XÂY DỰNG NỀN VĂN MINH TÌNH THƯƠNG
Giáo hội trước các thách đố của ngàn năm thứ ba.
Giáng Sinh và đầu Năm Mới dương lịch đã trở thành các ngày lễ quốc tế, vì ý nghĩa linh thiêng của
chúng. Thật thế, bởi vì Giáng Sinh và Năm Mới là lễ của Tình Yêu Thương và của Gia Đình. Cho dù ý
nghĩa này xem ra ngày càng phai mờ giữa thế giới duy vật tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay, GH vẫn
không mệt mỏi nhắc nhở Kitô hữu đừng quên đi vào chiều sâu của chúng và hãy cùng mọi người thiện
chí chung sức xây dựng “nền văn minh tình thương” là cốt tủy của Tin Mừng cứu độ mà Đức Giêsu Kitô
đã rao giảng và hiện thực trong cuộc sống trên trần gian này.
- TC là Tình Yêu, Ngài mời gọi con người sống yêu thương
Toàn Kinh Thánh Tân Ước trình bầy chương trình yêu thương cứu độ của Thiên Chúa được hiện thực
nơi Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Nhưng trong các suy tư về tình yêu
thương của Tân Ước, thư thứ nhất của thánh Gioan thâm trầm và sâu sắc hơn cả. Thánh nhân viết trong
chương 3 và chương 4 : “Anh chị em xem Chúa Cha yêu thương chúng ta dường nào, đến nỗi chúng ta
được gọi là con TC, mà thực sự chúng ta là con TC” (1 Ga 3,1). “Anh chị em thân mến, chúng ta hãy yêu
thương nhau, vì tình bắt nguồn từ TC. Phàm ai yêu thương, thì đã được TC sinh ra, và người ấy biết
- Ai không yêu thương, thì không biết TC, vì TC là Tình Yêu. Tình yêu của TC đối với chúng ta được
biểu lộ như thế này : đó là TC đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta
được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến TC, nhưng chính Người đã yêu
thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội, vì tội lỗi chúng ta.
Anh chị em thân mến, nếu TC đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau. TC
chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì TC ở lại trong chúng ta, và tình
yêu của Người mới nên hoàn hảo. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong
Người và Người ở lại trong chúng ta: đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta. Phần chúng
tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu
độ thế gian. Hễ ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con TC, thì TC ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong
- Còn chúng ta, chúng ta đã biết tình yêu của TC nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó. TC là Tình
Yêu : ai ở lại trong tình yêu, thì ở lại trong TC, và TC ở lại trong người ấy”.
Tiếp đến thánh Gioan đưa ra một tiêu chuẩn giúp tín hữu đo lường cường độ và chiều sâu tình yêu của
họ đối với TC. Đó là thái độ sống mạnh dạn, không sợ hãi. Tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi
gắn liền với hình phạt, và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo. Và ngài kết luận : “Phần chúng ta,
chúng ta hãy yêu thương, vì TC đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói : “Tôi yêu mến TC mà lại ghét
anh chị em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh chị em mà họ trông thấy, thì
không thể yêu mến TC mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người : ai
yêu mến TC, thì cũng yêu thương anh chị em mình” (1Ga 4,7-21).
Những điều thánh Gioan viết trên đây quảng diễn giới răn mà Chúa Giêsu đã trối trăn cho đoàn Tông Đồ
trong bữa Tiệc Ly: “Thầy ban cho các con một điều răn mới, đó là các con hãy yêu thương nhau; các con
hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời
Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga
14,23).
Tất cả nòng cốt Kitô giáo là ở đó. Mọi giáo huấn của Giáo quyền liên quan tới các vấn đề khác nhau
trong cuộc sống tín hữu cũng bắt nguồn từ đó. Trong thập niên 1960 Đ. Phaolô VI đã đưa ra ý niệm xây
dựng “nền văn minh tình thương” như phương thế giải quyết các vấn đề đa diện và phức tạp của thế giới
đầy khủng hoảng ngày nay.
- “Nền văn minh chết chóc” những dấu chỉ tiêu cực của một thế giới xa rời Tình
Yêu.
Dù có lạc quan tới đâu, chúng ta không thể nào không ghi nhận rất nhiều dấu chỉ tiêu cực cho thấy thế
giới đang ngụp lặn trong một “nền văn minh chết chóc”, tiêu diệt sự sống và giết chết Tình Yêu. Thật thế,
xã hội của thế kỷ XX không chỉ là xã hội của chiến tranh, bạo lực và nhiều tai ương do con người gây ra,
mà còn là một xã hội tiêm nhiễm chủ thuyết duy vật tiêu thụ, hưởng thụ và buông thả luân lý nữa. Đó là
điều Đức Gioan Phaolô II gọi là “những bóng tối đè nặng trên xã hội loài người”.
- Thế kỷ XX là thế kỷ của chiến tranh và bạo lực
Bóng tối thứ nhất bao trùm thế giới dọc dài suốt thế kỷ XX này là bầu khí chiến tranh và bạo lực gây ra
biết bao nhiêu chết chóc buồn thương cho các dân tộc. Trong 99 năm qua đã có trên 180 cuộc chiến lớn
nhỏ, trong đó có hai thế chiến, tàn phá hằng trăm quốc gia, khiến cho hằng chục triệu người thiệt mạng,
hàng trăm triệu người mang thương tích tàn tật, và gây ra các làn sóng di cư tị nạn khổng lồ chưa từng
thấy trong lịch sử nhân loại. Hiện nay vẫn còn có 50 chiến cuộc đó đây trên thế giới, đặc biệt tại nhiều
nước Phi châu. Các cuộc chiến mang nhiều sắc thái khác nhau: từ tranh chấp ý thức hệ chính trị cho tới
tranh chấp kinh tế và xung đột chủng tộc hay tôn giáo… Chiến tranh và bạo lực đã làm hao tổn không biết
bao nhiêu nhân lực và tài lực của các quốc gia một cách vô ích và vô lý. Hậu của của chúng là nạn
nghèo đói, chậm tiến, bệnh tật và dốt nát. Thê thảm và vô lý hơn nữa là chính quyền các nước nghèo
thay vì dành ngân khoản cho các chương trình phát triển kỹ nghệ nông nghiệp và thăng tiến giáo dục an
sinh, thì lại dốc đổ tiền bạc và phung phí nhân lực cho chiến tranh.
