Chiều thứ Tư Tuần Thánh, gia đình giáo xứ Chánh Tòa bước vào buổi tĩnh tâm cuối. Trước Thánh lễ, Cha Sở Phaolô Lê Đức Huân chủ sự nghi thức rước Dầu Thánh. Một lần nữa, Cha Sở Phaolô nhắc lại những ý nghĩa của dầu trong Cựu Ước ; giá trị của Dầu được hiến thánh trong Phụng vụ của Giáo Hội ; sự cần thiết của Dầu Thánh trong đời sống người tín hữu. Nghi thức tuy đơn sơ, vắn gọn, nhưng giúp người tín hữu ý thức hơn về ân sủng Thiên Chúa ban cho con người qua những dấu chỉ, qua những chất liệu bên ngoài.
Trong bài giảng lễ, Cha Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm tiếp tục giúp cộng đoàn về đời sống đức tin của người Kitô hữu với đề tài : “Bí Tích Thánh Thể – Tình Yêu giữa lòng thời gian”. Cha Athanasiô chia sẻ :
“Anh chị em thân mến,
Chúng ta tĩnh tâm, hay nói đúng hơn là đi vào trọng tâm đời sống đức tin của người Kitô hữu trong bối cảnh thật đặc biệt. Chúng ta đã nói về tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người, và đã nói tới tình yêu của con người dành cho Thiên Chúa.
Hôm nay, từ Lời Chúa xoay quanh bữa Tiệc Vượt qua, bữa Tiệc ly, chúng ta quy vào chỉ một điều nhưng cô đọng cả hai khía cạnh của tình yêu, tình yêu thần linh và tình yêu nhân linh : tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại và tình yêu của một Người mang lấy mọi con người dâng lên Thiên Chúa, đó là Bí tích Thánh Thể.
Để đào sâu lòng tin của chúng ta về kinh Tin Kính cũng như Bí tích Thánh Thể, trước hết chúng ta hãy trở lại với Kinh Tin Kính : Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng ba điều căn bản :
– Tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa là Cha Toàn năng, tạo dựng muôn loài.
– Tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu Kitô.
– Và từ Đức Giêsu Kitô chịu chết treo trên thập giá với trái tim bị đâm thâu, Thánh Thần Thiên Chúa được tuôn trào từ trái tim Chúa Giêsu mà chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Chúa Thánh Thần.
Từ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chúng ta tuyên xưng sự sống của Kitô hữu, của Giáo Hội, của tất cả đời sống Kitô giáo. Cuối cùng, chúng ta đạt tới điểm tối hậu : tin Phép tha tội, tin nhân loại này được cứu rỗi trọn vẹn cả hồn lẫn xác, tin sự sống vĩnh cữu.
Như thế, Kinh Tin Kính không phải là những điều rời rạc được ghép lại, nhưng là một đề xuất cho nhân loại cái nhìn vô cùng rộng lớn về Lịch sử Cứu độ : Thiên Chúa dựng nên mọi sự, đó là khởi nguyên; Chúa muốn đem mọi người về với Ngài trong sự biến đổi cả hồn và xác, của tất cả mọi vật mọi loài, và đó là cùng tận, là viễn cảnh mà Kinh Tin Kính mở ra.
Vậy, tại sao chúng ta không thấy nói đến Bí tích Thánh Thể trong Kinh Tin Kính?
Thưa có, nhưng Bí tích Thánh Thể có thể hiểu như một thứ ánh sáng chiếu dọi từ trung tâm. Thật vậy, cốt lõi của Bí tích Thánh Thể chính là cái chết tự hiến của Chúa Giêsu, cái chết-hiến-thân cho những người mình yêu mến, cái chết ở tâm điểm của lịch sử. Không phải Ngài “chịu chết” hay “bị người ta đẩy vào chỗ chết”, nếu vậy thì cái chết của Ngài cũng như bao người khác và cũng đau đớn như bao con người bị đẩy đến chỗ chết. Nhưng là cái “chết-cho”, “hiến-thân-cho” nhân loại, hôm nay và mãi mãi.
