Anh chị em thân mến,
Như đã đề ra, chúng ta dành một ít thời gian để suy nghĩ về niềm tin của mình, liên quan đến cái chết và sự phục sinh của Chúa được cô đọng lại trong Kinh Tin Kính.
Hôm qua, chúng ta đã cố gắng hiểu hai điều có vẻ rất mâu thuẩn: Một đàng chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa quyền năng và vinh quang vô cùng. Đàng khác, Vị Thiên Chúa ấy lại cho Con của mình chết cách tức tưởi, tăm tối và yếu đuối đến tận cùng.
Xin được lập lại điểm mấu chốt nối kết hai điều trên. Trước hết là chữ “Cha” trong câu “tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha Toàn năng”. Chúng tôi không tuyên xưng một Thiên Chúa là Đấng Toàn năng mà là một Người Cha Toàn Năng, Người Cha làm tất cả vì con của mình. Đó cũng là sức nặng của câu nối kết “vì chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi”.
Nhiều bậc cha mẹ đã làm lụng vất vả, đã đau khổ rất nhiều vì con của mình, khi phải trả lời cho những điều đó trong cuộc đời, có lẽ chúng ta chỉ có thể trả lời bằng chữ “vì con”. “Vì chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi”, hãy nghe, hãy hiểu sức nặng của tình yêu Thiên Chúa.
Chúng ta từng xem bộ phim của Mel Gibson về Cuộc Khổ Nạn Của Chúa Giêsu và thấy không thể chịu nổi. Có những đoạn phim tôi không thể chịu đựng được vì nó đau đớn quá. Nhiều người cứ nghĩ tình yêu của Chúa thì thiêng liêng, nhưng khi xem cuốn phim, sẽ thấy nó xương thịt, thực tế và đau đớn vô cùng. Đau đớn cả thể xác và đau đớn cả linh hồn. Đau đớn thể xác thì chúng ta đã thấy, những lằn roi quất túi bụi lên một thân xác dập nát. Nhiều người không chịu được cảnh đó, nhưng nó là thật, nó là như thế. Có dịp chúng ta sẽ nói về tình yêu của Thiên Chúa thiêng liêng hay cụ thể.
Chúng ta đã nói về tình yêu của Thiên Chúa, hôm nay chúng ta nói về vế ngược lại: Tình yêu của chúng ta thì sao ?
Không phải vô lý mà hôm nay chúng ta được nghe chuyện của những người theo Chúa, những người ít nhiều đặt lòng tin vào Chúa, chuyện của Giuđa và Phêrô. Dù đã biết nhưng thiết nghĩ cũng nên nhắc lại.
Giuđa theo Chúa và cuối cùng ông đã bán Chúa bằng 30 đồng bạc, một giá rất rẻ, nếu biết đó là giá bán một người và người đó là Thầy của mình. Chưa dừng lại đó, Giuđa còn dùng cái đẹp nhất của kiếp người, cái ý nghĩa nhất của cuộc sống con người – nụ hôn, dấu chỉ của tình yêu tuyệt mức – để bán Thầy của mình. Dùng điều tốt đẹp nhất để thực hiện hành vi tồi tệ nhất.
Còn Phêrô không có gì dối trá, tình yêu của ông rất chân thành, yêu Chúa đến mức liều lĩnh. Ông không ngần ngại nói với Chúa “con sẽ thí mạng con vì Thầy”. Thế nhưng sau đó Phêrô không chỉ chối Thầy một lần mà đến ba lần ; không phải chối Thầy trước một phiên tòa ghê gớm mà là trước mặt một đứa tớ gái. Nếu như Phêrô bị lôi ra trước công đường, bị chất vấn, tra khảo khiến ông sợ và phải chối thì còn có thể hiểu được, đàng này chỉ một cô gái làm công, mới hỏi thì đã chối !
Chúng ta bình tĩnh ngẫm nghĩ hai câu chuyện đó.
Giuđa mang tiếng là người ham tiền. Nhưng một số nhà chú giải cho rằng ông không chỉ ham tiền, ông theo Chúa có ý đồ, có tham vọng riêng, một tham vọng chính trị, ông muốn thay đổi vận mệnh dân tộc. Ông hy vọng Chúa sẽ làm được điều đó, nhưng càng theo Chúa ông lại càng thất vọng vì không đúng theo ý của mình. Như vậy, khi Chúa không đúng theo ý mình thì Chúa không còn quan trọng nữa, và có thể bán được !
Điều đáng kể nơi Giuđa là con người theo Chúa, nhưng thực ra không phải theo Chúa mà là theo ý nghĩ, theo ước vọng, theo tham vọng, thậm chí là theo dục vọng của mình.
