách nào đó chúng ta không còn là những hối
nhân thực thụ nữa. Đó là hệ luận nội tại trong bí tích quan trọng này. Bí tích này mời gọi tất cả
chúng ta, những linh mục của Đức Kitô lưu tâm đến việc xưng tội của mình.
Và rồi kinh nghiệm bản thân này trở thành và phải trở thành cho ngày hôm nay một yếu tố
kích thích việc thực hành cẩn thận, đều đặn, kiên nhẫn và nhiệt tình trong tác vụ giải tội. Chúng
ta mang trách nhiệm về tác vụ đó do chính chức thánh linh mục của chúng ta, và ơn gọi của
chúng ta là làm những người mục tử và những người phục vụ anh chị em của mình. Vậy, với
Tông huấn này tôi khẩn khoản van nài tất cả linh mục trên thế giới, đặc biệt là những anh em
trong chức vụ giám mục và cha sở, hãy tận dụng mọi nỗ lực để khuyến khích các Kitô hữu sử
dụng bí tích. Xin các vị hãy vận dụng tất cả các phương tiện thích hợp để giúp phần lớn những
người nhận được “ân sủng” đã được ban cho chúng ta qua Bí tích Sám Hối nhằm đến việc hòa
giải mỗi cá nhân và toàn thế giới với Thiên Chúa trong Đức Kitô.
Các hình thức cử hành

32. Trung thành với lời chỉ dạy của Công Đồng Vatican II, sách Ordo Paenitentiae đã trù
liệu ba nghi thức cho phép thích nghi việc cử hành Bí tích Sám Hối vào những hoàn cảnh mục
vụ riêng biệt, tuy vẫn duy trì các nguyên vẹn các yếu tố cốt yếu.
Hình thức thứ nhất: Hòa giải từng hối nhân là cách thức duy nhất thông thường để cừ hành
bí tích này, và không thể loại trừ hay coi nhẹ.
Hình thức thứ hai: Hòa giải nhiều hối nhân với việc xưng thú và xá giải từng người – dù
rằng trong sự chuẩn bị cho phép làm nổi bật nhiều hơn những khía cạnh cộng đoàn của bí tích,
nhưng cũng giống hình thức thứ nhất trong tác động cao điểm của bí tích, nghĩa là việc xưng thú
và xá giải từng cá nhân. Vì thế, theo tính cách thông thường của việc cử hành, nó cũng được kể
ngang bằng với hình thức thứ nhất.
Tuy nhiên hình thức thứ ba: Hòa giải nhiều hối nhân với việc xưng thú và xá giải chung –
mang một tính cách ngoại lệ. Vì thế, nó không được sử dụng tùy theo sở thích, nhưng nó được
quy định bởi một quy luật đặc biệt.
Hình thức thứ nhất cho phép nêu bật những khía cạnh cá nhân và cũng là căn bản – bao
gồm trong tiến trình sám hối của hối nhân. Cuộc trao đổi giữa hối nhân và cha giải tội, toàn bộ
những yếu tố được dùng (bản văn Kinh Thánh, sự lựa chọn những hình thức đền tội.v.v…) khiến
cho việc cử hành bí tích đáp ứng sát hơn với tình trạng cụ thể của hối nhân. Người ta thấy rõ giá
trị của các yếu tố này khi nghĩ tới những nguyên do khác nhau thúc đẩy một Kitô hữu tiến tới Bí
tích Giải Tội: họ cần được hòa giải bản thân và được tái thâu nhận vào tình thân hữu với Chúa,
nhờ lấy lại ân sủng đã mất do tội lỗi; họ được thẩm tra về những tiến bộ thiêng liêng của mình và
thỉnh thoảng cần phải thẩm định một cách chính xác ơn gọi của mình; trong nhiều trường hợp
khác, họ cần và muốn thoát ra khỏi tình trạng vô cảm siêu nhiên và khủng hoảng tôn giáo. Mặt
khác, nhờ tính cách riêng tư của nó, hình thức thứ nhất cho phép liên kết Bí tích Giải Tội với một
hành động khác, tuy khác biệt nhưng có liên hệ với các bí tích: tôi muốn nói đến việc linh hướng.
Vì chắc chắn rằng hình thức thứ nhất này cho phép diễn tả rõ ràng và quảng bá việc cá nhân
quyết định và cam kết dấn thân.
Hình thức thứ hai, qua tính chất cộng đoàn của nó và qua các thức cử hành, làm nổi bật
một vài khía cạnh quan trọng: Lời Thiên Chúa được lắng nghe chung thì có một hiệu quả khác
hơn là một bài đọc được thực hiện cách riêng tư, và làm nổi bật tính cách Hội Thánh về việc
hoán cải và hòa giải hơn. Nó mặc một ý nghĩa riêng biệt trong những mùa khác nhau của năm
phụng vụ và liên quan tới các biến cố có tầm quan trọng mục vụ đặc biệt. Ở đây chỉ cần nhắc tới
một điểm là: để cử hành hình thức thứ hai cần phải có một số lượng tương xứng các cha giải tội.
Như thế, hiển nhiên là những tiêu chuẩn cho phép dùng một trong hai hình thức cử hành
không phải là những lý do tùy cơ hội và chủ quan, nhưng do ý muốn đạt tới thiện ích thiêng liêng
của các tín hữu trong sự vâng phục kỷ luật Sám hối của Hội Thánh.
Cũng là một điều tốt khi nhắc lại rằng, để có một định hướng quân bình về mặt thiêng
liêng và mục vụ, đặt nặng trong việc dặn dò các tín hữu hãy sử dụng bí tích trong lãnh vực này,
cần tiếp tục nhắc lại yếu tố rất quan trọng của bí tích giải tội cũng như sám hối kể cả đối với các
tội nhẹ nữa, một điều đã được nảy sinh từ truyền thống đạo lý và lối thực hành cổ xưa.
Hội Thánh biết và dạy rằng: những tội nhẹ cũng được tha thứ bằng những con đường
khác. Chẳng hạn như những hành vi hối cải, những công việc bác ái, việc cầu nguyện và những
nghi thức sam hối. Tuy vậy, Hội Thánh vẫn không ngừng nhắc lại cho từng người về ích lợi đặc
biệt của bí tích này đối với các tội nhẹ. Việc năng lãnh nhận bí tích – như trên thực tế một số tín
hữu vẫn thực hành – củng cố ý thức rằng chính các tội nhẹ làm mất lòng Chúa và gây thương tổn
cho Hội Thánh là thân thể của Đức Kitô. Đối với các tín hữu, việc cử hành bí tích trở thành một
cơ hội và là kích thích tố giúp người Kitô hữu uốn nắn mình nên giống Đức Kitô hơn, và nhạy