Vì tự hiến nên cái chết của Chúa Giêsu không dừng lại, ngược lại là cái chết-khai-mở, chết đi để trao ban tất cả. Thực tình tôi cũng không hiểu lắm khi Kinh Thánh và thần học nói về cái chết-tự-hiến của Chúa, có chăng là nhờ ở lời này, lời của chính Chúa Giêsu trong Tin Mừng Gioan : “Thật, tôi bảo thật các ông, nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn Thịt tôi và uống Máu tôi thì được sự sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết” (Ga 6, 53-54). Nghe lời này, trước hết chúng ta cảm nhận cái chết của Chúa, nhưng đó là cái chết mang hết con người của mình cho nhân loại. Cái chết muốn được chia sẻ với mọi con người, để bất cứ ai tham dự vào cái chết này, bằng cách đón lấy Thân Mình bị phó nộp và Máu đổ ra, thì người đó được sống muôn đời và thân xác của họ sẽ sống lại trong ngày sau hết.
Nói cho cùng, chỉ cần như vậy thì anh chị em cũng nhận ra Kinh Tin Kính đã nói tất cả về Bí tích Thánh Thể. Bởi vì một Thiên Chúa là Cha đã yêu thương nhân loại đến nỗi ban chính Con Một Ngài ; và Người Con Một ấy yêu thương nhân loại đến nỗi ban chính Thân Mình, để nói với chúng ta : ngày xưa và hôm nay, mỗi ngày, mỗi khi có Thánh Lễ thì : “đây là Mình Thầy – con hãy cầm lấy ; đây là Máu Thầy – con hãy cầm lấy”.
Anh chị em thân mến,
Có lần chúng ta đặt câu hỏi : tình yêu của Chúa thì thiêng liêng hay cụ thể ? Bây giờ chúng ta đã có câu trả lời. Một câu trả lời chưa có ai và mãi mãi không có ai thốt lên được : Đây không phải là điều gì đó của tôi, không phải là vật gì rất quý của tôi, mà đây là chính tôi cho anh, cho chị, cho em.
Nếu một ai đó yêu người khác tới mức tuyệt đối, thì trong bình diện nhân loại, trong giới hạn của con người, đành phải lấy một vật hay một điều gì đó để biểu lộ tình yêu của mình : “tôi thương anh lắm và tôi cho anh vật này hay điều này”. Chẳng ai nói với chúng ta : “Tôi thương anh lắm và tôi không cho anh gì cả nhưng cho anh chính cuộc đời của tôi”.
Khi nói đến Bí tích Mình và Máu Thánh Chúa, chúng ta đừng nghĩ một cách quá vật chất, nghĩ rằng Chúa cho chúng ta một chút thịt, một chút máu… Ai nói rằng : “tôi cho anh mình của tôi, máu của tôi”, thì có nghĩa không cho cái gì vật chất mà là cho cả con người. Ấy thế mà khi nói cho cả con người thì vẫn nói bằng ngôn ngữ vô cùng cụ thể và rất cụ thể : “tôi cho anh mình của tôi, máu của tôi, anh hãy cầm lấy”.
Đã có ai đã nói với anh chị em điều này chưa ? Và nếu vậy, tôi hỏi anh chị em, tình yêu Chúa cụ thể hay không cụ thể, thiêng liêng hay không thiêng liêng ?
Tôi nghĩ câu trả lời thế này : tình yêu của Chúa vô cùng thiêng liêng, nhưng diễn tả qua những điều hết sức cụ thể. Cụ thể đến mức không ngờ. Tình yêu đó nói với chúng ta : “đây là Mình của Thầy, đây là Máu của Thầy !” Có gì cụ thể hơn !?
Nhưng ngược lại, những gì là vật chất nhất, cụ thể nhất như bánh, rượu, thì bằng tình yêu và với tình yêu sẽ trở thành thiêng liêng, đến nổi chúng ta nhận được là đón lấy chính tình yêu của Chúa chứ không phải bánh, không phải rượu.
