Tuyên Ngôn Dominus Jesus có phải là
một bước lùi trong tiến trình đối thoại
đại kết không

VietCatholic News(12/9/2000). Trong tuần qua, sau khi Tuyên Ngôn Dominus Jesus được công

bố, nhiều ý kiến chống đôi từ phía Anh Giáo và Tin Lành đã nổi lên. Tựu trung, các ý kiến này

cho rằng Tuyên Ngôn là một bước lùi trong tiến trình đối thoại đại kết. Vatican Radio đã phỏng

vấn Đức Giám Mục Francesco Lambiasi về vấn đề này hôm 10/09/2000. Đức Cha Francesco

Lambiasi là giám mục giáo phận Anagni Alatri từ hơn một năm nay và từ tháng 5/2000 là chủ

tịch ủy ban Giáo Lý Đức Tin của Hội Đồng Giám Mục Italia.

Vatican Radio: Thưa Đức Cha tại sao Giáo Hội lại phải công bố tuyên ngôn Dominus Jesus ?

Đức Cha Francesco Lambiasi: Bởi vì trong một số trường phái thần học giữa lòng Giáo Hội

Công Giáo, có các lập trường nguy hiểm cho lòng tin vào Đức Kitô. Trong khi Đức Thánh Cha

và Giáo Hội dành ra trọn một năm để cử hành Năm Thánh liên quan đến chân lý nền tảng của

Kitô Giáo, tức biến cố Đức Giêsu Kitô, đấng cứu chuộc duy nhất, giáng sinh xuống thế gian

cách đây 2000 năm thì có vài thần học gia đó đây trên thế giới có khuynh hướng lãng quên

chân lý ấy. Chính vì thế, đây là lúc thích hợp để công bố tài liệu này hầu giúp tín hữu khỏi bị lạc

hướng.

Vatican Radio: Có vài lập trường của các nhà thần học Á Châu đã được nhắc đến có phải thế

không thưa Đức Cha ?

Đức Cha Francesco Lambiasi: Phải. Nhưng không phải chỉ có thế. Một cách tổng quát chúng

ta có thể nói rằng ở đâu giảm thiểu tính cách trung tâm, duy nhất và phổ quát của gương mặt

Chúa Kitô, chẳng hạn như bằng cách cho rằng có một Ngôi Lời vượt quá khuôn mặt lịch sử của

Chúa Giêsu thành Nazarét, hay cho rằng Đức Giêsu chỉ là một sự nhập thể của Ngôi Lời và còn

có nhiều biến cố Nhập Thể khác thì ở đó, trong các trường hợp như thế, người ta dốc đổ đi

lòng tin Kitô và Giáo Hội phải can thiệp để minh định rằng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế và Đấng

Cứu Thế chỉ là Đức Giêsu.

Vatican Radio: Bên Tây phương có các nguy cơ sai lệch như thế không thưa Đức Cha ?

Đức Cha Francesco Lambiasi: Trong một nghĩa nào đó, nguy cơ ở Tây phương còn lớn hơn

nhiều bởi vì nó phát xuất từ chủ thuyết tương đối hóa và thái độ thờ ơ của tín hữu. Tại Italia này

chẳng hạn, trong giai đoạn tư tưởng yếu ớt thì cũng có nguy cơ của một lòng tin yếu kém. Vì

thế, Giáo Hội phải nhắc nhở cho tín hữu biết rằng chỉ nơi danh Chúa Giêsu mới có ơn cứu độ.

Bởi vì nói cho cùng, là Kitô hữu nghĩa là tin nơi Đức Kitô là đấng cứu độ duy nhất của trần gian.

Vatican Radio: Thưa Đức Cha, Đức Cha có nghĩ là nhắc lại các chân lý này là gây nguy hại

cho cuộc đối thoại liên tôn không?

Đức Cha Francesco Lambiasi: Tuyệt nhiên là không, kể cả khi có một vài thần học gia, chẳng

hạn như Hans Wing, hiểu cuộc đối thoại giữa các tôn giáo như là một cuộc thương thuyết ngoại

giao. Tài liệu nhắc lại một cách đúng lúc và thích hợp rằng: chỉ khi có một ý thức vững chãi và

rõ ràng về chân lý thì mới có thể đối thoại được và sự đồng đều mà cuộc đối thoại đòi hỏi là

phẩm giá ngang nhau giữa con người, chứ không phải sự đồng đều về nội dung giáo lý.

Vatican Radio: Như thế, đối với một tín hữu Công Giáo, đối thoại với một tín hữu thuộc tôn

giáo khác có nghĩa là gì thưa Đức Cha ?

Đức Cha Francesco Lambiasi: Nó có nghĩa là trình bày lòng tin của chúng ta như chúng ta tin

là chân lý trong sự tôn trọng hoàn toàn người đối thoại và các lập trường về văn hóa cũng như

tôn giáo của họ bởi vì Kitô hữu biết rằng chân lý này đã được trao ban cho họ. Bởi vậy, giữa

một đàng phải tránh các thái độ hiếu thắng, thì đàng khác phải nói như Thánh Phaolô “Khốn

cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Vatican Radio: Nhưng điều này không có nghĩa là chiêu mộ tín đồ ?

Đức Cha Francesco Lambiasi: Không. Cuộc đối thoại vừa giúp trình bày chân lý trong các

phương thế thích hợp vừa giúp tôn trọng sự tự do lương tâm của người đối thoại. Tôi nhớ rằng

trong hội nghị đại kết của các Giáo Hội Kitô được triệu tập ở Nairobi hồi năm 1975, tuyên ngôn

chung kết của hội nghị có khẳng định rằng việc rao truyền Tin Mừng xảy ra khi Kitô hữu giống

như một người hành khất được một người hành khất khác hỏi: “Có thể tìm lương thực ở đâu?”.

Đây là một nhận định rất hay. Kitô hữu là một người hành khất, nghĩa là một người hành

hương, nhưng là một người hành hương biết vì đã được nói cho biết có thể tìm thần lương ở

đâu, chứ không phải vì họ tốt lành tài giỏi hơn người khác.

Vatican Radio: Thưa Đức Cha liên quan đến cuộc đối thoại đại kết dựa trên phần tài liệu phân

biệt Giáo Hội Công Giáo với các Giáo Hội Kitô khác, có người nói là Giáo Hội Công Giáo đã

thụt lùi một bước. Có thật như vậy không?

Đức Cha Francesco Lambiasi: Khi đọc tài liệu một cách chân thật hơn thì người ta sẽ nhận ra

chủ ý sâu xa của nó chứ không phải là một bước lùi trong cuộc đối thoại đại kết nếu không nói

Tuyên Ngôn là một bước tiến tới trong cuộc đối thoại. Bởi vì, chỉ ở nơi đâu các lập trường được

trình bày một cách khách quan và trong sự tôn trọng các dữ kiện lịch sử thì mới có thể nói đó là

đối thoại đích thực mà thôi.

Vatican. R: Nghĩa là tại Rôma, tinh thần của công đồng chung Vatican II vẫn không ngừng thổi

Đức Cha Francesco Lambiasi: Cần xem trong Tuyên Ngôn bao nhiêu lần trích dẫn các văn

kiện của công đồng chung Vatican II thì đủ hiểu công đồng chung là một dấu mốc không quay

lại đàng sau nữa. Tôi chắc chắn rằng, sau khi những phản ứng nóng bỏng qua đi và khi đọc lại

tài liệu một cách thanh thản hơn, người ta sẽ nhận thấy lòng trung thành của tài liệu với các

giáo huấn của công đồng một cách rõ ràng hơn.

Phỏng vấn Đức Tổng Giám Mục Marcello Zago về

tuyên ngôn Dominus Jesus

VietCatholic News. 10/9/2000 Đức Tổng Giám Mục Marcello Zago, OMI, là tổng thư ký Hội

Đồng Giáo Hoàng Truyền Giáo Cho Các Dân Tộc trong hai năm qua, trước đây ngài đã tham

gia truyền giáo tại Lào trong thập niên 1970. Ngài là một trong những kiến trúc sư của Ngày

Cầu Nguyện Cho Hòa Bình ở Assisi năm 1986. Dưới đây là bài phỏng vấn ngài của phóng viên

Fides về tuyên ngôn Dominus Jesus hôm 5/9/2000.

Fides: Kính thưa Đức Tổng Giám Mục, những vấn đề nào nằm ở trung tâm của tài liệu này?

Đức Tổng Giám Mục Marcello Zago : Trước hết, có sự kiện là một số nhà thần học và chuyên

gia lý luận về truyền giáo đặt lại vấn đề về nhu cầu truyền giáo và ngần ngại không khuyến

khích người ta trở lại Công Giáo từ các tôn giáo khác để “giữ hòa bình” với các tôn giáo khác.

Có những nhà thần học cho rằng “Vâng, Đức Giêsu Kitô là đấng Cứu Độ, nhưng cho chúng tôi

thôi, Ngài không phải là đấng Cứu Độ duy nhất và tuyệt đối”. Vấn đề này đặc biệt đáng ngại,

nhất là ở nhiều phần ở Á Châu.

Fides: Đức cha có nghĩ là việc giảm nhẹ thần học đó là khuynh hướng để tạo ra một đời sống

thanh bình giữa các tôn giáo?

Đức Tổng Giám Mục Marcello Zago : Hai vấn đề đó là tách biệt nhau. Ở Á châu, không con

nghi ngờ gì nữa về sự tồn tại của chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo. Bên cạnh đó, có chuyện là

việc so sánh thường xuyên giữa các tôn giáo chọc khùng các người theo chủ nghĩa tôn giáo

quá khích, bởi vì với các tôn giáo khác, Giáo Hội loan truyền một thông điệp. Khi họ thấy những

người hoán cải và thông điệp này, họ không chấp nhận được. Ở Ấn Độ, Nam Dương và các

nước mà Hồi Giáo chiếm đa số, những người này tìm cách vừa bịt miệng Giáo Hội không cho

loan báo Tin Mừng, vừa ngăn không cho tạo ra những cuộc hoán cải.