- Tệ nạn vi phạm các quyền con người
Thế kỷ XX đã đạt được rất nhiều tiến bộ, nhưng các quyền con người vẫn tiếp tục bị chà đạp tại nhiều
nơi trên thế giới. Theo bản tường trình của tổ chức Ân Xá Quốc Tế, hiện nay trên thế giới vẫn còn có 30
quốc gia thi hành chế độ quản thúc tại gia, 80 quốc gia vẫn giam giữ các người bất đồng chính kiến hay
vì lý do lương tâm và 110 quốc gia vẫn tiếp tục tra tấn tù nhân. Trong sứ điệp gửi nhân dịp kỷ niệm 50
năm công bố Bản Tuyên Ngôn nhân quyền của LHQ ngày 10-12-1998, ông Kofi Annan, Tổng thư ký
LHQ, khẳng định rằng “Đây là ngày không phải chỉ để nhớ lại các quyền đã đạt được trong 50 năm qua,
mà còn là ngày để nghĩ tới các quyền bị khước từ nữa. Ngày kỷ niệm này phải là dịp canh tân sự dấn
thân tạo dựng công lý cho tất cả mọi người trong kỷ nguyên toàn cầu hóa này, để chiến đấu chống lại
việc lạm dụng các quyền con người, qua việc canh phòng hữu hiệu hơn bao giờ hết và để truy nã các thủ
phạm chống lại các quyền con người với nhiều kiên trì hơn là trong quá khứ. Đây là những quyết tâm
tham lam, nhưng cần phải tin tưởng, bởi vì các quyền con người không phải là điều xa lạ đối với bất cứ
nền văn hóa nào và chúng là của riêng từng quốc gia”.
Và ông Kofi Annan kết luận sứ điệp “Thách đố của chúng ta đó là làm thế nào để mỗi ngày đều đáng kể
đối với cuộc đấu tranh nới rộng chân trời cho các quyền con người, đấu tranh cho tới khi nào không còn
ai bị tra tấn nữa, không có phụ nữ nào bị hãm hiếp nữa, không có trẻ em nào bị vi phạm phẩm giá nữa,
cho tới khi nào toàn nhân loại được vui hưởng các quyền con người”. Thật vậy, cho tới nay còn có hàng
trăm triệu người chưa được hưởng các quyền căn bản của con người như quyền đầu phiếu, quyền được
giáo dục học hành, quyền có công ăn việc làm, nhà ở và đồng lương xứng đáng, quyền được săn sóc
sức khỏe và an sinh… Tại nhiều nước như Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba và VN các quyền tự do căn bản
như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và thành lập hiệp hội hay đảng phái chính trị, tự
do đi lại và giao tiếp, tự do tôn giáo v.v… vẫn còn tiếp tục bị đàn áp và chà đạp. Các chế độ độc tài thuộc
mọi ý thức hệ chính trị đó đây khắp năm châu vẫn tiếp tục vi phạm các quyền con người, mà họ đã ký
nhận và cam kết tôn trọng.
- Bầu khí duy vật tiêu thụ, hưởng thụ, tục hóa và buông thả luân lý.
Đây là nét đặc thù thứ ba của xã hội ngày nay. Trong các xã hội theo chế độ duy vật tư bản cũng như duy
vật CS, con người chỉ còn là cái máy làm việc và sản xuất. Óc duy vật lan tràn sâu rộng tới độ khiến cho
toàn cuộc sống con người đều được đánh giá theo đồng lương, theo trương mục ngân hàng, theo nhà ở,
kiểu và giá xe hay theo mốt thời trang… Người ta thi đua mua sắm, tiêu thụ, ăn chơi và hưởng thụ. Khi
không thể làm việc, sản xuất và tiêu thụ được nữa, con người bị xã hội đào thải và loại trừ.
Theo kết quả một cuộc thăm dò của UB châu Âu về liên hệ của con người với TC, công bố ngày 27-7-95
tại Bruxelles, chỉ trừ hai nước Hy Lạp và Tây Ban Nha, còn tại các nước châu Âu khác so với cách đây
10 năm, số người tin vào TC đều giảm sút. Cao nhất là tại Ailen với 23%, Pháp13%, Luxembourg 12% và
Y 11%. Hơn ba phần tư người hy lạp nói TC quan trọng đối với cuộc đời họ. Bồ Đào Nha đứng hàng thứ
hai với 66% và Tây Ban Nha đứng hàng thứ ba với 46%.
Hiện tượng tục hóa khiến cho con người không muốn trông thấy sự hiện diện của TC trong cuộc sống và
các sinh hoạt của mình nữa. Bầu khí tục hóa khiến cho con người mất đi ý thức về sự thánh thiêng của
mọi sự, kể cả sự sống: phá thai, giết người êm dịu trở thành chuyện “bình thường”, được luật lệ quốc gia
thừa nhận. Xã hội khai trừ ảnh hưởng của Giáo hội trên mọi môi trường cuộc sống, bắt đầu ngay từ học
đường, là nơi GH đã luôn luôn nắm giữ một vai trò tích cực, qua hiện tượng gỡ bỏ thánh giá và việc đọc
kinh trước khi học. Tại tây Âu các phong trào và triết thuyết chống lại GH và hàng giáo sĩ được thể hiện
ra ngoài bằng nhiều cách thức từ loại bỏ, khai trừ cho tới bắt bớ.
- Khuynh hướng tương đối hóa mọi sự, đặc biệt các giá trị luân lý đạo đức.