bén hơn trong việc lắng nghe Chúa Thánh Thần. [194]  Đặc biệt cần nhấn mạnh rằng: ân sủng riêng
của bí tích có hiệu năng chữa trị và góp phần diệt tận căn những mối tội đầu.
Việc cử hành bí tích cách chu đáo với sự quan tâm đặc biệt đến việc đọc, [195]  nhắc nhở và
giải thích Lời Chúa cho các tín hữu hoặc cùng với họ khi có thể, sẽ góp phần làm sống lại việc
thực hành bí tích này, tránh cho khỏi rơi vào hình thức chiếu lệ qua lần. Hối nhân sẽ được giúp
để tái khám phá rằng: họ đang sống một biến cố cứu rỗi, có khả năng gợi lên một cuộc sống mới
và mang lại bình an đích thực cho tâm hồn. Việc cử hành chu đáo cũng đưa các Giáo Hội tại mỗi
địa phương đến việc thu xếp thời giờ nhất định dành cho phụng vụ bí tích này và giáo dục các
Kitô hữu, đặc biệt là thiếu nhi và thanh niên, tập thói quen tuân theo giờ giấc ấn định, đừng kể
những trường hợp cần thiết, lúc ấy cha sở phải luôn tỏ ra sẵn sàng tiếp đón bất cứ ai đến gặp
Ngài.
Cử hành bí tích với việc xá giải chung
33. Những quy luật mới của phụng vụ gần đây nhất bộ giáo luật đã xác định những điều
kiện hợp pháp khi sử dụng “nghi thức hòa giải nhiều hối nhân với việc xưng thú và xá giải
chung”. [196]  Những quy tắc và nghị quyết về điểm này, hoa quả của việc cân nhắc kỹ lưỡng và
quân bình, phải được tiếp nhận và thực thi, tránh tất cả những giải thích võ đoán.
Chúng ta nên suy nghĩ kỹ về những lý do đưa đến việc truyền buộc cử hành Bí tích Sám
Hối theo hai hình thức đầu và cho phép sử dụng hình thức thứ ba. Trước hết là do ý muốn của
Chúa Giêsu, được truyền lại qua đạo lý của Hội Thánh và lý do tuân phục các luật lệ của Hội
Thánh. Thượng Hội Đồng Giám Mục trong một đề nghị đã nhắc lại giáo huấn bất biến của Hội
Thánh, phát xuất từ truyền thống cổ xưa và được đúc kết thành luật lệ sám hối thời cổ điển: việc
xưng thú riêng tư và tất cả tội lỗi cùng với lời xá giải cá nhân là đường lối duy nhất thông thường
mà người Kitô hữu mắc tội trọng được hòa giải với Thiên Chúa và với Hội Thánh. Từ việc xác
nhận giáo huấn của Hội Thánh như thế, cho thấy rõ ràng là tất cả các tội nặng cùng với các hoàn
cảnh của nó phải được xưng thú riêng tư.
Tiếp theo là một lý do mục vụ. Đành rằng khi hội đủ các điều kiện mà giáo luật ấn định,
người ta có thể cử hành hình thức thư ba, nhưng không được phép quên rằng: hình thức này
không thể trở thành một hình thức thông thường và nó chỉ có thể được sử dụng trong những
trường hợp thật quan trọng, như đã được nhắc lại trong Thượng Hội Đồng. Tuy vậy, vẫn phải giữ
sự đòi buộc xưng tội cá nhân trước khi lãnh nhận một ơn xá giải chung một lần nữa. Do đó, chỉ
có giám mục có thẩm quyền xét xem những điều kiện được thiết lập trong bộ giáo luật về việc cử
hành hình thức thứ ba có được thực hiện hay không trong khung cảnh của giáo phận. Các giám
mục sẽ phán đoán với nghĩa vụ nặng theo lương tâm trong niềm kính trọng triệt để các luật và
thực hành của Hội Thánh, và lưu ý đến những tiêu chuẩn, những hướng dẫn đã thỏa thuận với
các thành phần của hội đồng giám mục dựa trên những tiêu chuẩn đạo lý và mục vụ được trình
bày ở trên. Đồng thời cũng thuộc về mối quan tâm mục vụ được ấn định va bảo đảm những điều
kiện nhằm giúp cho việc cử hành hình thức thứ ba có khả năng phát sinh những thành quả thiêng
liêng đã được dự kiến. Việc sử dụng cách ngoại lệ hình thức cử hành thứ ba không bao giờ được
dẫn đến sự khinh thường hay loại trừ các hình thức thông thường, cũng không được xem như
tương tự với hai hình thức trên. Thực vậy, các vị chủ chăn và các tín hữu không có quyền tự do
lựa chọn hình thức nào mà mình nghĩ là tiện lợi hơn cả. Các vị chủ chăn có bổn phận phải tạo
cho các tín hữu mọi sự thuận tiện để họ xưng tội toàn vẹn và cá nhân. Đối với Kitô hữu, nó
không những là một bổn phận nhưng còn là một quyền bất khả xâm phạm và bất khả chuyển
nhượng, đó là chưa nói đến một nhu cầu thiêng liêng của họ nữa. Đối với các tín hữu việc thực
thi hình thức thư ba bao gồm nghĩa vụ tuân theo tất cả những luật lệ qui định trong việc sử dụng
hình thức này, trong đó có bổn phận không được nhận một ơn sám hối chung trước khi xưng tội