Fides: Có phải ý Đức Cha muốn nói là vài Kitô hữu vì muốn giữ hòa bình đã làm loãng đi tính

chất Kitô giáo?

Đức Tổng Giám Mục Marcello Zago : Đúng như thế. Đây là sai lầm mà một số nhà thần học

đang mắc phải. Điều quan trọng là hoạt động truyền giáo cần phải có các động lực thần học rút

ra từ Kinh Thánh và Tông Truyền: Lời ủy thác của Chúa Giêsu hãy đi và giảng dạy muôn dân

không thể bị phủ nhận.

Fides: Thưa Đức Cha, có phải Ấn Độ là nước duy nhất nơi mà tính chất Kitô Giáo đang có

nguy cơ bị loãng đi?

Đức Tổng Giám Mục Marcello Zago : Trường hợp Ấn Độ có thể coi là một điển hình. Tuy

nhiên, những ý tưởng này lan tràn ở nhiều nơi, ngay cả ở Hoa Kỳ và Âu Châu. Mục đích của tài

liệu này là để nhắc nhớ các khía cạnh thần học đã bị quên lãng và để trở về với trung tâm của

đức tin cũng như về với ý nghĩa đích thực của danh xưng Kitô Hữu dù chúng ta ở bất cứ nơi

đâu.

Fides: Có những cơ quan truyền giáo nào bị ảnh hưởng bởi những ý tưởng này không, thưa

Đức Cha ?

Đức Tổng Giám Mục Marcello Zago : Có đấy. Dĩ nhiên là có những người trong các cơ quan

truyền giáo đang thực hiện công việc của họ trong những tình huống khó khăn, giữa đa số

người không Kitô Giáo, nhưng tổng quát mà nói thì các cơ quan truyền giáo vẫn nhạy cảm với

lời ủy thác truyền giáo. Điều này không có nghĩa là trong các cơ quan truyền giáo không có

những người đồng ý với thuyết tương đối hóa tôn giáo đã được đề cập trong tuyên ngôn.

Fides: Ngày nay đôi khi việc truyền giáo bị lôi cuốn vào nhiều chuyện quá: những thái độ cần

có trước những vấn đề thời sự cấp bách, đau khổ, bất công, nghèo đói, hủy hoại môi trường

…những vấn đề này có lẽ ảnh hưởng đến việc công bố Tin Mừng và niềm vui đức tin trong

Chúa phải không thưa Đức Cha ?

Đức Tổng Giám Mục Marcello Zago : Tôi không nghĩ khuynh hướng này là tổng quát mặc dù

đôi khi cũng có xảy ra như vậy. Vấn đề là phải cân bằng những nhiệm vụ khác nhau trong hoạt

động truyền giáo. Đấu tranh cho công lý, vượt qua sự đói kém là những khía cạnh gắn liền với

truyền giáo. Tuy nhiên, đôi lúc có sự thiếu quân bình mà đúng ra phải đặt ở trung tâm của bất

cứ hoạt động truyền giáo nào: sống Lời Chúa và công bố Lời Chúa cho anh em.

NHỮNG TRANH LUẬN VỀ TUYÊN NGÔN DOMINUS

JESUS CỦA BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

Hồi thượng tuần tháng 9-2000, nhiều giới Tin Lành, Anh Giáo và Do thái cũng như giới truyền

thông đời, và cả một số thành phần Công Giáo gọi là cấp tiến, đã ồ ạt phê bình tuyên ngôn

“Dominus Jesus” (Chúa Giêsu) do Bộ giáo lý đức tin công bố ngày 5-9-2000 về đặc tính duy

nhất và phổ quát cứu độ của Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội, vì cho rằng Văn kiện này là một

“bước thụt lùi”, một “cản trở lớn” cho tiến trình đối thoại đại kết Kitô và đối thoại liên tôn; hoặc

“sự trở về thời kỳ Trung Cổ”, theo nhận định của LM Hans Kung, nhà thần học Thụy Sĩ, giáo sư

ở Đức, chuyên môn đả kích Đức Giáo Hoàng và Tòa Thánh. Sự thật như thế nào?

NỘI DUNG TUYÊN NGÔN

Tuyên ngôn “Dominus Jesus được chính ĐHY Joseph Ratzinger, Tổng trưởng Bộ giáo lý đức

tin, trình bày trong cuộc họp báo tại phòng báo chí Tòa Thánh. Cùng hiện diện tại bàn chủ tọa

cuộc họp báo còn có Đức TGM Tarcisio Bertone, dòng Don Bosco, Tổng thư ký Bộ giáo lý đức

tin, và hai LM cố vấn của bộ này là Đức Ông Fernando Ocáriz và Cha Angelo Amato, dòng Don

Bosco. Văn kiện được ấn hành bằng 8 thứ tiếng: La tinh, Ý, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ

đào nha và Ba Lan, dài trung bình 36 trang, ngoài phần nhập đề và kết luận, được chia làm 6

chương, gồm tổng cộng 23 đoạn. Tuyên Ngôn được ĐTC phê chuẩn ngày 16 tháng 6 năm nay,

và truyền công bố.

Chương 1, 2 và 3 lần lượt xác quyết: tính chất trọn vẹn và chung kết trong mạc khải của Chúa

Kitô (nn.5-8), sự thống nhất trong chương trình cứu độ của Ngôi Lời Thiên Chúa và Thánh Linh

(nn.9-12), sau cùng, là đặc tính duy nhất và phổ quát của mầu nhiệm cứu độ của Chúa Giêsu

Kitô (nn.13-16). Việc tái khẳng định những xác quyết trên đây nhắm chống lại những luận đề và

chủ trương cho rằng mặc khải của Chúa Giêsu chỉ có tính chất hạn chế và bất toàn, cần phải

được bổ túc bằng những mạc khải trong các tôn giáo khác.

Chương 4, 5 và 6 của Tuyên Ngôn bàn về những hậu quả về phương diện Giáo Hội học của

đạo lý được chứa đựng trong các chương trước đó. Nhất là khẳng định sự hiện hữu của một

Giáo Hội duy nhất, tương ứng với đặc tính độc nhất và phổ quát của sự trung gian cứu độ do

Chúa Giêsu Kitô (n.16). Sự tương ứng ấy dựa trên ý muốn của Chúa, Đấng đã thiết lập Giáo

Hội không phải như một cộng đoàn các môn đệ mà thôi, nhưng còn như một “mầu nhiệm cứu

độ”. Giáo Hội là sự hiện diện của chính Chúa Kitô, Đấng thực hiện sự cứu độ nơi các môn đệ

và qua các môn đệ trong lịch sử. Vì thế, cũng như chỉ có một Chúa Kitô, nên cũng chỉ có một

Giáo Hội duy nhất: một Đầu, một Thân Mình.

Tuyên Ngôn nhắc lại một giáo huấn quan trọng của Công Đồng chung Vatican 2 và xác định:

Giáo Hội duy nhất hiện hữu trong Giáo Hội Công Giáo, dưới quyền của Đấng Kế Vị Thánh

Phêrô và các GM.

Tuyên Ngôn cũng bác bỏ một giải thích sai lầm, đang lan tràn ngày nay, và trái ngược với đức

tin Công Giáo, vì cho rằng tất cả các tôn giáo, tự chúng, đều là những con đường cứu độ bên

cạnh Kitô giáo. Theo đạo lý của Công Đồng chung Vatican 2, các tôn giáo khác chứa đựng

“những yếu tố tôn giáo xuất phát từ Thiên Chúa, và là thuộc vào số những gì Thánh Thần hoạt

động trong tâm hồn, nơi con người và lịch sử các dân tộc văn hóa và tôn giáo”, những yếu tố có

có giá trị chuẩn bị Tin Mừng (n.21), mặc dù cũng có những yếu tố khác cản trở Tin Mừng.

Tuyên Ngôn tái nhấn mạnh nghĩa vụ truyền giáo của Giáo Hội và của mỗi tín hữu Kitô, mang

ánh sáng và sức mạnh cứu độ của Tin Mừng cho mọi người.

Cũng trong cuộc họp báo, Đức TGM Bertone, Tổng thư ký Bộ giáo lý đức tin, minh xác rằng

Văn kiện mới công bố là một “Tuyên Ngôn”, nghĩa là không giảng dạy đạo lý mới mẻ, nhưng tái

khẳng định và tóm tắt đạo lý đức tin Công Giáo đã được xác định hoặc giảng dạy trong các Văn

kiện Giáo Huấn của Giáo Hội, nêu rõ sự giải thích đúng đắn, đứng trước những sai lầm và đạo

lý mơ hồ đang phổ biến trong lãnh vực thần học và trong Giáo Hội ngày nay. Tuyên ngôn được

ĐTC phê chuẩn minh nhiên, nên cũng có tính chất giáo huấn phổ quát và tham phần vào Huấn

Quyền bình thường của ĐGH.

TRÌNH BÀY CỦA ĐHY RATZINGER

ĐHY Ratzinger, Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, đã trình bày về bối cảnh và ý nghĩa tuyên ngôn

“Dominus Jesus”:

  1. Trong cuộc tranh luận sôi nổi hiện nay về tương quan giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác,

một ý tưởng ngày càng phổ biến cho rằng tất cả các tôn giáo đều là những con đường cứu độ

hữu hiệu như nhau cho các tín đồ. Đây là một xác tín hiện được phổ biến không những nơi giới

thần học mà thôi, nhưng cả trong các môi trường rộng lớn hơn nơi dư luận quần chúng, Công

Giáo cũng như không Công Giáo, nhất là nơi dư luận chịu ảnh hưởng nhiều của trào lưu văn

hóa đang chiếm ưu thế tại Tây Phương, trào lưu mà ta có thể định nghĩa chắc chắn là “chủ

thuyết tương đối hóa” (rélativisme).