Từ chỗ gạt bỏ TC ra khỏi tâm lòng và cuộc sống của mình, con người tự tạo cho mình một bậc thang giá
trị mới, trong đó mọi sự đều tương đối và được đánh giá theo tiêu chuẩn tiện lợi, theo các sở thích cá
nhân hay tập thể, và theo các khuynh hướng ích kỷ của từng người. Sự thật không còn có tính cách
khách quan nữa, mà là kết quả của quyết định chủ quan. Phải trái, trúng trật, tốt xấu không tùy thuộc sự
thật khách quan, mà tùy thuộc nơi số đông người quyết định. Nếu nhiều người coi một điều là đúng, là
phải, là tốt thì nó đúng, phải và tốt.
Chính tâm thức tương đối hóa mọi sự dẫn đưa con người tới các quan niệm lệch lạc trong lãnh vực luân
lý đạo đức. Tất cả bầu khí ô nhiễm kể trên khiến cho gia đình gặp khủng hoảng nặng nề. Nạn ly dị ly thân
ngày càng gia tăng, khiến cho gia đình tan nát, với các hậu quả âm hưởng trên cuộc sống của con cái.
Thay vì dấn thân sống đời hôn nhân chung thủy thì người ta chỉ chung sống mà không tiến tới hôn nhân.
Người ta cũng coi hiện tượng đồng tính luyến ái là chuyện bình thường và chấp nhận cho các các cặp
đồng tính luyến ái có mọi quyền lợi ngang hàng với các cặp hôn nhân tự nhiên khác.
- Nhiều trào lưu tư tưởng thần học và giáo lý lệch lạc.
Đây không phải là điều mới lạ trong lịch sử dài 2.000 năm của GH. Nhưng có lẽ không có thế kỷ nào lại
đã có nhiều trào lưu tư tưởng thần học và giáo lý lệch lạc như thế kỷ XX. Và lần này nó nghiêm trọng, vì
do nhiều Giám Mục và các linh mục giáo sư thần học truyền bá. Điển hình là trường hợp của Đc Gaillot,
GM Évreux, và Lm Tissa Balasuriya, người Sri Lanka thuộc dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm, người đã
bị vạ tuyệt thông tức khắc vì rối đạo. Trong cuốn “Mary and Human Liberation” Đức Maria và sự giải
phóng con người” xuất bản năm 1990, cha phê bình và phủ nhận giáo huấn của Hội Thánh về Đức Maria
là Mẹ của Đấng Cứu Thế duy nhất, chối bỏ giáo lý về tội nguyên tổ và vai trò của Chúa Kitô như Đấng
cứu độ duy nhất của nhân loại. Theo cha Tissa Đức Giêsu chỉ là một bậc thầy tối cao, một người chỉ cho
nhân loại con đường giải thoát khỏi tội lỗi và kết hiệp với Chúa và là một trong những nhà lãnh đạo tinh
thần lớn nhất của nhân loại, chứ không phải là Con Thiên Chúa nhập thể làm người và đồng bản tính với
Đức Chúa Cha. Cha Tissa cũng khẳng định rằng giáo lý về tội nguyên tổ chỉ là một ý niệm thần học của
tây phương, đồng thời phủ nhận sự cần thiết của bí tích rửa tội, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội và
nhiều điều khác.
- Hàng chục ngàn giáo phái và phong trào tôn giáo mới
Trong các thập niên qua đã có hàng chục ngàn giáo phái và tôn giáo mới nảy sinh và lan tràn rất nhanh
khắp nơi trên thế giới, từ Âu sang Á, từ Phi sang châu Mỹ Latinh. Chúng có rất nhiều khả năng tài chánh
và dùng cả tiền bạc để chiêu dụ tín đồ. Rất nhiều các giáo phái và tôn giáo mới này là các tổ chức kinh
tài đội lốt tôn giáo để trốn thuế. Tại Bắc Mỹ hằng năm có tới 100 ngàn tín hữu công giáo gốc nói tiếng
Tây Ban Nha bỏ Giáo hội để theo các giáo phái hay gia nhập các Giáo hội Tin lành. Tại các nước Mỹ
Latinh con số này lên tới 10 triệu mỗi năm. Sự hiện diện và sức bành trướng của các giáo phái và tôn
giáo mới đã trở thành một thách đố mục vụ rất lớn đối với các HĐGM tại đây. Và thời gian sau này cũng
thường xảy ra các vụ giáo phái tự tử tập thể như vụ tín đồ thuộc giáo phái “Mặt Trời” tại Thụy Sĩ hay giáo
phái “Thiên Môn” tại Hoa Kỳ. Tại Nga làn sóng các giáo phái và tôn giáo mới ồ ạt chiêu dụ tín đồ đã khiến
cho chính quyền xưa ra luật tôn giáo mới bắt các tôn giáo không Chính Thống phải đăng ký gây tổn
thương cho các GHCG và các Giáo Hội Tin Lành kỳ cựu tại đây. Tại Phi Luật Tân chỉ trong vài năm đầu
thập niên 1980 đã có 2500 giáo phát hoạt động. Họ chiêu dụ tín đồ bằng cách thưởng tiền hay trợ giúp
công ăn việc làm cho thân nhân những người lôi kéo thêm được một tín đồ khác nhập đạo.
Tất cả các dấu chỉ tiêu cực trên đây đều là các tiếng còi báo động, đều là các tiếng kêu cứu, đồng thời là
các thách đố lớn đối với Giáo Hội trong ngàn năm thứ ba đang tới.
III. GH nhiệm thể Chúa Kitô, như môi trường vun trồng và dưỡng nuôi “nền văn
minh tình thương” trước “nền văn minh chết chóc” tiêu diệt tình yêu và sát hại
sự sống
- Tuy nhiên, chính trong bầu khí của “nền văn minh chết chóc” lan tràn trên đây, GH tiếp tục thi
hành sứ mệnh loan báo Tin Mừng yêu thương và cổ võ vun trồng “nền văn minh tình thương”
Trong 20 năm giáo hoàng, đức Gioan Phaolô II đã công bố 13 thông điệp, trong đó thông điệp đầu tiên
“Đấng Cứu Độ con Người” và thông điệp cuối cùng “Đức Tin và Lý Trí” là hai chìa khóa giúp trả lời rất
nhiều vấn nạn căn bản của cuộc sống con người ngày nay.
