VATICAN I: MỘT CÔNG ĐỒNG KHÔNG HOÀN TẤT (1869-1870)
VietCatholic News(12/10/2001).
Kể từ khi công đồng Trente bế mạc cho đến lúc công đồng Vatican khai mạc vào năm 1869 tổng cộng là 306 năm trôi qua. Bởi vậy tự nó Vatican I là một biến cố quan trọng và gom lại tất cả giáo huấn của Giáo hội Công Giáo sau cuộc Cải Cách. Ngoài ra, Vatican I coi như quan trọng bởi hoàn cảnh thời bấy giờ. Ý nghĩa triệu tập một công đồng có một tiếng vang dội mạnh mẽ giữa giới cầm quyền bên Âu châu cũng như giữa đám đông quần chúng. Người ta nghĩ rằng công đồng sẽ là vụ án giữa hai nền văn minh mang dấu duy tân và tôn giáo.
- NHỮNG DẤU CHỈ BÁO HIỆU TRƯỚC CÔNG ĐỒNG.
1.1. Vài nét về triều đại ĐGH Piô IX.
Công đồng Vatican I do Đức Piô IX triệu tập, chúng ta cũng nên nói sơ qua vài nét về cuộc đời của ngài. Đức hồng y Giovanni Maria Mastai Feretti lên ngai Giáo hoàng năm 1846 và lấy tên là Piô IX. Ngài được coi như một người cởi mở, một con người của tự do và tiến bộ. Năm 1848, chính ngài trở nên nạn nhân của cách mạng và bị đuổi ra khỏi kinh thành Rôma, và trốn sang Gaeta thuộc thành Naples. Sau khi tham chiếu các Đức Giám mục, các nhà thần học và các giới chức, ngày 8.12.1854, Đức Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội trong tông huấn Ineffabilis Deus.
Đấng tiền nhiệm Gregoriô XVI đã nhiều lần lên án những sai lầm đến từ duy tân thuyết; Đức Piô IX tiếp tục con đường này, ngày 8.12.1894 ngài công bố thông điệp Quanta Cura (bao trăn trở) gửi các Giám mục bản Syllabus tóm lại những sai lầm của các lạc thuyết đương thời. Trong tông huấn Quanta Cura, Đức Piô IX lên án những sai lầm của thuyết duy tân và thuyết duy lý đưa tới việc từ chối thiên tính của Đức Giêsu. Trong bối cảnh chính trị thời bấy giờ, Đức Piô IX cũng kết án những chủ trương quốc giáo như Pháp giáo muốn nhà nước kiểm soát Giáo hội; cùng một trật tông huấn không quên nhắc tới sai lầm của thuyết xã hội chủ nghĩa đặt gia đình dưới thống trị của nhà nước; các chủ thuyết kinh tế với mục đích làm giàu quên con người; chủ nghĩa tự nhiên muốn điều hành trật tự xã hội không cần đến tôn giáo.
Với tông huấn Quanta Cura còn kèm theo bản Syllabus. Tập tài liệu gồm 10 chương với 61 điểm lên án những sai lầm: lên án thuyết tự nhiên, duy lý và phiếm thần; những đề nghị cho các trường thần học: coi chừng khi dung hòa nền duy lý, cho các phương pháp khoa học một chỗ đứng quá quan trọng và phủ nhận nền thần học kinh viện; những đề nghị coi chừng thuyết chủ nghĩa thờ ơ; lên án chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, những hội kín; lên án những chủ nghĩa quốc giáo; lên án những sai lầm về xã hội dân sự như quyền tối thượng của quyền hành dân sự, nhà nước độc quyền về giáo dục…; những sai lầm về luật tự nhiên và đạo đức Kitô giáo; tái xác nhận về đặc tính bí tích của hôn nhân Kitô giáo; tái xác nhận về thế quyền của ĐGH; và cuối cùng đưa ra những sai lầm về chủ nghĩa tự do.
Ngay sau khi bản Syllabus được công bố, trong lòng Giáo hội đã có hai khuynh hướng phản ứng khác nhau đến từ những người thủ cựu và những người coi như cấp tiến. Nhóm thủ cựu hân hoan đón nhận Tông huấn và mơ ước Giáo hội nắm lại quyền hành bảo đảm trật tự và đạo đức; nhóm cấp tiến thất vọng vì họ cho nhiều điểm trong Syllabus không đưa Giáo hội thích hợp vào xã hội thời bấy giờ.
Tóm lại, Tông huấn Quanta Cura và bản Syllabus đã đụng đến những nguyên tắc của thế kỷ thứ XIX đề ra. Từ đó, chúng ta thấy không thể nào có được sự hòa giải giữa Giáo hội và nhà nước; và đưa hố ngăn cách giữa Giáo hội và xã hội duy tân ngày càng xa cách hơn.
Một việc đáng kể khác do Đức Piô IX đề xướng là việc triệu tập công đồng Vatican I. Sau đó, ngài qua đời ngày 7.2.1878.
1.2. Chuẩn bị Công đồng.
Chúng ta thấy trong một bối cảnh phân chia ngay trong lòng Giáo hội, nên việc triệu tập một công đồng là điều cần thiết vì đây còn là dịp để ĐGH khẳng định lại lập trường trước những sai lầm do các chủ thuyết đề ra. Đức Piô IX nói về sự cần thiết một công đồng lần đầu tiên vào năm 1864. Ngài hỏi ý kiến 36 Giám mục, rồi chỉ định một ủy ban sửa soạn vào năm 1865. Năm 1867, trong một cuộc họp với 500 Giám mục mừng kỷ niệm 1800 năm hai thánh Phêrô và Phaolô bị tử đạo tại Rôma, Đức Piô IX loan báo sẽ triệu tập Công đồng: « triệu tập toàn thể giám mục Công giáo, để đồng tâm hiệp sức tìm những phương thức cần thiết và hữu ích đối phó với bao nhiêu tai ách đè nặng trên Giáo hội » . Ngày 29.6.1868, ngài cho ra tông hiến Aeterni Patris Unigenitus (Con một Cha hằng hữu) chính thức triệu tập Công đồng vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm 8.12.1869. Với tông hiến, Đức Piô IX còn kèm theo hai lá thư gửi cho Giáo hội Chính thống, Tin Lành mời về tham dự Công đồng, nhưng không mời Anh giáo. Chính Thống giáo không hưởng ứng, riêng Tin Lành tỏ ra hoàn toàn chống đối. Lần đầu tiên, giới chính trị Công giáo cũng không được mời, và đây cũng là một biến cố mới.
Ngay trong giới Công giáo, việc triệu tập Công đồng cũng gây tranh luận. Ngày 6 tháng 2 năm 1869, tờ báo Civilta cattolica của dòng Tên có đăng một bài loan tin dịp Công đồng sẽ được biểu quyết và công bố về «ơn bất khả ngộ» của ĐGH. Lâu nay, dòng Tên vẫn được coi là có uy tín, nên bài báo đã gây nghi ngờ là đã có sự xếp đặt trước. Sau khi báo phát hành, những phản ứng sôi nổi đã xảy ra ở hai quốc gia Pháp và Đức. Tại Pháp, ông Louis Veuillot bênh vực trên tờ báo L’Univers và được một số Giám mục như Đức cha Pie thành Poitiers, và dòng tu như viện phụ Dom Guéranger ủng hộ; đối lại có Đức cha Dupanloup, giám mục thành Orléans, và các nhân vật nổi tiếng như Albert de Broglie, Augustin Cochin chống lại với những bài viết trên tờ Le Correspondant và tờ Le Francais. Dầu sao, những tranh luận chống đối bên pháp vẫn dung hòa, ngược lại tại Đức phong trào chống «ơn bất khả ngộ» sôi nổi hơn. Đứng đầu là sử gia Doellinger thuộc đại học Munich. Ngoài ra còn có 30 giáo sư thuộc đại học Koblentz đã gửi 1 lá thư chống đối gửi đến Đức Giám mục thành Trèves. Nhân dịp hội họp tại Fulda, các Đức giám Đức viết văn thư trấn an dư luận và đề nghị việc công bố «ơn bất khả ngộ» trong lúc này cần dè dặt hơn.
- TIẾN TRÌNH CÔNG ĐỒNG.
Công đồng khai mạc ngày 8.12.1869 với sự hiện diện của 793 nghị trên tổng số 1050 người được mời phụ, cộng thêm khoảng 50 viện phụ và bề trên Tổng quyền các dòng tu. Nhìn sơ qua con số, Âu châu vẫn giữ vai trò chủ chốt với 35% là người Ý, 17% là người Pháp; 10% thuộc các nước Áo, Hung Gia Lợi và Đức. Phần còn lại phân chia cho Bắc Mỹ, Gia Nã Đại, Nam Mỹ, Phi châu và châu Đại dương. Ba tuần lễ đầu dành cho việc lập nên năm tiểu ban về: Đức tin, Kỷ luật, Dòng tu, những vấn đề liên quan đến việc truyền giáo và về các Giáo hội Đông phương. Sau đó, các nghị phụ bắt đầu nghiên cứu bản lược đồ về hiến chế tín lý đã được soạn sẵn. Bản văn bị chỉ trích quá chuyên môn và không thực tế áp dụng vào vấn đề mục vụ. Cuối cùng văn bản bị trao lại cho các tiểu ban viết lại.
- Hiến chế De Fide Catholica (Đức Tin Công Giáo).
Ngày 24.4.1870, hiến chế tín lý Dei Fius (Con Thiên Chúa) thuộc lược đồ về Đức Tin Công Giáo được toàn thể nghị phụ biểu quyết. Bản văn được chia ra thành bốn chương và được thêm vào đó bằng 18 qui tắc khai trừ mọi lạc giáo đến từ thuyết duy tân. Bốn chương chính mang đề tài như: sự hiện hữu và nhận thức về một Thiên Chúa có Ngôi Vị; cần thiết của sự Mạc Khải; bản chất của đức tin; mối tương quan giữa đức tin và lý trí. Đọc qua bốn chương này, chúng ta thấy Công đồng lên án sai lầm của những chủ thuyết ra đời từ thời Công đồng Trente như Phiếm Thần, Vô Thần và Duy lý. Sau đó, Công đồng trình bày đức tin Công giáo về sự Mạc Khải. Con người qua lý trí có thể nhận biết sự hiện hữu của Thiên Chúa, thế nhưng họ cần sự Mạc khải để biết Thiên Chúa và chương trình về sự sáng tạo. Đức tin và lý trí đều đến từ Thiên Chúa, và chỉ mình Giáo hội mới có quyền chú giải Kinh Thánh.
- Lược đồ «De Ecclesia Christi « (Giáo hội Chúa Kitô).