bình thường, toàn vẹn và cá nhân càng sớm càng tốt. Trước khi ban ơn xá giải chung, linh mục
phải thông báo về quy tắc này và về nghĩa vụ phải tuân giữ nó.
Qua việc nhắc lại đạo lý và luật lệ của Hội Thánh, tôi muốn gợi lên nơi mỗi người ý thức
trách nhiệm nhạy bén hướng dẫn chúng ta khi tiếp cận đến những sự thánh thiêng như là các bí
tích mà chúng ta không có quyền sở hữu, hoặc như các lương tâm mà chúng ta không được
quyền để rơi vào tình trạng lưỡng lự hoang mang. Tôi xin lập lại: các bí tích và lương tâm là
những điều thánh thiêng, cả hai đòi hỏi chúng ta phải phục vụ trong chân lý.
Đó là lý do của những luật pháp trong Hội Thánh.
Vài trường hợp tế nhị khác
34. Tới đây, tôi thấy có bổn phận phải đề cập đến dù một cách vắn tắt đến một trường hợp
mục vụ mà Thượng Hội Đồng đã muốn bàn luận trong khuôn khổ có thể được và đã được nhắc
đến trong một kiến nghị. Tôi muốn nói đến vài trường hợp hiện nay không phải hiếm, liên hệ tới
các Kitô hữu ước muốn thực hành các bí tích nhưng họ bị ngăn cản vì những điều kiện cá nhân
của họ không hòa hợp với những điều mà họ đã cam kết trước mặt Chúa và Hội Thánh. Đây là
những trường hợp xem ra khá tế nhị và hầu như bế tắc.
Tại Thượng Hội Đồng có nhiều phát biểu bày tỏ ý kiến chung của các nghị phụ, nhấn
mạnh đến sự hiện hữu và hỗ tương của hai nguyên tắc cũng quan trọng như nhau trong những
trường hợp này. Nguyên tắc thứ nhất là cảm thông và thương xót. Theo đó, Hội Thánh như là kẻ
tiếp tục sự hiện diện và sự nghiệp của Chúa Kitô trong lịch sử, Đấng không muốn cho tội nhân
phải chết nhưng được sống, [197]  Đấng rất ý tứ kẻo bẻ gãy cây lau, lung lay hay giật tắt đám tro leo
lét. [198]  Hội Thánh phải luôn luôn tìm hết mọi cách có thể để dẫn đường cho con người trở về với
Thiên Chúa và giao hòa với Người. Nguyên tắc thứ hai là sự thật và nhất thống, theo đó, Hội
Thánh không thể nào gọi điều tốt là xấu, và gọi điều xấu là tốt. Dựa trên hai nguyên tắc bổ xung
ấy, Hội Thánh chỉ có thể mời các con cái mình đang ở trong tình trạng đau khổ này hãy đến với
lòng thương xót của Chúa bằng những con đường khác, nhưng không phải là qua các Bí tích
Sám Hối và Thánh Thể, cho đến khi họ đạt được những sự chuẩn bị mà luật đòi hòi.
Với vấn đề này, chắc chắn đã gây ra biết bao thổn thức phiền não cho tâm hồn mục tử của
chúng ta. Trong tông huấn Familiaris Consortio, tôi nhận thấy có trách vụ phải nói những lời lẽ
thẳng thắn về những cặp ly dị tái hôn [199]  hoặc những Kitô hữu ăn ở với nhau cách bất hợp pháp.
Đồng thời, cùng với Thượng Hội Đồng tôi cảm thấy mình có bổn phận khẩn nài các giáo
đoàn, đặc biệt là các Giám mục, hãy hết lòng giúp đỡ các linh mục đã thiếu sót trong việc thi
hành chức thánh và đang ở trong tình trạng bất hợp pháp. Cần làm sao để không ai trong những
anh em này cảm thấy bị Hội Thánh bỏ rơi.
Đối với tất cả những người hiện nay không ở trong những điều kiện khách quan cần có để
lãnh Bí tích Sám Hối, những sự biểu hiện lòng từ mẫu của Hội Thánh, sự nâng đỡ nhờ những
hành vi đạo đức ngoài những hành vi bí tích, sự nỗ lực chân thành duy trì mối tương giao với
Thiên Chúa, sự tham dự thánh lễ, việc năng lặp lại các kinh Tin Cậy Mến và ăn năn tội cách trọn
khi có thể, những điều đó sẽ mở ra con đường đưa tới một sự hòa giải trọn vẹn vào giờ mà chỉ
duy Thiên Chúa biết.

