“Kính thưa Cha Tổng Đại Diện, Quý Cha Hạt Trưởng, anh em Linh mục thân mến,

Thưa các tu sĩ nam nữ chủng sinh và anh chị em giáo dân,

Hôm nay, chúng ta cử hành nghi lễ làm phép dầu, hiến thánh Dầu Thánh, làm phép Dầu Dự tòng và Dầu Bệnh nhân, để dùng trong đêm Vọng Phục sinh khi có cử hành các Bí tích gia nhập Kitô giáo cho người lớn và cho nhu cầu mục vụ trong cả năm.

Lễ này cũng thể hiện sự hiệp nhất của Linh mục đoàn với Giám mục của mình qua việc đồng tế và lập lại lời hứa ngày chịu chức Linh mục.

Lễ này cũng thể hiện sự hiệp thông và cầu nguyện cho Giám mục và các Linh mục, anh chị em Dự tòng sắp gia nhập Đạo cũng như mọi thành phần Dân Chúa.

Trong Thánh lễ này, chúng ta được hưởng Ơn Toàn Xá. Để hưởng Ơn Toàn Xá phải thực hiện một số việc rất đơn giản, nhưng có một tâm tình quan trọng phải làm, nếu không cũng chẳng ích gì, đó là thật lòng dứt khoát với mọi dính bén với tội lỗi, kể cả tội nhẹ. Bởi sức mình, chắc chúng ta không thể thực hiện được, nhưng với Ơn Chúa và đặc biệt trong những dịp lễ này, chúng ta có thể thực hiện được”.

Những lời đầu lễ của Đức Cha Phêrô đã nói lên hết ý nghĩa của Thánh lễ này. Sự hiện diện của 175 Linh mục trong Linh mục đoàn Giáo phận Đàlạt, sự hiện diện của đông đảo các tu sĩ nam nữ – chủng sinh, sự hiện diện của bà con giáo dân từ nhiều nơi trong Giáo phận tại Nhà thờ Chánh Tòa Đàlạt hôm nay, diễn tả tình hiệp nhất trong gia đình Hội Thánh.

Hơn thế nữa, trong Năm Linh mục, việc các Linh mục lập lại lời hứa trong ngày nhận lãnh Bí tích Truyền chức Thánh, không chỉ là nhắc nhở, nhưng còn khích lệ các Linh mục tiếp tục dấn bước, sống và chết cho lý tưởng mà Đức Kitô mời gọi và các ngài đã quảng đại bước theo. Các Linh mục cũng không thể thi hành sứ vụ của mình được, nếu thiếu sự cầu nguyện, yêu thương và cộng tác của các tu sĩ nam nữ và giáo dân. Cùng hiệp thông trong Thánh lễ này, mọi thành phần đều muốn dấn thân để phục vụ Hội Thánh Chúa cách trọn vẹn. Để được như vậy, đòi hỏi tất cả phải luôn phải gắn bó mật thiết với Đức Kitô, Người Anh Cả và là Người dẫn đường cho chúng ta. Thiên Chúa, qua Đức Kitô, đã dùng những dấu chỉ bên ngoài để diễn tả ân sủng thiêng liêng được ban cho con cái của Ngài. Một trong những dấu chỉ đó là chất liệu Dầu. Với những ý nghĩa của ngày lễ và qua các Bài đọc Lời Chúa, Đức Cha Phêrô chia sẻ :

“Cử hành nghi lễ làm phép dầu và rước dầu có truyền thống lâu đời trong Hội Thánh. Ngay trong thời Cựu ước, cũng có nghi thức xức dầu khi chọn một ngôn sứ hay vua. Những ý nghĩa siêu nhiên của việc xức dầu, chúng ta bắt gặp trong các bài Kinh Thánh.

Cách riêng trong bài sách tiên tri Isaia, Thiên Chúa tuyển chọn Đấng Messia, Đấng Cứu thế và xức dầu Thánh Thần để sai Ngài đi loan báo Tin mừng. Đoạn sách này có khoảng 800 năm trước khi Chúa Giêsu ra đời. Vậy mà khi Chúa Giêsu bắt đầu đi rao giảng, Ngài lại đọc chính đoạn đó và kết luận : Vị Thiên sai đó chính là Ngài.

Anh chị em thật diễm phúc khi tham dự nghi lễ này, chúng ta ý thức là Thiên Chúa tiếp tục dùng các dấu chỉ bên ngoài để diễn tả những hồng ân được ban cho chúng ta.