CÁC TRÀO LƯU SAI LẦM

Cái gọi là thần học về đa nguyên tôn giáo, thực ra đã dần dần được củng cố từ cuối thập niên

1950 của thế kỷ 20, nhưng mãi đến ngày nay, nó mới đạt tới tầm quan trọng lớn lao đối với

nhiều tín hữu Kitô. Thứ thần học đó có nhiều hình thái khác nhau, và Bản Tuyên Ngôn này

không chủ trương mô tả những nét nòng cốt của các xu hướng thần học ấy hoặc tóm tắt chúng

trong một công thức duy nhất. Đúng ra, Văn kiện này chỉ nêu lên một số quan niệm thuộc lãnh

vực triết lý cũng như thần học, làm cơ bản cho nhiều thứ thần học về đa nguyên tôn giáo đang

phố biến ngày nay, đó là: xác tín cho rằng chân lý về Chúa là điều không thể lãnh hội và diễn tả

hoàn toàn được; thái độ tương đối hóa đứng trước sự thật để rồi cho rằng một điều là sự thật

đối với người này, không phải là sự thật đối với người khác; sự đối nghịch sâu đậm giữa não

trạng lý luận của Tây phương và não trạng tượng hình của Đông phương; thái độ chủ quan thái

quá của những người coi lý trí như nguồn mạch duy nhất của tri thức; sự tước bỏ hết ý nghĩa

siêu hình của mầu nhiệm nhập thể; thái độ chiết trung (éclectisme) của những người, khi suy tư

thần học, lựa lọc những phạm trù xuất phát từ các hệ thống triết lý và tôn giáo khác, mà không

để ý tới sự hòa hợp nội tại của chúng với nhau và không thấy rằng chúng thể dung hợp với đức

tin Kitô; sau cùng là xu hướng giải thích các văn bản Kinh Thánh vượt ra ngoài Truyền Thống

và Huấn Quyền của Giáo Hội (Dominus Jesus, n.4)

“Hậu quả căn bản của lối suy tư và cảm nghĩ như thế đối với trung tâm điểm và nòng cốt của

Đức tin Kitô là người ta loại bỏ sự đồng nhất giữa nhân vật lịch sử có một không hai là Đức

Giêsu thành Nazareth với chính thực tại Thiên Chúa, Thiên Chúa hằng sống. Họ cho rằng điều

là Tuyệt Đối, hoặc Đấng là Tuyệt Đối, không hề có thể hiện hữu trong lịch sử, trong một sự mạc

phải trọn vẹn và chung kết. Theo họ, trong lịch sử chỉ có những kiểu mẫu, những nhân vật lý

tưởng đưa chúng ta tới vị Hoàn Toàn Khác, Đấng mà ta không thể hiểu đúng Ngài như Ngài

hiện thực. Một số nhà thần học ôn hòa hơn tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là

người thật, nhưng cho rằng vì sự giới hạn nơi bản tính nhân loại của Chúa Giêsu, nên mạc khải

của Thiên Chúa nơi Người không thể được coi là trọn vẹn và chung kết, nhưng phải luôn được

cứu xét trong tương quan với những mạc khải khác của Thiên Chúa, những mạc khải này có

thể được biểu hiện nơi những thiên tài tôn giáo khác của nhân loại và nơi những người thành

lập các tôn giáo trên thế giới. Như thế, nói một cách khách quan, người ta đưa ra ý tưởng sai

lầm cho rằng các tôn giáo trên thế giới bổ túc cho mạc khải của Kitô giáo. Và hiển nhiên là, theo

họ, cả Giáo Hội, lẫn tín lý, các bí tích, không thể có giá trị cần thiết tuyệt đối. Họ nói: khi gán cho

các phương tiện hữu hạn ấy một đặc tính tuyệt đối và coi chúng như một dụng cụ để gặp gỡ

thực sự với chân lý của Thiên Chúa có giá trị phổ quát, tức là đặt trên một bình diện tuyệt đối

một điều chỉ có tính chất đặc thù mà thôi, và làm như thế là bóp méo thực tại vô biên của Thiên

Chúa Hoàn Toàn Khác.”

“Ý THỨC HỆ ĐỐI THOẠI”

Dựa trên những quan niệm đó, người ta cho rằng khi chủ trương có một chân lý phổ quát, có

tính chất bắt buộc và có giá trị trong chính lịch sử, và chân lý ấy được thể hiện trong Chúa

Giêsu Kitô và được thông truyền lại nhờ đức tin của Giáo Hội, tức là theo chủ thuyết cực đoan,

làm thương tổn tới tinh thần tân tiến và là một đe dọa chống lại tinh thần bao dung và tự do.

Chính ý niệm đối thoại – mà họ sử dụng – cũng có một ý nghĩa hoàn toàn khác với ý nghĩa như

Công Đồng chung Vatican 2 đã hiểu. Đối thoại, hay đúng ra là “ý thức hệ đối thoại (idéologie du

dialogue) được người ta dùng để thay thế cho việc truyền giáo và lời mời gọi phải cấp thiết

hoán cải: đối thoại không còn là con đường để khám phá chân lý nữa, không còn là tiến trình

qua đó, người ta bày tỏ cho tha nhân kinh nghiệm sâu xa của mình về tôn giáo, và kinh nghiệm

ấy chờ đợi được hoàn tất và được thanh tẩy trong cuộc gặp gỡ với mặc khải chung kết và trọn

vẹn của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô; đối thoại – trong những quan niệm ý thức hệ mới -,

đối với nhiều người, kể cả nơi giới thần học và văn hóa Công Giáo, có nghĩa là không còn tín lý

nữa, tín lý bị tương đối hóa, và đối thoại có nghĩa là sự trái ngược với “hoán cải” và “truyền

giáo”. Theo quan niệm tương đối hóa, đối thoại có nghĩa là đặt trên cùng một bình diện như

nhau, lập trường của mình hoặc chính đức tin của mình với những xác tín của người khác, đến

độ tất cả chỉ là trao đổi những lập trường hoàn toàn ngang hàng nhau, và vì thế, tương đối với

nhau, để nhắm tới mục đích cao hơn là làm sao đạt tới tối đa sự cộng tác và liên kết giữa các

quan niệm tôn giáo khác nhau.

HẬU QUẢ

Sự giải trừ Kitô học và do đó, bãi bỏ Giáo Hội học vốn tùy thuộc và gắn liền với Kitô học, trở

thành kết luận tất nhiên của triết lý tương đối hóa như vừa nói trên, thứ triết lý này làm nền tảng

cho tư tưởng hậu-siêu-hình-học (post-métaphysique) ở Tây phương và cho nền thần học tiêu

cực của Á châu. Hậu quả là Chúa Giêsu Kitô không còn tính chất độc nhất vô nhị và phổ quát

cứu độ nữa. Rồi hậu quả thứ hai là chủ thuyết tương đối hóa, trong cuộc gặp gỡ với các văn

hóa, được coi như một triết lý đích thực của nhân loại, có khả năng bảo đảm tinh thần bao dung

và dân chủ, nên nó đưa tới sự gạt ra ngoài lề những người nào kiên trì trong việc bảo vệ bản

sắc độc đáo Kitô giáo và quyết tâm bảo vệ chân lý phổ quát và cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.

Trong thực tế, cùng với việc phê bình đặc tính tuyệt đối và chung kết của mạc khải Chúa Giêsu

Kitô như đức tin Công Giáo vẫn dạy, người ta đi tới quan niệm sai lạc về tinh thần bao dung.

Nguyên tắc bao dung, như một thái độ tôn trọng tự do lương tâm, tư tưởng và tôn giáo, được

Công Đồng chung Vatican 2 bảo vệ và thăng tiến, là một lập trường luân lý cơ bản, hiện diện

trong bản chất nòng cốt của Kinh Tin Kính Kitô giáo, vì nguyên tắc ấy coi trọng tự do của quyết

định đức tin. Nhưng ngày nay, nguyên tắc bao dung và tôn trọng tự do ấy bị lèo lái và đi quá

trớn, khi nó được áp dụng cho việc đánh giá các nội dung của mọi tôn giáo và cả các quan

niệm không tôn giáo (areligieux) trong cuộc sống, coi chúng đều là ngang hàng nhau, và không

còn một chân lý khách quan và phổ quát nữa, vì người ta nói Thiên Chúa hay là Đấng Tuyệt

Đối tỏ mình ra dưới rất nhiều tên, và tất cả các tên đó đều là chân thực. Quan niệm sai lầm như

thế về tinh thần bao dung làm cho người ta đánh mất và từ bỏ không đề cập tới vấn đề chân lý

nữa, vấn đề này ngày nay bị nhiều người cho là không quan trọng và thuộc hàng thứ yếu. Qua

đó, người ta thấy rõ điểm yếu về tri thức của nền văn hóa hiện nay: nền văn hóa ấy thiếu câu

hỏi về chân lý, và cho rằng nòng cốt của tôn giáo chẳng khác gì những điều phụ thuộc, đức tin

chẳng còn khác biệt với mê tín, kinh nghiệm chẳng còn khác với ảo tưởng. Sau cùng, khi không

còn nghiêm chỉnh tìm kiếm sự thật, thì việc quí chuộng các tôn giáo khác trở thành vô lý và mâu

thuẫn, bởi vì người ta không có tiêu chuẩn để nhận ra điều gì là tích cực trong một tôn giáo,

không phân biệt được điều tích cực với điều gì là tiêu cực hoặc là sản phẩm của mê tín và

lường gạt.

LẬP TRƯỜNG CỦA TUYÊN NGÔN TRƯỚC NHỮNG SAI LẦM

“Về vấn đề này, Tuyên Ngôn nhắc lại Giáo Huấn của Đức Gioan Phaolô 2 trong Thông Điệp

“Redemptoris Missio” (Sứ mạng Đấng Cứu Thế): “Khi Thánh Linh hoạt động trong tâm hồn con

người và trong lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hóa và tôn giáo, Ngài đảm nhận vai trò

chuẩn bị Tin Mừng (RM 29).

