Chiều thứ tư, ngày 21/01/2009, nhằm ngày 26 Tết, Giáo Hạt Đàlạt quây quần bên Vị Cha chung của Giáo phận để tham dự Giờ Chầu Tạ Ơn, chúc Tết ngài, đồng thời lắng nghe những chia sẻ về một số sinh hoạt của Giáo hội, của Giáo phận trong năm vừa qua.

Sau Giờ Chầu Tạ ơn Thiên Chúa thật sốt sắng, Cha Tổng Đại diện Phaolô thay mặt mọi người chúc  Đức Cha Phêrô “luôn kiên vững trong lòng tin, nhiệt thành trong lòng mến, vững vàng cậy trông”. Cha Tổng bày tỏ lòng biết ơn vì những gì Đức Cha đã làm cho Giáo phận trong trách vụ của ngài. Qua đó, xin lỗi Đức Cha về những thiếu sót và hứa sẽ hiệp nhất, cộng tác chặt chẽ hôn với Đức Cha trong những công việc sắp đến của Giáo phận.

Rất đơn sơ, Cha Giám đốc Đại chủng viện cũng thay lời cho cộng đoàn chúc Tết và mừng Bổn mạng Cha Tổng Đại diện. Mượn lời của Đức Thánh Cha Bênêđitô “Chắc chắn là niềm vui sâu xa thực sự hướng dẫn thánh Tông đồ trong mọi việc và trong cuộc đời của ngài, bởi vì không có gì tách ngài ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, là nguồn vui bất tận, vĩnh viễn”, Cha Giám đốc chúc Cha Tổng luôn có nguồn vui trong mọi công việc sắp tới và trong suốt cuộc đời.

Đức Cha Phêrô bày tỏ lòng biết ơn đến hết mọi thành phần Dân Chúa, đã yêu thương, quảng đại góp phần mình xây dựng Giáo hội tại địa phương. Đức Cha chia sẻ một vài nét tiêu biểu trong năm vừa qua của Giáo hội, của Giáo phận:

Anh chị em thân mến,

Trong hai ngày vừa qua, tôi cùng Cha Tổng và một số cha đi chúc Tết tại Hạt Bảo Lộc, Đức trọng, Di linh, Đơn dương, đến đâu cũng thấy Chúa đã thương gìn giữ trong suốt năm qua ; nơi nào cũng thấy lòng đạo đức, sự hiệp thông, tinh thần truyền giáo… Chúng ta chỉ biết cám ơn Chúa và nỗ lực hơn trong năm mới để làm sinh hoa kết quả những gì Chúa trao.

Giáo hội của chúng ta là một Giáo hội sinh động, mỗi người luôn nỗ lực đem Chúa đến với mọi người trong cương vị của mình, từ Đức Thánh Cha đến các Hồng Y, các Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân trên khắp thế giới. Những nỗ lực đó không thể đo bằng những con số, nhưng chắc chắn Hồng Ân Chúa ban cho bao giờ cũng đem lại những lợi ích thiêng liêng.

Hai trong vô vàn biến cố, có thể xem ảnh hưởng sâu rộng đến Giáo Hội toàn cầu vả cũng là lời mời gọi chúng ta sống ơn gọi Kitô hữu của mình:

Năm Kính Thánh Phaolô dịp kỷ niệm 2000 năm sinh nhật của ngài, cho thấy tinh thần truyền giáo của một vị tông đồ. Khởi đầu là bắt bớ các tín hữu của Chúa, nhưng khi gặp được Chúa thì ngài đã biến đổi và trở nên tông đồ nhiệt thành. Gương Thánh Phaolô là lời mời gọi chúng ta đừng ngần ngại, dù mình ở địa vị nào, vốn liếng mình có gì, nhưng hãy đáp trả lời mời gọi của Chúa trong chính bổn phận, môi trường, công việc hàng ngày của mình để làm chứng và sống cho Chúa. Năm thánh Phaolô còn nhắc chúng ta phải kết hợp mật thiết với Đức Kitô thì có thể làm được rất nhiều việc, vì trong Đức Kitô chúng ta đón nhận được sự sống, chúng ta có chân lý, chúng ta có sức mạnh.