Việc thánh hiến Dầu Thánh, không làm phép nhưng là Thánh hiến. Dầu Thánh được dùng trong Bí tích Rửa tội, Thêm sức, Truyền chức Linh mục, tấn phong Giám mục, cung hiến Bàn thờ và Nhà thờ. Những người và những vật được xức dầu này là được thánh hiến cho Thiên Chúa, được mang danh hiệu Kitô như chính Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Kitô có nghĩa là Đấng-được-xức-dầu của Thiên Chúa. Bài đọc I nói rõ về điều này.

Làm phép Dầu Dự tòng để chuẩn bị cho những ai sắp được làm con cái Chúa qua Bí tích Rửa tội, để họ sẵn sàng sống đời sống mới với những vinh dự và những thử thách kèm theo.

Làm phép Dầu Bệnh nhân để giúp người đau yếu thêm sức mạnh, can đảm chống trả những cơn cám dỗ và bền bĩ theo Chúa trên đường thập giá, như lời thánh Giacôbê dạy bảo.

Biết như vậy để chúng ta thêm lòng kính trọng Dầu Thánh và có niềm tin khi nhận lãnh.

Trong Thánh lễ này, các Linh mục lập lại lời hứa khi chịu chức Linh mục ; Linh mục đoàn của Giáo phận đồng tế trong Thánh lễ này vừa chứng kiến, vừa cộng tác trong hoạt động mục vụ của Giám mục, qua việc cùng Giám mục xây dựng, thánh hóa, quản trị đoàn chiên được trao phó cho mình dưới quyền một chủ chăn duy nhất là Đức Kitô.

Vậy hơn ai hết, các Giám mục và Linh mục được mời gọi nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là Vị Mục tử dịu hiền và khiêm nhường. Xin anh chị em cầu nguyện cho Hội Thánh có nhiều ơn gọi và nhiều mục tử thánh thiện như lòng Chúa mong ước.

Hàng năm, Giám mục có một số cơ hội gặp gỡ các Linh mục trong Giáo phận, như dịp tĩnh tâm năm, các khóa thường huấn, các cuộc tĩnh tâm hàng tháng của các Giáo hạt và một vài dịp khác. Nhưng không dịp nào ý nghĩa, đầy đủ cũng như có chiều kích thiêng liêng như ngày Lễ Dầu. Vì thế, tôi xin có một vài lời đặc biệt gửi đến Linh mục đoàn, xin anh chị em đón nhận, suy nghĩ để cộng tác và cầu nguyện cho các Linh mục.

Anh em thân mến,

Tôi thấy đây là dịp quá tốt để có thể nói những tâm tình sâu sắc nhất mà lúc khác chúng ta khó nói, hay có nói cũng khó nghe, có nghe đôi khi cũng khó giữ. Nhưng ở đây, trước mặt Chúa và cộng đoàn Dân Chúa, trong ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể làm được. Vì ý thức thân phận tội lỗi và giới hạn của mình, tôi không dám có những răn bảo, dạy dỗ, chỉ xin lấy những lời mà chính Đức Thánh Cha đã nghe qua vị giảng thuyết lừng danh : cha P. Raniero Cantalamessa. Ngài suy niệm về ơn gọi Linh mục “Lời kêu gọi hoán cải đối với các mục tử”. Tôi thấy những lời này thật thấm thía và muốn chia sẻ với anh em :