“Thông Điệp này nói rõ ràng về hoạt động của Thánh Linh, không những trong tâm hồn con

người, nhưng cả trong các “tôn giáo”. Tuy nhiên, văn mạch đặt hoạt động của Thánh Linh trong

mầu nhiệm Chúa Kitô, và không bao giờ có thể tách rời khỏi Chúa Kitô. Ngoài ra, các tôn giáo,

đi kèm lịch sử và các văn hóa của các dân tộc, trong đó chắc chắn là có pha trộn giữa điều tốt

và điều xấu. Vì thế, không phải tất cả những gì ở trong các tôn giáo đều được coi như là sự

chuẩn bị cho Phúc Âm, nhưng chỉ những gì “Thánh Linh thực hiện” trong các tôn giáo ấy mà

thôi. Từ đó có một hệ luận rất quan trọng này là: con đường dẫn tới ơn cứu độ là sự thiện hiện

diện trong các tôn giáo, như công trình của Thánh Linh Chúa Kitô, chứ không phải các tôn giáo

xét như chúng là tôn giáo. Hơn nữa điều này được chính Công Đồng chung Vatican 2 xác nhận

liên quan tới những hạt giống sự thật và sự thiện hiện diện trong các tôn giáo và các nền văn

hóa khác, như được trình bày trong Tuyên Ngôn “Nostra Aetate”: “Giáo Hội không loại bỏ

những gì là chân thực và thánh thiện trong các tôn giáo ấy. Với lòng tôn trọng chân thành, Giáo

Hội nhìn các hành động và cách sống, những giới luật và giáo lý, tuy chúng khác biệt nhiều

điểm với điều mà Giáo Hội tin và dạy, nhưng nhiều khi chúng cũng phản ánh một tia sáng chân

lý soi chiếu cho tất cả mọi người” (NA 2). Tất cả những gì là chân thực và tốt lành hiện hữu

trong các tôn giáo, không được để cho chúng mai một đi, nhưng phải nhìn nhận và đề cao. Sự

thiện và sự thật, dù bất kỳ ở đâu, đều bởi Chúa Cha mà đến, và là công trình của Thánh Linh;

các hạt giống của Ngôi Lời được gieo vãi khắp nơi. Nhưng ta không thể nhắm mắt trước những

sai lầm và lường gạt là những điều cũng hiện diện trong các tôn giáo. Chính Hiến Chế tín lý của

Công Đồng chung Vatican 2 khẳng định: “Rất nhiều khi con người, bị Ác Thần lừa đảo, khiến họ

sai lạc trong tư tưởng, và tráo đổi chân lý thần linh với dối trá, phụng sự tạo vật thay vì Đấng

Tạo Hóa” (LG 16).

“Trong một thế giới ngày càng cùng nhau tăng trưởng, các tôn giáo và văn hóa gặp gỡ nhau, đó

là điều dễ hiểu. Sự kiện ấy không những làm cho con người xích lại gần nhau từ bên ngoài,

nhưng còn làm cho họ chú ý hơn tới những thế giới tôn giáo xa lạ. Theo nghĩa đó, – nghĩa là do

sự hiểu biết lẫn nhau,- ta có lý để nói rằng con người làm cho nhau được thêm phong phú.

Nhưng điều này không hề loại bỏ xác quyết của đức tin Kitô rằng mình đã nhận được từ Thiên

Chúa, trong Đức Kitô, sự mạc khải chung kết và trọn vẹn về mầu nhiệm cứu độ, và đúng ra

phải loại trừ não trạng dửng dưng do thái độ tương đối hóa tôn giáo, khiến người ta cho rằng

“đạo nào cũng như nhau” (Redemptoris missio, 36).

“Thái độ quí chuộng và tôn trọng các tôn giáo trên thế giới cũng như các nền văn hóa, làm cho

sự thăng tiến phẩm giá con người và sự phát huy văn minh được phong phú một cách khách

quan, nhưng không hề giảm bớt sự độc đáo và tính chất duy nhất có một không hai của mạc

khải Chúa Giêsu Kitô, và không hề giảm bớt nghĩa vụ truyền giáo của Giáo Hội: “Giáo Hội rao

giảng và buộc phải rao giảng không ngừng Chúa Kitô là đường, là sự thật và là sự sống (Gioan

14,16), nơi Ngài con người tìm được cuộc sống tôn giáo sung mãn, và trong Ngài, Thiên Chúa

đã hòa giải mọi sự với mình” (NA, 2). Đồng thời những lời đơn sơ ấy cho thấy rõ lý do tại sao

Giáo Hội xác tín sự sung mãn, phổ quát và sự hoàn tất mạc khạc của Thiên Chúa chỉ hiện diện

trong đức tin Kitô mà thôi. Lý do đó không hệ tại điều gọi là ưu tiên dành cho các phần tử của

Giáo Hội, và càng không phải do những thành quả lịch sử Giáo Hội đạt được trong cuộc lữ

hành trần thế, nhưng vì mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, Đấng vừa là Thiên Chúa thật và là

người thật, hiện diện trong Giáo Hội. Lời xác quyết về đặc tính độc nhất và phổ quát cứu độ của

Kitô giáo chủ yếu xuất phát từ mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, Đấng tiếp tục hiện diện trong Giáo

Hội là Thân Mình và là Hiền Thê của Ngài. Vì thế, do bản chất, Giáo Hội cảm thấy phải dấn

thân trong công cuộc rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc. Cả trong bối cảnh hiện nay có nhiều

tôn giáo và nổi bật với đòi hỏi tự do quyết định và tự do tư tưởng, Giáo Hội vẫn ý thức mình

được kêu gọi để “cứu vớt và đổi mới mọi thụ tạo, để mọi sự được gồm tóm trong Chúa Kitô và

để trong Ngài, con người trở thành một gia đình và một dân tộc duy nhất” (Ad Gentes 1).

“Khi tái khẳng định chân lý mà đức tin của Giáo Hội luôn xác tín và tuân giữ về những vấn đề

nói trên đây, và khi bảo vệ các tín hữu khỏi những sai lầm và những giải thích mơ hồ đang

được phổ biến ngày nay, Tuyên ngôn “Dominus Jesus của Bộ giáo lý đức tin, – được chính ĐTC

phê chuẩn với ý thức chắc chắn và do quyền tông đồ của Ngài-, thi hành hai nhiệm vụ: một

đàng Tuyên Ngôn này là một chứng từ có thế giá, mới mẻ nhất, để tỏ cho thế giới thấy “ánh

quang rạng ngời Tin Mừng vinh hiển của Chúa Kitô” (2 Cor 4,4); đàng khác Văn Kiện cho thấy –

như một điều bó buộc đối với tất cả các tín hữu- những gì nền tảng đạo lý không thể từ bỏ

được; nền tảng ấy phải dìu dắt, soi sáng và định hướng đi cho việc suy tư thần học cũng như

hoạt động mục vụ và truyền giáo của tất cả các cộng đoàn Công Giáo rải rác trên thế giới.

MỘT SỐ PHẢN ỨNG CHỐNG ĐỐI

Vừa sau khi Tuyên Ngôn “Dominus Jesus” được công bố, một số giới lãnh đạo các Giáo Hội

Kitô khác, đã lên tiếng phê bình:

  • Hội đồng Đại kết các Giáo Hội Kitô, một tổ chức quy tỵ 337 Giáo Hội Kitô không Công

Giáo, với hơn 400 triệu tín hữu, và có trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, cho rằng Tuyên ngôn

này làm thương tổn cho công cuộc đối thoại đại kết khi quả quyết Giáo Hội Công Giáo có

vị thế trổi vượt hơn các Giáo Hội Kitô khác. Hội đồng này quả quyết: “Thật là một thảm

trạng khi mà chứng tá chung về sự cộng tác của các Kitô hữu bị lu mờ vì sự tranh luận

giữa các Giáo Hội Kitô về quyền bính và vị thế của mình, dù chúng có quan trọng thế nào

đi nữa”.

  • Trước đó, Đức TGM George Carey, Giáo chủ Liên hiệp Anh giáo, cũng bày tỏ sự bất mãn

vì Tuyên ngôn của Bộ giáo lý đức tin nhấn mạnh sự cần thiết của Giáo Hội Công Giáo để

được ơn cứu rỗi. Theo Đức TGM Carey, Văn kiện này không thêm điều gì mới, nhưng nó

không phản ánh sự hiểu biết sâu xa hơn đã đạt được nhờ công cuộc đối thoại đại kết và

cộng tác trong 30 năm qua.

  • Mục sư Peter Sulston, đặc trách về đại kết, thuộc Giáo Hội Methodist ở Anh, nói rằng

không có gì ngạc nhiên trong Văn kiện mới: “Chúng tôi không ngạc nhiên vì chúng tôi biết

Giáo Hội Công Giáo dạy điều gì. Tuy nhiên, chúng tôi hơi thất vọng vì giọng văn của Văn

kiện này”.

Báo La Republica ở Italia cho rằng Tuyên Ngôn “Dominus Jesus cũng như một số Tuyên ngôn

trước đây của Bộ giáo lý đức tin là một toan tính vào cuối triều đại Giáo Hoàng hiện nay nhắm

“đóng đinh chặt” các chính sách hiện tại bằng một ngôn ngữ cứng rắn nhất, và loại bỏ mọi thay

đổi của vị Giáo Hoàng trong tương lai. Bài xã luận của báo này có đoạn viết: “Trong các lãnh

vực truyền thống nhất của Giáo Hội Công Giáo, đang diễn ra một tiến trình ‘lánh nạn’, chăm lo

đóng các cửa sổ và cửa ra vào của Giáo Hội”.