Còn với Phêrô, khó ai có thể nghi ngờ lòng mến chân thành của ông. Lúc nào cũng thế, ông luôn là người sẵn sàng, con người của ông là con người dám nói với Chúa cách mạnh bạo nhất về tình yêu, về sự sẵn sàng của mình “con sẵn sàng liều mạng con vì Thầy”. Nhưng điều mạnh nhất đó của Phêrô cũng là điểm yếu nhất.
Mỗi người hãy trả lời tại sao tình yêu của Phêrô chân thành như vậy, là điểm mạnh nhất mà cũng là điểm yếu nhất ?
Thưa là vì, dù chân thành nhưng đó chỉ là tình yêu của ông dành cho Chúa. Và ông cũng tưởng là ông yêu Chúa, yêu đến mức không tưởng được. Nhưng rồi những gì đã trải qua cho thấy ông không yêu Chúa như ông tưởng. Ngược lại, chính Chúa đã yêu ông không thể tưởng, chính Chúa đã tin ông, đã hy vọng ở ông không thể tưởng.
Nếu gặp người không chỉ chối mình một lần mà là ba lần, liệu chúng ta có còn tin, có còn mến, có còn dám hy vọng ở người đó không ?
Qua câu chuyện của Phêrô và Giuđa, chúng ta rút ra được hai điều liên hệ đến lòng tin của chúng ta.
Trước hết, câu chuyện của Giuđa nhắc nhở : chúng ta theo Chúa hay theo những tham vọng, những mong muốn của mình ? Chúng ta đến với Chúa nhưng điều chúng ta đuổi theo thật sự có phải là Chúa ?
Tiếp đến câu chuyện của Phêrô : chúng ta nghĩ mình yêu Chúa, tưởng mình yêu Chúa. Ngay giây phút này, nếu Chúa có vấn đề gì, có lẽ chúng ta cũng sẽ nói “Chúa đừng lo, con yêu Chúa và Chúa biết con…”. Chuyện của Phêrô cho thấy chưa chắc chúng ta yêu Chúa. Nhưng một điều ngược lại vô cùng chắc, đó là Chúa yêu chúng ta không thể tưởng được, bất chấp những yếu đuối của chúng ta.
Có bao giờ Phêrô nghĩ rằng “người đó” còn hy vọng, còn tin ở mình. Nhưng sau này, nhờ một tình yêu như thế, cuối cùng ông có thể thưa với Chúa “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa”.
Đố anh chị em, khi nói “Thầy biết con mến Thầy” thì thánh Phêrô nghĩ gì ?
Tôi nghĩ thế này, dù nói “Lạy Thầy, Thầy biết con mến Thầy”, nhưng trong lòng thánh Phêrô thì ngược lại “Thầy biết con có mến Thầy đâu, có hy vọng gì ở Thầy đâu, có tin tưởng gì ở Thầy đâu, Thầy biết con quá rõ mà. Nhưng sao cuối cùng con vẫn nói mến Thầy, chỉ vì tình yêu của Thầy lớn hơn tình yêu của con”. Thế thôi ! Chính tình yêu của Thầy cứu trái tim, tình yêu và cuộc đời của con. Trước tình yêu của Thầy con không là gì, nhờ đó, tình yêu của Thầy đối với con là tất cả.
Trở lại với Kinh Tin Kính, chúng ta vẫn đọc “Tôi tin kính một Thiên Chúa” mà có thể ít khi chúng ta để ý. Anh chị em nghĩ gì khi đọc câu này ?
Thực ra, khi nói chữ “tin” thì ít nhất có ba nghĩa:
- Tôi tin có Chúa, để phân biệt với người không tin có Chúa. Tôi là hữu thần còn người khác là vô thần. Nhưng việc tin có Chúa liệu có liên hệ gì đến cuộc đời của tôi không ? Không chắc ! Có thay đổi gì cuộc đời của tôi không ? Không chắc !
- Tôi tin Chúa, tin những gì được biết, được học hỏi về Chúa. Dĩ nhiên tôi tin Chúa nhiều điều lắm và tôi có thể kể ra tất cả những gì đã học ở các lớp giáo lý. Nhưng Kinh Tin Kính không nói là tin có Chúa, không nói là tin Chúa, mà dịch cho rõ, cho kỹ, cho đúng là: Tôi tin vào Chúa -Ibelieve in God – Je crois en Dieu, các ngôn ngữ khác làm rõ ý nghĩa đó. Tin là đặt cuộc đời của mình vào Chúa.
Đó là điều chúng ta chỉ nói với một ai đó vô cùng thân thiết. Chúng ta có thể đặt tất cả niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, tương lai của mình vào tay người đó nên mới nói như thế.