***
KẾT LUẬN: BÀY TỎ NIỀM HY VỌNG

 

35. Đến lúc kết thúc văn kiện này, tôi cảm thấy nơi tôi vang dội và mong muốn nhắc lại
với tất cả anh chị em lời khuyên của vị Giám mục Rôma tiên khởi, trong giai đoạn nguy kịch của
buổi đầu Hội Thánh, ngài muốn ngỏ “cùng những dân ngoại kiều ly tán… đã được tuyển chọn
theo thánh ý Thiên Chúa Cha: tất cả hãy đồng tâm nhất trí, với lòng trắc ẩn, tình huynh đệ, con
tim rung cảm và với tinh thần khiêm nhường”. “Người đã răn dạy sống đồng tâm nhất
trí…”; [200]  nhưng liền sau đó, Người lại nhắc nhở cần phải tránh xa những tội trái nghịch với sự
hiệp nhất và với bình an: “Đừng lấy ác báo ác, nguyền rủa đối lại nguyền rủa. Trái lại hãy chúc
phúc, vì nhờ đó mà anh em đã được kêu gọi để thừa hưởng phúc lành”. Rồi ngài kết luận bằng
một ngôn từ đầy khuyến khích và hy vọng: “Ai làm hại anh em được nếu anh em nhiệt thành làm
việc thiện?”. [201]
Vào một giờ phút lịch sử không kém phần nguy kịch, tôi mạnh dạn tiếp nối lời khuyên
nhủ của tôi với lời vị tông đồ trưởng này, người đầu tiên đảm nhận ngai tòa Rôma, như chứng
nhân của Đức Kitô và mục tử của Hội Thánh và là “Đấng lãnh đạo theo lòng bác ái” trước mặt
toàn thế giới. Trong niềm hiệp thông với hàng giám mục kế nhiệm các tông đồ, đồng thời với sự
nâng đỡ nhờ cuộc suy tư tập đoàn mà nhiều vị giám mục nhóm họp ở Thượng Hội Đồng đã dành
cho những đề tài và những vấn đề về hòa giải, tôi muốn ngỏ lời với anh chị em trong chính tinh
thần của ngư phủ Galilê khi ngài nói với các anh chị em của chúng ta trong đức tin, tuy xa cách
về thời gian nhưng lại rất gần qua tâm hồn: “Hãy đồng tâm nhất trí… Đừng lấy ác báo ác… Hãy
nhiệt thành làm việc thiện”  [202] và ngài còn thêm: “thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý
Thiên Chúa còn hơn là vì làm điều ác”. [203]
Tông huấn này đã được thấm nhiễm bởi những lời mà thánh Phêrô đã nghe từ chính Đức
Giêsu và bởi những ý tưởng hợp thành Tin Mừng: Giới răn mới của tình tương thân tương ái;
ước muốn mãnh liệt và sự dấn thân cổ võ cho sự hiệp nhất; các mối phúc của lòng thương xót và
kiên nhẫn khi bị bách hại vì công chính; lấy điều lành đáp lại điều dữ; việc tha thứ cho những
lăng nhục; yêu thương kẻ thù. Những lời và những ý tưởng này cấu thành nên tổng hợp độc đáo
và siêu việt của luân lý Kitô Giáo, hay đúng hơn và thâm sâu hơn, của linh đạo của giao ước mới
trong Đức Giêsu Kitô.
Tôi ký thác nơi Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót, tôi tín thác nơi Con Thiên Chúa,
Đấng đã trở nên con người để là Đấng cứu độ và hòa giải của chúng ta; tôi tín thác nơi Chúa
Thánh Thần, nguồn mạch hiệp nhất và bình an, và tôi ký thác nơi Ba Ngôi lời kêu gọi sám hối và
hòa giải, với tư cách là một người cha và người mục tử. Ước mong sao Ba Ngôi cực thánh và
đáng kính tôn làm nảy nở trong Hội Thánh và trong thế giới hạt giống nhỏ bé mà lúc này tôi đã
gieo xuống mảnh đất màu mỡ của biết bao tâm hồn con người.
Để sớm thu hoạch được hoa trái dồi dào, tôi mời gọi tất cả anh chị em hãy cùng tôi hướng
về trái tim Đức Kitô, dấu chứng hùng hồn của lòng thương xót Thiên Chúa, “của lễ đền tội
chúng ta”, “niềm bình an và hòa giải của chúng ta”, [204]  hầu kín múc nơi đó sức mạnh nội tâm
dẫn đưa chúng ta ra khỏi tội lỗi và qui hướng chúng ta về Thiên Chúa, đồng thời tìm thấy nơi đó
lòng nhân ái của Thiên Chúa như lời đáp trả thân tình cho hối nhân.
Tôi cũng mời gọi anh chi em cùng tôi hướng về trái tim vẹn sạch Đức Maria, thân mẫu
Đức Giêsu, nơi ngài “sự hòa giải của Thiên Chúa với nhân loại đã được thực hiện… công trình
hòa giải đã được hoàn tất, bởi vì Mẹ đã tiếp nhận từ Thiên Chúa ân sủng sung mãn nhờ hiến lễ
cứu chuộc của Đức Kitô”. [205]  Quả thật Mẹ Maria, bởi là Mẹ Thiên Chúa được kết nạp với Thiên
Chúa trong công cuộc hòa giải. [206]
Tiếng “xin vâng” của mẹ là đánh dấu khai mạc “thời viên mãn” mà sự hòa giải của con
người với Thiên Chúa qua Đức Kitô đã được thực hiện. Chính trong lòng bàn tay của mẹ, chính
trong trái tim vẹn sạch đó – nơi chúng ta hằng ký thác toàn thể nhân loại bị tội lỗi vây bủa và bị

xâu xé bởi biết bao căng thẳng và xung đột – tôi lặp lại đặc biệt ý hướng này: ước mong nhờ sự
bầu cử của Mẹ, nhân loại khám phá và bước đi trên con đường sám hối, con đường độc nhất có
thể dẫn tới sự hòa giải toàn vẹn.
Hết tất cả anh chị em, những người mà trong tinh thần hiệp thông Hội Thánh, [207]  trong sự
vâng lời và trong đức tin sẽ mau mắn đón nhận những chỉ dẫn, những gợi ý và những hướng dẫn
được chứa đựng trong văn kiện này, trong nỗ lực rút ra những thực hành mục vụ sống động, tôi
rất sẵn lòng ban phúc lành Tòa thánh của tôi.
 