Thông điệp “Đấng Cứu Độ Con Người” tập trung vào mầu nhiệm Nhập Thể, nêu bật gương mặt và cuộc
đời của Đức Giêsu Kitô, hiện thân tình yêu thương của Thiên Chúa, như hình ảnh con người toàn thiện
và là nền tảng phẩm giá cao quý và mọi quyền bất khả nhượng của con người. Còn thông điệp “Đức Tin
và Lý Trí” vạch rõ hiện trạng phân cách đau thương trong các trào lưu tư tưởng ngày nay, đó là sự phân
cách hoàn toàn giữa đức tin và lý trí, tiếp đến là việc loại bỏ vấn đề chân lý tuyệt đối và vô điều kiện ra
khỏi lãnh vực nghiên cứu văn hóa và kiến thức lý trí của con người. Bầu khí văn hóa và triết học ngày
nay nói chung phủ nhận khả năng của lý trí con người trong việc nhận biết sự thật và coi lý trí chỉ như là
dụng cụ phục vụ cho lợi ích, cho chức năng hay những tính toán xã hội học. Thông điệp của ĐTC nhắm
sửa chữa những quan niệm sai lầm trên đây và mạnh mẽ khẳng định khả năng của lý trí con người có
thể nhận biết Thiên Chúa và đạt tới những chân lý căn bản của cuộc sống như đặc tính thiêng liêng bất
tử của linh hồn, khả năng làm điều thiện và tuân giữa luật luân lý tự nhiên, khả năng phán đoán chân
thực và khẳng định sự tự do của con người. ĐTC kêu gọi thắng vượt các chủ thuyết cản trở đức tin và
không cho con người nhận biết chân lý siêu hình của sự vật, đó là các chủ thuyết duy thực chứng, duy
vật, duy khoa học, duy lịch sử, thuyết chiết trung, thuyết tương đối và thuyết hư vô.
Các thông điệp “Nhờ Lao Động” và “Bách Chu Niên” đề cập tới các vấn đề sôi bỏng của xã hội. Bên cạnh
đó là hàng chục tông huấn và tông thư nhằm đưa ra các hướng dẫn trả lời các thắc mắc và giúp giải
quyết nhiều vấn đề đặc thù khác nhau của các dân tộc trên thế giới. Giáo huấn xã hội công giáo kể từ
thông điệp “Tân Sự” của Đức Leô XIII cho tới nay là một kho tàng quý báu cần được tận dụng và đem ra
thực hành. Tất cả, chúng đều nhằm vun trồng “nền văn minh tình thương” giữa con người với nhau, là
sinh vật duy nhất đã được tạo dựng nên giống hình ảnh của TC (St 1,26-27).
Tuy nhiên, trong các cuộc gặp gỡ và tiếp xúc thường ngày Đức Gioan Phaolô II cũng liên tục rao giảng
giáo huấn của Hội Thánh và kêu gọi xây dựng “nền văn minh tình thương” như giải pháp tạo dựng hòa
bình và đem lại hạnh phúc thịnh vượng cho thế giới. Chẳng hạn trong buổi tiếp kiến chung ngày
18-11-1998, ĐTC đề cập tới các bóng tối che mờ đôi mắt tín hữu trong những năm cuối cùng của thể kỷ
XX này. Ngài nói: “Thật thế, thế kỷ này đã được ghi dấu bằng các tội phạm vô cùng trầm trọng chống lại
con người. Nó đã bị các ý thức hệ che mờ, vì các ý thức hệ này đã không cho con người được tự do gặp
gỡ chân lý của Chúa Giêsu Kitô và không để cho con người được thăng tiến toàn vẹn. Mặc dù thế, Thần
Khí của Thiên Chúa đã tràn đầy trái đất, không ngừng gieo vãi hạt giống sự thật, tình yêu và sự sống và
khiến cho chúng sinh hoa trái phong phú. Chúng là các dấu chỉ hy vọng”.
“Các hạt giống chân lý, tình yêu và sự sống, mà Thần Khí của Thiên Chúa gieo vãi trong tâm lòng con
người, làm phát sinh ra các hoa trái tiến bộ, nhân bản và văn minh và chúng là các dấu chỉ hy vọng cho
nhân loại. Các dấu chỉ này rất nhiều trong thời đại chúng ta. Cuộc sống con người đã được cải tiến một
cách đáng kể nhờ sự phát triển ngoại thường của các khoa học và kỹ thuật cũng như nhờ ý thức trách
nhiệm lớn hơn đối với môi sinh. Hòa bình và công lý đã trở thành các mục đích ưu tiên, vì dưới hoạt
động nhiệm mầu của Thần Khí, lương tâm con người coi tình trạng bất công và các vi phạm quyền con
người kéo dài như là một tội phạm không thể nhượng bộ được. Chỉ có đối thoại và hòa giải mới có thể
giải quyết một cách tích cực các khó khăn trong các tương quan quốc tế. Trong một thế giới được cấu
trúc theo một hệ thống tùy thuộc nhau trên bình diện kinh tế, văn hóa và chính trị, cần phải có một ý thức
thực sự đại đồng. Để được như thế, tín hữu được mời gọi góp phần vào việc thực hiện nền “văn minh
tình thương”, qua đó gia đình nhân loại duy nhất được xây dựng trong sự tôn trọng mọi thành phần và
trong việc trao đổi các ơn ích với nhau và cho nhau”.
“Giữa các dấu chỉ hy vọng của thời đại chúng ta phải kể tới các cố gắng tái lập hòa bình và công bằng tại
khắp mọi nơi chúng bị vi phạm, cũng như ý muốn hòa giải và liên đới giữa các dân tộc khác nhau, đặc
biệt là giữa các nước miền bắc và các nước miền nam bán cầu (Ter. Mill. adv. 46). Thế kỷ đang kết thúc
đã khiến cho chúng ta chứng kiến thảm cảnh của hai thế chiến và hiện nay nó vẫn còn có các căng thẳng
và chiến tranh, khiến cho các quốc gia dân tộc liên hệ vô cùng đau khổ. Ngoài ra còn có các đoàn người
khổng lồ phải sống trong các điều kiện bất xứng với phẩm giá con người, và tiếp tục là nạn nhân của các
cơ cấu khai thác bóc lột vô nhân. Lương tâm con người ngày nay không thể chấp nhận được các hoàn
cảnh bất công và các vi phạm trầm trọng đó chống lại phẩm giá con người, vì chúng là các tội ác cần
phải chấm dứt”.