- Tôi tin vào Chúa, tôi tin ở Chúa (tiếng Việt rất hay : tin vào, tin ở). Còn chữ tin kính có lẽ khiến chúng ta mang một ý nghĩ trang trọng, một cảm giác kính sợ khi tin Chúa, nhưng chưa đủ. Chữ“tin vào Chúa”mang cả cuộc đời của chúng ta, nó vô cùng hiện sinh.
Còn lịch sử của Kinh Tin Kính, nhiều khi chúng ta nghĩ Kinh Tin Kinh ở trên trời rớt xuống, sách in sao đọc vậy… Thưa anh chị em, chuyện không đơn giản như thế.
Trước Kinh Tin Kính, hay nguồn gần nhất của Kinh Tin Kính đó là lời tuyên xưng của Phép Rửa. Nếu chúng ta nói “tôi tin kính” là chúng ta trả bài mà không cần ai nghe cả. Khi biết Kinh Tin Kính phát xuất từ Phép Rửa, mà trong Phép Rửa, khi nói “tôi tin” là bởi bị chất vấn. “Con có tin… không – Thưa con tin”. Và khi nói “thưa con tin” là đặt cả cuộc đời của mình, đánh cá cuộc đời của mình hay quyết định về đời sống của mình vào chữ “thưa con tin”. Cũng vậy khi được chất vấn và trả lời “Con có từ bỏ… – thưa con từ bỏ”.
Nhưng lời đáp -tin ở đây là một lời đáp- trong Phép Rửa, đưa chúng ta lần ngược lên câu hỏi của chính Chúa đặt ra cho các môn đệ và mỗi người buộc phải trả lời Ngài: “Con có tin vào Thầy không ? Con có tin ở Thầy không ?”
Nếu đưa câu “con tin vào Chúa” trở lại với câu chuyện của thánh Phêrô, chúng ta sẽ lượng ra được sức nặng của điều đó.
Khi thánh Phêrô nói “Thầy biết con mến Thầy”, chúng ta đừng nên phân biệt tin khác cậy, khác mến. Thử hỏi chúng ta có tin ai mà không yêu mến họ, không hy vọng ở họ ? Ngược lại, có khi nào chúng ta yêu mến một người mà không tin, không hy vọng gì nơi người đó ? Tôi xin nhắc lại, tin-cậy-mến là một. Hiểu như vậy thì câu nói của thánh Phêrô diễn tả bao nhiêu điều cũng được: “Thầy biết con tin ở Thầy, Thầy biết con cậy trông ở Thầy, Thầy biết Thầy là tất cả của con”… muốn nói gì thì nói, cái chữ không quan trọng cho bằng cái kinh nghiệm đức tin đó. Kinh nghiệm đức tin bao trùm tất cả tâm hồn và cuộc đời.
Khi thánh Phêrô nói “con mến Chúa” cũng có nghĩa là “con tin vào Chúa”. “Con tin vào Chúa” ở đây không phải là lời nói suông, không phải là một công thức, mà thậm chí là một nỗi đau vô cùng của thánh Phêrô. Bởi vì khi nói “con tin vào Chúa” thì thánh Phêrô đang mang một vết thương không thể nào lành, đó là ông đã không tin vào Chúa, không yêu mến Chúa như ông tưởng. Một vết thương mà Tin Mừng ghi lại cho đến hôm nay, sau khi chối Chúa ba lần thì thánh Phêrô “ra ngoài khóc lóc thảm thiết”.
Anh chị em thân mến,
Chúng ta đọc “tôi tin kính”, “tôi tin vào Chúa” mà không có chút gì là nước mắt, là niềm vui, là đau khổ, một chút gì vật vã trong tim, lời tuyên xưng đó của chúng ta e rằng trở thành công thức mà mất đi cái gọi là máu huyết, là xương thịt trong đó.
Có lẽ Tuần Thánh là thời gian để chúng ta làm cho lời tuyên xưng đức tin trở thành lời đáp mạnh mẽ bất chấp tương lai. Bởi vì lời đáp đó không dựa vào chính mình mà dựa vào tình yêu vô biên vô lượng của Thiên Chúa.
“Con tin vào Chúa mặc dù Chúa biết con không tin vào Chúa. Con mến Chúa mặc dù Chúa biết con không mến Chúa. Nhưng cuối cùng, con vẫn muốn nói con mến Chúa là vì Chúa yêu mến con”.
Nếu chúng ta có thể nói được như thánh Phaolô “Tôi biết tôi đã tin vào ai., Tôi chắc rằng Ngài sẽ giữ kho tàng của tôi mãi đến muôn đời”. Nếu đọc câu đầu mà chúng ta thấy mình bình an và như thể không còn sợ hãi, có lẽ chúng ta đã đạt đến đích. “Tôi biết, tôi đã tin vào ai”, nếu đúng như vậy thì câu nói đó đã đủ cho hôm nay và tương lai”.
TKL ghi