  • Một số giới Công Giáo, tuy không phủ nhận nội dung của Tuyên Ngôn (vì hầu hết là giáo

huấn Công Đồng chung Vatican 2), nhưng không hài lòng về Tuyên Ngôn. Ví dụ tại Đức,

Đức Cha Josef Stipal, GM giáo phận Trier, nói rằng thời điểm công bố Văn kiện này

không thích hợp cho bầu không khí đối thoại đại kết hiện nay. Đó cũng là lập trường của

LM Vincenzo Marras, giám đốc nguyệt san Jesus của dòng thánh Phaolô ở Roma. Cha

nói: “Dọng văn nghiêm khắc và cứng cỏi của Tuyên Ngôn làm tan biến nhiều năm đại kết.

Đây thực là một bước thụt lùi về phương diện đại kết”.

BÊNH VỰC

Tuy nhiên, cũng có nhiều người lên tiếng bác bỏ những nhận xét trên đây.

  • Phát ngôn viên Tòa Thánh, ông Navarro Valls cho biết Tòa Thánh không đổi đường

hướng trong các quan hệ với các Giáo Hội Kitô khác”. Ông Valls cũng than phiền về sự

thông tin lệch lạc của một số cơ quan truyền thông, như thể cho rằng Tòa Thánh đã

quyết định thay đổi quan hệ với các cộng đồng Kitô khác. Tin tức đó hoàn toàn sai lầm,

và không hề có thay đổi nào trong đường hướng đại kết của Giáo Hội Công Giáo.

ĐHY Christoph Schoenborn O.P, TGM giáo phận Vienne, Chủ tịch HĐGM Áo, đã mở cuộc họp

báo hôm 7-9-2000, và tuyên bố rằng Tuyên Ngôn “Dominus Jesus không phải là một chướng

ngại cho công cuộc đại kết Kitô, nhưng chỉ nhắc nhở về bản sắc của Giáo Hội Công Giáo. Xét

cho cùng, Tuyên Ngôn không chứa đựng điều gì mới mẻ về đại kết so với những gì mà Công

Đồng chung Vatican 2 đã dạy cách đây 35 năm. Tuyên ngôn của Bộ giáo lý đức tin cũng không

hề bác bỏ giáo huấn rõ ràng của Công Đồng, theo đó cả những người ở ngoài Giáo Hội Công

Giáo cũng có thể được cứu rỗi. Cả những người không Kitô cũng như những người ở trong các

cộng đồng Kitô khác đều có thể đạt tới ơn cứu độ, ơn này là một món quà của Thiên Chúa. Văn

kiện “Dominus Jesus” trước tiên nhắm bác bỏ những lập trường duy tương đối hóa, như

thường xảy ra trong nền thần học Á châu về các tôn giáo. Những lập trường đó không coi trọng

đức tin của mình và trong các cuộc đối thoại liên tôn, cũng chẳng coi trọng những đối tác không

thuộc Kitô. Các tín hữu Kitô xác tín sâu xa rằng Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, đã mang lại

Lời quyết định để cứu độ loài người.

Đức Cha Joachim Wanke, GM giáo phận Erfurt, thuộc miền Đông Đức, kêu gọi tất cả các tín

hữu Kitô khác đừng nghi ngờ quyết tâm đại kết của Giáo Hội Công Giáo. Đức Cha Wanke cũng

là Chủ tịch cộng đồng làm việc chung của các Giáo Hội Kitô ở Cộng hòa Liên bang Đức. Ngài

đưa ra lời kêu gọi trên đây trong tuyên ngôn công bố hôm 8-9-2000 tại Erfurt. Ngài nhấn mạnh

rằng cuộc đối thoại đại kết từ Công Đồng chung Vatican 2 đến nay đã và còn tiếp tục tiến triển.

Chính Tuyên ngôn của Bộ giáo lý đức tin cũng bày tỏ mong ước đó. Một bộ đặc trách về giáo lý

đức tin thỉnh thoảng cũng phải nhắc nhở về các chân lý. Đó là trách nhiệm của Bộ này.

Đức Cha Karl Lehmann, GM giáo phận Mainz, Chủ tịch HĐGM Đức, cũng đánh giá tích cực

Tuyên Ngôn của Bộ giáo lý đức tin và gọi văn kiện này là một cơ may giúp công cuộc đối thoại

liên tôn ra khỏi tình trạng giữ thái độ lịch sự từ mấy chục năm nay, và đi thẳng vào vấn đề một

cách quyết liệt hơn.

Về phần Đức TGM Marcello Zago, Tổng thư ký Bộ truyền giáo, và nguyên từng hoạt động tại

Lào hồi thập niên 1970 trong tư cách là phần tử của Dòng thừa sai Đức Mẹ Vô Nhiễm, OMI,

ngài cho biết sở dĩ Bộ giáo lý đức tin ban hành Tuyên Ngôn Dominus Jesus là vì có tình trạng

hoang mang, hỗn độn về thần học, thái độ quá nhấn mạnh tới công bằng xã hội và quên sứ

mạng truyền giáo, nơi nhiều tín hữu Công Giáo ngày nay. Một số nhà thần học, nhất là tại một

số nơi ở Á châu, đã gieo rắc nghi ngờ về việc truyền giáo và chủ trương không tìm cách hoán

cải người khác gia nhập Công Giáo. Một số nhà thần học đã rơi vào nguy cơ làm tan biến xác

quyết của Kitô giáo và Giáo Hội của Chúa, để được sống chung hòa bình cạnh tín đồ các tôn

giáo khác. Đức TGM Zago nói: “Chúng ta không thể quên mệnh lệnh Chúa dạy phải đi tới mọi

dân tộc, rao giảng Tin Mừng cho họ, kể cả trong những môi trường có căng thẳng về tôn giáo”.

Giáo sư Cesare Cavalleri, Giám đốc tạp chí “Nghiên cứu Công Giáo” (Studi cattolici) đã bênh

vực Tuyên Ngôn “Dominus Jesus và nói rằng Văn kiện nhắc nhớ một điều thường bị các tín

hữu ngày nay quên lãng, đó là sự cần thiết phải rao giảng Tin Mừng. Rất nhiều điều trong

Tuyên Ngôn của Bộ giáo lý Đức Tin đã được nói đến trong Thông điệp “Redemptoris Missio”, về

truyền giáo, nhưng Thông điệp này bị nhiều người quên lãng. Giáo xư Cavalleri cũng bênh vực

giọng văn của Tuyên Ngôn và nói rằng: Đây là một văn kiện về đạo lý, hiển nhiên là nó phải có

sự cứng rắn về thần học và pháp lý, chứ không thể có giọng văn như một bài giảng.

VÀI NHẬN XÉT BỔ TÚC

Thật ra, Tuyên ngôn “Dominus Jesus” của Bộ giáo lý đức tin không nhắm tới công cuộc đối

thoại đại kết các tín hữu Kitô, nhưng chủ yếu nhắm tới việc đối thoại liên tôn, nhất là “ý thức hệ

đối thoại và trào lưu đa nguyên tôn giáo (pluralisme religieux) từ lâu đang làm suy yếu công

cuộc truyền giáo cho dân ngoại tại Á Châu. Tuyên ngôn trưng dẫn rất nhiều Thông Điệp

“Redemptoris Missio về truyền giáo, trong đó, ĐTC khẳng định sự cần thiết phải truyền giáo cho

dân ngoại, đứng trước trào lưu của một số nhà thần học, nhất là ở Ân Độ, cho rằng chỉ cần đối

thoại liên tôn và không cần đưa dân ngoại vào đoàn chiên của Chúa trong Giáo Hội Công Giáo.

Những vấn đề và băn khoăn vừa nói, cũng đã được đề cập tới trong Thượng HĐGM Á châu,

nhóm tại Roma từ giữa tháng 4 đến trung tuần tháng 5-1998. Chẳng hạn, sáng 21-4-98, trong

phiên khoáng đại thứ 3 của THĐGM Á châu, Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, GM Nha

Trang, Phó chủ tịch HĐGM Việt Nam, đã nói về những vấn đề liên quan đến giáo lý Chúa Giêsu

Kitô là Đấng Cứu Thế duy nhất, và có đoạn ngài khẳng định rằng:

“1. Phải chăng Á châu chưa biết Chúa Kitô nhưng họ đã sống dưới ảnh hưởng cứu độ của

ngài? và bằng cách nào? Chúng tôi thấy rằng trong Kitô học chúng ta phải suy tư nhiều hơn

nữa về sự hiện diện và chỗ đứng của Ngôi Lời Thiên Chúa, – không những Ngôi Lời Nhập thể

trong Đức Giêsu Kitô, nhưng cả Ngôi Lời hiện hữu trước đó, – trong cuộc sống, các nền văn

hóa và những tôn giáo của các dân tộc – trong tư cách là Sự Ngôn Khoan của Thiên Chúa. Một

nền Kitô học như thế giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc nhìn tín đồ các tôn giáo khác thực

sự như những người anh em chúng ta, không những vì họ cũng phát xuất như chúng ta từ

cùng một Đấng Tạo Hóa, nhưng còn vì họ đã là tín hữu Kitô một cách nào đó, sống dưới hoạt

động của Chúa Kitô – Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa.”

“2. Chúng ta sống cạnh các tôn giáo lớn. Theo não trạng chung của dân chúng, tất cả các tôn

giáo đều có giá trị như nhau, vì tôn giáo nào cũng dạy chúng ta làm lành lánh dữ để đạt hạnh

phúc vĩnh cửu. Tất cả các vị sáng lập tôn giáo đều là những thày dạy luân lý. Một đàng, chúng

ta thật khó chứng tỏ rằng Kitô giáo là một tôn giáo mạc khải, chủ yếu dựa trên niềm tin nơi tình

yêu của Thiên Chúa và không dựa trên một thứ luân lý của con người, và đàng khác Chúa

Giêsu Kitô mang lại cho con người mạc khải chung cục của Thiên Chúa.”