Vào cuối bài huấn dụ ĐTC tái khẳng định giá trị của đối thoại và hòa giải như phương thế duy nhất hữu
hiệu giúp giải quyết các khó khăn xung khắc trong tương quan quốc tế. Đặc biệt bởi vì ngày nay mọi
quốc gia dân tộc đều tùy thuộc lẫn nhau. Trong sự tùy thuộc văn hóa, kinh tế và chính trị đó, chỉ có nền
“văn minh tình thương” mới là lý tưởng giúp nhân loại sống như anh chị em trong một đại gia đình duy
nhất. Trên bước đường tiến về “nền văn minh tình thương” đó, kitô hữu được mời gọi góp phần vào việc
hiện thực lý tưởng này, bằng cách chiếu tỏa ánh sáng của Chúa Kitô ra trong lịch sử. Ngài là Ngôi Lời
nhập thể và là Đấng mặc khải cho chúng ta biết rằng “TC là tình yêu” (1 Ga 4,8). Đồng thời Ngài cũng
dậy cho chúng ta biết rằng luật lệ nòng cốt của sự toàn vẹn nhân loại và cũng là của việc biến đổi thế
giới, là luật mới của tình yêu thương. Những ai tin vào tình yêu thương của TC thì được Chúa cho xác tín
rằng con đường yêu thương đó được rộng mở cho tất cả mọi người và các nỗ lực nhằm thực hiện tình
huynh đệ sẽ không uổng công” (GS 38).
- Cũng chính nhân danh “nền văn minh tình thương” đó, Đức Gioan Phaolô II không mệt mỏi
bênh vực các quyền con người, đặc biệt là quyền được sống và quyền tự do tôn giáo,
vì “quyền tự do tôn giáo chiếm chỗ đứng thứ nhất trong các quyền con người và là một bảo đảm cho các
nhân quyền khác”. Và bảo vệ tự do tôn giáo phải là nhiệm vụ đầu tiên của các chính quyền. Nhân dịp
mừng kỷ niệm 50 năm Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền của LHQ hôm 10-12-1998, ĐTC đã gửi một sứ
điệp tới ông Didier Operti Badán, Chủ tịch Đại hội đồng thứ 53 của LHQ. Trong đó ngài nhắc đến những
vụ chà đạp nhân quyền trên thế giới và kêu gọi cộng đồng quốc tế kiên trì bảo đảm các quyền căn bản
cho mọi người và bảo tồn các nguyên tắc của Bản tuyên Ngôn Nhân Quyền.
Ngài khẳng định rằng: “Ai nhìn thế giới ngày nay, không thể không nhận thấy các quyền căn bản tuy
được tuyên bố, quy định thành luật và được cử hành, nhưng chúng vẫn còn bị vi phạm trầm trọng một
cách liên tục. Vì thế dịp kỷ niệm này là lời kêu gọi mỗi quốc gia đã tham chiếu bản Tuyên Ngôn Nhân
Quyền năm 1948, hãy xét mình lại. Quá nhiều khi người ta có xu hướng chỉ chọn lựa quyền này hay
quyền khác theo ý muốn của mình mà bỏ qua những điều trái ngược với quyền lợi nhất thời của mình.
Có những người khác không ngại rút tỉa ra những lợi lộc, ít để ý tới tình liên đới của nhân loại. Những
thái độ như thế chắc chắn đe dọa cơ cấu toàn bộ Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền. Những thái độ
đó nhiều khi cũng đưa tới một chủ nghĩa cá nhân thái qua có thể làm cho những kẻ mạnh nhất thống trị
những kẻ yếu và làm suy yếu mối liên hệ đã được thiết lập vững chắc trong bản Tuyên Ngôn giữa tự do
và công bằng xã hội”.
Tôn trọng các quyền con người là bí quyết xây dựng hòa bình cũng được ĐTC lập lại trong sứ điệp gửi
ngày Hòa Bình thế giới lần thứ 33 cử hành vào ngày mùng 1-1-1999. Nội dung sứ điệp đã được ĐTGM
Phanxicô X. Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, giới thiệu với giới
báo chí trong cuộc họp báo hôm 15-12-98. Trong Sứ điệp chủ đề : “Bí quyết hòa bình đích thực là tôn
trọng các quyền con người”, ĐTC bày tỏ xác tín căn bản này là: “Một khi sự thăng tiến phẩm giá con
người là nguyên tắc chỉ đạo soi sáng chúng ta, một khi sự tìm kiếm công ích tạo nên một quyết tâm chính
yếu, thì người ta sẽ đặt nền tảng vững chắc và lâu bền cho sự kiến tạo hòa bình. Trái lại, một khi các
quyền con người bị làm ngơ không biết đến hoặc bị khinh rẻ, một khi sự theo đuổi tư lợi trổi vượt trên
công ích một cách bất chính, thì lúc đó thế nào những mầm mống bất an, nổi loạn và bạo lực cũng được
gieo vãi.”
ĐTC đặc biệt nhắc đến biến cố kỷ niệm 50 Năm Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ, với nền tảng
là sự nhìn nhận phẩm giá bẩm sinh của mọi thành phần gia đình nhân loại, cũng như sự bình đẳng và
bất khả nhượng của các quyền con người, chính là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
Tuyên ngôn này thật là rõ ràng : Tuyên ngôn nhìn nhận các quyền của con người, chứ không phải ban
cấp các quyền đó, vì các nhân quyền, tự bẩm sinh, gắn liền với nhân vị và phẩm giá con người. Hậu quả
là không ai có thể tước đoạt một cách hợp pháp các quyền đó của một người đồng loại, dù họ là ai đi
nữa, bởi vì sự tước đoạt như vậy có nghĩa là bạo hành đối với bản tính của người đó.