Lược đồ Giáo hội Chúa Kitô được trao cho các nghị phụ vào ngày 21.1.1870, gồm tất cả 15 chương: Chương 1-10: Giáo thuyết về Giáo hội; chương 11-12: Quyền tối thượng của ĐGH; chương 13-15: Liên lạc giữa Giáo hội và Nhà nước. Một số nghị phụ như Giám mục Manning thành Westminster, Senestrey thành Ratisbonne và Dechamps thành Malines đã xin được 450 chữ ký của các nghị phụ yêu cầu Đức Piô IX thêm vào bản lược đồ 1 chương về ơn bất khả ngộ. Nhóm thiểu số chống lại cũng xin được 136. Ngày 6.3.1870, Đức Piô IX chấp nhận cho thêm vào lược đồ 1 chương về «ơn bất khả ngộ». Vấn đề này đã chia nghị trường ra thành hai phe như đã xảy ra thời tiền Công đồng. Tất cả nghị phụ đều đồng ý quyền tối thượng bất khả nghộ của tất cả các Giám mục cùng hiệp nhất với ĐGH; thế nhưng vấn đề đặt ra là một mình ĐGH có thể được quyền bất khả ngộ không? Đại đa số nghị phụ chấp nhận ĐGH được ơn bất khả ngộ, nhưng phe thiểu số gồm những nhân vật quan trọng như các Đức giám mục Đức: Hefele giáo phận Rottenburg, Von Ketteler giáo phận Mayence, Scheer, Melchers; Áo: Hồng y Rauscher, tổng giám mục thành Vienne; Pháp: Dupanloup giáo phận Orléans, Maret giáo sư đại học Sorbonne, Darboy tổng giám mục thành Paris. Nhóm thiểu số cho rằng ĐGH chỉ được đặc ân trên với sự hiệp ý của các Giám mục.
Hai phe tranh luận qua những bài diễn từ với những tu chính làm thay đổi khá nhiều điểm trong bản văn lúc đầu. Cuối cùng vào ngày 13.7.1870, lược đồ Giáo hội Chúa Kitô được đem ra biểu quyết. Văn bản không còn nói đến một mình ĐGH có ơn bất khả ngộ hay cần phải có sự hiệp ý của các Đức Giám mục; nhưng Giáo hội có ơn bất khả ngộ khi ĐGH nhân danh Giáo hội tuyên bố «ex cathedra» (từ trên ngai) tức là khi nói ĐGH sử dụng quyền giáo huấn tối cao trong Giáo Hội. Văn bản nhận được 451 phiếu thuận trên tổng số 601, 88 không thuận và 62 thuận với điều kiện. Ngoài ra, có khoảng 50 nghị phụ không đến biểu quyết vì không muốn bày tỏ sự bất đồng trước mặt ĐGH. Vào ngày 18.7.1870, trong phiên họp khoáng đại lần thứ tư, các nghị phụ biểu quyết văn bản của ngày 13.7 với một vài thay đổi. Hiến chế Pastor aeternus về ơn bất khả ngộ ra đời với 533 phiếu thuận và có 2 phiếu chống. Trong số 114 nghị phụ vắng mặt hôm đó, có 62 vị rời Rôma trước giờ đầu phiếu.
Hiến chế gồm bốn chương nói về nguồn gốc, sự liên tục, ý nghĩa quyền tối thượng và ơn bất ngộ của ĐGH. Lời mở đầu nói về Chúa Kitô thiết lập Giáo hội, sứ mạng của các Tông đồ và vai trò đặc biệt của thánh Phêrô được chọn lựa để hiệp nhất các mục tử và đàn chiên. Chương 3 nói về quyền tối thượng của ngai Giáo hoàng, Công đồng ghi: «Chúng tôi canh tân lại quyết định của Công đồng chung Florenz, theo đó mọi tín hữu phải tin rằng… ĐGH ở Rôma chính là người kế vị Vị tông đồ trưởng thánh thiện là Phêrô, người đại diện chân thật của Chúa Kitô và là đầu của cả Giáo hội, là cha là thầy của mọi Kitô hữu. Trong thánh Phêrô, qua Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Ngài đã được trao toàn quyền để chăn dắt, cai trị và quản lý toàn thể Giáo hội…».
Hiến chế cũng xác định như tín điều được mạc khải: «Khi ĐGH tuyên bố Ex cathedra, có nghĩa là ngài sử dụng chức vụ là chủ chăn và thầy dạy mọi tín hữu và nhờ vào quyền chức vụ tông đồ tối cao, quyết định một cách dứt khoát một giáo thuyết về đức tin hay luân lý cho cả Giáo hội phải tuân giữ, ngài được hưởng quyền bất khả ngộ nhờ vào sự hỗ trợ thiên linh đã được hứa ban trong thánh Phêrô; với quyền đó chính Đấng Cứu Độ thiên linh đã muốn củng cố cho Giáo hội của mình trong việc xác định tối hậu một giáo thuyết về đối tượng đức tin hay luân lý. Chính vì thế những xác định tối hậu của ĐGH qua chính ngài, chứ không qua sự thỏa thuận của Giáo hội mà bất biến».
Ngoài ra, hiến chế Pastor aeternus còn ghi những điều kiện khi ĐGH sử dụng quyền bất khả ngộ:
- ĐGH tuyên bố Ex cathedra có nghĩa là như mục tử và tiến sĩ tối cao chứ không liên hệ đến con người, hay chỉ là Giám mục thành Rôma.
- Với quyền kế vị thánh Phêrô đứng đầu Giáo hội, nên ngài được sự bảo trợ thiên linh.
- Đối tượng phải là một giáo thuyết về đức tin hay luân lý.
- Giáo thuyết đó phải được công bố cách rõ rệt và ràng buộc cho toàn thể Giáo hội.
Sau khi vừa biểu quyết hiến chế Pastor aeternus, một số nghị phụ vội vàng rời bỏ thành Rôma vì chiến tranh giữa Pháp và Đức bùng nổ vào ngày 19.7.1870. Hoàng đế Nã Phá Luân thứ III rút hết binh sĩ đang bảo vệ tòa thánh Rôma. Ngày 4.9.1870, Nã Phá Luân bị truất phế, và quân Ý với Garibaldi vào chiếm thành Rôma vào ngày 20.9.1870. Rôma trở thành thủ đô của vương quốc Ý. Ngày 20.10.1870, Đức Piô công bố đình hoãn Công đồng chung tới khi thời thế thuận lợi.
- THỜI HẬU CÔNG ĐỒNG.
Công đồng Vatican I vẫn được Giáo hội Công giáo nhìn nhận như Công đồng chung lần thứ 20. Dù trải qua, một thời tranh luận gay go, nhưng phần lớn quyết định của Công đồng đều được chấp nhận sau đó. Các giám mục Pháp vắng mặt không biểu quyết như Giám mục Dupanloup gửi thư chấp nhận hiến chế ngày 10.2.1871, và tổng giám mục thành Paris Darboy chấp nhận ngày 1.3.1871. Các giám mục Đức cho phổ biến hiến chế nhanh chóng dù các ngài sợ có phản ứng đến từ phía các học viện. Hàng giám mục Đức và Áo- Hung đều chấp thuận quyết nghị Công đồng. Riêng một thiểu số người vẫn còn theo giáo sư Dollinger hội họp nhau lại tại thành Munich quyết định ly khai Giáo hội Công giáo thành lập một Giáo hội độc lập mang tên «cựu Công giáo».
Lm. Thêôphilê
GIÁO HỘI THỜI TRÙNG HƯNG VÀ CHỦ NGHĨA TỰ DO 1815-1914
VietCatholic News(12/10/2001).
1- DI SẢN CÁCH MẠNG PHÁP 1789.
Những tư tưởng cách mạng Pháp 1789 và bản Thỏa ước 1801 của Napoléon với phong trào “bài giáo sĩ” và chính sách “chính trị và tôn giáo phân ly”, đã biến chuyển tận gốc rễ Giáo hội công giáo ở Pháp và các nước lân cận.
Cách mạng đã tước đi các đặc quyền của Giáo hội về phần đời. Các tài sản của Giáo hội bị quốc hữu hóa. Quyền hành giáo hoàng bị hạn chế trong nước Tòa thánh, Giáo hội mất quyền làm chủ trong ngành giáo dục. Luật Pháp công nhận quyền tự do phượng tự, quyền tự do gia nhập tôn giáo hay không gia nhập… Bản Dân hiến giáo sĩ 1790 ra đời làm hàng ngàn giám mục, linh mục bị bắt giam, bị trục xuất hay bị giết chết, các giáo sĩ phải làm việc lén lút.
Trước tình hình biến chuyển do tư tưởng cách mạng, các tín hữu công giáo chia thành hai phe: một số các tín hữu bình dân coi Cách mạng như công trình của ma quỷ làm hại Giáo hội. Họ ước mơ một cuộc phục hưng xã hội và tôn giáo như thời huy hoàng của Vương quyền. Trái lại phe trí thức thì cho rằng những nguyên tắc cách mạng 1789 có thể hòa hợp với tư tưởng Phúc âm: Giáo hội được thanh luyện và trở về sứ mạng chính yếu của mình, hàng giáo sĩ xứng đáng hơn trong việc mục vụ của mình, và các tín hữu gắn bó hơn với Giáo hoàng Rôma…
2- THỜI TRÙNG HƯNG VÀ CHỦ NGHĨA TỰ DO.
2.1- Thời Trùng hưng.
Sau khi đánh bại Napoléon I tại Waterloo (Bỉ) năm 1814, các quốc gia họp hội nghị ở Vienne (Áo) (1814-1815) với ý định trùng hưng lại Âu châu như trước cách mạng 1789 theo nguyên tắc vương quyền. Ngày 26.9.1815, ba ông vua thuộc ba lối tuyên tín kitô giáo Chính thống (Nước Nga), Tin lành (nước Phổ) và Công giáo (nước Áo) cùng ra bản Tuyên ngôn thành lập Liên minh thánh (Sainte Alliance), nhân danh Ba Ngôi chí thánh bất khả phân để liên kết hỗ trợ nhau trong việc tổ chức cai trị nhà nước theo nguyên tắc kitô giáo. Thời Trùng hưng là thời chính sách “Ngai vàng được liên kết với Đền thờ trong việc cai trị quốc gia”đề cao những giá trị tôn giáo, luân lý, phẩm trật trong sinh hoạt chính trị xã hội. Như ông Joseph de Maistre tuyên bố:”Cần phải trở lại chế độ quân chủ theo luật Chúa và nhìn nhận vị giáo hoàng là người bảo vệ trật tự chung của nhà nước”. Như thế các nguyên tắc cách mạng “tự do, bình đẳng và huynh đệ” bị bãi bỏ vì con người có bổn phận chớ không có quyền lợi trong đời sống xã hội.
Giáo hội thời Trùng hưng có ý định kitô hoá lại lớp bình dân đã bị lung lạc dưới thời Cách mạng: lập lại tiểu chủng viện, tăng số các linh mục (sĩ số kỷ lục tân chức linh mục năm 1829 là 2357), lập thêm nhiều họ đạo (27000 họ đạo năm 1825): hình ảnh cha sở họ đạo Ars, linh mục Jean Marie Vianney, là điển hình sáng chói nhất thời đại này.
Các Hội dòng phát triển và hoạt động mạnh mẽ đem lại nhiều ích lợi cho Giáo hội. Dòng Tên được tái lập vào năm 1814 dưới thời Đức Piô VII. Các Hội dòng đáp ứng nhu cầu về giáo dục, chăm sóc người nghèo khổ bệnh tật, cũng có rất nhiều Hiệp hội nhân đức và từ thiện phát sinh trong giai đoạn này: Hội Truyền bá Đức tin (1822), Hội Chuỗi Mân Côi sống (1826), hội thánh Vinh sơn Phaolô (1833)… Tinh thần tu đức theo đường hướng thiêng liêng của thánh Inhaxiô, Đaminh, Phanxicô, lòng sùng kính Thánh Tâm, Đức Mẹ Maria (có gần 7000 hội dòng mang tên Đức Mẹ Maria). Việc trùng hưng tôn giáo tác động ở giới bình dân bằng các việc sống đạo: Rửa tội, Rước lễ, Hôn phối, An táng tôn giáo, tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, Chầu Thánh Thể. Lòng tôn kính Đức Mẹ Maria được cổ võ qua các việc: Chuỗi Mân Côi sống (1826), Ảnh phép lạ (1830), Hiệp hội Đức Bà chiến thắng (1837), Đức Mẹ hiện ra ở Salette (1846), Tuyên bố tín điều Đức Mẹ vô nhiễm (1854), Đức Mẹ hiện ra ở Lộ đức (1858), ở Pontmain (1871)…
2.2- Chủ nghĩa tự do.