Biến cố thứ hai là Thượng Hội đồng Giám Mục thường kỳ lần thứ 12, với chủ đề “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh”. Với Thượng Hội Đồng này, chúng ta được kêu gọi hãy đến với lời Chúa, yêu mến, lắng nghe và thi hành Lời Chúa vì Lời Chúa là sự sống của chúng ta. Lời Chúa là Ngôi Lời đã nhập thể, và như lời Ngài nói: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Về Giáo Hội Việt Nam: Quả thật, chúng ta đã trải qua một năm khó khăn, nhiều thử thách. Nhưng phải thấy được qua những biến cố đó, bàn tay quan phòng, tình yêu thương và sự khôn ngoan của Chúa đã dắt chúng ta trên con đường mà chúng ta không biết nhưng Chúa biết, Ngài hướng dẫn và chúng ta đi theo.

Kinh Thánh nói vàng là vật quý nên phải thử trong lửa để tôi luyện, để loại bỏ tạp chất, huống chi là đức tin của chúng ta. Đức tin mang đến sự cứu rỗi, Đức tin là hồng ân vô giá mà Chúa đã ban, đức tin đó cũng cần được thử thách, tôi luyện trong cuộc sống. Vì vậy qua những biến cố đó, chúng ta thấy Chúa hằng hiện diện giữa chúng ta. Nhờ có Chúa, nên qua những thử thách đức tin của chúng ta được kiện toàn hơn, được trân trọng và rõ nét hơn. Đồng thời, chính trong thử thách, Giáo hội bày tỏ sự hiệp thông, sự hiệp nhất và đó là dấu chỉ Chúa Thánh Thần luôn ở giữa chúng ta.

Biến cố thứ hai : Năm trước, chúng ta đã đề cập đến giáo dục là việc thiết yếu, chi phối cả đời sống đức tin lẫn đời sống xã hội “Giáo dục hôm nay, Giáo hội và xã hội ngày mai”. Muốn có một xã hội ngày mai tốt đẹp, muốn có một Giáo hội ngày mai thánh thiện, hôm nay chúng ta phải quan tâm đến giáo dục.

Năm nay Hội Đồng Giám Mục đi vào chi tiết: giáo dục đức tin trong gia đình, vì gia đình là tế bào, là nền tảng xây dựng Giáo hội và xã hội. Tế bào, nền tảng phải mạnh mẽ, vững chắc thì chúng ta mới xây dựng những điều khác được.

Chúng ta có trách nhiệm gì với vấn đề giáo dục trong gia đình?

Trước hết, anh chị em đã có quá nhiều kinh nghiệm về giáo dục đức tin, mà niềm tin của chúng ta là do Chúa ban cho. Trong bao khó khăn chúng ta vẫn kiên trì, vẫn gắn bó với đời sống Đạo, chúng ta hiện diện đây cũng vì có đức tin. Chính gia đình đã nuôi dưỡng và dạy dỗ để chúng ta có thể lớn lên trong đức tin.

Khi Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người thì Ngài cũng có một gia đình. Thánh Giuse và Đức Mẹ đã huấn luyện, giáo dục Chúa Giêsu trong tư cách là con người được lớn lên, được  phát triển.

Đức tin là ơn Chúa, đức tin là sự nỗ lực hằng ngày của chúng ta, nhưng đức tin khởi đầu  từ gia đình. Thánh Phao lô đã nói: ngay từ khi đứa con còn bồng ẳm trên tay, đã có thể dạy dỗ, đã có thể mớm cho nó những câu Kinh Thánh, và do đó khi lớn lên, nó được thấm nhuần đức tin.