Sứ điệp của ĐTC đặc biệt bàn tới một số quyền đang bị đe dọa trầm trọng ngày nay : trước hết là quyền
sống của mọi người. Ngài cổ võ một nền văn hóa sự sống đích thực, chẳng những bảo đảm quyền được
ra chào đời cho những người chưa sinh ra, nhưng còn bảo vệ các hài nhi mới sinh, đặc biệt là các trẻ
nữ, thoát khỏi nạn sát hại trẻ em. Nền văn hóa ấy còn bảo đảm cho những người bị khuyết tật được phát
triển tiềm năng của họ, và cho các bệnh nhân, người già được săn sóc thích đáng. ĐTC đề cao quyền tự
do tôn giáo như trung tâm của các quyền con người. Đây là một quyền bất khả xâm phạm. Tuyên ngôn
Quốc tế về các quyền con người nhìn nhận rằng quyền tự do tôn giáo bao gồm cả quyền được biểu lộ
những tín ngưỡng của mình, một cách cá nhân cũng như cùng với người khác, công khai hoặc riêng tư
(art. 18). ĐTC tố giác những vụ chà đạp quyền tự do tại nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là sự kiện chính
quyền một số quốc gia, như các nước Hồi giáo, dành quy chế ưu tiên cho một tôn giáo, nhưng đồng thời
lại gây thiệt hại cho tín hữu các tôn giáo khác. Ngoài ra, ĐTC cũng khai triển các nhân quyền khác như
quyền tham gia vào đời sống cộng đoàn của mình. Ngài mạnh mẽ tố giác sự kỳ thị các nhóm dân thiểu
số; quyền được phát huy những năng khiếu bẩm sinh, và quyền được giáo dục, có công ăn việc làm.
Ngài kêu gọi các giới chức hữu trách giải quyết nạn thất nghiệp, và thực thi tiến bộ trong tình liên đới, giải
quyết nạn nợ nần quốc tế đang đè nặng trên nhiều nước nghèo. ĐTC nhắc đến trách nhiệm của mọi
người trong việc bảo vệ môi sinh, và cổ võ xây dựng một nền văn hóa về các quyền con người.
- Ngày 20-11 trong bài huấn dụ trao cho 17 Giám Mục Áo nhân dịp các vị về Roma viếng mộ hai
thánh Tông Đồ, ĐTC đã mạnh mẽ bác bỏ những quan niệm sai lầm của nhiều thành phần dân
Chúa tại Áo đòi dân chủ hóa Giáo Hội theo kiểu xã hội trần thế.
Trong thời gian qua và đặc biệt trong cuộc đối thoại toàn quốc hồi tháng 10-1998 tại thành phố Salzburg
phần lớn trong số 280 đại biểu đã thông qua các nghị quyết yêu cầu dân chủ hóa GH, truyền chức Linh
Mục cho phụ nữ, truyền chức linh mục cho những người có gia đình, chấp nhận cho những người ly dị
tái hôn được lãnh nhận các bí tích v.v… ĐTC khẳng định rằng: “Khốn cho Giáo Hội nếu Giáo Hội quá dấn
thân trong những việc trần thế, đến độ không còn thời giờ để quan tâm tới những đề tài liên quan đến
vĩnh cửu!”
ĐTC đã vạch rõ quan niệm sai lầm về ý niệm “Dân TC như một cơ cấu chính trị theo các quy luật xã hội
đời, để rồi đòi hỏi dân chủ hóa và tìm cách xác định chân lý mặc khải bằng những biện pháp như thăm
dò dư luận quần chúng hoặc biểu quyết theo đa số dân chủ. Ngài viết: “Thật là đau buồn sâu xa khi thấy
rằng những quan niệm sai lầm về đức tin và luân lý, cùng với một số vấn đề kỷ luật Giáo Hội, lan tràn vào
tâm trí của bao nhiêu giáo dân tại Áo. Không có cơ cấu hạ tầng nào có thể quyết định về chân lý. Chân lý
không phải là sản phẩm của Giáo Hội nhân dân từ dưới lên trên, nhưng là một hồng ân từ trên cao, từ
Thiên Chúa”.
- Đặc biệt trong các tháng qua ĐTC đã không ngừng kêu gọi các giới lãnh đạo chính trị và tôn
giáo bênh vực hôn nhân, gia đình và sự sống con người.
Trong buổi tiếp kiến 200 nhà chính trị, đại biểu quốc hội và chuyên gia Âu châu tham dự Hội nghị về đề
tài “Các quyền con người và các quyền của gia đình”, do Hội đồng Tòa Thánh về gia đình tổ chức tại nội
thành Vaticăng trong các ngày 22 đến 24- 10-1998, ĐTC đã kêu gọi các nhà chính trị đừng đồng hóa hôn
nhân và gia đình với những hình thức sống chung khác, đồng thời bảo vệ sự sống con người trong mọi
giai đoạn cuộc sống. ĐTC khẳng định rằng “Điều quan trọng là những người được kêu gọi hướng dẫn
vận mệnh quốc gia nhìn nhận và củng cố định chế hôn nhân. Trong việc tìm kiếm những giải pháp hợp
pháp cho xã hội hiện đại, người ta không thể đặt gia đình trên cùng một hàng với những cuộc sống
chung khác, và những cặp sống chung này không thể được hưởng những quyền đặc biệt, gắn liền với
việc bảo vệ sự dấn thân kết hôn và gia đình dựa trên hôn nhân”. ĐTC cảnh giác rằng hợp thức hóa các
cuộc sống chung mà không kết hôn cũng như coi các cặp đồng tính luyến ái ngang hàng với hôn nhân, là
một quyết định sai lầm trầm trọng, làm thương tổn định chế hôn nhân và gia đình. Về lâu về dài nó cũng
sẽ đưa tới các thiệt hại khác, vì luật pháp không còn dựa trên các nguyên tắc của luật tự nhiên nữa,
nhưng hoàn toàn dựa trên ý muốn độc đoán của con người. ĐTC cũng tố giác sự kiện người ta nhân
danh việc bảo vệ tự do cá nhân để cho phép phá thai, giúp người già, người bệnh kết liễu cuộc sống.
