(Kính tiễn Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn)
Sáng sớm ngày 23-04-2010, như mọi ngày thức dậy xem tin tức, tôi bàng hoàng xúc động khi đọc hàng tin trên internet: “Giám mục Nguyễn Văn Nhơn về Hà Nội”. Tôi liền lên mạng Simonhoadalat.com thì đọc được tin chính thức của Tòa Giám mục Đà Lạt công bố việc Đức Cha Nhơn được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Phó Hà Nội. Tôi lặng người và nghĩ rằng có lẽ không phải riêng tôi, mà cả giáo phận Đà Lạt sẽ phải ngậm ngùi luyến tiếc trước sự ra đi của Đức Cha Nhơn – một vị chủ chiên nhân từ, đạo đức của giáo phận Đà Lạt trong 16 năm qua.
Tôi được phước duyên biết Đức Cha trong một hoàn cảnh thật đặc biệt. Dù không sinh quán ở Đà Lạt nhưng tôi thấy rất gắn bó với thành phố mờ sương này, hơn cả thành phố Sài Gòn nơi tôi sinh ra. Có lẽ vì cảnh đẹp thơ mộng, bông hoa rực rỡ muôn màu và khí hậu dịu mát của miền cao nguyên đã làm cho tôi một lần đến là khó quên. Thêm vào đó là những ký ức của cả một thời thơ ấu đã nhiều lần được ba má dẫn lên Đà Lạt, được biết đến Hồ Xuân Hương, Hồ Than Thở, Thác Cam Ly, Thác Prenn, Thung Lũng Tình Yêu, trường Võ Bị Đà Lạt, Lycée Yersin, trường Adran… Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất là những lần cùng gia đình đến Tòa Giám mục Đà Lạt, đối diện Hồ Xuân Hương, để viếng thăm Đức Cha Simon Hòa Hiền.
Ba tôi từng là học trò của Cố Đức Cha Simon Hòa ở trường Thiên Hựu, Huế và được Cố Đức Cha rất thương yêu. Từ khi Ngài được bổ nhiệm làm Giám mục Sài Gòn và sau đó là Giám mục Đà Lạt, gia đình chúng tôi thường đến Tòa Giám mục để viếng thăm Ngài. Sự yêu quý đó đã ảnh hưởng sâu xa đến cuộc đời chúng tôi. Chính Cố Đức Cha đã “gửi gắm” các chị em chúng tôi vào các trường dòng nổi tiếng thời bấy giờ ở Sài Gòn: tôi và em trai vào học trường La San Taberd, còn chị và em gái tôi vào trường Saint Paul. Chúng tôi đã tiếp tục học tại đó 12 năm liên tiếp cho tới lớp Terminale. Khi Cố Đức Cha được bổ nhiệm về Đà Lạt, ba má thường đưa gia đình đến thăm Ngài, lần cuối cùng là vào hè năm 1973, trước khi Ngài qua đời vài tháng sau đó. Tôi không bao giờ quên được khuôn mặt nhân từ luôn nở nụ cười của Ngài mỗi lần tiếp đón gia đình chúng tôi. Năm 1996, lúc ba tôi hấp hối ở bệnh viện tại Montréal, ông chỉ trối lại với tôi là nhớ đến viếng phần mộ Cố Đức Cha khi có dịp về Đà Lạt – một vị thầy đã rất thương yêu ba tôi.