 

Làm tại Rôma, gần đền Thánh Phêrô,
ngày 02 tháng 12 tháng 1984, Chúa nhật I Mùa vọng,
năm thứ 7 triều đại Giáo Hoàng của Tôi.
+ JOANNES PAULUS II
Giáo Hoàng

 

 
(Dịch theo Bản Anh văn: On Reconciliation and Penance in the Mission of the Church today)

 
 
 
[1] Mk 1:15
[2] Cf. Pope John Paul II, opening speech at the Third General Conference of the Latin
American Episcopate: AAS 71 (1979), 198-204.
[3] The idea of a “shattered world” is seen in the works of numerous contemporary writers,
both Christian and non-Christian, witnesses of man's condition in this tormented period of
history.
[4] Cf. Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 3, 43
and 44; Decree on the Ministry and Life of Priests Presbyterorum Ordinis, 12; Pope Paul VI,
encyclical Ecclesiam Suam: AAS 56 (1964), 609-659.
[5] At the very beginning of the church, the apostle Paul wrote with words of fire about
division in the body of the church, in the famous passage 1 Cor 1:10-16. Years later, St. Clement
of Rome was also to write to the Corinthians, to condemn the wounds inside that community: Cf.
Letter to the Corinthians, III-VI; LVII: Patres Apostolici, ed. Funk, I, 103-109;171-173. We
know that from the earliest fathers onward Christ’s seamless robe, which the soldiers did not
divide, became an image of the church’s unity: Cf. St. Cyprian, De EcclesiaeCatholicae Unitate,
7: CCL 3/1, 254f; St. Augustine, In Ioannis Evangelium Tractatus, 118, 4: CCL 36, 656f; St.
Bede theVenerable, In Marci Evangelium Expositio, IV, 15: CCL 120, 630i In Lucae
Evangelium Expositio, VI, 23: CCL 120, 403; In S. Ioannis Evangelium Expositio, 19: PL 92,
911f.
[6] The encyclical Pacem in Terris, John XXIII’s spiritual testament, is often considered a
“social document” and even a “political message,” and in fact it is if these terms are understood

in their broadest sense. As is evident more than twenty years after its publication, the document
is in fact more than a strategy for the peaceful coexistence of people and nations; it is a pressing
reminder of the higher values without which peace on earth becomes a mere dream. One of these
values is precisely that of reconciliation among people, and John XXIII often referred to this
subject. With regard to Paul VI, it will sufflce to recall that in calling the church and the world to
celebrate the Holy Year of 1975, he wished “renewal and reconciliation” to be the central idea of
that important event. Nor can one forget the catechesis which he devoted to this key theme, also
in explaining the jubilee itself.
[7] As I wrote in the bull of indiction of the Jubilee Year of the Redemption: “This special
time, when all Christians are called upon to realize more profoundly their vocation to
reconciliation with the Father in the Son, will only reach its full achievement if it leads to a fresh
commitment by each and every person to the service of reconciliation, not only among all the
disciples of Christ but also among all men and women”: bull Aperite Portas Redemptori, 3: AAS
75 (1983), 93.
[8] The theme of the synod was, more precisely, “Reconciliation and Penance in the Mission
of the Church”.
[9] Cf. Mt 4:17; Mk 1:15.
[10] Cf. Lk 3:8.
[11] Cf. Mt 16:24-26; Mk 8:34-36; Lk 9:23-25.
[12] Eph 4:23f.
[13] Cf. 1Cor 3:1-20.
[14] Cf. Col 3:1f.
[15] “We beseech you on behalf of Christ, be reconciled to God”: 2 Cor 5:20.
[16] “We also rejoice in God through our Lord Jesus Christ, through whom we have now
received our reconciliation”: Rom 5:11; Cf. Col 1:20.
[17] The Second Vatican Council noted: “The dichotomy affecting the modern world is, in
fact, a symptom of the deeper dichotomy that is in man himself. He is the meeting point of many
conflicting forces. In his condition as a created being he is subject to a thousand shortcomings,
but feels untrammeled in his inclinations and destined for a higher form of life. Torn by a welter
of anxieties he is compelled to choose between them and repudiate some among them. Worse
still, feeble and sinful as he is, he often does the very thing he hates and does not do what he
wants (Cf. Rom 7:14ff). And so he feels himself divided, and the result is a host of discords in
social life”. Gaudium et Spes, 10.
[18] Cf. Col 1:19f.
[19] Cf. Pope John Paul II, encyclical Dives in Misencordia, 5-6: AAS 72 (1980), 1193-
1199.
[20] Cf. Lk 15:11-32.
[21] In the Old Testament, the Book of Jonah is a wonderful anticipation and figure of this
aspect of the parable. Jonah’s sin is that he was “displeased…exceedingly and he was angry”
because God is “a gracious God and merciful, slow to anger, and abounding in steadfast love,
and repentest of evil. His sin is also that of pitying a castor oil plant “which came into being in a
night and perished in a night” and not understanding that the Lord pities Niniveh. Cf. Jon 4.
[22] Cf. Rom 5:10f.; Cf. Col 1:20-22.
[23] Cf. 2 Cor 5:18, 20.
[24] Jn 11:52.
[25] Cf. Col 1:20.