Gia đình cũng là môi trường để giáo dục đức bác ái yêu thương. Vợ chồng yêu thương nhau thì những người con lớn lên trong bầu khí đó cũng trở nên dịu dàng, quảng đại, dễ tha thứ, dễ cảm thông với những thiếu sót, những đau khổ của người khác. Chính Cha Mẹ và bầu khí gia đình giúp cho đức bác ái của đứa con ngày càng phát triển. Tôi lấy ví dụ: khi thấy đứa con mới 2, 3 tuổi đá hay làm đau một con vật và lấy làm thích thú, thì hãy lợi dụng cơ hội đó để giáo dục đức bác ái yêu thương. Nếu không, chúng ta đừng ngạc nhiên khi lớn lên nó biểu lộ sự độc ác, hung dữ…

Trong xã hội ngày nay, khi thấy quá nhiều tội lỗi, bạo lực, chúng ta ngạc nhiên và tự hỏi tại sao có những người quá độc ác như vậy ? Đó là do nơi gia đình, người ta không được lớn lên trong quá trình giáo dục làm người -giáo dục nhân bản- thể hiện con người.

Có lần tôi đọc bản tin về việc một người con xin mẹ mình điều gì đó, người Mẹ không đáp ứng được và từ chối, người con đã lấy dao giết Mẹ. Qua đó cho thấy trong gia đình, người con không cảm nghiệm được mình phải quan tâm đến tha nhân, đến khó khăn thiếu thốn của người khác, phải biết mở rộng tâm hồn để giúp đỡ. 

Gia đình còn phải giáo dục lương tâm, tôn trọng sự thật. Tất cả gian dối và sự lường gạt đều xuất phát từ đời sống của một gia đình không biết nhắc nhở con cái về những điều đó. Tôi lấy ví dụ : nếu một hôm, đứa con đưa về nhà một trái mít thật ngon, thật thơm… thế rồi Cha Mẹ con cái ăn thật vui vẻ và lại khen ngon ! Đáng lý phải đặt câu hỏi làm sao đứa bé có trái mít này ? Hóa ra nó đi ăn cắp của người bên cạnh, và nếu nó ăn cắp mà cả nhà đều vui vẻ sung sướng cùng ăn, thì chúng ta đã tham gia vào cái xấu, chúng ta đã giáo dục sai lầm. Lẽ ra trong trường hợp này, người Cha hay người Mẹ phải bảo con lập tức đem trả trái mít cho người ta, trong nhà này không ai thèm của phi pháp đó… Giáo dục qua những việc như vậy thì con cái sẽ có lương tâm trong sáng, sẽ khám phá những chân lý hướng dẫn cuộc đời nó.

Cuối cùng, tôi thấy điểm thứ năm được đề cập trong thư Mục vụ là : giáo dục để yêu mến và tôn trọng sự sống. Chúng ta thấy những em bé sẽ dần biểu lộ cá tính ra bên ngoài. Vậy khi thấy một khuynh hướng xấu nào đó phát triển, chúng ta phải giúp đỡ để chỉ dạy. Việc tôn trọng sự sống phải bắt đầu từ khi con còn nhỏ, thể hiện trong việc phải tôn trọng ngay đến những con vật. Đôi khi chúng ta thấy có những em nhỏ đối xử với súc vật cách bệnh hoạn, thích thú khi làm cho con vật phải đau đớn…

Giáo hội dạy chúng ta sự sống bởi Thiên Chúa, Ngài trao ban cho con người sự sống mang hình ảnh của Chúa. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, dù chưa mang hình hài con người, nhưng thai nhi đã có sự sống. Nếu gia đình biết giáo dục con cái biết tôn trọng thì khi ẵm một đứa nhỏ, nó cũng ý thức được rằng đây là một sự sống quý báu, cần phải có sự quan tâm, sự giúp đỡ.

Tại sao ngày nay chúng ta thấy vấn đề phá thai tràn lan? Tại con người coi thường, coi bào thai như tế bào vô tri vô giác. Không có ai dạy dỗ, nên họ sẽ chọn con đường dễ dãi để giữ danh dự của mình, để giũ bỏ trách nhiệm của mình.

Trong tất cả những việc trên, chúng ta thấy gia đình là tác nhân, là môi trường quan trọng trong việc giáo dục đức tin, giáo dục đức ái, giáo dục nhân bản, giáo dục về sự tôn trọng và yêu mến sự sống.