Năm 1997, tôi bắt đầu sắp xếp để thực hiện di huấn của ba. Việc trước tiên là tôi phải liên lạc với Tòa Giám mục Đà Lạt để nắm tình hình, vì từ sau năm 1975, chúng tôi đã mất liên lạc. Tôi nghĩ đến việc viết một lá thư cho đương kim Giám mục mà tôi chưa hề biết tới, để xin một tấm hình của Cố Đức Cha Simon Hòa và xin phép đến thăm Tòa Giám mục khi có dịp đặt chân tới thành phố Đà Lạt. Vài tuần sau đó, tôi nhận được thư trả lời của Đức Cha Phêrô Nhơn. Tôi rất cảm kích sự ưu ái của Ngài khi đã đáp lời thỉnh cầu của tôi trong thời gian ngắn và còn hỏi thăm khi nào tôi sẽ về Đà Lạt. Lời mời gọi đó đã thúc giục tôi sớm lên đường trở về Việt Nam. Hơn nữa, tôi muốn thực hiện di huấn của ba trước ngày mãn tang ông trong vài tháng tới. Hè 1998 là chuyến đầu tiên tôi trở về Việt Nam nên cũng hơi lo lắng, không biết có gặp khó khăn gì không và hành trình cũng vất vả vì lúc đó con nhỏ của tôi chưa đầy 3 tuổi, còn phải bồng trên tay.
Sau vài ngày ở Sài Gòn, vợ chồng tôi cùng hai con đặt chân lên thành phố Đà Lạt. Sau 25 năm, tôi rất xúc động khi trở lại thành phố thơ mộng này. Xe chạy vào thành phố, nhìn lại Hồ Xuân Hương, chợ Hòa Bình vẫn không thay đổi. Ngày hôm sau, chúng tôi đến Tòa Giám mục yết kiến Đức Cha Phêrô. Đức Cha hân hoan tiếp chúng tôi trong phòng khách của Tòa Giám mục, cũng chính là nơi ngày xưa Cố Đức Cha Simon Hòa từng gặp gỡ gia đình chúng tôi. Tôi vẫn còn nhớ sự lo lắng chu đáo của Đức Cha khi Ngài hỏi chúng tôi ở khách sạn bên ngoài có an toàn không. Tôi được biết Đức Cha là người con của Đà Lạt nên được phục vụ ở quê nhà đối với Ngài là lý tưởng nhất. Đức Cha đưa chúng tôi đi viếng phòng truyền thống, nơi Ngài lưu giữ những đồ cổ truyền của các sắc tộc bản địa. Mỗi lần có khách đến viếng, Đức Cha đều đích thân dẫn vào tham quan căn phòng này. Chúng tôi từ giã Đức Cha để đến Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Lạt viếng mộ Cố Đức Cha Simon Hòa. Tại đây, tôi được gặp Cha sở Giuse Vũ Duy Thống (sau này là Giám mục) và được Cha đưa đến chân bàn thờ, nơi đặt bia mộ Cố Đức Cha Simon Hòa. Chúng tôi đặt bó hoa lên bia mộ và cùng cầu nguyện. Lòng tôi cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng vì đã thực hiện được ước nguyện của ba và tìm lại được niềm hạnh phúc như những ngày xa xưa.
Từ đó, tôi vẫn thường xuyên liên lạc với Tòa Giám mục Đà Lạt, với Đức Cha Phêrô và Linh mục Lê Minh Tính (quản lý). Tôi theo dõi đều đặn sinh hoạt của giáo phận trên mạng Simonhoadalat và rất hạnh phúc khi được góp phần xây dựng giáo phận. Tôi vẫn ghi nhớ mãi ân nghĩa của các Đức Cha. Tôi vẫn còn giữ nguyên niềm xúc động khi nhận được tấm thiệp của Đức Cha Phêrô gửi từ La Mã nhân dịp Ngài đi viếng mộ hai Thánh Phêrô và Phaolô cách đây vài năm. Tại đây, Đức Cha đã không quên cầu nguyện cho gia đình chúng tôi bên cạnh ngôi mộ các thánh. Có một dịp Tết, tôi gọi điện thoại về chúc Tết Đức Cha thì được biết Ngài thường vắng mặt ở Tòa Giám mục vào các ngày Tết để đi làm lễ tại các buôn làng xa xôi. Đức Cha rất quan tâm đến người đồng bào sắc tộc của giáo phận, Ngài thường đến dâng lễ và rao giảng Tin Mừng cho họ. Lần sau cùng gia đình tôi gặp lại Đức Cha là vào tháng 7 năm 2005 khi chúng tôi trở lại Đà Lạt. Ngài vẫn mạnh khỏe, thanh thản và hạnh phúc với công việc tông đồ dù Ngài tâm sự rằng mình “đã có tuổi rồi”. Lần này, tôi xin Ngài cho trở lại viếng phòng truyền thống. Căn phòng lúc này đã trưng bày nhiều đồ vật hơn trước. Ngài giảng giải cho chúng tôi nghe về lịch sử giáo phận Đà Lạt từ thời Đức Cha Cassaigne.