  1. Kinh nghiệm của Giêrêmia về ơn gọi
  2. Trước khi được gọi trở thành tiên tri, Giêrêmia là một tư tế ở Annatôt. Ông đã trải qua cơn khủng hoảng về ơn gọi và cũng chính vì thế, ông có cơ hội quí giá để “xác định lại ơn gọi của mình”. Nói rõ hơn, trong lúc lao đao tưởng ngã gục, ông được Thiên Chúa mời gọi hoán cải, quay trở về với Ngài như điều kiện thiết yếu để tìm lại đâu là ý nghĩa, là nền tảng, là sức sống và sức mạnh cho đời sống ơn gọi của mình.
  3. Điều đáng kể là, Giêrêmia đã sống tất cả cơn khủng hoảng đó trong cuộc đối thoại hết sức tâm tình và thẳng thắn với Chúa. Nói khác đi, ông đưa cuộc khủng hoảng của ông vào trong lời cầu nguyện, không ngần ngại thưa lên với Chúa tất cả cảm nghiệm của mình trong đời sống ơn gọi.
  4. Vậy cơn khủng hoảng đó như thế nào ? – Một đàng ông cố gắng hết lòng phụng sự Chúa, làm theo lời Chúa, sống tốt lành, ngay chính. Nhưng đàng khác, ông lại thấy chính việc phục vụ Chúa,làm theo lời Chúa chẳng những không được gì, không thấy đâu là hạnh phúc, là niềm vui, trái lại, còn chuốc lấy những tủi nhục cay đắng(Gr 15,11-18). Chính vì thế ông dám nói với Chúa điều mà quả thực không ai dám nói : (Gr 15, 17-18) “Chúa đã dụ dỗ con… vì lời Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế diễu suốt ngày” (Gr 20,7-9) !
  5. Câu trả lời của Chúa cho Giêrêmia rất thẳng thắn, ngắn gọn nhưng nói lên tất cả tấm lòng của Ngài : “Nếu Ta đưa ngươi về mà ngươi chịu trở về thì ngươi sẽ được đứng trước nhan Ta, và nếu từ những điều xấu xa ô nhục, mà ngươi rút ra điều cao quí thì ngươi sẽ nên như miệng Ta” (Gr 15,19). Nói khác đi,Chúa chỉ xin ông một điều : hãy hoán cải, hãy quay về với Ngài thì ông sẽ tìm lại được tất cả.
  6. Lời kêu gọi hoán cải dành cho các mục tử trong Tân Ước :
  7. Thư gửi cho các Hội Thánh trong sách Khải Huyền.Lời kêu gọi hoán cải đối với hàng tư tế lại vang lên cách đặc biệt trong Tân Ước, trong sách Khải Huyền của Gioan. Quả thực, lời kêu gọi hoán cải trong sách Khải Huyền mang ý nghĩa đặc biệt với chúng ta : phó tế, linh mục, Giám mục, vì trước hết đó là lời kêu gọi nhắm đến các mục tử trong Giáo Hội, và hơn nữa, đòi hỏi hoán cải mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo tình trạng cụ thể, thực tế của mỗi mục tử trong cộng đoàn của mình.
  8. Thư gửi Hội Thánh Ephêsô:“Ta trách ngươi về điều này : ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu. Vậy hãy nhớ lại ngươi đã rơi từ đâu xuống…”. Lời kêu gọi hoán cải ở đây đồng nghĩa với việc tìm lại tình yêu, tìm lại nhiệt tình thuở ban đầu, không để cho đời sống mục tử của mình bị cùn nhụt vì thời gian hay vì bất cứ điều gì khác.
  9. Thư gửi Hội Thánh Smyrna:“Ta biết nỗi gian truân và cảnh nghèo khó của ngươi… (nhưng) đừng sợ các đau khổ ngươi sắp phải chịu. Hãy trung thành cho đến chết”Hoán cải đồng nghĩa với nỗ lực trung thành (persévérance), bất chấp mọi đau khổ, thử thách xảy đến. Đàng khác, trung thành còn có thể hiểu theo nghĩa là trung tín (fidélité), nghĩa là sống đúng với sứ mạng của mình, chứ không phải như người quản lý bất lương mà Chúa Giêsu nói đến trong Tin Mừng (Lc 16,1…). Thay vì là người quản lý các Mầu nhiệm của Thiên Chúa, và do đó không ngừng nỗ lực sống thánh thiện, người mục tử lại trở thành người chạy theo thế gian và xác thịt, sống cuộc đời hai mặt, lập lờ với những đòi hỏi chính yếu của đời sống linh mục như đòi hỏi về khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục.
  10. Thư gửi Hội Thánh Laodicea:“Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh và chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hay nóng hẳn đi !”. Lời kêu gọi nhắm đến các mục tử mà tâm hồn đã nguội lạnh, trái tim chai cứng. Cha Thánh Vianney từng than thở : “thật khốn cho chúng ta là các cha sở, nếu tâm hồn chúng ta ra chai cứng”. Lý do chính khiến đưa đến tình trạng như thế là vì người mục tử chạy theo tiền bạc, tiện nghi vật chất, đến nỗi không còn ý thức về thân phận nghèo khốn của mình và càng không biết thế nào là dâng hiến, là cho đi.
  11. Kết luận:

–   Trong sách Giêrêmia cũng như trong Khải Huyền, Lời Chúa ngỏ với chúng ta, những mục tử của Chúa, thật như lưỡi gươm sắc bén – vừa ghi khắc những gì tốt đẹp mà các mục tử đã làm cho đoàn chiên, ngay cả những hy sinh, cố gắng âm thầm. Nhưng đồng thời xuyên thấu tất cả con người và đời sống chúng ta, không ngại đụng chạm và phơi trần ngay cả những vết thương đau đớn nhất.