Về Giáo phận : Một biến cố tuy nhỏ nhưng có ảnh hưởng nhiều đến Giáo phận, đó là cuộc viếng thăm của phái đoàn Tòa thánh. Qua sự kiện này thì Giáo hội Việt Nam nói chung, và giáo phận Đàlạt nói riêng, đã có sự tương quan mật thiết hơn với Tòa Thánh. Dù chuyến viếng thăm rất vắn vỏi, nhưng cũng cảm nghiệm được vấn đề đặt ra cho Giáo hội Việt Nam.

Sau lần đó, qua tiếp xúc hoặc qua thư từ, tôi nhận ra Tòa Thánh biểu lộ sự tin tưởng nơi Giáo hội Việt Nam. Nhiều nơi trên thế giới cũng quy hướng về Giáo hội Việt Nam, một Giáo hội có kinh nghiệm trong thử thách, một Giáo hội có nhiều ơn gọi, một Giáo hội mà gia đình Công giáo là môi trường tốt để xây dựng đời sống đức tin. Đồng thời, Tòa Thánh luôn sẵn sàng giúp đỡ để thông cảm, không áp đặt mà chỉ muốn cộng tác, tôn trọng quyết định và chọn lựa của Giáo hội Việt nam. Tôi thấy nếu có tương quan và hiểu biết như vậy, thì dù bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn có sự trao đổi gặp gỡ và có kết quả thuận lợi hơn.

Một biến cố khác là cuộc hành hương về Đất Thánh. Tuy chỉ có 22 Linh mục, nhưng với ý nguyện bước theo chân Đức Kitô hầu có thể tổ chức sống Năm Thánh 2010. Đến bất cứ nơi nào chúng tôi cũng mang theo hình ảnh cả Giáo phận để suy niệm và cầu nguyện. Chúng tôi rất biết ơn anh chị em đã cầu nguyện cho cuộc hành hương đó được hoàn thành cách tốt đẹp.

Việc cung hiến nhà thờ : Không phải là những con số, nhưng khi một nhà thờ được cung hiến là dấu chỉ một cộng đoàn được hình thành, nơi đó có đủ điều kiện để sống và lớn lên trong đức tin. Trong năm vừa qua, đã cung hiến Nhà thờ Suối Thông, Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (Tân Bùi, 11/12/08), Nhà Thờ Lê văn Phụng (Tân Hóa, 13/12/08), Nhà Thờ Diom (Lạc Viên, 15/12/08), Nhà thờ Nam Phương (16/12/08). Tôi hy vọng sắp tới sẽ cung hiến Nhà thờ Đạ Loan và Nhà thờ Đạ Tông. Tại, cũng mới đặt viên đá đầu tiên xây dựng Nhà thờ Thánh Tâm (Hạt Đàlạt, 08/01/09), và nhà thờ Kitô (hạt Bảo lộc, 14/01/09).

Một vài hình ảnh cho thấy Giáo phận tiếp tục để có thể xây dựng cách vững chắc hơn. Chính trong chiều hướng đó, chúng tôi nghĩ đến một trung tâm mục vụ.

Chúng ta cần nhìn như thế này : trong Giáo phận có 180 Linh mục triều và dòng, để có 180 Linh mục phải mất bao nhiêu năm, bao nhiêu trường sở và huấn luyện đào tạo, rất vất vả, rất tốn kém. Hay với các tu sĩ (750 tu sĩ) : bất cứ tu sĩ nào cũng có giai đoạn đệ tử, thanh tuyển viện, tiền tập viện, tập viện, khấn tạm, tập sự, khấn trọn, thường huấn, tĩnh tâm… Để làm việc thì người tu sĩ phải trải qua các giai đoạn đó.

Thế thì với người giáo dân, những người qua Bí tích Rửa tội được tham dự vào 3 chức năng của Đức Kitô: tư tế, vương đế và ngôn sứ. Người giáo dân cũng phải rao giảng về Chúa, làm chứng cho Chúa, thánh hóa người khác.