“3. Tiếp đến, các Kitô hữu chúng ta cùng với thánh Phaolô vẫn quả quyết rằng chỉ có một Đấng

Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, một người, đó là Đức Kitô Giêsu (1 Tim

2,5). Nhưng chúng tôi nghĩ rằng vai trò duy nhất ấy của Chúa Kitô không loại trừ sự cộng tác

của những người khác trong chương trình cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện qua dòng lịch sử.

Nếu vua Xirô ngoại giáo được gọi là Đấng được Chúa Xức Dầu (Le messie du Seigneur),

người mà Chúa cầm tay phải (Is 45,1), thì chúng ta sẽ nói gì về những vị sáng lập các tôn giáo

lớn ở Á châu? Chúng tôi thấy dường như một chủ trương quy hướng tuyệt đối về Chúa Kitô

như trung tâm (christocentrisme exclusif) như đặc tính đức tin truyền thống của chúng ta là điều

không thích hợp để trình bày về sự đóng góp tích cực của các vị sáng lập tôn giáo khác cho đời

sống tinh thần của nhân loại và không tạo nên một bầu không khí thuận lợi cho việc đối thoại

liên tôn.”

“Công đồng chung Vatican 2 quả quyết rằng: “Tất cả những người, không vì lỗi của họ, mà

không biết Tin Mừng của Chúa Kitô, nhưng họ tìm kiếm Thiên Chúa với một tâm hồn chân

thành và, dưới ảnh hưởng của ơn thánh Chúa, cố gắng hoạt động để chu toàn ý Chúa như

tiếng lương tâm của họ biểu lộ và truyền cho họ, thì những người ấy cũng được ơn cứu rỗi đời

đời” (LG 16). Đó là một câu quan trọng mời gọi chúng ta nhìn Giáo Hội không phải theo những

dấu hiệu hữu hình bề ngoài, nhưng tốt hơn theo chiều kích mầu nhiệm, nghĩa là Giáo Hội trước

hết là dân được cứu chuộc, vượt lên trên hững biên giới hữu hình. Cách nhìn Giáo Hội như thế

giúp chúng ta nhận thức mối liên hệ sâu xa giữa cộng đồng Công Giáo chúng ta và tín đồ các

tôn giáo khác.”

Những nhận xét của Đức Cha Nguyễn Văn Hòa trên đây phản ánh băn khoăn của nhiều vị lãnh

đạo Công Giáo tại Á châu, đại lục có nhiều tôn giáo lớn. Tuy nhiên, tại Thượng HĐGM Á châu,

một số vị lãnh đạo tại Tòa Thánh đưa ra nhận xét rằng công cuộc truyền giáo tại Á châu tiến

hành quá chậm chạp và không có tính chất quyết liệt đủ, một phần cũng vì thái độ quá nhạy

cảm đối với việc đối thoại liên tôn như thế.

Trong bối cảnh đó, hãng tin Công Giáo Hoa Kỳ CNS, truyền đi ngày 8-9-2000, cho biết: ngày

4-9-2000, tức là hôm trước khi Tuyên ngôn “Chúa Giêsu được công bố, LM Jacques Dupuis,

dòng Tên người Bỉ, đã tới Bộ giáo lý đức tin, để thảo luận về trường hợp của cha. Cha Dupuis

nguyên thừa sai và cố vấn của các GM Ấn độ trong nhiều năm trời và hiện là giáo sư Đại học

giáo hoàng Gregoriana của dòng Tên ở Roma. Từ gần hai năm nay, cuốn sách của cha với tựa

đề “Tiến tới một nền thần học Kitô về đa nguyên tôn giáo” (Toward a Christian Theology of

Religious Pluralism”) bị Bộ giáo lý đức tin điều tra, và yêu cầu cha Dupuis làm sáng tỏ vấn đề.

Hãng tin Công Giáo Hoa Kỳ nói rằng cuộc thảo luận không đưa tới kết quả nào, và người ta sợ

rằng Bộ giáo lý đức tin sẽ ra thông tri xác nhận lập trường của cha Dupuis là không phù hợp với

đức tin Công Giáo. Theo bộ này, cuốn sách của cha Dupuis là một thí dụ cụ thể về quan niệm

cho rằng mọi tôn giáo đều là những con đường hữu hiệu dẫn tới ơn cứu độ. Hồi năm 1998,

Cha Dupuis đã viết bản trả lời dài 200 trang, cộng thêm với 60 trang hồi giữa năm ngoái, để giải

thích lập trường của Cha. Cha Dupuis xác quyết mình không nghĩ rằng mọi tôn giáo đều có tính

chất cứu độ như nhau, nhưng các tôn giáo khác có một nghĩa tích cực trong chương trình của

Thiên Chúa đối với nhân loại.

Theo hãng CNS, nguồn gốc của Tông Huấn “Dominus Jesus bắt đầu từ năm 1996 khi ĐHY

Ratzinger chủ tọa một khóa họp đặc biệt với các GM Ấn độ. Một điểm lớn trong chương trình

nghị sự là lời than phiền của Tòa Thánh theo đó nhiều nhà thần học và các chủ chăn tại Ấn Độ

đang làm tan hòa các xác tín Công Giáo để đừng làm thương tổn hoặc xúc phạm đến đại đa số

dân không Kitô tại Ấn.

  1. Trần Đức Anh O.P

NHỮNG PHÊ BÌNH

Trong số rất nhiều phản ứng phê bình và chống đối, người ta có thể kể đến:

  • Do Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu”, Ngày đối thoại giữa Kitô và Do thái giáo, do Tòa Thánh

bảo trợ, dự trù vào 3-10-2000 đã bị hoãn vô thời hạn, sau khi 2 thủ lãnh cộng đoàn Do

thái ở Roma rút lui không tham dự. Hai Rabbi Elio Toaff và Abramo Piatelli, thuộc Cộng

đoàn Do thái ở Roma, dự kiến sẽ phát biểu tại Hội nghị đối thoại với Công Giáo nhưng đã

rút lui để phản đối Tuyên Ngôn của Bộ giáo lý đức tin. Một phát ngôn viên của Liên hiệp

các Cộng đoàn Do thái ở Italia nói rằng Liên hiệp không đưa ra lập trường chính thức về

Ngày Đối Thoại, nhưng một số người Do thái được mời tham dự đã từ chối vì cho rằng

Tòa Thánh đã “thay đổi giọng trong những tháng gần đây”. Theo người Do thái, Văn kiện

của Tòa Thánh xác quyết chỉ trong Đức Giêsu mới có ơn cứu độ, và việc phong chân

phước cho Đức Giáo Hoàng Piô 9, trái ngược với những tuyên ngôn và thái độ cởi mở

trước đây của Tòa Thánh, cũng như cuộc viếng thăm của ĐGH tại Israel, và việc ngài xin

lỗi vì những hành động của người Công Giáo bài Do thái.

Tại Đức, các giới lãnh đạo Do thái cũng phê bình Tuyên Ngôn. Trong báo tờ báo Do thái ở Đức,

Rabbi Joel Berger, Phát ngôn viên của Hội đồng các Rabbi Do thái tại Đức, viết rằng “trong khi

Do thái giáo trước kia được coi như tôn giáo anh em, nay thì bị ném ra ngoài gia đình”.

Vừa khi Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu được công bố, Hội đồng Đại kết các Giáo Hội Kitô, một tổ

chức quy tỵ 337 Giáo Hội Kitô không Công Giáo, với hơn 400 triệu tín hữu, và có trụ sở ở

Genève, Thụy Sĩ, cho rằng Tuyên ngôn này làm thương tổn cho công cuộc đối thoại đại kết khi

quả quyết Giáo Hội Công Giáo có vị thế trổi vượt hơn các Giáo Hội Kitô khác. Hội đồng này quả

quyết: “Thật là một thảm trạng khi mà chứng tá chung về sự cộng tác của các Kitô hữu bị lu mờ

vì sự tranh luận giữa các Giáo Hội Kitô về quyền bính và vị thế của mình, dù chúng có quan

trọng thế nào đi nữa”. Trước đó, Đức TGM George Carey, Giáo chủ Liên hiệp Anh giáo, cũng

bày tỏ sự bất mãn vì Tuyên ngôn của Bộ giáo lý đức tin nhấn mạnh sự cần thiết của Giáo Hội

Công Giáo để được ơn cứu rỗi. Theo Đức TGM Carey, Văn kiện này không thêm điều gì mới,

nhưng nó không phản ánh sự hiểu biết sâu xa hơn đã đạt được nhờ công cuộc đối thoại đại kết

và cộng tác trong 30 năm qua.

  • GM Mandred Kock, Chủ tịch Hội đồng các Giáo Hội Tin Lành Đức, gồm Cải Cách và

Luther, cho rằng: “Hiển nhiên là Vatican muốn quay ngược kim đồng hồ” trong quan hệ

đại kết.

Tại Ấn độ, LM John Fernandez, một thần học gia tại Đại chủng viện Thánh Giuse ở Mangalore,

kêu gọi mở cuộc đối thoại nghiêm chỉnh giữa “các giáo sĩ tây phương đã soạn Tuyên Ngôn với

các nhà thần học Á châu phải sống với Tuyên Ngôn ấy”. Cha Fernandez cho rằng Tuyên Ngôn

tìm cách áp đặt “đức tin Âu Châu của thế kỷ 18 cho Giáo Hội Á châu của thế kỷ 21”.