Ngài khẳng định rằng “những gì làm thương tổn tới cuộc sống của một người, thì cũng làm thương tổn
cho toàn nhân loại, vì có một dây liên hệ huynh đệ giữa mọi người”.
Ngày 20-11-1998 trong buổi chính thức viếng thăm ông Luigi Scalfaro tổng thống Ý, ĐTC đã đặc biệt kêu
gọi chính quyền Ý bênh vực gia đình, sự sống và quyền của cha mẹ được tự do lựa chọn trường học cho
con cái. Ngài tha thiết kêu gọi các giới hữu trách trong xã hội làm sao để gia đình được nâng đỡ hữu
hiệu. Bởi vì “năng lực phát triển về mặt tinh thần và dân sự của đất nước tùy thuộc sự chung thủy bền
vững của vợ chồng và thái độ cởi mở đón nhận sự sống của họ. Gia đình lành mạnh, thì đất nước cũng
lành mạnh. Một gia đình lành mạnh biết thông truyền các giá trị làm nền tảng cho mọi sự sống chung có
trật tự, bắt đầu từ giá trị của sự sống”. Ngài kêu gọi bài trừ tệ nạn phá thai và mọi hình thức giúp người
già và các bệnh nhân nan y tự tử tại.
Sáng ngày 23-10-1998 trong buổi tiếp kiến ông Eamon O Tualthail, tân đại sứ Cộng Hòa Ailen đến trình
thư ủy nhiệm, ĐTC đã nhắc đến sự phát triển xã hội và nhân bản đích thực, trong đó có một điều kiện cốt
yếu là bảo vệ và thăng tiến an sinh của gia đình, vì chính gia đình là trường học đầu tiên dậy các nhân
đức xã hội. Các nhân đức này là nguyên lý điều động sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Trong buổi tiếp
kiến nhóm Giám Mục Hoa Kỳ thuộc các bang California, Nevada và Hawaii, về Roma viếng mộ hai thánh
Tông Đồ Phêrô Phaolô ngày 2-10-1998, Đức Gioan Phaolô II đã nhiệt liệt khích lệ Giáo Hội tại Mỹ tiếp tục
bảo vệ sự sống con người từ lúc thụ thai cho đến lúc chết tự nhiên. Trong diễn văn trao cho các Giám
Mục sau thánh lễ đồng tế, ĐTC cầu mong cho Hoa Kỳ tái trở thành một xã hội cởi mở đối với sự sống,
trong đó mỗi thai nhi và mỗi người tàn tật hoặc bệnh nhân ở giai đoạn cuối đời được tiếp nhận với tất cả
sự ân cần, yêu thương và được luật pháp bảo vệ. ĐTC ghi nhận rằng 30 năm sau Thông điệp “Sự Sống
con người”, do ĐGH Phaolô VI ban hành, ngày nay vẫn còn nhiều người có những ý tưởng sai lầm cho
rằng con người được hoàn toàn tự ý xác định thiện ác, tốt xấu, mà không tham chiếu quy luật tự nhiên và
luật Chúa. Người ta bênh vực phá thai như một nhân quyền. Những lập trường sai trái đó tiếp tục gây
nên những vết thương cho lương tâm nhiều người và cho đời sống xã hội. ĐTC nói với các Giám Mục
Hoa Kỳ rằng: một trong những trách vụ cao quý nhất của anh em là cương quyết bênh vực sự sống,
khích lệ những người bảo vệ sự sống và cùng với họ kiến tạo một nền văn hóa sự sống đích thực.
Đây cũng là điều ĐTC lập lại với nhóm Giám Mục thứ 13 thuộc giáo tỉnh Boston và Hartford, ngày
24-10-1998 trong dịp các vị viếng mộ hai thánh Tông Đồ và thăm Tòa Thánh. Trong diễn văn trao cho
các vị sau thánh lễ ĐTC kêu gọi các GM và toàn thể các tín hữu công giáo Hoa Kỳ tiếp tục dành ưu tiên
cho nỗ lực bênh vực quyền sống căn bản của các thai nhi chống lại chủ trương kết liễu mạng sống người
già và giúp tự tử. GH phải kiên trì dấn thân trong cuộc đấu tranh giữa nền văn hóa sự sống và nền văn
hóa chết chóc đang lan tràn trên thế giới ngày nay. ĐTC khẳng định rằng trong tư cách là mục tử chịu
trách nhiệm về đời sống GH, các GM cần suy tư sâu xa về những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng tinh
thần trầm trọng, với những nguy cơ không những cho cá nhân, mà cho cả nền văn minh của nhân loại
nữa. Nếu cuộc khủng hoảng này trở nên trầm trọng hơn, thì chủ thuyết duy lợi ích sẽ dần dần thu hẹp
con người thành những đồ vật cho người ta lèo lái. Nếu sự thật luân lý được mặc khải trong phẩm giá
con người không tạo ra kỷ luật và hướng dẫn năng lực đang bùng lên của kỹ thuật, thì một kỷ nguyên
mới về sự man rợ, thay vì mùa xuân hy vọng, có thể tiếp nối thế kỷ đau thương này.
- Nỗ lực vun trồng “nền văn minh tình thương và sự sống” của GH cũng đặc biệt mạnh mẽ trong
việc bênh vực người già chống lại nền văn minh chết chóc loại bỏ các thành phần không còn sản
xuất và tiêu thụ nữa.
Trong buổi tiếp kiến 450 tham dự viên Hội nghị quốc tế lần thứ XIII của Hội đồng Tòa Thánh mục vụ các
nhân viên y tế, tổ chức tại nội thành Vatican trong các ngày 29-31/10/1998, ĐTC đề cao giá trị của tuổi
già và sự đóng góp của người già cho xã hội nhân loại. Ngài nhấn mạnh rằng: “Không nên coi người già
như đối tượng cần được săn sóc và phục vụ mà thôi. Người già vẫn còn có thể đóng góp cho cuộc sống.