Nhưng giới “trưởng giả tự do” chống lại việc trùng hưng tôn giáo trong việc tái lập vương quyền. Họ ủng hộ đường lối cách mạng 1789. “Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ” như luồng gió mới phát sinh ra nhiều phong trào dân chủ độc lập tự do nơi các quốc gia Âu châu. Các cuộc cách mạng 1830 và 1848 bùng nổ và thay đổi đời sống chính trị xã hội tôn giáo: tinh thần dân chủ được thể hiện qua các cuộc bầu cử Quốc hội, việc thành lập Hiến Pháp, các quyền tự do về tôn giáo, giáo dục, hội họp, in ấn, lập hội đoàn… được đề cao. Những phong trào tự do dân chủ gây nhiều khó khăn cho Giáo hội: “tôn giáo trở về trong khuôn viên nhà thờ, chính trị và tôn giáo phân ly, tinh thần bài giáo sĩ, các giám mục linh mục bị giết chết hay tù đày, tài sản giáo hội nhất là các học đường, các tu viện… đều bị tịch thâu.
Xuyên qua các nước Âu châu.
- Tại Pháp.
Cách mạng 1830 bùng nổ lật đổ vua Charles X vì ông bãi bỏ tự do báo chí. Giáo hội bị nhiều khó khăn: Phong trào chống giáo sĩ được công khai hóa, tòa giám mục Paris bị bao vây, linh mục mặc áo dòng bị tấn công, phá hủy các thánh giá, nhiều thánh đường, tu viện bị đập phá…
– Linh mục Lamennais và báo Avenir.
Félicité de Lamennais (1782-1854) sinh ra tại Saint Malo, lớn lên dưới thời Cách mạng, tự học và tìm hiểu thêm qua sách vở. Cùng với anh mình là linh mục Jean Marie, ông cộng tác vào việc tái thiết Giáo hội Pháp dưới thời “đế chế” và “trùng hưng”. Sau khi thụ phong linh mục năm 1816, Lamennais xả thân vào công tác “ngòi bút” và báo chí. Ông trở nên danh tiếng với bài “Bàn về sự lãnh đạm”(Essai sur l”indifférence) với ý định cản ngăn người đương thời theo chủ thuyết vô thần. Ông chủ trương chính phủ phải đủ cứng rắn để tái lập quyền hành và vai trò của Giáo hội. Cùng với Jean Marie, ông muốn canh tân tôn giáo trong việc giáo dục giới trẻ bằng việc sáng lập dòng “Con cái Đấng quan phòng” (Filles de la Providence) và Sư huynh Giáo dục (Frères de l’Instruction chrétienne); và cả việc đào tạo hàng giáo sĩ với hội dòng thánh Phêrô (Congrégation de Saint Pierre).
Một số biện pháp của chính phủ, như điều lệ năm 1828, hạn chế quyền tự do của Giáo hội làm ông suy nghĩ và chủ trương: Giáo hội và Nhà nước cần phân biệt bổn phận và quyền hạn mỗi bên. Giáo hội nghèo (từ chối việc trợ giúp của chính phủ) sẽ được tự do trong chức vụ của mình. Nên đặt tin tưởng vào vua phần đời và giáo hoàng vào phần đạo. …
Cách mạng tháng 7 năm 1830 là dịp tốt cho Lamennais với tư tưởng: thế giới được canh tân bởi Tự do và Tự do được canh tân bởi Thiên Chúa.
Giáo sĩ Lamennais cùng với các bạn: Lacordaire, Montalembert, de Coux, Gerbet… sáng lập báo Avenir (15.10.1830), cổ võ các quyền tự do con người: tự do lương tâm và tự do phượng tự, phân ly Giáo hội và Nhà nước, quyền tự do báo chí, tự do lập hội, phân quyền trong việc quản trị, quyền phổ thông đầu phiếu, chống án tử hình… Cùng với ông De Coux, Lamennais mạnh mẽ tố cáo việc bóc lột giới thợ thuyền và đề nghị tổ chức mới về kinh tế dựa trên nền tảng dân chủ chính trị.
Lập trường của báo Avenir bị hàng giáo phẩm Pháp chống đối, kết án và kiện đến Tòa thánh. ĐGH Grégorio XVI phủ nhận lập trường báo Avenir qua bức thơ gởi hàng giám mục Ba Lan năm 1832 và kết án qua thông điệp Mirari vos(15.8.1834. Nhưng giáo sĩ Lamennais vẫn trung thành với chủ trương của mình, vào tháng tư năm 1834, ông xuất bản bài “Lời tự trần của một tín hữu”(Paroles d’un croyant) nói lên tâm tình của ông: sự ghét bỏ các hình thức độc tài, sự tin tưởng nơi dân chúng… Năm 1848, ông được bầu làm dân biểu và sáng lập tờ báo “Le Peuple Constituant”. Ông qua đời ngày 27.2.1854.
Cách mạng tháng 2 năm 1848 mở đầu nền đệ nhị cộng hòa được đa số giáo sĩ hưởng ứng và ủng hộ: “Đức Kitô là Vị cộng hòa của mọi thời đại đã chịu chết trên cây tự do vì anh chị em”. Tháng 8 cùng năm, trong cuộc nổi dậy của dân chúng ở Paris, Đức Giám mục Affre bị bắn chết khi ngài kêu gọi sự hòa giải. Quốc trưởng Bonaparte (1848-1852) lên ngôi tái lập vương quyền với danh hiệu hoàng đế Napoléon III (1852-1870). Ông khôn khéo nhờ các giáo sĩ thoa dịu lòng dân và ban hành đạo luật Falloux 1850 dành cho Giáo hội quyền ưu tiên trong nghành giáo dục.
- Tại Tây ban nha.
Vua Joseph, anh của hoàng đế Pháp Napoléon, cai trị nước Tây ban nha từ năm 1808-1813, ban hành Hiến Pháp Cadiz 1812: bãi bỏ Tòa Tra khảo và nhiều tu viện. Chiến tranh dành độc lập khởi sự cai trị nước Pháp đưa vua Fernando VII lên ngôi và trùng hưng Giáo hội Tây ban nha vào những năm (1814-1833). Vào những năm 1820, các phong trào tự do nổi dậy chiếm đoạt tài sản Giáo hội, giải tán nhiều tu viện, bắt ép các giáo sĩ tuyên thệ trung thành với Hiến Pháp mới… Vua Louis XVIII đem quân sang để tái lập chế độ quân chủ. Nữ hoàng Isabelle lên ngôi. Các vua xứ Basque và Aragon ủng hộ em trai của Ferdinando là Don Carlos gây ra cuộc nội chiến… Các tu viện bị giải tán, các giáo sĩ bị bắt bớ tù đày. Cả nước Tây ban nha chỉ còn sáu tòa giám mục vào năm 1841. Tuy nhiên, vào năm 1851, nước Tây ban nha ký thỏa ước với Tòa thánh và công nhận công giáo là đạo chính thức của quốc gia tây ban nha.
- Tại Bồ đào nha.
Khi vua Juan VI qua đời, Don Miguel lên ngôi (1826-1834), Bồ đào nha xảy ra nội chiến: Don Pedro, đang làm vua xứ Brasil, muốn dành ngôi cho con gái mình nên gây ra nội loạn. Giới công giáo ủng hộ Don Miguel, nhưng ông bị lật đổ: tài sản Giáo hội bị tịch thu, nhiều tu viện bị đóng cửa, nhiều giáo sĩ bị bắt bớ. Tình hình chỉ trở nên lắng dịu hơn từ năm 1840.
- Tại Đức và Áo.
Hội nghị Vienne giải tán Liên bang Rhénanie do Napoléon sáng lập (1806-1815) và thay bằng Liên bang Đức gồm 39 nước cả Phổ và Áo. Nguyên tắc “miền nào đạo nấy” mất hiệu lực: các tín hữu công giáo và tin lành sống chung với nhau. Các vùng tin lành Wuertenberg, Hesse, Nassau tuyên bố bản Dân hiến giáo sĩ. Theo đạo luật 1803, nước Phổ buộc con cái phải theo đạo người cha trong hôn nhân khác đạo. Một số các giám mục phản đối đạo luật nầy bị bắt giam từ năm 1825. Nước Phổ ban hành đạo luật tự do tôn giáo vào năm 1848. Riêng mình Baviere (Bayern) ký hiệp ước với Tòa thánh vào năm 1817, vua Ludwig (1825-1848) biến thành phố Mušnchen thành một trung tâm công giáo lớn của nước Đức. Giáo sư sử Joseph Gorres cùng với nhà tư tưởng công giáo khác là Dollinger-Tre, Johann Mošhler tại Mušnchen xuất bản tác phẩm danh tiếng “Sự hiệp nhất trong Giáo hội” với lối nhìn rộng rãi về Giáo hội không chỉ là phẩm trật mà thôi, nhưng chính là sự hiệp nhất sâu xa bên trong của Chúa Thánh thần.
Tại Vienne (Áo), giáo sĩ dòng Chúa Cứu thế Hofbauer (+1820) hoạt động cùng nhà trí thức Clémens Bruno, nhà thần học Gušnther, triết gia Schlegel, nhà chính trị Mušller để chấn hưng đời sống tôn giáo. Dưới thời thủ tướng Metternich (1809-1848), Giáo hội được bảo vệ nhưng bị cấm liên lạc với giáo hoàng Rôma. Chỉ đến năm 1849, Hiến Pháp mới nhìn nhận tự do tôn giáo.
- Tại Bỉ.
Vào năm 1830, giới công giáo liên minh với nhóm tự do, mặc dù đường lối chính trị nghịch nhau, chống lại quyền cai trị Hòa lan và thành lập quốc gia độc lập dựa trên những nguyên tắc tự do: tự do phượng tự, giáo dục, in ấn, tách biệt đạo đời… Giáo quyền Bỉ xin Tòa thánh làm ngơ trước luật tách biệt đạo đời.
- Tại Ý.
Các giáo sĩ vẫn giữ chức vụ chính yếu, nhưng phong trào bài giáo sĩ do các Hội kín thúc đẩy càng ngày càng bành trướng mạnh. Dân chúng khắp nước Ý đáp ứng mạnh mẽ phong trào đòi thống nhất nước Ý là điều các giáo hoàng không bằng lòng. Năm 1830, khi ĐGH Pio VIII băng hà, các nước thuộc Tòa thánh nổi dậy đòi thống nhất tự do. Đức tân giáo hoàng Grêgoriô XVI nhờ quân đội Áo đến tái lập trật tự (25.3.1831). Ngài bị coi là đối thủ của tự do dân chủ. Đức viện phụ Gioberti (+1852) cổ động dạng thức Liên bang cho các nước tòa thánh dưới quyền cai trị của giáo hoàng Rôma: theo Hiến Pháp là Hạ viện do dân bầu còn Thượng viện là Hồng y đoàn. Người dân Ý thất vọng đối với ĐGH Piô IX vì ngài từ chối tham gia thánh chiến của dân Ý chống người Áo. Tháng 11 năm 1848, chủ tịch nội các Rossi bị ám sát đúng ngày khai mạc Hạ viện dân biểu. Dân chúng nổi dậy bao vây điện Quirinal khiến ĐGH Piô IX chạy trốn về Gaeta. Một năm sau, quân đội Pháp của Napoléon III tái chiếm Rôma, đưa ngài trở về Rôma và tái lập chế độ chuyên chế như xưa.