Những năm tháng trôi qua, tôi hiểu rõ tâm tình của Ngài đối với giáo phận Đà Lạt – nơi Ngài sinh trưởng, và đặc biệt là tình cảm sâu đậm đối với những người anh em thiểu số. Cách đây 2 năm, Ngài can đảm nhận lãnh trách nhiệm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam trong hoàn cảnh khó khăn của Giáo hội, nhất là ở miền Bắc. Giáo hội Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả dưới sự lãnh đạo của Ngài. Tôi có dịp xem qua DVD Ad Limina 2009, ghi lại cảnh Ngài cùng toàn thể các Giám mục Việt Nam sang La Mã kính viếng mộ hai Thánh Phêrô, Phaolô và yết kiến Đức Thánh Cha – một sự kiện lịch sử từ trước đến nay. Cũng dưới trách nhiệm của Ngài, Giáo hội Việt Nam đã tưng bừng tổ chức Năm Thánh 2010 tại Sở Kiện vào tháng 11 năm 2009 vừa qua. Ngày hôm nay, Ngài thực hiện đức “vâng lời” để nhận lãnh trách nhiệm khó khăn và phức tạp hơn tại giáo phận Hà Nội.
Hai ngày sau khi tin bổ nhiệm được loan báo, tôi gọi điện thoại về Tòa Giám mục Đà Lạt để vấn an và đồng thời “chúc mừng” Ngài. Thay vì nhận lời “chúc mừng” đó, Ngài chỉ xin lời cầu nguyện. Ngài biết con đường sắp tới sẽ có nhiều thử thách khi tuổi tác của Ngài đã cao. Thay vì được hưu dưỡng ở nơi sanh quán Đà Lạt, Ngài chấp nhận dấn thân vì lợi ích của anh em và để vâng theo ý chỉ của Tòa Thánh. Ngài rất xúc động khi tôi bày tỏ sự đồng cảm đó. Những tâm tình ấy tôi đã được diễm phúc thấu hiểu qua những lần gặp gỡ và liên lạc suốt hơn 13 năm qua kể từ khi quen biết Ngài. Mấy tháng gần đây, tôi cũng rất bất bình khi đọc trên mạng những thông tin xuyên tạc, đầy ác ý đối với Ngài. Nhưng Ngài vẫn âm thầm chu toàn nhiệm vụ của mình mà không một lời oán trách hay thanh minh. Quả thật, Ngài quá cao cả!
Cho đến hôm nay, lòng tôi vẫn còn bị chấn động trước tin bổ nhiệm của Ngài. Tôi nói với Ngài rằng tôi sẽ không còn có dịp thăm Ngài ở Tòa Giám mục nữa mỗi khi trở về thành phố Đà Lạt thân yêu. Ngài trả lời: “Thì chúng ta sẽ gặp nhau trong lời cầu nguyện vậy”. Vâng, tôi sẽ ghi nhớ mãi tâm tình này và cầu chúc Ngài có nhiều nghị lực để vượt qua các khó khăn trong nhiệm vụ mới. Hy vọng trong tương lai, gia đình tôi sẽ có dịp cầu nguyện cho Ngài tại mộ hai Thánh Phêrô và Phaolô, như ngày nào Ngài đã nghĩ đến gia đình chúng tôi.
Từ nơi xa xôi xứ người, gia đình chúng con kính tiễn Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn rời thành phố Đà Lạt.
Nguyện xin Thiên Chúa luôn giữ gìn Đức Cha.
BS. Nguyễn Quang Hiệp và gia đình
Montréal, Canada 01-05-2010