–   Nhưng sở dĩ Chúa ngỏ lời như thế với hàng tư tế, với các mục tử của Người cũng là vì yêu thương mà thôi. Vì thương mà nhắc nhở, răn đe, khiển trách : “Phần Ta, mọi kẻ Ta yêu mến thì Ta răn bảo dạy dỗ. Vậy hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn”.

–   Nếu đã chọn các mục tử, phải chăng Thiên Chúa chỉ mong chúng ta mang lấy chính tâm hồn mục tử của Chúa : một trái tim nhiệt thành yêu mến, một cuộc đời hoàn toàn cho đoàn chiên và vì đoàn chiên để đoàn chiên được sống và sống dồi dào.

–    Chính vì tâm hồn mục tử đó mà Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về chúng ta, ngược lại, chỉ mong chúng ta quay về và đặt hy vọng vào Ngài. Ngay cả khi tâm hồn chúng ta đã ra chai cứng, đã hoàn toàn đóng kín, thì Ngài ở đó, vẫn kiên nhẫn gõ vào cánh cửa tâm hồn chúng ta. “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy và sẽ dùng bữa với người ấy” (Kh 3,20)”.

Sau bài giảng lễ, Thánh lễ tiếp tục với việc hàng linh mục lặp lại lời hứa khi chịu chức linh mục : “ngày càng gắn bó hơn với Chúa Giêsu và cố gắng noi gương Người mà từ bỏ bản thân và trung thành giữ những lời đã cam kết”“thi hành chức vụ một cách nhiệt thành và vô vị lợi theo gương Chúa Kitô là thủ lãnh và là mục tử”. Công đoàn cũng được mời gọi dâng lời cầu nguyện cho các linh mục “trở nên những tôi tớ trung thành của Đức Kitô Thượng Tế” và cầu cho Giám mục “trở nên hình ảnh ngày càng sống động và trung thực của Đức Kitô là tư tế, mục tử, tôn sư và tôi tớ của mọi người”.

Liền sau đó, ba cha cầm dầu thánh và hai tín hữu dâng của lễ đến trước Giám mục, giới thiệu với ngài các bình dầu sẽ được làm phép và hiến thánh.

Trước khi kết thúc Kinh nguyện Thánh Thể, Đức cha đã làm phép dầu Bệnh nhân, “để nhờ phúc lành thánh hóa của Chúa, dầu này sẽ đem lại cho những ai lãnh nhận ơn hộ vực thân xác và tâm hồn, mà khỏi mọi đau đớn và bệnh tật”.

Sau Lời nguyện hiệp lễ, Đức cha làm phép dầu Dự tòng, cho anh chị em này “được mạnh sức để lãnh nhận sự khôn ngoan và sức mạnh của Chúa, thông hiểu sâu xa Phúc Âm của Đức Kitô, quảng đại chấp nhận những khổ cực của đời sống kitô-giáo… vui mừng được tái sinh và sống trong Hội Thánh Chúa”. Trước khi hiến thánh dầu Chrisma, Đức cha đã pha thuốc thơm và long trọng đọc lời nguyện thánh hiến Dầu Thánh : “… xin ban cho Dầu mang danh Đức Kitô đây, nhờ quyền năng của Người, được sức mạnh của Chúa Thánh Thần …; xin cho Dầu Thánh này nên dấu chỉ nhiệm tích ơn cứu độ và đời sống hoàn hảo cho những ai được tái sinh nhờ phép rửa thiêng liêng ; xin cho họ đã được xức Dầu thánh hóa và giải thoát khỏi sự hư nát của đời sống cũ mà trở nên đến thờ uy linh, thì có đời sống tỏa hương thơm trong sạch đẹp lòng Chúa, và theo ý Chúa đã thiết lập, khi được  vinh dự trở nên vương giả, tư tế và tiên tri, họ biết mặc lấy ơn thiêng bất diệt….”.

Trước khi kết thúc thánh lễ, Đức cha cũng đã trao các bình dầu vừa được làm phép và thánh hiến cho các cha quản hạt.

Cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho chúng con quá nhiều hồng ân trong cuộc đời và trong những ngày hồng phúc này. Đặc biệt trong Năm Thánh của Giáo Hội Việt nam, của Giáo phận Đàlạt “xin cho mỗi người chúng con biết quyết tâm xây dựng, Giáo Hội Việt nam thành một gia đình : là con một Cha, anh em một nhà, cùng nhau tiếp nối sứ vụ của Chúa Kitô, là yêu thương đến cùng và khiêm tốn phục vụ” (Trích Lời Kinh Năm Thánh).

Tứ Linh