Nhờ gia sản kinh nghiệm phong phú tích lũy qua bao năm tháng dài trong đời, người già có thể và phải là
những người trao ban sự khôn ngoan, chứng tá về hy vọng và tình thương (EV, 94). ĐTC kêu gọi xã hội
tái khám phá ra tình liên đới giữa các thế hệ, tái khám phá ra ý nghĩa của tuổi già, giữa một nền văn hóa
bị thống trị quá nhiều bởi huyền thoại năng xuất cao và hiệu năng thể lý. Cần phải giúp người già sống
trong an tâm và trong phẩm giá, đồng thời làm sao để gia đình cũng được trợ giúp về kinh tế, để có thể
tiếp tục tạo nên môi trường tự nhiên trong các quan hệ giữa các thế hệ già trẻ. Cũng trong bài huấn dụ,
ĐTC đặc biệt lên án mọi toan tính thu ngắn cuộc sống của người già, được gọi bằng danh từ hoa mỹ là
“làm cho chết êm dịu”. Ngài nhấn mạnh rằng “Đứng trước não trạng tục hóa không biết tôn trọng sự sống
khi sự sống bị suy yếu, chúng ta phải khẳng định sự sống là một hồng ân của Chúa, và tất cả mọi người
phải dấn thân bảo tồn. Đây là nghĩa vụ đặc biệt của các nhân viên y tế, với sứ mạng chuyên biệt là phục
vụ sự sống trong mọi giai đoạn, nhất là khi sự sống bị suy yếu và bệnh tật. “Mưu toan làm cho chết êm
dịu là một trong những triệu chứng nguy ngập nhất về nền văn minh chết chóc, đang lan tràn mạnh trong
xã hội sung túc” (EV, 94).
Trong tuyên ngôn công bố nhân dịp “Năm Quốc Tế Người Già”, do LHQ đề xướng vào năm 1999, Hội
Đồng Tòa Thánh về giáo dân khuyến khích các tín hữu công giáo quyết tâm tăng cường việc săn sóc
người già và học hỏi nơi những người cao niên. Văn kiện của Tòa Thánh khẳng định rằng : “Một xã hội
chỉ đặt mọi sự trên căn bản hiệu năng và trên hình ảnh sáng láng của tuổi trẻ trường cửu, thì sẽ loại trừ
những người không hội đủ những điều kiện đó. Người già dần dần bị gạt ra ngoài lề xã hội, và người ta ít
quan tâm tới những nhu cầu thể lý, tinh thần và trí thức của người già. Trong thực tế nhiều người quên đi
sự đóng góp lớn lao mà người già vẫn có thể mang lại cho gia đình, giáo xứ và cộng đoàn”.
Kết Luận
Một vài giáo huấn điển hình của giáo quyền trong thời gian qua như vừa trưng dẫn trên đây, thiết tưởng
đã quá đủ để chứng minh cho thấy GHCG là cơ cấu và là môi trường không mệt mỏi cổ võ và vun trồng
“nền văn minh tình thương”, là nền văn minh duy nhất có thể cứu nhân loại khỏi thảm cảnh diệt vong,
vẫn không ngừng đe dọa thế giới trong ngàn năm thứ ba đang tới. Xin cho mọi người biết cùng nhau bồi
đắp “nền văn minh tình thương và sự sống”, đó là lời cầu mà tín hữu công giáo VN cần lập lại mỗi ngày,
đặc biệt trong Năm Toàn Xá nhân kỷ niệm Đệ Nhị Bách Chu Niên Đức Mẹ hiện ra tại La Vang, sẽ kết thúc
vào ngày 15-8-1999 này.
THỐNG KÊ HỒNG Y ĐOÀN
Sau lần tấn phong HY ngày 21-2-2001, trong số 62 quốc gia có Hồng Y, quốc gia có nhiều HY nhất vẫn là
Ý Quốc với 41 vị (24 được bầu Giáo Hoàng), theo sau là Hoa Kỳ với 13 vị (11 được bầu), Đức với 9 vị (5
được bầu), Brasil với 8 vị (7 được bầu), Tây Ban Nha với 7 vị (4 được bầu).- Về phương diện tuổi tác,
Hồng Y lớn tuổi nhất hiện nay là HY Corrado Bafile nước Ý 97 tuổi và vị HY trẻ nhất hiện nay là HY Vinko
Puljic của Bosnia 55 tuổi. – Trong tổng số 183 HY tiêu biểu cho 5 lục địa hiện có 135 cử tri. Trong số này
có 96 vị Âu Châu (65 cử tri giáo hoàng), 18 vị Bắc Mỹ (13 cử tri), 33 vị Châu Mỹ La Tinh (27 cử tri), 17 vị
Á Châu (13 cử tri), 16 vị Phi Châu (13 cử tri) và 4 thuộc Úc Châu và Châu Đại Dương (4 cử tri).
Lậy Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang, đầy muôn ơn phước, ngời chói vạn hào quang, muôn vàn thần thánh
không ai sáng bằng. Đức Chúa Trời đã đoái thương chọn Mẹ, tinh tuyền thánh thiện, sinh Đấng cứu độ
muôn loài. Mẹ đã chọn La Vang mà hiện đến, cứu giúp hộ phù tổ tiên chúng con lương giáo, giữa thời ly
loạn cấm cách, khốn khổ trăm bề. Từ đấy gót chân Mẹ bước đến, vẫn mãi đầy ơn thiêng. Ơn phần hồn,
ơn phần xác, người bệnh tật, kẻ ưu phiền, nào ai cầu khẩn mà Mẹ không nhậm lời.
Lậy Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang, Mẹ là Thánh Mẫu Chúa Trời, cũng là Thánh Mẫu loài người chúng
con. Cúi xin xuống phước hải hà. Đoái thương con cái thiết tha van nài. Xin cho chúng con tấm lòng từ bi
nhân hậu, đại lượng bao dung, cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống. Xin Mẹ phù hộ
chúng con, luôn sống đức hạnh, đầy lòng cậy trông. Và sau cuộc đời nầy, xin cho chúng con được về
sống bên Mẹ, hưởng vinh phúc trong Chúa Ba Ngôi muôn đời.
Amen.
LM Giuse Hoàng Minh Thắng (1999)