[26] Cf. Sir 44:17.
[27] Eph 2:14.
[28] Eucharistic Prayer 3.
[29] Cf. Mt 5:23f.
[30] Ibid., 27:46; Mk 15:34, Ps 22(21):2.
[31] Cf. Eph 2:14-16.
[32] St. Leo the Great, Tractatus 63 (De Passione Domini, 12), 6: CCL 138/A, 386.
[33] Cf. 2 Cor 5:18f.
[34] Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 1.
[35] “The church is also by her nature always reconciling, handing on to others the gift that
she herself has received, the gift of having been forgiven and made one with God”: Pope John
Paul II, Homily at Liverpool, May 30, 1982: Insegnamenti, V, 2 (1982), 1992.
[36] Cf. Acts 15:2-33.
[37] Cf. Apostolic exhortation Evangelii Nuntiandi, 13: AAS 68 (1976), 12f.
[38] Cf. Pope John Paul II, apostolic exhortation Catechesi Tradendae, 24: AAS 71 (1979),
1297.
[39] Cf. Pope Paul VI, encyclical, Ecclesiam Suam: ASS 56 (1964), 609-659.
[40] Cf. 2 Cor 5:20.
[41] Cf. 1 Jn 4:8.
[42] Cf. Wis 11:23-26; Gn 1:27; Ps 8:4-8.
[43] Cf. Wis 2:24.
[44] Cf. Gn 3:12f; 4:1-16.
[45] Cf. Eph 2:4.
[46] Cf. Ibid., 1:10.
[47] Jn 13:34.
[48] Cf. Second Vatican Council Pastoral Constitution on the Church in the Modern World
Gaudium et Spes, 38.
[49] Cf. Mk 1:15.
[50] Cf. 2 Cor 5:20.
[51] Cf. Eph 2:14-16.
[52] Cf. St. Augustine, De Civitate Dei, XXII 17: CCL 48, 835f; St. Thomas Aquinas,
Summa Theologiae, III pars, q. 64, art. 2 ad tertium.
[53] Cf. Pope Paul VI, Allocution at the Closing of the Third Session of the Second Vatican
Ecumenical Council, November 21, 1964: ASS 56 (1964), 1015-1018.
[54] Second Vatican Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 39.
[55] Ibid., Decree on Ecumenism Unitatis Redintegratio, 4.
[56] 1Jn 1:8-9.
[57] 1Jn 3:20; Cf. my reference to this passage in my address at the general audience of
March 14, 1984: Insegnamenti, VII, 1 (1984) 683.
[58] Cf. 2 Sm 11-12.
[59] Cf. Ps 50(51):3-4.
[60] Cf. Lk 15:18, 21.
[61] Lettere, Florence 1970, I, pp.3f; II Dialogo della Divina Providenza, Rome 1980,
passim.
[62] Cf. Rom 3:23-26.
[63] Cf. Eph 1:18.

[64] Cf. Gn 11:1-9.
[65] Cf. Ps 127 (126):1.
[66] Cf. 2 1 hes 2:7.
[67] Cf. Rom 7:7-25; Eph 2:2; 6:12.
[68] The terminology used in the Septuagint Greek translation and in the New Testament for
sin is significant. The most common term for sin is hamartia, with its various derivatives. It
expresses the concept of offending more or less gravely against a norm or law, or against a
person or even a divinity. But sin is also called adikia, and the concept here is of acting unjustly.
The Bible also speaks of parabasis (transgression), asebeis (impiety) and other concepts. They all
convey the image of sin.
[69] Gn 3:5: “And you will be like God, knowing good and evil”; Cf. also v. 22.
[70] Cf. Ibid., 3:12.
[71] Cf. Ibid., 4:2-16.
[72] The expression from the French writer Elizabeth Leseur, Journal et Pensees de Chaque
Jour, Paris 1918, p. 31.
[73] Cf. Mt 22:39; Mk 12:31; Lk 10:27f.
[74] Cf. Sacred Congregation for the Doctrine of the Faith: Instruction on Certain Aspects of
the Theology of Liberation Libertatis Nuntius; August 6, 1984 IV, 14-15: ASS 76 (1984), 885f.
[75] Cf. Nm 15:30.
[76] Cf. Lv 18:26-30.
[77] Cf. Ibid., 19:4.
[78] Cf. Ibid., 20:1-7.
[79] Cf. Ex 21:17.
[80] Cf. Lv 4:2ff; 5:1ff; Nm 15:22-29.
[81] Cf. Mt 5:28; 6:23; 12:31f; 15:19; Mk 3:28-30; Rom 1:29-31; 13:13; Jas 4.
[82] Cf. Mt 5:17; 15:1-10; Mk 10:19; Lk 18:20.
[83] Cf. 1 Jn 5:16f.
[84] Cf. 1 Jn 17:3.
[85] Cf. 1 Jn 2:22.
[86] Cf. 1 Jn 5:21.
[87] Cf. 1 Jn 5:16-21.
[88] Cf. Mt 12:31f.
[89] Cf. St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae II-II, q. 14, aa. 1-8.
[90] Cf. 1 Jn 3:20.
[91] St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae, II-II, q. 14, a. 3, ad primum.
[92] Cf. Phil 2:12.
[93] Cf. St. Augustine, De Spintu et Littera, XXVIII: CSEL 60, 202f; Enarrat. in ps. 39, 22:
CCL 38, 441; Enchiridion ad Laurentium de Fide et Spe et Cantate, XIX, 71: CCL 46, 88; In
Ioannis Evangelium Tractatus, 12, 3,14: CCL 36, 129.
[94] St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae, I-II, q. 72, a. 5.
[95] Cf. Council of Trent, Session VI, De Iustificatione, Chap. 2 and Canons 23, 25, 27:
Conciliorum Oecumenicorum Decreta, Bologna 1973, 671 and 680f (DS 1573, 1575,1577).
[96] Cf. Council of Trent, Session IV De Iustificatione, Chapt. 15: Conciliorum
Oecumenicorum Decreta, ed. dt. 677 (DS 1544).
[97] Pope John Paul II, Angelus Message of March 14, 1982: Insegnamenti V, 1 (1982),861.
[98] Gaudium et Spes, 16.

