- Lược sử thánh Simon Hòa
Thánh Simon Phan Đắc Hòa sinh năm 1787 tại Mai Vĩnh – Thừa Thiên, trong một gia đình không công giáo. Cha mất sớm, được mẹ đưa đến giúp một gia đình công giáo ở làng Nhu Lý, tỉnh Quảng Trị. Sống với người công giáo, nhìn thấy những gương sáng và được nghe nói về những điều cao đẹp của đạo này, cậu Hòa đem lòng cảm mến và xin phép mẹ cho mình theo học giáo lý và gia nhập đạo. Khi ấy cậu mới chỉ là một thiếu niên 12 tuổi. Yêu mến Chúa Kitô, cậu bé không dừng ở đó, mà còn muốn phục vụ Chúa Kitô trong đời tu trì. Cậu vào chủng viện một thời gian, nhưng qua các cha đồng hành, Simon Hòa nhận ra ý Chúa muốn cậu sống và làm chứng tá ngay giữa lòng đời.
Tuy không đạt được ước mơ, Simon Hòa vẫn thường xuyên liên lạc với chủng viện. Sau khi lập gia đình và trở thành cha của 12 người con, Simon Hòa cố gắng chu toàn trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Sống đời giáo dân, ông Hòa hành nghề y sĩ. Nhờ đó ông có nhiều cơ hội giúp đỡ người nghèo khó. Ngoài ra, ông còn sẵn sàng bênh vực, giúp đỡ người già nua, yếu đuối, cô nhi, quả phụ. Ông nhận ra hình ảnh Chúa Kitô nơi người khác, nhất là người nghèo khổ.
Với đời sống đạo đức, ông lang y Hòa được đề cử làm Trùm họ. Trước mặt mọi người, ông đã thực thi chức năng một cách tốt đẹp. Khi vua Minh mạng ra chiếu chỉ cấm đạo, Ông Trùm Hòa có dịp bày tỏ lòng can đảm của mình: ông sẵn sàng cho các linh mục ngoại quốc ẩn náu trong nhà.
Tối 13/04/1840, đang khi đưa Đức cha De la Motte đến làng Hòa Ninh, thuyền ông bị các quan phát hiện đuổi theo. Quân lính bắt ông và Đức Cha đưa về huyện Dương Xuân, rồi giải về Quảng Trị giam hai tháng, cuối cùng điệu về Huế.
Suốt thời gian bị giam, lương y Hòa không những đã giúp đỡ anh em bạn tù bằng việc bốc thuốc chữa bệnh, mà còn khuyến khích họ trung thành với Chúa đến cùng. Chịu khổ hình như mọi tù nhân, có khi còn hơn nữa, nhưng ông vẫn kiên vững niềm tin, vui thỏa vì được hiệp thông với Đức Kitô chịu đóng đinh.
“Ai có thể làm chúng tôi xa lìa được lòng mến Chúa Kitô ? Phải chăng là gian truân, cùng khổ, đói rách, bắt bớ, gươm giáo” (Rm 8,35). Ông Simon Hòa đã phải chịu khốn khổ kể từ khi bị bắt vì đức tin, về thân xác cũng như tinh thần. Thế nhưng đối với các vị tử đạo, đau thương chính là thử thách phải vượt qua để có thể đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Thái độ của thánh Simon Hòa cũng như của các vị tử đạo là: “Trong mọi thử thách, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng yêu mến chúng ta” (Rm.8, 37).
Ông quyết tâm làm chứng về đạo, dù phải hy sinh mạng sống và những người thân thương nhất. Khi các con đến thăm, ông khuyên nhủ: “Cha yêu thương và hằng chăm sóc các con. Nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hãy vui lòng vâng ý Chúa, đừng buồn làm chi. Các con ở với mẹ, thương yêu nhau, và chăm sóc việc nhà. Từ đây cha không thể lo cho các con được nữa. Chúa muốn cha chịu khổ, cha xin vâng trọn”.
Năm 1840, vua Minh Mạng châu phê án xử trảm quyết, bêu đầu ba ngày. Trong niềm tín thác vào Thiên Chúa, ông đã toàn thắng ngày 10/12/1840 tại Cổng Chém, gần chợ An Hòa. ĐTC Lêo XIII đã phong ngài lên bậc Chân Phước ngày 27/05/1900. Ngày 19/6/1988, ĐTC Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
- Noi gương hy sinh của thánh Simon Hòa
Thánh Simon Hòa để lại cho chúng ta tấm gương dứt khoát theo Chúa dù phải hy sinh nhiều, sống trung thực và quan tâm phục vụ những người nghèo khổ.
Ngày 9/7/2013, trong tâm tình cha con, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói chuyện với các chủng sinh, tập sinh và những ai đang theo đuổi ơn gọi. Chúng ta nghe trích đoạn những điều chính yếu mà ĐTC muốn ngỏ lời với mọi người chúng ta, trong đó có tôi:
“Cha vừa nghe nói tất cả các con đều ước muốn hiến dâng mãi mãi cuộc đời của các con cho Chúa Kitô ! … Cha đã nghe một chủng sinh, một chủng sinh tốt, đã nói rằng anh ta muốn phục vụ Chúa Kitô, nhưng trong 10 năm, và rồi anh ta sẽ nghĩ đến một đời sống khác… Thật nguy hiểm! … Điều đó là không thể được với Chúa Giêsu! Cha không trách các con, Cha trách nền văn hóa tạm thời này… Chúng ta là nạn nhân của nền văn hóa tạm thời này. Cha muốn các con suy nghĩ: làm thế nào tôi có thể tự do đối với nền văn hóa tạm thời này? Chúng ta phải học biết khép cánh cửa tâm hồn chúng ta… (tức là biết dứt khoát).