Ở đây tôi xin mở ngoặc : khi học về Phụng vụ hay học giáo lý, chúng ta thường nói, thậm chí nhiều khi chúng ta dạy dỗ con cái là : sau khi linh mục truyền phép thì rượu không còn là rượu mà là Máu Chúa ; bánh không còn là bánh mà là Mình Chúa.
Là linh mục tôi cũng tự hỏi, tôi truyền phép gì để được điều đó ? Thưa, tôi chẳng có phép gì cả, tôi không truyền gì cả, tôi chỉ làm một lời của Chúa vọng lại mãi trong thời gian – và mọi linh mục cũng chỉ làm điều đó. Qua con người, qua tiếng của mình mà lời Thiên Chúa được vang lên một lần nữa cho mọi con người, cho mỗi anh chị em.
Khi linh mục nói : “Đây là Mình của Thầy, đây là Máu của Thầy” đó có phải là truyền phép không ? Nghĩ cho cùng đó không phải là truyền phép mà tôi chỉ nói thống thiết, cụ thể, thiêng liêng một lời của Chúa, nói lên tất cả tình yêu của Chúa cho tôi chính con người và tất cả những gì cụ thể nhất của Ngài. Tôi không truyền phép, tôi chỉ dâng cho Chúa tiếng nói tầm thường của tôi, để lời của Chúa một lần nữa được vang lên trong lịch sử và mãi mãi vang lên bao giờ còn con người, bao giờ còn Thánh Lễ : “Đây là Mình của Thầy – anh em hãy cầm lấy mà ăn ; đây là Máu của Thầy – anh em hãy cầm lấy mà uống”.
Tôi nói lại một lần nữa, Bí tích Thánh Thể thực ra là để cái chết tự hiến của Chúa mãi mãi là hiện tại, nhờ đó chúng ta có được một tương lai. Không linh mục nào truyền phép được, chỉ có lời Chúa Giêsu, một lời Ngài nói với chúng ta trong thời gian và trong lịch sử. Chính lời đó biến đổi chúng ta, chính lời đó cụ thể đến mức như một vật thể để chúng ta cầm lấy.
Nhiều khi chúng ta nói về Chúa thiêng liêng quá, chúng ta tin vào Chúa, chúng ta biết, chúng ta học về Chúa, nhưng Chúa nói với chúng ta “Con hãy cầm lấy, con hãy nhận lấy” cho cuộc đời của con. Chúa không nói : “con hãy hiểu Ta, con hãy biết Ta”.
Vâng, hãy cầm lấy rồi con sẽ hiểu. Đôi khi hãy đủ khiêm tốn mở lòng ra rước lấy Chúa rồi sẽ hiểu về Chúa. Đừng đợi lúc sạch hết tội rồi lên rước Chúa và sau đó mình chẳng thay đổi gì cả. Không, hãy mở lòng rước Chúa rồi Chúa sẽ giúp chúng ta hiểu về Ngài. Chính tình yêu của Chúa giúp chúng ta hiểu về Chúa chứ không phải do sự thánh thiện trong sạch của chúng ta.
Đây là một bài học vô cùng lớn lao về tình yêu, bài học của Bí tích Thánh Thể. Nói tới tình yêu quá thiêng liêng mà không diễn tả thành điều cụ thể, trong khi những gì là cụ thể chúng ta lại không dùng tình yêu để biến thành thiêng liêng. Có bao điều cụ thể trong cuộc đời, trong gia đình của chúng ta có thành thiêng liêng đâu ! Là vì tình yêu của chúng ta không đủ để làm cho thành thiêng liêng những gì là cụ thể. Và những gì là thiêng liêng nhất, chúng ta lại không biến nó thành ngôn ngữ hay những gì cụ thể trong cuộc đời mình.
Hãy làm cho những gì thiêng liêng nhất trở thành cụ thể – và làm cho những gì cụ thể nhất trở thành thiêng liêng. Đó là bài học của tình yêu Thánh Thể.
Tôi gợi ra một vài kinh nghiệm, để anh chị em thấy mình phải học với các thánh, với những con người đã rước Chúa một cách kỳ diệu, một cách không thể tưởng. Còn chúng ta rước Chúa như thể rước một điều gì đó, không liên hệ gì đến mình, rước cho yên lương tâm, đi lễ và có rước lễ, sau đó thì không hiểu gì về cuộc đời của mình và cũng chẳng thay đổi gì.