Với phong trào tự do dân chủ và được sự ủng hộ của dân chúng Ý, vua xứ Piémont, Victor Emmanuel, cùng với thủ tướng De Cavour chinh phục và thống nhất nước Ý. Tháng 3 năm 1861, Victor Emmanuel chiếm 2/3 các nước tòa thánh và tuyên bố làm vua nước Ý. Quân đội Pháp muốn ở lại bảo vệ Rôma và các nước tòa thánh còn lại, nhưng vì đang lâm chiến với Đức nên phải rút về. Thừa dịp này, vào tháng 6.1871, Victor Emmanuel chiếm luôn Rôma và đặt làm thủ đô nước Ý. Từ năm 1861 đến 1929 vấn đề nước Tòa thánh sinh ra nhiều rắc rối cho sinh hoạt Giáo hội qua các triều đại các vị giáo hoàng.
- Tại Ái nhĩ lan.
Ái nhĩ lan là nước đa số công giáo và từ lâu bị buộc tài trợ cho nước Anh; nhất là khi vua nước Anh là George III ban hành đạo luật Thống nhất (1800) sáp nhập Ái nhĩ lan, người công giáo hầu như không có quyền chính trị gì nữa. Luật sư O’Connel tổ chức nhiều cuộc đấu tranh biểu tình đòi hỏi… và sau cùng dành lại được quyền bình đẳng trong việc bầu cử và ứng cử cho người công giáo vào năm 1829.
Giữa thế kỷ XIX, nhờ số tín hữu công giáo di tản đông, nên Giáo hội công giáo ở Anh được phục hồi; phần nhờ số tín hữu tăng đến 700.000 và nhất là các nhân vật công giáo rất uy tín: như Đức giám mục Wiseman (+1865), tác giả quyển Fabiola rất danh tiếng, làm viện trưởng đại học Oxford và tỏ ra rất cởi mở với trào lưu trí thức đương thời. Khi tái lập hàng giáo phẩm Anh quốc năm 1850, ngài được đặt làm giám mục Westminster. Ngài giúp người tín hữu ở Anh hiểu biết thêm về Giáo hội lục địa và tăng lòng can đảm phấn khởi cho họ, và cũng chính ngài mở đường cho John Newman gia nhập đạo công giáo. Vốn là mục sư anh giáo, Newman nghiêu cứu các giáo phụ, việc phát triển các tín điều, đặt lại vấn đề nền tảng của Anh giáo với chủ đích canh tân Anh giáo. Năm 1845, mục sư John Newman gia nhập công giáo theo dòng Diễn giảng và vinh thăng hồng y năm 1879. Ông Manning cũng gia nhập đạo công giáo, làm Tổng giám mục kế vị giám mục Wiseman và vinh thăng hồng y năm 1875.
3- GIÁO HỘI GIỮA TRÀO LƯU TÂN TIẾN CỦA THẾ GIỚI.
Trước những phát minh của khoa học và theo trào lưu tư tưởng tự do, giáo lý kitô giáo bị đặt vấn đề. Nhiều người chống lại quan điểm kitô giáo về con người, thế giới và công khai phi bác Thượng đế. Triết học Kant (+1804) xác quyết con người không thể hiểu biết Thượng đế. Thuyết Duy nghiệm của Auguste Comte (+1857) từ chối những gì gọi là siêu nhiên. Thuyết tiến hóa của Lamack (+1829), Darwin (+1882) chối bỏ sự sáng tạo của Thượng đế. Ông Renan qua quyển sách “Cuộc đời Đức Kitô”(1863) chủ trương Đức Giêsu Kitô chỉ là con người mà thôi. Những tiến bộ của khoa học tôn con người lên làm chúa tể vạn vật. Các học thuyết xã hội lại chủ trương “phải triệt hạ” tôn giáo vì tôn giáo cản trở sự tiến bộ khoa học, làm thoái hóa con người; tôn giáo thực là “thuốc phiện ru ngủ con người”.
Trong hoàn cảnh thật khó khăn của Giáo hội đối với phong trào tư tưởng mới về tôn giáo, ngày 8.12.1864 đức Piô IX ban hành hai tài liệu chống lại những sai lầm của xã hội đương thời: thông điệp Quanta cura kết án các chủ nghĩa lý trí, tự do, xã hội… và bản Syllabus kết án 80 điều sai lầm của xã hội tân tiến. Riêng bản Syllabus đã gây nhiều khó hiểu cho giới công giáo tự do và châm biếm mỉa mai trong giới chống tôn giáo.
Đứng trước hoàn cảnh khó khăn và nan giải cho Giáo hội, vừa phải đối phó với giới chống Giáo hội, và nhất là phải đương đầu với chính con cái trong lòng Giáo hội, ĐGH Piô IX đã đi đến quyết định triệu tập công đồng Vatican (1869-1870) để giải quyết các vấn đề khó khăn này. (xin xem bài Vatican I trong số báo nầy)
Trước tình trạng hỗn mang, các tín hữu phản ứng khác nhau: có người tự vệ cách mù quáng bằng cách chống đối, lên án những tiến bộ văn minh khoa học, có người cảm thấy nhu cầu cần phải canh tân Giáo hội bằng cách đọc lại Lời Chúa đúng hơn, cần phải phân biệt đâu là Đức tin Mạc khải, đâu là sứ mạng Thiên Chúa giao phó trong hoàn cảnh xã hội cụ thể mình đang sống.
Tại giáo triều rôma, Đức Lêô XIII (1878-1903) được coi là người cởi mở với những vấn đề mới của xã hội, ngài kêu gọi các tín hữu chấp nhận nền cộng hòa và đấu tranh hợp pháp cho công bình xã hội. Đức Piô X (1903-1914) lo cải tổ đời sống giáo hội, ngài ưu tư đến việc mục vụ: cổ võ rước lễ, canh tân phụng vụ, tổ chức chủng viện, việc công giáo tiến hành. Đức Bênêdictô XV (1914-1922) và đức Piô XI (1922-1939) có công trong việc hòa giải với các quốc gia qua những Thỏa ước. Đã đến thời điểm để mỗi người tín hữu ý thức sự hiện diện mới mẻ của mình trong xã hội mới, và những người chủ trương duy khoa học lý trí thấy rõ sự giới hạn của lý trí, của khoa học trước vấn đề bao la vĩ đại của vũ trụ và của con người.
Giữa thế giới văn minh tân tiến, Giáo hội lại phải đương đầu với vấn đề “tục hóa”. Các chính quyền tách biệt các sinh hoạt con người hằng ngày ra khỏi phạm vi tôn giáo: Cái gì thuộc về tôn giáo hãy trở về nhà thờ, vì vậy, các sinh hoạt tôn giáo bị giới hạn trong nhà thờ. Các công trình xã hội, giáo dục, y tế, hộ tịch đều trực tiếp thuộc về chính quyền. Nói chung, các biện Pháp “tục hóa” khá phũ phàng: tịch thu các tài sản Giáo hội, các phương tiện hoạt động, bắt bớ, cưỡng ép, bôi nhọ tôn giáo. Tuy nhiên, mức độ căng thẳng và diễn biến việc tục hóa khác nhau tùy mỗi quốc gia.
* Tại Ý.
Các nước thuộc quyền giáo hoàng bị chiếm đoạt. Các Giáo hoàng tỏ thái độ phản đối bằng cách từ chối hòa giải với nước Ý và cấm các tín hữu sinh hoạt chính trị, cấm tranh cử và bầu cử. Chính quyền Ý vốn đã chống giáo sĩ nay lại gây thêm nhiều khó khăn cho sinh hoạt tôn giáo: cấm hành hương rước kiệu và tịch biên các cơ sở tôn giáo. Mãi đến năm 1905, một số giáo sĩ (Romolo Murri) tranh đấu để các tín hữu được tham gia đời sống chính trị.
- Tại Đức.
Sau khi chiến thắng Pháp và Áo, đế quốc Đức được thống nhất quanh nước Phổ (1871). Chính phủ Đức do tể tướng Bismark và bộ trưởng Falk phát động “mặt trận văn hóa”(Kulturkampf) chống lại Giáo hội công giáo: kiểm soát học đường, sa thải các giáo sư tu sĩ; ai phản đối đều bị bắt và bị trục xuất. Năm 1878, hàng ngàn giáo xứ bị đóng cửa, và chỉ còn bốn giám mục tại Đức. Cùng năm, hoàng đế Wilhelm bị đảng dân chủ xã hội mưu sát và ĐGH Lêô XIII lên ngôi. Mặt trận văn hóa (Kulturkampf) giảm cường độ và chấm dứt vào năm 1887.
- Tại Áo và Thụy sĩ.
Năm 1874, chiến dịch chống Giáo hội tương tự như Kulturkampf của Đức ra đời: hạn chế liên lạc với Rôma, tục hóa học đường, kiểm soát giáo dục, đảm trách vấn đề hôn nhân. Tình hình chỉ thay đổi thuận dần dưới thời ĐGH Lêô XIII. Đại học công giáo Fribourg được thiết lập năm 1889.
- Tại Pháp.
Thời đệ III Cộng hòa (1875-1936), lúc ban đầu có vẻ thân thiện với Giáo hội, nhưng dần dần quốc hội sang tay đảng cộng hòa là đảng chống Giáo hội, vì họ cho rằng Giáo hội cấu kết với nền quân chủ và là thứ tôn giáo ngu dân cần loại bỏ. Chính phủ Pháp gây nhiều khó khăn cho Giáo hội vì “kẻ thù chính là hàng giáo sĩ”: đại học công giáo mất quyền cấp văn bằng (1879), cấm các dòng tu mở trường học, giải tán 261 tu viện, cấm dạy giáo lý ở trường học, bãi bỏ ngày nghỉ chúa nhật, được phép ly dị (1884). Từ năm 1901-1903, chính phủ Rousseau ra nhiều đạo luật “bắt đạo”: tịch thu các tu viện, đóng cửa gần 10.000 tư thục công giáo, buộc các giáo sĩ hoàn tục, kiểm soát các tín hữu. Năm 1905, chính phủ Pháp ra đạo luật “phân ly” bắt trao các cơ sở công giáo cho “Hiệp hội các tôn giáo” quản trị.
Trước tình trạng chống công giáo, Giáo hội mất đi các phương tiện hoạt động mục vụ và trở nên nghèo hẳn đi. Giáo hội Pháp phải tìm ra những giải pháp để đáp ứng hoàn cảnh khó khăn: các tín hữu phải hy sinh đóng góp để mở các trường tư (năm 1911, Giáo hội chiếm 35% cơ sở giáo dục và gần 50% số học sinh trung học), cổ võ các giáo lý viên tự nguyện, mở các lớp giáo lý vào ngày nghỉ học, hy sinh cộng tác vào các việc phượng tự. Tờ báo La Croix là cơ quan thông tin nghị luận và minh định lập trường Giáo hội trong xã hội tục hóa. Đạo luật “phân ly” Giáo hội và Nhà nước Pháp (1905) giúp Giáo hội không bị lệ thuộc các luật “hành chánh” thế quyền (từ thời Napolêon), Giáo hội được tự do họp bàn về mục vụ, lập các họ đạo mới và nhất là gắn bó hợp nhất với Giáo hoàng hơn.