[99] Pope John Paul II, Angelus Message of March 14, 1982: Insegnamenti V, 1 (1982),860.
[100] Pope Pius XII, Radio Message to the U.S. National Catechetical Congress in Boston
(October 26,1946): Discorsi e Radiomessaggi VIII (1946) 288.
[101] Cf. Pope John Paul II, encyclical Redemptor Hominis, 15: AAS 71 (1979), 286-289.
[102] Cf. Gaudium et Spes, 3; Cf. 1 Jn 3:9.
[103] Pope John Paul II, Address to the Bishops of the Eastern Region of France (April
1,1982),2: Insegnamenti V, 1 (1982), 1081.
[104] 1Tm 3:15f.
[105] The text presents a certain difficulty, since the relative pronoun which opens the literal
translation does not agree with the neuter mysterion. Some late manuscripts have adjusted the
text in order to correct the grammar. But it was Paul’s intention merely to put next to what he
had written a venerable text which for him was fully explanatory.
[106] The early Christian community expresses its faith in the crucified and glorified Christ,
whom the angels adore and who is the Lord. But the striking element of this message remains the
phrase “manifested in the flesh”: that the eternal Son of God became man is the “great mystery”.
[107] 1 Jn 5:18f.
[108] Ibid., 3:9.
[109] 1Tm 3:15.
[110] 1Jn 1:8.
[111] Ibid., 5:19.
[112] Cf. Ps. 51(50):5.
[113] Cf. Eph. 2:4.
[114] Cf. Pope John Paul II, Dives in Misericordia, 8; 15: AAS 72 (1980), 1203-1207; 1231.
[115] 2Sm 12:13.
[116] Ps 51(50):3.
[117] Ibid., 51(50):7.
[118] 2Sm 12:13.
[119] Cf. 2 Cor 5:18.
[120] Cf. 2 Cor 5:19.
[121] Gaudium et Spes, 92.
[122] Decree on the Pastoral Offlce of Bishops in the Church Christus Dominus, 13; Cf.
Declaration on Christian Education Gravissimum Educationis, 8; Decree on the Church’s
Missionary Activity Ad Gentes, 11-12.
[123] Cf. Pope Paul VI, Ecclesiam Suam, III: AAS 56 (1964), 639-659.
[124] Lumen Gentium, 1, 9,13.
[125] Pope Paul VI, apostolic exhortation Paterna Cum Benevolentia: AAS 67 (1975), 5-23.
[126] Cf. Unitatis Redintegratio, 7-8.
[127] Ibid., 4.
[128] St. Augustine, Sermo 96, 7: PL 38, 588.
[129] Pope John Paul II, Speech to Members of the Diplomatic Corps Accredited to the Holy
See January 15, 1983), 4, 6, 1 1: AAS 75 (1983), 376, 378f, 381.
[130] Pope John Paul II, Homily at the Mass for the 16th World Day of Peace (January 1,
1983), 6: Insegnamenti VI, 1 (1983), 7.
[131] Pope Paul VI, apostolic exhortation Evangelii Nuntiandi, 70: AAS 68 (1976), 59f.
[132] 1Tm 3:15.
[133] Cf. Mt 5:23f.

[134] Cf. Ibid., 5:38-40.
[135] Cf. Ibid., 6:12.
[136] Cf. Ibid., 5:43ff.
[137] Cf. Ibid., 18:21f.
[138] Cf. Mk 1:14; Mt 3:2; 4:17; Lk 3:8.
[139] Cf. Lk 15:17.
[140] Ibid., 17:3f.
[141] Cf. Mt 3:2; Mk 1:2-6; Lk 3:1-6.
[142] Cf. Gaudium et Spes, n. 8, 16, 19, 26, 41,48.
[143] Cf. Declaration on Religious Liberty Dignitatis Humanae, n. 2, 3, 4.
[144] Cf. among many others the addresses at the general audiences of March 28,1973:
Insegnamenti XI (1973), 294ff; August 8,1973: Ibid., 772ff, November 7, 1973: Ibid., 1054ff;
March 13, 1974: Insegnamenti’ XII (1974), 230ff; May 8, 1974: Ibid., 402ff; February 12, 1975:
Insegnamenti XIII (1975), Ibid., 290ff; July 13, 1977: Insegnamenti XV (1977), 710ff.
[145] Cf. Pope John Paul II, Angelus Message of March 14, 1982: Insegnamenti V, 1 (1982),
860f.
[146] Cf. Pope John Paul II, General Audience Address of August 17, 1983, 1-3:
Insegnamenti VI, 2 (1983), 256f.
[147] Heb 4:15.
[148] Cf. Mt 4:1-11; Mk 1:12f; Lk 4:1-13.
[149] Cf. 1Cor 10:13.
[150] Cf. Mt 6:13; Lk 11:4.
[151] 1Pt 3:21.
[152] Cf. Rom 6:3f; Col 2:12.
[153] Cf. Mt 3:11; Lk 3:16; Jn 1:33; Acts 1:5; 11:16.
[154] Cf. Mt 3:15.
[155] St. Augustine, In Ioannis Evangelium Tractatus, 26, 13: CCL 36, 266.
[156] Sacred Congregation of Rites, Instruction on the Worship of the Eucharistic Mystery
Eucharisticum Mysterium (May 25, 1967) 35 AAS 59 (1967), 560f.
[157] Ps 78(77): 38f.
[158] Cf. Jn 1:29; Is 53:7-12.
[159] Cf. Jn 5:27.
[160] Cf. Mt 9:2-7; Lk 5.-18-25; 7:47-49; Mk 2:3-12.
[161] Cf. Jn 3:17.
[162] Jn 20:22; Mt 18:18; Cf. also, as regards Peter, Mt 16:19. Blessed Isaac of Stella in one
of his talks emphasizes the full communion of Christ with the church in the forgiveness of sins:
“The church can forgive nothing without Christ and Christ does not wish to forgive anything
without the church. The church can forgive nothing except to a penitent, that is to say, to a
person whom Christ has touched with his grace: Christ does not wish to consider anything
forgiven in a person who despises the church”: Sermo 11 (In Dominica II Post Epiphaniam, 1):
PL 194, 1729.
[163] Cf. Mt 12:49f; Mk 3:33f; Lk 8:20f; Rom 8:29: “the firstborn among many brethren”.
[164] Cf. Heb 2:17; 4:15.
[165] Cf. Mt 18:12f; Lk 15:4-6.
[166] Cf. Lk 5:31f.
[167] Cf. Mt 22:16.