Cha muốn nói với các con một từ, đó là… niềm vui bước theo Chúa Giêsu; niềm vui mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta, không phải niềm vui của thế gian... Nhưng niềm vui nảy sinh từ đâu? Một số người sẽ nói: niềm vui nảy sinh từ những thứ ta sở hữu, và như thế chúng ta đi tìm mẫu điện thoại mới nhất, xe gắn máy nhanh nhất, xe hơi làm người ta chú ý nhất… Nhưng, thực sự, Cha nói với các con, Cha cảm thấy đau lòng khi một linh mục… với chiếc xe hơi mốt mới nhất ! không thể thế được!… Đối với một số người khác, điều đó đến từ áo quần mốt nhất, từ cách tiêu khiển ở những nơi được ưa chuộng nhất…
Chúng ta biết rằng tất cả điều này có thể… là một niềm vui ở bề mặt…, không phải là một niềm vui thâm sâu… Niềm vui đích thực nảy sinh từ sự gặp gỡ, từ mối tương quan với nguời khác, nó nảy sinh từ việc thấy mình được chấp nhận, được thấu hiểu, được yêu mến… Khi kêu gọi các con, Thiên Chúa nói với các con: “Con quan trọng đối với Ta, Ta yêu thương con, Ta hy vọng vào con”. Chúa Giêsu muốn nói điều này với mỗi người! Chính từ đó mà nảy sinh niềm vui! Niềm vui từ giây phút Thiên Chúa đã nhìn tôi..., cảm thấy được Thiên Chúa yêu mến …, cảm thấy chính Ngài kêu gọi chúng ta. Tôi không tin tưởng chủng sinh hay tập sinh nào nói rằng: “Tôi đã lựa chọn con đường này”… Điều đó không đúng! Trở nên linh mục, tu sĩ nam nữ trước tiên không phải là chọn lựa của chúng ta... nhưng phải là lời đáp trả cho một tiếng gọi, tiếng gọi tình yêu. Tôi cảm thấy điều gì đó từ nội tâm…và tôi thưa xin vâng. Trong lời cầu nguyện, chính Chúa cho tôi cảm thấy tình yêu này, nhưng cũng qua các dấu chỉ mà chúng ta có thể đọc trong đời sống của mình và cả những người mà chúng ta gặp trên đường của chúng ta. Và niềm vui gặp gỡ Ngài và từ tiếng gọi của Ngài thúc đẩy không được khép mình, nhưng mở ra; nó thúc đẩy chúng ta phục vụ trong Giáo Hội… Và niềm vui đích thực thì lan tỏa. Khi gặp một chủng sinh quá nghiêm chỉnh, quá buồn… các con nghĩ ngay: có điều gì đó không ổn ! Nó thiếu niềm vui của Chúa, niềm vui thúc đẩy các con phục vụ, niềm vui gặp gỡ Chúa Giêsu, Đấng thúc đẩy các con đến gặp gỡ tha nhân để loan báo Chúa Giêsu… Không có sự thánh thiện trong sự buồn chán ! “Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn!”
Nhưng đâu là trung tâm của sự vắng bóng niềm vui này? Đó là vấn đề độc thân… Một con đường trưởng thành, trưởng thành, trưởng thành cho đến tình cha mục tử, tình mẹ mục tử, và khi một linh mục không phải là cha của cộng đoàn của mình, khi một nữ tu không phải là mẹ của tất cả những ai mà mình làm việc với, thì họ trở nên buồn chán. Đó là vấn đề… Nhưng đó là vẻ đẹp của sự thánh hiến, đó là niềm vui.
Ngoài ra, để trở nên những chứng nhân hân hoan của Tin Mừng, cần phải trung thực, mạch lạc… Chúa Giêsu đã chống lại những kẻ giả hình, những người có một ngôn ngữ hai mặt… Các con chán ngấy khi gặp thấy những linh mục hay những nữ tu không trung thực. Điều đó, trước tiên là trách nhiệm của người lớn, của các nhà đào tạo... Hãy làm gương cho giới trẻ.
Nhưng các con cũng thế…, hãy tìm cách bước theo con đường này… Rao giảng Tin Mừng bằng đời sống trung thực, bằng cuộc sống mạch lạc… Không sợ hãi về những khiếm khuyết của mình mà phải tìm cách sửa chữa, về những giới hạn của chúng ta mà Chúa biết, cả về sự quảng đại của chúng ta và để Ngài hành động…
Cha muốn khuyên các con: Hãy trong sáng với cha giải tội của các con. Luôn luôn. Hãy nói tất cả, đừng sợ. “Thưa cha, con đã phạm tội”… Luôn nói sự thật cho cha giải tội. Sự trong sáng này giúp ích, vì nó làm cho chúng ta khiêm tốn… Nói sự thật, không che giấu, không lấp lửng, bởi vì các con đang nói với Chúa Giêsu nơi con người của cha giải tội. Và Chúa Giêsu biết sự thật. Chỉ mình Ngài luôn tha thứ cho các con! Nhưng Chúa chỉ muốn các con nói cho Ngài những gì Ngài đã biết rồi.
Cha nói điều này: hãy ra khỏi chính mình để loan báo Tin Mừng, nhưng để làm điều đó, các con phải ra khỏi chính mình để gặp gỡ Chúa Giêsu. Có hai sự đi ra khỏi: một đến gặp Chúa Giêsu và một đến gặp tha nhân để rao giảng Chúa Giêsu. Chúng đi đôi với nhau…
Hãy cầu nguyện cho Cha, bởi vì Cha cũng cần lời cầu nguyện, bởi vì Cha là một người tội lỗi đáng thương, nhưng chúng ta hãy tiến tới!”.