- Tại Bỉ và Hòa lan.
Có những xung đột về trường học, nhưng giới công giáo đứng ra mở trường tư công giáo; rồi dần dần tham gia vào hoạt động chính trị, ứng cử vào quốc hội để cải thiện pháp chế học đường như trợ cấp chính phủ cho các trường tư công giáo.
- Tại Tây ban nha và Bồ đào nha.
Các cuộc xung đột tôn giáo nhiều khi biến thành bạo động đổ máu.
Mặc dầu Tây ban nha coi Công giáo là quốc giáo, nhưng vào những năm thời cộng hòa (1873-1875, 1909-1912) đã xảy ra nhiều vụ thảm sát giáo sĩ, cướp phá các tu viện… gây nhiều thiệt hại cho Giáo hội.
Sau khi lật đổ vua Manuel (1810), chính phủ cộng hòa Bồ đào nha tuyên bố phân ly với Giáo hội, chống các giáo sĩ, các hội dòng và cắt đứt ngoại giao với Tòa thánh Vatican.
4- ĐƯỜNG HƯỚNG GIÁO HỘI GIỮA XÃ HỘI TỤC HÓA.
4.1- Những giải Pháp tạm thời
Từ giữa thế kỷ 19, Giáo hội công giáo bị coi như là thế lực “bóc lột cấu kết với lớp trưởng giả quân chủ”. Vì vậy, cần phải loại bỏ Giáo hội ra khỏi đời sống xã hội, như Ông Proudhon đã từng tuyên bố: “Tư hữu là ăn cắp, Thiên Chúa là sự Ác. Phải thay thế bằng ý niệm công bình”.
Trước những lời kết án bài trừ Giáo hội, một số tín hữu đã ý thức vai trò của mình trong xã hội, và đã dần dần tìm ra một hướng đi cho Giáo hội trong xã hội tục hóa.
Ông Buchez, một tín hữu công giáo đã khẳng định trên báo Atelier vào năm 1845: “Điều nhân dân đòi hỏi không phải là món quà bố thí, cứu tế vì thương hại hay bác ái tôn giáo. Nhưng điều nhân dân đòi hỏi là quyền chính đáng của họ cần được nhìn nhận và muốn tham gia vào việc công cộng”.
Vào những năm 1850-1870, giới công giáo quan tâm đến vấn đề xã hội qua những tổ chức lao động mang tính cách bảo trợ ái hữu, và những hội kinh tế mang tính cách từ thiện giúp đỡ. Biến cố Công xã 1871 cho thấy những cách thế tổ chức trên không đáp ứng đủ nhu cầu của giới công nhân. Từ 1870-1890, giới công giáo tổ chức những “câu lạc bộ, nơi mà chủ nhân và thợ thuyền có thể trao đổi với nhau để hiểu biết nhau hơn trong việc làm. Ông Léon Hamel đã cải tổ cơ chế cho giới công nhân trong xưởng của mình, nhưng vẫn mang nặng tinh thần bảo trợ ái hữu. Tại khắp các nước Đức, Ý, Áo, Thụy sĩ, Hoa kỳ… đều có các nhóm hoặc báo chí công giáo xã hội nghiên cứu tìm kiếm những phương thế để đưa ra những tổ chức hoàn bị hơn cho giới công nhân.
4.2- Thông điệp Tân Sự (Rerum Novarum)
Trước nhu cầu cải tổ để thăng tiến và bảo vệ giới công nhân, ngày 15.5.1891 đức Lêô XIII đưa ra những nguyên tắc hướng dẫn về vấn đề xã hội trong thông điệp “Tân sự”( Rerum Novarum), ngài kết án chủ trương tự do vô độ về kinh tế, yêu cầu các chính quyền can thiệp trong việc phân phối hoa lợi và tổ chức lao động xí nghiệp như: số giờ làm việc của công nhân, quyền nghỉ ngơi trong tuần, lương bổng tương xứng… Ngài cổ võ tổ chức các Liên đoàn chủ thợ để trao đổi nguyện vọng phải lẽ của đôi bên và chấp nhận các Công đoàn để đòi hỏi quyền lợi chính đáng của công nhân.
Thế là các liên đoàn, các công đoàn mọc lên trong các hãng xưởng ở các nước. Riêng tại Pháp, từ năm 1904 những tuần lễ xã hội được tổ chức nhiều nơi để học hỏi nghiên cứu các vấn đề xã hội dưới ánh sáng Tin mừng. Đáng nói là phong trào Thanh Lao Công do cha Cardijn sáng lập được giới trẻ công giáo khắp nơi hưởng ứng nồng nhiệt. Phương Pháp của phong trào dựa trên ba giai đoạn: Nhìn xem, Xét đoán, Thi hành với mục đích cổ võ giới công nhân chủ động nghiên cứu tìm kiếm những phương thế hữu hiệu nhất để thực hiện thực tế.
Bức Thông điệp này đã thổi một luồng gió mới thúc đẩy giới công giáo không còn khép mình lẩn tránh vào quá khứ, nhưng dấn thân tranh đấu cho quyền lợi công nhân bằng những hoạt động chính trị, xã hội trong các cộng đoàn công nhân.
———————
Học thuyết xã hội công giáo qua thông điệp “Tân Sự”( Rerum Novarum) của ĐGH Lêo XIII.
Vào thời Đức Lêô XIII, người ta cho rằng nền văn minh kỹ thuật hiện đại đã tạo nên một hố sâu ngăn cách và gạt bỏ Giáo hội ra khỏi thế giới trên đà biến chuyển. Nhưng bằng cách chứng minh của mình, Đức Lêô XIII đã cho thấy: tất cả những phân ly giữa tự nhiên và ơn thánh, giữa thế giới hữu hình và thế giới vĩnh cữu chỉ đưa đến sự hủy diệt các giá trị nhân bản của con người.
Phải nói rằng Đức Lêô XIII đã có công rất lớn trong việc tái lập mối giây liên lạc giữa Giáo hội và thế giới văn minh kỹ thuật này.
Ngày công bố thông điệp Tân Sự (Rerum Novarum-15.5.1891) đánh dấu ngày quan trọng không những cho giới công nhân thợ thuyền mà thôi nhưng cho cả Giáo hội công giáo và nhân loại. Thông điệp Tân Sự được gọi là “Hiến chương căn bản cho việc tái thiết kinh tế xã hội cho thế giới ngày nay.”( M.M. số 26).
Với thông điệp Tân Sự, Đức Lêo XIII xứng danh là “vị giáo hoàng của giới công nhân thợ thuyền”.
Để hiểu biết tầm quan trọng của thông điệp Tân Sự, chúng ta cần phải biết rõ thời điểm lúc đó là thời điểm của phong trào “chủ nghĩa tự do kinh tế chính trị”, với chủ trương con người hoàn toàn làm chủ vận mạng của mình và vận mạng thế giới. Sự tiến bộ văn minh kỹ thuật đã làm cho nền kinh tế phát triển tốt, đem lại sự giàu có của cải. Nhưng với chủ trương tự do phân phát huê lợi đã gây nên nhiều bất công xã hội cho giới công nhân: “giới thợ thuyền bị bỏ rơi và không quyền biện hộ, họ bị giới chủ nhân bóc lột cách vô nhân đạo”.
Đứng trước tình hình này, chủ nghĩa tự do kinh tế tỏ ra bất lực để giải quyết vấn đề; chủ nghĩa xã hội hợp tác xã còn tệ hại hơn, và có thể sẽ đưa đến khủng hoảng trầm trọng hơn nữa.
Trước thảm cảnh của giới thợ thuyền bị bóc lột, ĐGH Lêô XIII đưa ra nguyên tắc căn bản học thuyết công giáo qua thông điệp Tân Sự (Rerum Novarum). Thông điệp Tân Sự phác họa hoàn cảnh đáng thương của giới công nhân thợ thuyền vào thế kỷ XIX, và đưa ra những giải Pháp như là sứ mạng của Giáo hội:
1- Soi sáng những nguyên tắc xã hội công giáo, huấn luyện lương tâm ý thức vấn đề và khử trừ những lạm dụng, đoán trước những nhu cầu. Thông điệp đòi hỏi quyền can thiệp của nhà nước như là một bổn phận cần thiết. Nhà nước phải gìn giữ và bảo vệ tài sản chung, cần chăm sóc đặc biệt giới nghèo khổ bị hiếp đáp.
2- Thông điệp vạch ra chương trình táo bạo về kinh tế xã hội mở đường cho việc soạn thảo bản quy luật xã hội của giới công nhân: quyền tư hữu, quyền đình công, quyền nghỉ ngày chúa nhật, số giờ làm việc, lương bổng và quỹ tiết kiệm công nhân.
3- Giới công nhân thợ thuyền phải ý thức và cộng tác trong việc giải quyết vấn đề bằng cách tham gia tích cực vào các hiệp hội công nhân. Thông điệp chỉ đưa ra những chỉ thị chung về các nghiệp đoàn.
Trong việc giải quyết vấn đề công nhân, Thông điệp kêu gọi sự liên kết hoạt động chặt chẽ giữa Giáo hội, Nhà nước và các
Hiệp hội công nhân.
Tóm lại, thông điệp Tân Sự : minh chứng rằng Giáo hội công giáo đã đi vào lòng xã hội, con người và đời sống công nhân thợ thuyền.
– để cáo chung chủ nghĩa tự do kinh tế chính trị (chủ trương nhà nước không can thiệp). Thông điệp Tân Sự đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước trong vấn đề bảo vệ giới công nhân thợ thuyền, soi dẫn đường đi cho các quốc gia văn minh tân tiến sau nầy trong việc ban hành một quy luật về chính sách xã hội.
– trình bày và bênh vực mạnh mẽ quyền sáng lập hội như là luật tự nhiên của con ngưới. Giới công nhân thợ thuyền ý thức tinh thần liên đới trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.
Thời gian qua đã chứng minh sự ích lợi phong phú của thông điệp Tân sự (Rerum Novarum) là đem lại cho giới công nhân thợ thuyền quyền lợi chính đáng trong công bằng xã hội.
Để kỷ niệm giáp 40 năm, đức Piô XI ban hành thông điệp “Năm thứ Bốn mươi” (Quadragesimo Anno năm 1931) quả quyết rằng: “thông điệp Tân Sự của Đức Lêô XIII thật đúng là Hiến chương nền tảng cho tất cả các hoạt động kitô giáo về vấn đề xã hội”.
Lm. Paul ĐÀO
Đời tu thế Kỷ thứ XIX: Phục hưng và chủ nghĩa tự do
VietCatholic News(12/10/2001).
Sau cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, xuất hiện trên khắp thế giới các làn sóng cách mạng tiếp theo. Cách Mạng Pháp xảy ra sau cuộc cách mạng 1776 ở Hoa Kỳ, nhưng Cách Mạng Pháp năm 1789 có ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế vì địa thế nước Pháp ở Âu châu nơi văn minh đang đổi hướng phát và triển mạnh nhất. Cách Mạng Pháp còn ảnh hưởng sâu rộng vì tính cách tranh đấu cho nhân quyền.