Hãng tin Ucan ở Thái Lan truyền đi bài bình luận của LM Bảo Tịnh Vương Đình Bích, Bề trên

dòng Anh em Đức Mẹ người nghèo, vốn thuộc Ủy ban đoàn kết công giáo yêu nước. Cha Bích

cho rằng Tuyên ngôn của Tòa Thánh làm cho chúng ta, “một lần nữa phải đối đầu với những

vấn đề văn hóa của đức tin chúng ta.. Chúa Giêsu là người đông phương… nhưng bộ máy giáo

huấn của Giáo Hội Công Giáo đặt tại Roma và nhân sự của bộ máy này hầu hết chỉ là người

tây phương”. Và theo Cha Bích, “nếu các tác giả văn kiện này sống vài tuần lễ tại vùng Á châu,

nơi các tín hữu Công Giáo phần lớn chỉ là thiểu số, thì họ sẽ ý thức vấn đề văn hóa… một vấn

đề rất tế nhị ở đây”. Sau cùng, theo Cha Vương Đình Bích, “sự áp đặt văn hóa tây phương cho

các tín hữu Kitô Việt Nam nhân danh đức tin được thểhiện bằng nhiều cách. Để làm một tượng

Chúa Kitô, chúng ta cần hình ảnh của một người tây phương. Để xây các nhà thờ chúng ta,

chúng ta cần theo kiểu tân gôtích hoặc kiến trúc Roman thời sau này”. Theo Cha Bích, “các tín

hữu Công Giáo Việt Nam không phủ nhận nội dung Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu”, nhưng văn kiện

này “không cần thiết trong đời sống đức tin của chúng ta hiện nay” (Ucan 18-9-2000)

NHỮNG TRANH LUẬN VỀ TUYÊN NGÔN “DOMINUS JESUS”, CHÚA

GIÊSU, DO BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN CÔNG BỐ.

Ba tuần sau khi Bộ giáo lý đức tin công bố Tuyên Ngôn “Dominus Jesus”, Chúa Giêsu, về đặc

tính duy nhất và phổ quát cứu độ của Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội, đó đây các tranh luận vẫn

tiếp tục về văn kiện này. Nói chung, nhiều Giáo Hội Tin Lành và Chính Thống, Do thái, Ấn giáo,

đã lên tiếng phê bình và phản đối. Một số nhà thần học Công Giáo thuộc loại cấp tiến cũng hợp

giọng trong trào lưu đó. Có những vị lãnh đạo Tin Lành hoặc Anh giáo cho rằng Văn kiện này là

một “bước thụt lùi”, một “cản trở lớn” cho tiến trình đối thoại đại kết Kitô và đối thoại liên tôn; có

vị khác cho rằng Tuyên Ngôn này chứng tỏ sự “kiêu ngạo” của Công Giáo vì cho rằng chỉ trong

Giáo Hội Công Giáo mới có sung mãn các phương tiện cứu độ và các Giáo Hội khác chỉ có các

phương tiện đó một cách bất toàn.

Thậm chí hôm 18-9 vừa qua, hãng Ucan truyền đi từ Thái Lan bài bình luận của LM Bảo Tịnh

Vương Đình Bích, Bề trên dòng Anh em Đức Mẹ người nghèo, vốn thuộc Ủy ban đoàn kết công

giáo yêu nước. Cha Bích cho rằng Tuyên ngôn của Tòa Thánh làm cho chúng ta, “một lần nữa

phải đối đầu với những vấn đề văn hóa của đức tin chúng ta.. Chúa Giêsu là người đông

phương… nhưng Guồng máy giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo đặt tại Roma và nhân sự của

bộ máy này hầu hết chỉ là người tây phương”. Và theo Cha Bích, “nếu các tác giả văn kiện này

sống vài tuần lễ tại vùng Á châu, nơi các tín hữu Công Giáo phần lớn chỉ là thiểu số, thì họ sẽ ý

thức vấn đề văn hóa… một vấn đề rất tế nhị ở đây”. Sau cùng, theo Cha Vương Đình Bích, “sự

áp đặt văn hóa tây phương cho các tín hữu Kitô Việt Nam nhân danh đức tin được thể hiện

bằng nhiều cách. Để làm một tượng Chúa Kitô, chúng ta cần hình ảnh của một người tây

phương. Để xây các nhà thờ chúng ta, chúng ta cần theo kiểu tân gôtích hoặc kiến trúc Roman

thời sau này”. Theo Cha Bích, “các tín hữu Công Giáo Việt Nam không phủ nhận nội dung

Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu”, nhưng văn kiện này “không cần thiết trong đời sống đức tin của

chúng ta hiện nay (Ucan 18-9-2000)

** Trước những lời phản đối và phê bình như thế, rất nhiều HĐGM đã lên tiếng bênh vực và

ủng hộ Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu”. Gần đây nhất là HĐGM Ba Lan. Phát ngôn viên của Hội

đồng này là LM Adam Szulc nói: “Tuyên ngôn Dominus Jesus, Chúa Giêsu, làm sáng tỏ ‘những

quan niệm thần học sai lầm, và nhắm tái biểu lộ chân lý và sứ mạng của Giáo Hội. LM Szulc

cũng tuyên bố với hãng tin Công Giáo Ba Lan KAI rằng ai coi Tuyên Ngôn là một nhát đòn đánh

vào cuộc đối thoại đại kết là những người giải thích sai lầm Văn Kiện này. Tuyên ngôn nhắm

bác bỏ những lý thuyết duy tương đối hóa, theo đó có nhiều con đường cứu rỗi như nhau. Tuy

nhiên, Văn kiện này thực ra mở rộng hơn cánh cửa cho sự đối thoại đại kết khi xác định rõ tư

tưởng của Giáo Hội Công Giáo.

Một vị lãnh đạo khác của Công Giáo Ba Lan là Đức Cha Josef Zycinsky tố giác những kẻ vu

khống Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu là phản ánh một “não trạng hậu-tân thời (post-moderniste)

trong đó không còn có trung tâm cũng chẳng có hệ thống tham chiếu duy nhất, và tất cả mọi

giải thích đều có giá trị như nhau”.

Sau đây, chúng tôi kính mời quí vị nghe nguyên văn chương IV trong Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu

, Văn kiện đã được ĐTC phê chuẩn ngày 16 tháng 6 năm nay và truyền công bố. Đây là

chương bị phía Tin Lành phê bình nhiều nhất, nhưng nói đúng ra, tất cả đạo lý này đều trích từ

các Văn kiện của Công đồng chung Vatican 2 cách đây 35 năm, dựa trên giáo huấn của Kinh

Thánh và các Giáo Phụ.

Tại Á châu, có những phản đối từ phía một số nhà thần học ở Ấn Độ. Tuy nhiên, LM Thomas

Michel, dòng Tên, thuộc Văn phòng đại kết và liên tôn của Liên HĐGM Á châu, nhìn nhận

Tuyên Ngôn của Bộ giáo lý đức tin, không những là một cản trở, nhưng còn là một khích lệ cho

công cuộc đối thoại với các tôn giáo khác. Theo Cha Michel, các nhà thần học Á châu phải tiếp

tục và đào sâu những nghiên cứu về thể thức qua đó tín hữu của mọi tôn giáo có thể được cứu

rỗi nhờ Chúa Giêsu Kitô. Cha Michel cũng nhận định rằng khi đọc Tuyên Ngôn của Bộ giáo lý

đức tin một cách vội vã và hời hợt, người ta có cảm tưởng rằng mọi cố gắng trong lãnh vực đối

thoại liên tôn sẽ bị ngưng lại, nhưng thực tế không phải như vậy. Tuyên Ngôn có nhiều điểm

khích lệ việc đối thoại với các cộng đoàn Kitô khác và các tôn giáo khác. Văn kiện nhìn nhận

“những giá trị linh ứng của các sách thánh của các tôn giáo khác có thể là những “dụng cụ

trong thực tế nhờ đó rất nhiều người có thể “nuôi dưỡng và duy trị một quan hệ sinh động với

Thiên Chúa”.

** LM Thomas Michel là chuyên gia về Hồi giáo và nguyên là thừa sai tại Indonesia và nhiều nơi

khác ở Á châu. Cũng trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng tin Apic của Công Giáo Thụy Sĩ,

Cha nhận xét: Văn kiện của Bộ giáo lý đức tin không mang lại câu trả lời cho những vấn nạn

như: Làm thế nào để thiết lập một liên hệ nào đó giữa mầu nhiệm cứu độ như người ta có thể

thấy trong các tôn giáo khác như Phật giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Lão giáo? Làm sao có thể có sự

kiện ấy? Bản Tuyên Ngôn kêu gọi suy tư nhiều hơn về các câu hỏi đó, nhưng không tự nhận là

đã giải đáp được vấn nạn ấy. Tóm lại, Giáo Hội Công Giáo, khi công bố văn kiện này, không

khép kín cửa đối với những nghiên cứu mới. Trái lại, như Tuyên Ngôn đã viết: “Công việc của

các nhà thần học là đào sâu và mang lại câu trả lời cho vấn nạn về “cách thức” cứu độ và suy

tư về chương trình cứu độ của Thiên Chúa”, đồng thời Văn kiện nhắc nhở các tín hữu Kitô rằng

chúng ta không thể tuyên xưng đức tin Công Giáo mà lại bỏ quên Chúa Giêsu Kitô.

ĐHY Joseph Ratzinger, Tổng trưởng bộ giáo lý đức tin, mạnh mẽ phê bình những người chỉ

trích Tuyên Ngôn “Dominus Jesus và nói rằng ngoại trừ một vài trường hợp, các phản ứng

chống đối Tuyên Ngôn này hoàn toàn không để ý gì đến chính đề tài của Tuyên Ngôn. Trong

cuộc phỏng vấn dành cho tờ “Frankfurter Allgemeine Zeitung”, số ra ngày hôm 22-9-2000 tại

Đức, ĐHY Ratzinger ghi nhận rằng đối với ĐTC Gioan Phaolo 2, Văn kiện này trước hết được

coi như một cao điểm của Năm Thánh, như một sự long trọng nhìn nhận quyền tối thượng của

Chúa Giêsu Kitô. Tuyên ngôn này là một lời mời gọi toàn thể các tín hữu Kitô hãy tái tuyên

xưng Chúa Kitô để mang lại cho Năm Thánh một ý nghĩa sâu rộng hơn. ĐHY Ratzinger đặt câu

hỏi: “Tại sao nhiều nhà bình luận bỏ qua điểm chủ yếu đó của Tuyên Ngôn?”. Và theo ĐHY, sở

dĩ có bão tố xoay quanh Văn kiện này là do vấn đề thông tin. Ngôn ngữ cổ điển của Huấn

Quyền dùng trong Văn Bản tuyên ngôn khác với ngôn ngữ của báo chí và các cơ quan truyền

thông. ĐHY Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin nói thêm rằng vấn đề Giáo Hội và Đại kết mà mọi

người đều nêu lên đề phê bình Tuyên Ngôn thật là chỉ là một phần nhỏ của Văn Kiện.