[168] Cf. Acts 10:42.
[169] Cf. Jn 8:16.
[170] Cf. the address to the penitentiaries of the Roman patriarchal basilicas and to the priest
confessors at the closing of the Jubilee of the Redemption auly 9, 1984): L'Osservatore Romano,
July 9-10, 1984.
[171] Jn 8:11.
[172] Cf. Ti 3:4.
[173] Cf. Council of Trent, Session XIV De Sacramento Poenitentiae, Chap. 1 and Canon 1:
Conciliorum Oecumenicorum Decreta, 703f, 711 (DS 1668-1670,1701).
[174] Lumen Gentium, 11.
[175] Cf. Council of Trent, Session XIV, De Sacramento Poenitentiae, Chap. l and Canon 1:
Conciliorum Oecumenicorum Decreta, ed. cit., 703f, 711 (DS 1668-1670, 1701).
[176] Cf. Constitution on the Sacred Liturgy Suaosanctum Concilium, 72.
[177] Cf. Rituale Romanum ex Decreto Sacrosancti Conalii Oecumenici Vaticani II
Instauratum, Auctoritate Pauli Vl Promulgatum: Ordo Paenitenttae, Vatican Polyglot Press,
1974.
[178] The Council of Trent uses the attenuated expression “ad instar actus iudicialis” (Session
XIV De Sacramento Poenitentiae, Chap. 6: ConciliorumOecumenicorum Decreta, ed. dt., 707
(DS 1685), in order to emphasize the difference from human tribunals. The new Rite of Penance
makes reference to this function, Nos. 6b and 10a.
[179] Cf Lk 5:31f: “Those who are well have no need of a physician, but those who are sick”
concluding: “I have…come to call… sinners to repentance”; Lk 9:2: “And he sent them out to
preach the kingdom of God and to heal.” The image of Christ the physician takes on new and
striking elements if we compare it with the figure of the Servant of Yahweh, of whom the Book
of Isaiah prophesies that “he has borne our griefs and carried our sorrows” and that with his
stripes we are healed” (Is 53:4f).
[180] St. Augustine, Sermo 82, 8: PL 38, 511.
[181] Ibid., Sermo, 352, 3, 8:9: PL 39, 1558f.
[182] Cf. Ordo Paenitentiae, 6c.
[183] Even the pagans recognized the existence of "divine" moral laws which have "always"
existed and which are written in the depths of the human heart, cf Sophocles (Antigone, w. 450-
460) ant Aristotle (Rhetor., Book I, Chap.15, 1375 a-b).
[184] On the role of conscience cf what I said at the general audience of March 14, 1984, 3:
Insegnamenti VII, 1 (1984), 683.
[185] Cf. Council of Trent, Session XIV De Sacramento Poenitentiae, Chap.4 De Contritione:
Conciliorum Oecumenicorum Decreta, ed. cit., 705 (DS 1676-1677). Of course, in order to
approach the sacrament of penance it is sufficient to have attrition, or imperfect repentance, due
more to fear than to love. But in the sphere of the sacrament, the penitent, under the action of the
grace that he receives, "ex attrito fit conmtus," since penance really operates in the person who is
welldisposed to conversion in love: cf Council of Trent, ibid., ed. cit., 705 (DS 1678).
[186] Ordo Paenitentiae, 6c.
[187] Cf. Ps 51(50): 12.
[188] I had occasion to speak of these fundamental aspects of penance at the general
audiences of May 19, 1982: Insegnamenti V, 2 (1982), 1758ff; February 28, 1979: Insegnamenti
II (1979), 475-478; March 21, 1984: Insegnamenti VII, 1 (1984) 720-722. See also the norms of

the Code of Canon Law concerning the place for administering the sacrament and concerning
confessionals (Canon 964, 2-3)
[189] I dealt with this subject concisely at the general audience of March 7, 1984:
Insegnamenti VII, 1 (1984), 631-633.
[190] Cf. Gn 4:7, 15.
[191] Cf. 2Sm 12.
[192] Cf. Lk 15:17-21.
[193] Cf. Presbyterorum Ordinis, 18.
[194] Ordo Paenitentiae, 7b.
[195] Cf. Ibid., 17.
[196] Canons 961-963.
[197] Cf. Ez 18:23.
[198] Cf. Is 42:3; Mt 12:20.
[199] Cf. Familiaris Consortio, 84: AAS 74 (1982), 184-186.
[200] Cf. 1 Pt 1:1f; 3:8.
[201] Ibid., 3:9, 13.
[202] Ibid., 3:8, 9, 13.
[203] Ibid., 3:17.
[204] Litany of the Sacred Heart, cf 1 Jn 2:2; Eph 2:14; Rom 3:25; 5:11.
[205] Pope John Paul II, General Audience Address of December 7, 1983, No. 2:
Insegnamenti, VI, 2 (1983), 1264.
[206] Ibid., General Audience Address of January 4, 1984:Insegnamenti, VII, 1 (1984), 16-18.
[207] Cf. Rom 1:5; 16:26.