Khi Nã Phá Luân lên chấp chính, ông ký thân ước ngày 15.7.1801 đưa lại hoà hoãn giữa Tôn giáo và đế chính Pháp, dù có sự căng thẳng giữa Nã Phá Luân và Đức Piô VII. Cuộc tranh dành ảnh hưởng chỉ chấm dứt khi Nã Phá Luân hoàn toàn thất bại và thoái vị năm 1815. Đức giáo hoàng lấy lại phần đất chủ quyền và các vua chúa nước Nga, Áo và Phổ cùng ký hiệp ước Liên Minh Thánh cam kết cầm quyền theo nguyên tắc Kitô giáo. Họ phục hưng và liên kết Âu châu với giáo triều Rôma.
Trong giáo hội, Phục hưng là tìm trở về thời kỳ trước Cách Mạng 1789 theo Kitô giáo trung cổ với quyền hành vững chãi. Trong cùng chiều hướng, giáo hội dần dà tìm lại khuynh hướng độc tôn đưa đến việc tuyên bố ơn bất khả ngộ của Đức giáo hoàng trong tông huấn Pastor aeternus ở Công đồng Vaticanô I (1869-1870). Chúng ta tìm thấy phục hưng huyền nhiệm và tình cảm, cho dù cuộc tranh cãi với nhóm duy lý Ánh sáng vẫn còn tiếp tục. Cuộc tranh luận với nhóm “Jansénisme” mờ nhạt nhưng tư tưởng tranh luận chuyển qua mặt xã hội khai sinh ra luồng tư tưởng tự do. Trước hết nó là một triết lý chính trị hoàn toàn định đoạt bởi tư tưởng tự do. Sau nó là một triết thuyết xã hội cá thể đưa con người lên trước tập thể. Tư tưởng tự do còn là một lý thuyết kinh tế và sau cùng nó là triết lý về hiểu biết nhìn sự thật như một khám phá của lý trí cá nhân; vị thế triết lý tự do gắn liền với duy lý hiện tại.
Thế kỷ thứ XIX thường được xem như thời đại tôn giáo bị tuột dốc. Trái lại, đây là thời gian dậy men, có muôn vàn cố gắng dưới muôn mặt làm phục hưng tôn giáo sau thời Cách Mạng. Tôn giáo canh tân với nhiều phong trào tỉnh thức làm phát động thực hành thánh lễ trong tôn giáo bình dân. Lòng sùng kính Thánh Thể giữ vai trò quan trọng, và các dòng tu với tinh thần kính Thánh Thể phát triển nhanh chóng. Cung cách mộ đạo như chầu lượt và kiệu Thánh thể được nhiều người tham gia. Các trung tâm hành hương được hưởng ứng như Ars năm 1820, Paray Le Monial 1873… Từ năm 1830 trở đi, phần lớn các trung tâm hành hương đều dâng hiến cho Đức Maria:
– 1830: Đức Mẹ hiện ra với Catherine Labouré ở nguyện đường rue du Bac Paris.
– 1846: Đức Mẹ hiện ra ở núi La Salette.
– 1858: Đức Mẹ hiện ra với Bernadette Soubirous ở Lộ Đức.
– 1871: Đức Mẹ hiện ra ở Pontmain.
Trong khoảng thời gian này nhiều dòng tu mới ra đời. Các dòng xưa cũ phục hưng như dòng Tên năm 1814 bởi Đức Piô VII. Ngoài ra nhiều hình thức đời tu mới được khai sinh và đặc biệt là sự bùng nổ về các dòng nữ. Từ năm 1796 đến 1880, riêng tại Pháp đã phát sinh ra hơn 401 dòng nữ. Giáo hội dựa vào sức mạnh đó làm phát triển đường hướng chính trị chinh phục tôn giáo trong nghành giáo dục, Y tế và thích nghi theo nhu cầu giới trẻ trong xã hội. Các dòng tu phần đông đều tương tựa nhau trong việc đáp lại nhu cầu địa phương và đi truyền giáo ở quốc ngoại là một chiều kích mới. Linh đạo thường dựa vào một linh đạo xưa cũ như linh đạo Phan Sinh, Đa Minh hay I Nhã. Các dòng tìm lại lòng phấn khởi nhưng họ cũng không tránh khỏi các đợt sóng cách mạng mới ở giữa năm 1830 và năm 1848 tại Pháp; với “Kulturkampf” (Mặt trận văn hoá) tại nước Đức và nước Ý. Đời tu lại một lần nữa bị lôi vào cơn lốc cách mạng, bị bãi bỏ, trục xuất nhưng tất cả khó khăn làm tăng thêm sức mạnh trong việc tông đồ.
Từ năm 1800 trở đi, ngoài các dòng nữ còn các dòng nam có thể xếp theo ba loại: Tu hội giáo sĩ, dòng tu đời và dòng giáo sĩ. Vì không thể kể hết các dòng tu, tác giả xin đưa ra ba dòng tiêu biểu trong giai đoạn này: Tu hội các Cha Trắng; dòng tu đời, với tu hội Marianistes và dòng giáo sĩ với hội dòng Thừa Sai tận hiến Đức Mẹ Vô Nhiễm (OMI).
- HỒNG Y CHARLES LAVIGERIE: TU HỘI “PÈRES BLANCS” (CÁC CHA TRẮNG).
Hồng Y Charles Lavigerie (1825-1892) thành lập tu hội “các Cha Trắng” năm 1868 dấn thân cho việc truyền giáo. Nguồn gốc tu hội gắn liền với bối cảnh là sự hiện diện của người Pháp tại xứ Algérie từ năm 1830. Pháp kiều hiện diện với hy vọng đức tin Công giáo có dịp trở lại miền bắc Phi châu. Bối cảnh chính trị tại Pháp với nền quân chủ tháng 7 không thuận lợi cho giáo hội.
Các linh mục người Pháp ở Algérie chỉ làm tuyên úy cho người Âu châu, và chính quyền thuộc địa tìm các giúp đỡ người Hồi với mục đích tìm cách hoà giải dân địa phương. Năm 1838, toà giám mục đầu tiên được thành lập tại thành Alger. Năm 1867, Nã Phá Luân III chấp nhận việc bổ nhiệm Đức cha Charles Lavigerie làm giám mục Alger. Khi về tới giáo phận, ngài phẫn nộ vì không thấy ai lo lắng về tâm linh cho người địa phương. Dù gặp chống đối của thực dân và người Hồi giáo, nhưng ngài bắt đầu mở mang công việc từ thiện, bác ái cho trẻ mồ côi.
Năm 1868, ngài thành lập tu hội linh mục mang mục đích truyền giáo khắp vùng Maghreb. Tu hội thường được gọi là “các Cha Trắng”. Họ nói tiếng Ả-rập, ăn mặc theo y phục địa phương và thành Alger trở nên cửa ngõ đi vào Phi châu.
- GUILLAUME JOSEPH CHAMINADE (1761-1850): DÒNG MARIANISTES.
Guillaume Joseph sinh ngày 8.4.1761 tại Périgueux (miền Trung Pháp). Tại đây người dân có lòng sùng kính Đức Mẹ đặc biệt và là nơi Đức Mẹ nhận tước hiệu Vô Nhiễm Nguyên Tội. Guillaume Joseph theo học tại tỉnh Mussidan và chịu chức linh mục năm 1781.
Từ năm 1791, Cách mạng Pháp đóng cửa các trường Công giáo và đuổi các linh mục chống đối ra khỏi nước. Guillaume Joseph về ngụ tại tỉnh Bordeaux và thi hành chức vụ linh mục một cách lén lút. Năm 1797, chính quyền Cách Mạng tại Bordeaux bắt ngài ly hương ở Saragose bên Tây Ban Nha. Cha Chaminade tới Saragose ngày 11.10.1797 áp ngày lễ kính Đức Bà Del Pilar và ở cho đến năm 1800. Dưới chân Đức Mẹ Del Pilar cha Chaminade mang trực giác muốn thành lập một hội dòng mới.
Khi tình hình chính trị bên Pháp bắt đầu cởi mở cho phép các linh mục hồi hương, cha Chaminade về sống lại tại Bordeaux. Ngài bắt đầu tổ chức một hiệp hội giáo dân với 4 ngành: thanh niên, thanh nữ, các người cha gia đình và một nghành cho phụ nữ mang tên “Các bà cấm phòng” vì họ tụ họp nhau cấm phòng hàng tháng. Nhóm này do cô Marie Thérèse Charlotte de Lamourous điều khiển trước khi cô điều hành đoàn “Công tác nhân từ” thành lập tại Bordeaux cho các cô gái lầm lỡ trước Cách Mạng. Hiệp hội này coi như một hội dòng được gợi hứng từ những hội dòng kính Đức mẹ do các Cha dòng tên khởi xướng hồi thế kỷ thứ XVIII. Họ đặc biệt chú ý sống bình đẳng với nhau và mang mục đích đưa nước Pháp tìm lại Kitô giáo, đưa mọi người về với Chúa Kitô và Thiên Chúa Cha với sự hộ giúp của Đức Maria. Hiệp hội bắt đầu hoạt động ngày 8.12.1800 tại Bordeaux, và ngày 2.2.1801, 12 thành viên đầu tiên gồm 2 giáo sư, 3 sinh viên, 3 nhân viên văn phòng, 1 tu sinh, 1 thợ đóng giầy, 1 thợ kim hoàn và 1 linh mục cùng khấn dòng. Họ dâng lời tôn kính Mẹ Vô nhiễm và nhận ngài làm mẹ giới trẻ. Cha Chaminade ao ước quy tụ mọi thành phần xã hội, và mỗi thành viên có bổn phận làm tông đồ trong môi trường của mình. Năm 1802, hiệp hội quy tụ được hơn 100 thành viên. Khi cha Chaminade được giao phó phụ trách nguyện đường kính thánh Mađalêna, ngài liền lấy nơi đó làm nơi hiệp hội tìm về tụ họp. Năm 1809, hiệp hội bị Nã Phá Luân bãi bỏ và cac hội viên hoạt động âm thầm cho đến khi Nã Phá Luân thoái vị năm 1814.
Song song với công trình của cha Chaminade, có một thanh nữ, Adèle de Batz de Trenquelléon, cũng thành lập mội hội quy tụ các thiếu nữ đạo đức tại thành Agen. Năm 1808, qua trung gian ông Hyacinthe Lafon, cô Adèle liên lạc với cha Chaminade và từ đó hai hiệp hội hoạt động song song nhưng mang cùng chí hướng tông đồ. Năm 1816, một số thiếu nữ thuộc hiệp hội ở Agen muốn trở thành nữ tu nên cha Chaminade và cô Adèle cùng đồng thành lập dòng “Nữ tử Đức Maria Vô Nhiễm” ngày 25.5.1816.