Đức Cha Walter Kasper, người Đức, Tổng thư ký Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu

Kitô lấy làm tiếc vì nhiều tín hữu Tin Lành và không-Kitô giáo hiểu lầm Tuyên ngôn “Domninus

Jesus về đặc tính duy nhất và phổ quát cứu độ của Chúa Giêsu và Giáo Hội, đồng thời cho biết

Hội đồng này sẽ cố gắng giải tỏa những hiểu lầm và xôn xao bất an đối với Tuyên ngôn này.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho Phái viên hãng tin Công Giáo Đức ở Roma hôm 21-9-2000,

Đức Cha Kasper rất lấy làm viếc vì “nhiều tín hữu Kitô không Công Giáo cảm thấy bị tổn

thương vì Tuyên Ngôn này. Rất nhiều người chỉ được biết Tuyên Ngôn qua những trình thuật

của báo chí, chứ không đọc trọn vẹn văn bản. Trong thực tế, Tuyên Ngôn “Chúa Giêsu” không

hề chống lại việc đối thoại với các tôn giáo khác, và cũng không hề quả quyết rằng “ngoài Giáo

Hội không có ơn cứu độ”. Tuyên ngôn cũng nhìn nhẫn những giá trị cứu độ của các Giáo Hội và

các cộng đồng Kitô không Công Giáo.

Đức Thánh Cha hậu thuẫn Tuyên Ngôn “ Chúa Giêsu là Thiên Chúa”

VietCatholic News(10/4/00). Sau khi kết thúc Thánh lễ và nghi lễ Phong thánh, trước khi đọc

kinh Truyền Tin với 100.000 tín hữu tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô đẫm nước vì mưa,

ĐTC đã tái khẳng định tuyên ngôn “Chúa Giê-su là Thiên Chúa” vừa được công bố. Ngài bắt

đầu: “Tại đỉnh cao của Năm Thánh, với Tuyên ngôn Chúa Giê-su là Thiên Chúa Ta đã phê nhận

theo một hình thức đặc biệt, Ta mong muốn mời mọi người Ki-tô tuyên xưng lại lòng trung thành

của mình với Chúa Kitô trong niềm vui của đức tin, nhất trí làm chứng Ngài là Đường, sự Thật

và là sự Sống cả cho hôm nay và ngày mai. Sự việc chúng ta tuyên xưng Chúa Kitô là Con duy

nhất, qua Ngài chúng ta thấy dung mạo của Chúa Cha, không phải là lòng kiêu hãnh miệt thị

các tôn giáo khác, nhưng niềm vui công nhận Chúa Kitô đã tự tỏ mình cho ta không phải vì

công trạng của ta. Ngài đồng thời đòi ta dấn thân cho đi những gì ta đã nhận và thông truyền

cho người khác điều ta đã được trao ban để món quà Sự thật và Tình yêu là chính Thiên Chúa

có thể thuộc về mọi người. “Ngài nói tiếp, cùng với Sứ đồ Phê-rô chúng ta tuyên xưng là không

có ơn cứu độ trong một tên nào khác .

Tuyên ngôn Chúa Giê-su là Thiên Chúa theo vết chân Công Đồng Chung Vaticanô II, chứng tỏ

là điều này không có nghĩa là chối từ ơn cứu rỗi của những người ngoài Kitô, nhưng chứng

minh nguồn gốc cuối cùng của ơn này là Chúa Ki-tô, trong Ngài Thiên Chúa và con người được

kết hợp. Chúa ban ánh sáng cho mọi người đúng theo tình trạng nội tâm và môi trường của mỗi

người, khi ban cho mỗi người ơn cứu độ bằng những đường lối chỉ có Ngài biết. Tài liệu nói rõ

lên những yếu tố Kitô căn bản, những yếu tố này không ngăn cản cuộc đối thoại, mà hướng về

nền tảng, vì đối thoại không nền tảng chỉ đưa đến chỗ thoái hóa vào những lời trống rỗng.

“Điều này cũng đúng cho vấn đề đại kết. Cùng với Công Đồng Vatican, tài liệu này tuyên bố là

Giáo hội độc nhất của Chúa Kitô tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo’, điều này không có nghĩa là

ta ít quan tâm đến các Giáo Hội khác, cộng đoàn giáo hội khác. Niềm xác tín này kèm theo với

ý thức là không phải công lao con người nhưng là dấu chỉ sự trung thành của Chúa, điều này

mạnh hơn sự yếu đuối và tội phạm của con người, mà chúng ta long trọng tuyên xưng trước

Thiên Chúa và con người khi bắt đầu vào mùa Chay. Giáo Hội Công Giáo đau lòng – như trong

tài liệu bày tỏ – vì có những Giáo hội chân chính và cộng đồng giáo hội mang những yếu tố quý

giá của ơn cứu độ, bị phân cách với mình.

“Như vậy tài liệu này cũng nói lên một lần nữa cùng một nhiệt tình đại kết đã là nồng cốt cho

Thông Điệp “Ut Unum sint” của Ta. Hy vọng của Ta là tuyên ngôn giá trị này, sau biết bao nhiêu

các giải thích sai lạc, cuối cùng lãnh nhiệm vụ làm cho sáng tỏ và đồng thời đề cao tinh thần cởi

mở. Cầu mong Mẹ Maria mà khi bị treo trên thánh giá Chúa đã phó thác như là Mẹ chúng ta.

Xin Mẹ giúp chúng ta cùng lớn lên trong niềm tin vào Chúa Kitô, đấng Cứu Thế của mọi người

trong hy vọng được cứu rỗi mà Chúa Kitô ban cho mọi người và trong tình yêu là dấu chỉ của

các con cái Thiên Chúa”.

ĐTC mạnh mẽ bênh vực tuyên ngôn Dominus Jesus

VietCatholic News(10/4/00). Đáp lại những lời chỉ trích về Tuyên Ngôn Dominus Jesus, được

Bộ Giáo Lý Đức Tin đưa ra hôm 5/9/2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh rằng

tuyên ngôn trên đã được sự chuẩn thuận mạnh mẽ của Ngài, và tuyên ngôn đó không thể là

một trở ngại cho quá trình đối thoại đại kết.

Sau lễ nghi phong thánh tại quảng trường thánh Phêrô hôm 01/10/2000, Đức Thánh Cha đã

tiếp rằng trong năm Đại Thánh, một cách đặc biệt “tôi mời gọi tất cả các Kitô Hữu tái khẳng định

lại sự liên kết với Đức Giêsu Kitô, trong niềm vui của đức tin, mang chứng tá chung Ngài là –

hôm nay, ngày mai, và mọi ngày – là đường, là sự thật và là sự sáng” Sự khẳng định lập đi lập

lại Đức Giêsu Kitô là phương thế cứu độ duy nhất không phải là một lời tuyên bố ngạo mạn, đó

chỉ là một khẳng định của đức tin, như “một sự nhìn nhận vui mừng về điều mà Chúa Kitô đã

mạc khải cho chúng ta, dù chúng ta chẳng có công trạng gì”.

Đức Thánh Cha nói tiếp, Giáo Hội “tiếp tục trao ban những gì đã được tiếp nhận, trao đổi với

những tôn giáo khác những điều chúng ta đã nhận được, sao cho chân lý mà chúng ta được

trao ban và tình yêu trong Thiên Chúa, có thể được mang đến cho nhân loại” “Cùng với thánh

Tông Đồ Phêrô, chúng ta tuyên xưng niềm xác tín là ‘không có ơn cứu độ nào vì danh khác”.

ĐTC giải thích rằng tuyên ngôn Dominus Jesus – tiếp theo giáo huấn của Vatican II – không

tuyên bố rằng những người không phải là Kitô Hữu thì không được cứu độ mà chỉ muốn nói lên

rằng tất cả ơn cứu độ đều tuôn chảy từ Chúa Kitô và vì vậy thông qua nhiệm thể Ngài là Giáo

Hội Công Giáo. Theo ĐTC, mục đích của văn kiện mới của Vatican là làm sáng tỏ nền tảng của

đối thoại đại kết. “Một cuộc đối thoại mà không có cơ sở thì rồi ra cũng chỉ suy thoái thành một

cuộc nói chuyện suông mà thôi”.

Kitô hữu của các giáo phái khác cũng nên hiểu mục đích của tuyên ngôn Dominus Jesus. Văn

kiện này dạy, như một vấn đề của đức tin, rằng sự viên mãn của các phương thế cứu độ chỉ có

thể tìm được trong Giáo Hội Công Giáo. Nhưng điều này nữa củng không phải là một tuyên bố

ngạo mạn; đó chỉ là một tuyên bố của niềm tin tôn giáo và “một dấu chỉ của sự trung tín với

Thiên Chúa mạnh hơn sự yếu đuối và tội lỗi của chúng ta”.

Đức Thánh Cha cũng nhận xét rằng “Giáo Hội Công Giáo, như tuyên ngôn đã nói, đau khổ vì

một số Giáo Hội chân thực và các cộng đoàn tín hữu với những yếu tố quý giá của ơn cứu độ

đã tách ra”. Sự đau khổ này, dấy lên trong lòng Giáo Hội những kỳ vọng trong việc đối thoại đại

kết để thực thi lời cầu nguyện của Chúa Giêsu Kitô ” Ut Unum Sint”.