Một đoạn thư của thánh Inhaxiô gửi tín hữu Rôma, được viết trước khi ngài bị mãnh thú xé nát thân mình : “Tôi là hạt lúa miến của Thiên Chúa, và được nghiền tán bởi răng của thú dữ. Để rồi nên tấm bánh tinh tuyền của Đức Kitô”. Một người sắp chết hiểu về cuộc đời mình như những hạt lúa miến, được nghiền nát làm thành tấm bánh, tấm bánh đó được dâng lên Thiên Chúa hay được kết hiệp với tấm bánh tinh tuyền của Đức Kitô.
Không biết nhiều về thánh nhân, nhưng tôi nghĩ chắc ngài rước lễ cách thật đặc biệt, nên ngài nhìn cuộc đời, những đau khổ và cái chết của mình như câu chuyện của những hạt lúa miến, của một tấm bánh dâng lên Thiên Chúa, dâng lên cho Chúa.
Tôi và anh chị em rước lễ bao nhiêu lần, mà có bao giờ nghĩ cuộc đời của mình dâng lên cho Chúa. Một tấm bánh chứa đựng đau khổ như những hạt lúa mì phải bị nghiền tán.
Kinh nghiệm thứ hai của một nhà thần học nổi tiếng viết về Bí tích Thánh Thể trong cuốn “Cảnh vực thần linh”, hay một tác phẩm nổi tiếng khác “Thánh thi vũ trụ”, đó là cha Teilhard de Chardin. Tôi đọc để anh chị em thấy một người không được đi lễ, không có gì để dâng lễ, nhưng cuối cùng vẫn dâng lễ, dâng bằng chính cuộc sống của mình giữa thiên nhiên vũ trụ. Đây là đoạn ngài viết khi đang làm việc ở Trung quốc, ở một miền quê, một vùng thảo nguyên, không bánh, không rượu, ngài dâng lễ thế nào :
“Bởi một lần nữa, lạy Chúa, không phải trong rừng núi vùng Ainse mà là trên đồng nội Châu Á, con không có bánh cũng chẳng có rượu hay bàn thờ, vì thế con sẽ vươn lên trên các biểu tượng, cho đến Thực Tại trong tất cả nét tinh khôi huy hoàng của nó. Và con, một linh mục, sẽ dâng lên Ngài lao công và khổ nhọc của thế giới, trên Bàn thờ là Trái Đất này.
Đàng kia, ánh dương vừa chiếu sáng mép riềm của Đông phương nguyên sơ. Một lần nữa, dưới tấm thảm di động của ánh lửa mặt trời, bề mặt sinh động của trái đất thức giấc, run rẩy, để rồi khởi đầu vòng lao lung đáng sợ. Con sẽ đặt trên dĩa thánh của con, ôi lạy Chúa, mùa gặt chờ đợi từ nỗ lực mới này. Và con sẽ rót vào chén thánh của con, tinh chất của mọi trái cây mà hôm nay sẽ được nghiền ép.
Dĩa thánh và chén thánh của con, là những miền thẳm sâu của một tâm hồn mở toang cho mọi sức mạnh, mà trong giây lát sẽ vươn lên từ mọi điểm trên địa cầu và cùng quy hướng về Thần Khí. Hãy đến cùng tôi, ký ức và hiện diện huyền diệu của những ai được ánh sáng đánh thức cho một ngày mới”. (Teulhard de Chardin, Hyme de l’Univers, du Seuil, 1961, p.21-22, bản dịch riêng)
Anh chị em thân mến,
Nếu Chúa nói với mỗi người : “Thầy đây, Mình của Thầy đây, Máu của Thầy đây” mà chúng ta cảm thấy chưa đủ, thì tôi cũng tự hỏi cho chính tôi : Vậy thì thế nào là đủ cho cuộc đời của chúng ta hôm nay và mãi mãi ?”

TKL ghi