Ngày 1.5.1817, ông Jean Baptiste Lalanne đến tìm cha Chaminade ngỏ ý muốn sống theo chí hướng của ngài và muốn làm tu sĩ theo chiều hướng một hội dòng “giáo dân”. Ngày 2.10.1817, cha Chaminade quy tụ 7 thanh niên trong đó có Lalanne để lập một dòng tu sĩ nhưng có người có thể sau này sẽ thành linh mục. Dòng mang mục đích dấn thân vào việc giáo dục đức tin cho mọi tầng lớp với Đức Maria. Jean Baptiste Lalanne chịu chức linh mục năm 1821. Cộng đoàn đầu tiên lại do một tu sĩ, ông Auguste Perrière, làm bề trên. Dòng “Đức Maria” hay “Marianistes” mang nét đặc trưng gồm giáo sĩ, tu sĩ với quyền hành ngang nhau. Họ cùng làm việc với nhau trong cùng sứ mệnh. Lần đầu tiên trong lịch sử giáo hội, tu sĩ giáo dân không là trợ tá cho các giáo sĩ nhưng họ có quyền quyết định và hoàn thành công việc phổ quát. Dòng “Marianistes” mang nét đặc trưng khác với lời khấn ổn định. Với lời khấn thứ tư này, tu sĩ Marianiste không được đổi dòng và hoàn toàn dâng hiến phục vụ Đức Maria. Họ ký giao ước với ngài trong sứ mệnh tông đồ. Lúc ban đầu, dòng Marianiste còn có lời khấn thứ năm giáo dục về học thuyết và phong hoá Kitô giáo. Khi giáo hội Công giáo cải tổ bộ luật đã bãi bỏ lời khấn này.
- MỘT HỘI DÒNG GIÁO SĨ: THỪA SAI TẬN HIẾN MẸ VÔ NHIỄM (OMI)
Thánh Eugène de Mazenod (1816-1861)
- Tiểu sử: Eugène de Mazenod
- Ly hương (1791-1802) một biến cố ghi sâu vào cuộc đời
Eugène sinh ngày 1.8.1782 tại Aix en Provence. Ông bố tên là Charles Antoine de Mazenod (1745-1820) và mẹ là bà Maria-Rose Joannis (1760-1851). Họ nội thuộc hàng quý tộc và Charles Antoine được bổ làm chánh án cưới một cô gái thuộc hạng tư sản giàu có. Cơn lốc cách mạng khiến gia đình phải sống tha hương bên Ý, ở Turin, sau đến Venise (1794), Naples năm 1797, Palerme năm 1799 và trở về Aix ngày 24.10.1802.
1.1. Ơn gọi
Trong những năm tha hương, giai đoạn ở Venise giúp Eugène khám phá ra ơn gọi. Đó là lời gọi đầu tiên. Eugène cảm nhận ơn gọi là một câu chuyện kéo dài từ thời kỳ ly hương cho đến khi vào chủng viện năm 1808.
Eugène không có một ơn gọi dễ dàng. Con đường tìm hiểu không là con đường thẳng nhưng có những dứt đoạn. Eugène nghe tiếng gọi lần đầu tiên tại Venise qua sự gặp gỡ với linh mục Don Bartolo Zenelli. Chắc chắn Eugène chịu ảnh hưởng của vị linh mục trẻ này. Don Bartolo luôn để ý huấn luyện Eugène trên con đường thiêng liêng.
Một lần nữa Eugène lại trên đường tha hương. Năm 1797, quân Pháp chiếm thành Venise và gia đình chạy sang Naples và Palerme. Tại Palerme, Eugène ý thức thân phận quý tộc của mình. Cậu trở thành một thanh niên và tham gia vào mọi cuộc du hý, tiệc tùng với giới thượng lưu, và lý tưởng làm linh mục đã có phần nào xao lãng. Eugène đòi hỏi tự lập dưới nhiều khía cạnh, không còn có Don Bartolo bên cạnh nữa cho dù họ vẫn liên lạc thư từ với nhau. Qua các thư trả lời, Don Bartolo nhận thấy Eugène đã xa cách ông về địa lý cả tinh thần. Rồi cuối cùng thơ từ ngày càng một vắng hơn. Năm 1801, khi xét lại những cảm tình cảm Eugène trong thời thơ ấu Don Bartolo đề nghị Eugène đi tu. Eugène trả lời lập tức “tôi không còn là một đứa con nít nhưng là một thanh niên”. Trước khi qua đời năm 1802, Don Bartolo một lần nữa cố gắng khơi dậy ơn gọi trong Eugène nhưng tư tưởng này gần như đã hết.
- GIAI ĐOẠN QUYẾT ĐOÁN (1802-1808)
Khi trở về sống ở Aix và Marseille, Eugène rất buồn chán, và không biết có nên quyết định lập gia đình và cũng không tìm thấy được hoàn cảnh nào theo sở thích của mình. Eugène viết rất nhiều thư gởi cho cha mẹ trong giai đoạn này. Những thư này nói lên con đường tìm hiểu ơn gọi trong Eugène.
2.1 Giai đoạn bỡ ngỡ và mất định hướng (1802-1805).
Eugène trở về Pháp do mẹ quyết định chứ thật lòng ông bố và Eugène chưa muốn. Bà Marie Rose Joannis muốn Eugène trở về vì vấn đề tài chánh và bà đã tìm vợ cho Eugène. Thế nhưng cô này qua đời trước khi Eugène về tới Pháp. Eugène cũng rất ý thức sự ly thân của cha mẹ và ông Charles Eugène vẫn thường tâm sự với Eugène những điều đó. Tâm hồn Eugène hoàn toàn tan nát khi phải rời bố về sống tại Marseille. Trước hết là bỡ ngỡ giữa thành Sicile và Marseille. Trên phương diện gia đình, Eugène rời họ nội Mazenod gồm toàn đàn ông về sống bên họ ngoại Joannis gồm toàn đàn bà. Eugène rời giai cấp quý tộc xuống giai cấp tư sản. Vì vậy lúc đầu Eugène sống độc lập.
Với tuổi hai mươi, lẽ ra Eugène phải đi quân dịch và bà Joannis vì lý do tài chánh đã tìm người thay thế Eugène ở thôn quê vì giá cả rẻ hơn tìm một người ở thành thị. Eugène về sống vài tuần ở Marseille và sau đó di chuyển về đất sở hữu của gia đình ở St Laurent du Verdon. Suốt thời gian này Eugène sống cô lập và không biết phải làm gì, Ngài viết thư cho bố than thở buồn bã và chán ngấy cảnh trí St Laurent. Eugène cảm thấy cô đơn như cây “nấm” và năm tháng ở St Laurent dài như năm thế kỷ. Ngày 21.9.1803, trong lá thơ cho bố có ghi như sau: “Con nản và u buồn muốn chết”, và vào khoảng tháng 4.1804, Eugène còn viết: “Cảnh trí ở đây không hợp với con và đó là tại sao con chán ngấy tất cả”. Sau khi thời hạn quân dịch đã mãn, Eugène về lại Aix và lăn xả vào những vui chơi nơi những nhà quý phái. Eugène dường như đã quên tiếng gọi nghe thấy ở Venise.
Vào khoảng giữa năm 1805, có thay đổi trong lời thư. Eugène dường như không tìm thấy tương lai ở Aix và muốn lên Paris. Tại thủ đô, Eugène gặp ông Portalis đang làm bộ trưởng và là bạn gia đình Mazenod. Eugène tìm cách đưa dòng họ Mazenod về lại Pháp nhưng cùng lúc muốn xin thông hành trở lại Sicile. Ông Portalis từ chối không cấp thông hành và đề nghị cho Eugène có một việc làm tốt ở Pháp. Eugène thích đi ngành ngoại giao nhưng lương bổng không khá lại phải chi tiêu nhiều. Ông Portalis lại đề nghị cho Eugène một việc làm khác trong văn phòng nhưng Eugène cũng không chấp nhận. Eugène không đưa lý do tại sao? Có phải vì Eugène không muốn phục vụ cho Napoléon hay Eugène đã mang ý định việc khác. Trong các thư gởi cho ông Charles, Eugène thường gợi những vấn đề tôn giáo và chính ở chỗ này mà người ta thấy có thay đổi trong lời thơ. Tại Paris, Eugène còn gặp nhiều người khác. Rồi mỗi thứ sáu, Eugène còn được dùng cơm với Đức Tổng Giám Mục mà ngài diễn tả như “một hiện tượng 97 tuổi nhưng còn tươi trẻ”. Eugène cũng thay đổi trong thái độ chấp nhận hiệp ước “concordat” vì khi còn ở Sicile, Eugène đã mạnh mẽ chống đối. Thế nhưng, chuyến lên Paris lần này đã lấy đi một phần nào ảo vọng: “Tất cả mọi dự án đều tiêu tan”. Cuối năm 1805, Eugène vẫn ôm ấp danh dự và giàu sang nhưng ngài gạt bỏ vì Eugène cảm thấy chán nản và buông thả tinh thần.
2.2 Giai đoạn tìm kiếm (1806)
Eugène mang tâm hồn trống không và Thiên Chúa bắt đầu lấp đầy. Ngày 20.3.1806, Eugène viết thơ cho người bà con tên Emile và xin một cuốn sách lễ Roma bằng tiếng La tinh. Emile không hiểu và thay vì gởi sách lễ ông lại gửi cuốn kinh nhật tụng. Eugène hồi âm nói rõ mình muốn sách lễ chứ không phải sách kinh. Khoảng cuối tháng 12.1806, Eugène dấn thân làm giám đốc nhà tù ở Aix đầy nhiệt huyết, công việc này làm cho Eugène khám phá ra sự khốn cùng về tinh thần và tôn giáo của những tù nhân, nhất là sự bất công của hành pháp đối với tù nhân. Ngày 6.10.1807, Eugène viện lý do gia đình để thôi việc.
2.21. Sự trở lại (1807)
Trong một nghi lễ phụng vụ trước Thánh giá Eugène được một ân sủng. Ngài gặp Thiên Chúa bị đóng đinh và bị ruồng bỏ. Eugène nhận thức trạng thái tội lỗi mình và nhìn nhận tình yêu của Thiên Chúa. Giây phút đó đúng thật là chấn động. Một ân sủng đặt biệt không đến tức khắc như thánh Phaolô trên đường Damas. Đây là ân sủng hiếm không có tác động ngay lập tức. Eugène không nói gì đến biến động này trong thư gửi cho cha mẹ nhưng chúng ta chỉ thấy Eugène ghi trong nhật ký năm 1833: “… Tôi đã rơi nước mắt cay đắng khi thấy Thánh Giá. Những dòng nước mắt đến tự đáy lòng. Không có gì có thể cầm lại được. Toàn thân tôi hướng về Thiên Chúa là phúc lộc duy nhất của tôi”.
2.22 Quyết định (1808)
Sự trở lại còn là một sứ mệnh tông đồ. Hạt giống do Don Bartolo gieo xuống đất ở Venise bắt đầu nẩy mầm. Eugène cầu nguyện và xin bạn bè cầu nguyện cho mình. Eugène lên Paris gặp cha Duclaux dòng Xuân Bích hỏi ý kiến và ở Marseille thì ngài gặp cha Magly và ông này nói như sau: “Trải qua bao nhiêu hoàn cảnh, bao lý lẽ và bao sự khám phá đã trở thành vô ích, ơn gọi của anh nay sánh tựa ánh quang ban trưa của một ngày trời đẹp nhất”. Eugène đã quyết định nhưng không thể báo cho bố mình biết vì giao thông bị phong tỏa. Trong lá thơ gửi cho bà Joannis đề ngày 29.6.1808 Eugène báo xin vào chủng viện:
“Giờ đây, kính thưa mẹ, con muốn mẹ yên tâm về những gì có vẻ thật khó đối với tự nhiên. Thiên Chúa không đòi hỏi nơi đây những hy sinh vượt sức lực của mình. Điều này không phải là sự chia ly cắt đứt, xa cách không bao giờ trở lại. Thưa không, con chứng nhận điều Thiên Chúa muốn nơi con là con từ bỏ một thế giới mà trong đó không thể tự cứu rỗi được vì bội giáo hoành hành quá đỗi. Đó là điều con hết lòng một cách đặc biệt phục vụ cho ngài cố gắng làm sống dậy đức tin bị dập tắt giữa những người nghèo. Nói tóm lại, con chuẩn bị thi hành những điều Thiên Chúa ban cho Danh Ngài và sự cứu rỗi các tâm hồn mà Người chuộc bằng bảo huyết…”.