Môi trường học đường, y tế, công sở, chợ búa… được trao cho giáo dân. Do đó, nếu xét cho kỹ và theo tổ chức Giáo hội, thì hàng Linh mục, tu sĩ nỗ lực để phục vụ giáo dân, giúp họ lớn lên trong đức tin, rồi chính giáo dân đi vào cuộc đời trở nên men, nên muối, nên ánh sáng. Lời Chúa nói với chúng tả  : “Các con hãy đi đến tận cùng thế giới để rao giảng”, nếu ngay trong thôn xóm mà anh chị em có tinh thần và ý thức về  ơn gọi của mình, thì đương nhiên anh chị em sẽ thực hiện rất tốt.

Phải có ơn Chúa và vấn đề là phải huấn luyện, huấn luyện từ khi còn nhỏ. Sẽ có lớp huấn luyện Thiếu nhi Cung thánh, huấn luyện ca trưởng, ca viên; tiếp nữa là huấn luyện Giảng viên giáo lý, ban hành giáo, các bà mẹ công giáo, Legio; ngoài ra còn có các lớp tiền hôn nhân, các lớp đồng hành về gia đình… Bao lâu thế giới còn tồn tại thì bấy lâu còn phải rao giảng Tin Mừng, phải huấn luyện để có những người đi rao giảng Tin Mừng. Vì vậy, một trung tâm chuyên biệt cho người giáo dân là việc phải có.

Tôi tin với một Giáo phận có hơn 300.000 giáo dân, với những việc mà chúng ta đã cố gắng làm cho đến hôm nay, chắc chắn anh chị em cũng sẽ sẵn sàng. Tôi tin điều đó! Có thể nói mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất, có kinh phí sẽ đặt viên đá đầu tiên. Với tổng chi phí tạm dừng ở 20 tỷ, tuy con số rất lớn, nhưng việc làm của chúng ta là việc làm đạo đức nên được Chúa chúc phúc và Chúa muốn, Chúa thúc đẩy, Chúa soi sáng để chúng ta hoàn thánh công trình này dịp Năm Thánh 2010.

Để được Chúa chúc phúc, để Năm Mới bình yên tốt đẹp, để sống, để hoàn thiện thì chắc chắn phải cầu nguyện nhiều. Trong mọi công việc thì cầu nguyện là điều thiết yếu không bao giờ bỏ qua được.

Tôi chỉ xin một điều không nặng nề, xin anh chị em ý thức hơn khi tham dự Thánh lễ. Sau Kinh Lạy Cha, vị Chủ tế có lời nguyện mà từ trước đến giờ có thể chúng ta nghe nhưng không để ý, từ nay hãy hiệp thông, biến tâm tình của Chủ tế trở nên tâm tình của mỗi người dâng lên Chúa: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nói với các tông đồ rằng: Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Xin đừng chấp tội chúng con, nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh Chúa, xin đoái thương ban cho chúng con được hợp nhất và bình an theo thánh ý Chúa”.

Xin hiệp nhất nghĩa là trong lòng Giáo hội chúng ta yêu thương, giúp đỡ, tha thứ; không nói xấu nhau, không làm hại nhau. Bản tính con người hay vấp phạm, nên xin Chúa cho chúng ta sống bình an với tất cả mọi người, không phân biệt, dù có thể có người làm hại chúng ta. Chúng ta cảm thấy mình không xứng đáng để xin vì mình cũng đầy dẫy tội lỗi, hãy nói với Chúa: “Xin  đừng nhìn đến tội lỗi chúng con, nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh Chúa”. Một Hội Thánh địa phương đã trên 400 năm tin vào Chúa. Hội thánh này, vì tin vào Chúa, đã có nhiều chứng nhân chết cho đức tin, có nhiều vị đã được tôn vinh, và tiếp nối tiền nhân, người giáo dân Việt Nam có đức tin mạnh mẽ, vững vàng. Xin Chúa ban cho chúng ta được hiệp nhất và bình an. Đây cũng chính là điều Đức Giêsu đã xin Chúa Cha cho chúng ta, và giờ đây chúng ta xin, thì Chúa Cha và Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần để chúng ta  được sống hiệp nhất và bình an.

 Cuối buổi gặp gỡ, cộng đoàn đã hát lên lời Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô như muốn bày tỏ con đường mà Giáo hội đã đi, đang đi và sẽ đi để mưu cầu phần rỗi cho chính mình và cho mọi người.

Tứ Linh