Trong lá thơ này, câu quan trọng nhất cũng là câu lần đầu tiên thấy xuất hiện trong các thư từ do Eugène viết “những điều Thiên Chúa muốn con…”; sau này Eugène lấy câu này làm khẩu hiệu và lý tưởng mà ngài để lại cho hội dòng của mình.
- TẠI CHỦNG VIỆN XUÂN BÍCH PARIS (1808-1811).
Eugène vào chủng viện ngày 12.10.1808 dù bà Joannis không tán thành. Sự thôi thúc do Thiên Chúa mời gọi và Eugène muốn trở thành linh mục vì yêu Giáo hội bị tàn phá và hiến thân cho những người nghèo bị bỏ rơi. Eugène 26 tuổi và trong chủng viện ngài là một trong những chủng sinh lớn tuổi nhất. Eugène gặp được những cha giáo có phẩm chất cao, bề trên là cha Emery. Eugène chọn cha Duclaux làm linh hướng.
Khoảng thời gian 1809 đến 1810, Eugène nhập vô nhóm những người chống cự lại Nã Phá Luân. Eugène dấn thân bên cha Emery bênh đỡ Giáo hội bị bách hại và ngài thuộc thành phần bí mật giữ liên lạc với Tòa Thánh. Eugène chịu chức linh mục ngày 21.12.1811 do Đức Giám Mục thành Amiens, Đức Cha Demandolx là bạn của gia đình và nổi tiếng trung thành với Giáo hội Rôma. Đó là lý do tại sao Eugène xin Đức cha Demandolx mà lại không xin Đức tổng Giám Mục thành Paris thời đó do Nã Phá Luân bổ nhiệm. Eugène cử hành lễ mở tay ngày Giáng Sinh tại nguyện đường Thánh Tâm ở Amiens và sau đó trở về lại Aix.
- SỞ MỤC VỤ ĐẦU TIÊN TẠI AIX (1812-1814)
Cha Eugène không muốn nhận giáo xứ nhưng ao ước hoàn toàn dấn thân cho những người bị bỏ rơi, nhất là lo cho giới trẻ. Năm 1813 Eugène thành lập “hiệp hội giới trẻ công giáo Aix”. Hội quy tụ những thiếu niên các trường trung học trong thành phố, có một nội quy do Eugène soạn thảo bao gồm 544 điểm. Hội thành công nhanh chóng vì đáp ứng nhu cầu thời đại cũng như của các gia đình. Sự thành công cũng do phẩm cách của người cầm đầu vì Eugène có một ảnh hưởng rất lớn trên giới trẻ.
Mùa chay 1813, cha Eugène giảng thuyết tại thánh đường Mađalêna bằng thổ ngữ miền Provence. Trong sổ ghi chép, Eugène đặt tựa đề cho bài giảng “Lời chỉ dẫn thân mật bằng thổ ngữ Provencale”.
Năm 1814, Eugène bị bệnh sốt chấy rận suýt qua đời. Trong thời dưỡng bệnh Ngài suy tư về sự bé nhỏ của những cố gắng cô đơn. Eugène cảm nhận lời Thiên Chúa mời gọi thành lập một hội dòng hiến thân rao giảng trong các thôn quê và Eugène liền viết thư cho mấy linh mục quen biết.
- THÀNH LẬP DÒNG TẬN HIẾN ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM 1815-1825
Cuối cùng Eugène chia xẻ dự án cùng linh mục Tempier lúc ấy 26 tuổi và làm phó họ đạo thánh Césaire ở Arles. Hai người quen nhau ngày còn trong chủng viện năm 1813. Cha Tempier nhận lời Eugène mời và lao vào dự án mới mẻ. Ngày 25.0.1816 bắt đầu rất tầm thường tu hội các Thừa Sai miền Provence trong tu viện Cát Minh cũ ở Aix en Provence. Tất cả đều ký một thỉnh nguyện và bắt đầu cuộc sống cộng đoàn quy tụ các linh mục không mang lời khấn. Eugène vừa được 33 tuổi với bốn năm làm linh mục. Ngày 29.1.1816, tu hội Thừa Sai miền Provence được địa phận chuẩn nhận như một tu hội linh mục làm việc thừa sai với hai mục đích. Họ sống thành cộng đoàn và đi rao giảng trong các thôn quê nhất là linh hướng cho giới trẻ. Tu hội gồm có năm thành viên và họ bắt đầu đi rao giảng ngay.
Năm 1809, Nã Phá Luân cấm các cuộc rao giảng và việc tông đồ này chỉ bắt đầu được phép hoạt động trở lại khi hoàng đế bị truất phế. Mục đích tuần giảng phòng để lôi kéo người dân quê trở về giáo hội. Hội thừa sai Provence đi rao giảng cả thảy 40 nơi từ năm 1816 đến 1823. Trong số đó có ba mươi nơi là các làng mạc hay tỉnh nhỏ gồm từ 2000 đến 6000 dân cư. Phương thức làm việc của tu hội mang một số đặc điểm như liên lạc trực tiếp với dân chúng và làm thích hợp theo phản ứng của họ. Các vị thừa sai đi đến từng nhà ngay cả những nhà mà họ biết sẽ bị bạc đãi. Qua các lần thăm viếng họ biết rất nhiều tin tức và áp dụng vào tuần giảng. Lời giảng lại đơn sơ. Cách thức này trở nên truyền thống rao giảng của hội dòng sau này. Việc thành lập tu hội thừa sai Provence không được nhiều người chấp nhận vì họ thấy nhóm linh mục sống ngoài lề địa phận và hưởng tình trạng ưu đãi. Một số giáo sĩ ở Aix đã chống tu hội nhất là khi Eugène muốn có một nơi phụng tự ở giữa thành phố trong nguyện đường dòng kín. Nơi đây có thể kéo được nhiều người đến nhất là thành phần giới trẻ.
Eugène biết rõ nếu như tu hội không được giáo phận chấp nhận chắc chắn công trình sẽ sớm tan vỡ. Eugène liền lên Paris tìm hậu thuẫn và xin chính quyền thừa nhận tu hội. Nhưng không được sự trả lời, thì cùng lúc Đức Cha Ferdimand de Bausset được bổ nhiệm về Aix. Dù quen biết Eugène nhưng Đức Cha bị nhóm linh mục không có thiện cảm với Eugène bắt ép không chuẩn nhận tu hội.
Năm 1818 tu hội bước sang một ngõ rẽ quan trọng. Họ được đề nghị chăm sóc một trung tâm hành hương kính Đức Mẹ gọi là Đức Bà Laus tại vùng Hautes-Alpes. Theo tục truyền Đức Mẹ đã hiện ra cho cô bé chăn cừu Benoite Rencurel ở đây hồi thế kỷ thứ 17. Đức Giám Mục giáo phận Digne đề nghị các cha tu hội Provence về đó đón tiếp khách hành hương và có quyền đi giảng tuần phòng. Eugène lưỡng lự vì ngài không muốn thay đổi dự án đầu tiên là thành lập một cộng đoàn thừa sai mà thôi. Sự hiệp nhất của nhóm có thể bị tan vỡ, và theo ngài chỉ có lời khấn mới có thể kết hiệp mọi người vào với nhau. Vì vậy tu hội cần thay đổi cấu trúc và phải có một bản hiến pháp và luật dòng. Eugène liền về lại trong ngôi nhà ở Saint Laurent du Verdon với mẹ mình và hai tập sinh là thầy sáu Moreau và một chủng sinh khác tên là Suzanne.
Từ 2 đến 16.9.1818 Eugène soạn thảo bộ luật dựa theo phần lớn bộ luật của Thánh Alphonse de Liguori, bộ luật dòng Tên và linh đạo trường phái Pháp. Ngày 24.10.1818 Eugène trở về Aix và trình bày bộ luật. Phần mục đích được mọi người chấp nhận nhưng đoạn nói về lời khấn đã gặp phản ứng dữ dội. Lúc ấy tu hội gồm tất cả 7 linh mục và 3 chủng sinh. Ban đầu trừ Eugène ra, chỉ có thêm 2 linh mục chấp nhận có lời khấn. Sau khi bàn cãi, Eugène cho 3 chủng sinh vào họp với quyền biểu quyết. Cuối cùng họ có 6 người bỏ phiếu thuận trên 4 chấp nhận luật mang lời khấn. Sau vài ngày suy nghĩ, hôm lễ các Thánh 1.11, 8 người dâng lời khấn còn 2 linh mục khác xin chờ. Từ đó tu hội có nền tảng vững chãi và họ chấp nhận trung tâm hành hương Đức Bà Laus.
Ngày 19.1.1823 ông cậu của Eugène, linh mục Fortuné, được bổ nhiệm làm giám mục Marseille lúc 73 tuổi. Ngài đề cử cha Eugène và cha Tempier làm tổng đại diện giáo phận. Họ thiết lập một nhà tại Marseille. Cách biệt và nhất là Eugène và Tempier thường vắng mặt dài hạn đưa hội dòng vào vòng khủng hoảng. Các giám mục thành Aix và Fréjus kêu một số các cha trong tu hội về lại địa phận, còn một số khác muốn rời khỏi tu hội. Tình trạng khủng hoảng lan rộng, và trước những chống đối, Eugène nghĩ cần được Rôma giúp đỡ. Nếu Tòa Thánh chuẩn nhận hội dòng thì các Đức Giám Mục sẽ không còn quyền can thiệp vào nội bộ của dòng nữa. Thế nhưng Eugène dường như do dự dù một số anh em thôi thúc. Cuối cùng linh mục Albini đã xua đẩy Eugène đi và bảo đảm sẽ thành công.
Eugène ở lại Roma từ tháng 10.1825 cho đến tháng 7.1826 chờ được chuẩn nhận. Cuối cùng, tu hội được Roma thừa nhận chính thức dưới tên “Dòng Tận hiến Đức Maria Vô Nhiễm” ngày 17.2.1826.
1832-1835. Eugène lên làm Giám Mục. Ngài gặp khó khăn với chính quyền và có cảm tưởng bị phản bội và Giáo hội bỏ rơi.
Eugène muốn bỏ tất cả nhưng cuối cùng ngài cố gắng đương đầu.
1837-1861: Eugène được bổ nhiệm Giám Mục Marseille
1841: Eugène gửi một số cha thừa sai qua truyền giáo bên Canada.
1851: Eugène gửi một số cha thừa sai qua Phi Châu.
1861: Ngày 21.5 Ngài qua đời chung quanh đầy đủ anh em trong dòng và để lại di chúc: “Thực hành
giữa anh em tình bác ái… Bác ái… Bác ái… và bên ngoài hãy nhiệt thành cứu rỗi các linh hồn”.







