“Con là Ðá, Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời”.
Bài Ðọc I: Cv 12, 1-11
“Bây giờ tôi biết thật Chúa đã cứu tôi khỏi tay Hêrôđê”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, vua Hêrôđê làm khổ mấy người trong Hội thánh. Ông đã dùng gươm giết Giacôbê anh của Gioan. Ông thấy việc ấy đẹp lòng người Do-thái, nên lại cho bắt cả Phêrô. Bấy giờ là ngày lễ Bánh Không Men. Bắt được người, vua cho tống ngục, giao cho bốn đội binh, mỗi đội bốn người canh giữ, có ý đợi sau lễ Vượt Qua, sẽ điệu người ra cho dân. Phêrô bị giam trong ngục, nhưng Hội thánh vẫn luôn luôn cầu nguyện cùng Chúa cho người. Ðến khi vua Hêrôđê sắp điệu người ra, thì đêm ấy, Phêrô phải mang xiềng xích, nằm ngủ giữa hai tên lính, và có quân canh giữ trước cửa ngục. Bỗng có thiên thần Chúa đứng kề bên, một luồng ánh sáng chiếu giãi vào ngục; thiên thần đập vào cạnh sườn Phêrô, đánh thức người dậy mà rằng: “Hãy chỗi dậy mau”. Xiềng xích liền rơi khỏi tay người. Thiên thần bảo người rằng: “Hãy thắt lưng và mang giày vào”. Người làm y như vậy. Thiên thần lại bảo rằng: “Hãy khoác áo vào mà theo ta”.
Người liền đi ra theo thiên thần, mà chẳng biết việc thiên thần làm có thật chăng, người tưởng như trong giấc mộng. Qua khỏi chặng thứ nhất và chặng thứ hai, thì đến cửa sắt thông ra thành. Cửa ấy tự nhiên mở ra. Thiên thần và Phêrô rảo qua một phố nọ, rồi thiên thần biến đi. Phêrô hoàn hồn và nói rằng: “Bây giờ tôi biết thật Chúa đã sai thiên thần cứu tôi khỏi tay Hêrôđê và khỏi mọi âm mưu của dân Do-thái”.
Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9
Ðáp: Chúa đã cứu tôi khỏi điều lo sợ
Xướng: Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc; miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. – Ðáp.
Xướng: Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi điều lo sợ. – Ðáp.
Xướng: Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. – Ðáp.
Xướng: Thiên Thần Chúa hạ trại đồn binh chung quanh những người sợ Chúa và bênh chữa họ. Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao; phúc đức ai tìm nương tựa ở nơi Người. – Ðáp.
Bài Ðọc II: 2 Tm 4, 6-8. 17-18
“Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha”.
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.
Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Ðấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy, nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện. Nhưng có Chúa phù hộ giúp sức cho cha, để nhờ cha, việc giảng đạo nên trọn, và tất cả Dân Ngoại được nghe giảng dạy: và cha đã thoát được khỏi miệng sư tử. Nguyện cho Người được vinh quang muôn đời. Amen.
Alleluia: Mt 16, 18
Alleluia, alleluia! – Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 16, 13-19
“Con là Ðá, Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: “Người ta bảo Con Người là ai?” Các ông thưa: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó”. Chúa Giêsu nói với các ông: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.
Chúa Giêsu trả lời rằng: “Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”.
SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa
Mời Bạn: Ai cũng đều muốn là người có phúc. Nhưng cái phúc lớn nhất của con người không đến từ những thứ thuộc thế gian, nhưng đến từ Thiên Chúa, hay có Thiên Chúa là gia nghiệp của mình. Cái phúc đó Thiên Chúa dành tặng cho tất cả những ai tin vào Ngài, đón nhận những gì Ngài mặc khải, và sống chết hết lòng gắn bó với Ngài.
Sống Lời Chúa: Mỗi ngày, bạn dành một khoảng thời gian thích hợp cho việc cầu nguyện.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin giúp con vững tin hơn vào Chúa, tìm thánh ý Chúa mỗi ngày, nỗ lực thực thi những gì Chúa mời gọi, và thực sự là người có phúc. Amen.
B/ Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng
Phêrô và Phaolô, hai Vị Thánh Cả, có chung một nhân cách, là “kẻ phản bội Chúa” nhưng lại cùng một niềm tin yêu. Có chung một nhân cách: rất nhiệt thành, mau mắn, dễ bức xúc, thuộc vào hạng người “máu nóng”. Cả hai là kẻ phản Thầy, bắt bớ Thầy: không trung thành, dễ bị xách động trở thành kẻ phản bội. Cả hai có chung một lòng mến và có chung một tính tình: tinh thần phục thiện, không cố chấp. Cái dễ thương của Hai Con Người Thánh Nhân: có đủ cả yếu tố của kẻ phản bội lẫn những đức tính siêu vượt của một thánh nhân; có cả sự yếu đuối của con người nhưng cũng có đủ cả những đức tính cao thượng của một bậc “chí nhân quân tử”.
Các Ngài đã trở nên thánh nhân không phải như những nhân vật “từ trên trời rơi xuống” mà là từ những bước lần mò, dò dẫm của những kẻ lầm lỡ, yếu đuối; bằng những nỗ lực thật là “người” của chính mình. Và đó chính là “bài học lớn” cho tất cả chúng ta, những con người được Chúa mời gọi “hãy trở nên hoàn thiện”.
Hai Vị Tông Đồ Cả của Giáo Hội, bằng chính nỗ lực của bản thân, đã trở thành rường cột của Giáo Hội. Các Ngài đã trở thành “nền đá tảng” vững chắc, để Giáo Hội, dẫu rằng sống giữa bao thử thách, vẫn muôn đời tồn tại.
Với Chúa, Ngài không bỏ rơi bất cứ ai trong chúng ta, dẫu chúng ta có phản bội Ngài, bắt bớ Ngài hay đang tâm chối bỏ Ngài. Tình thương của Thiên Chúa còn lớn lao hơn cả chính tội lỗi của con người chúng ta.
‘Thiên Chúa, như người Cha luôn kiên nhẫn chờ đợi sự trở về của chúng ta. Tình yêu Ngài luôn mở ngỏ, không loại trừ, nhưng luôn tạo cơ hội để con người ăn năn. Tình yêu và tha thứ của Chúa luôn là người bạn đồng hành, sức mạnh để yêu thương, hướng dẫn và tăng thêm sinh lực giúp con người chúng ta trưởng thành và tự đứng vững trên chính đôi chân của mình. Tình yêu thương của Thiên Chúa luôn là điểm tựa, là cơ hội lớn để giúp mỗi người biết bắt đầu lại, nếu có sự lầm lỗi lạc đường.
Hai Vị Thánh Tông Đồ Cả đã có chung một lòng mến, một niềm tin và một khát khao nên thánh. Các Ngài đã tìm gặp lại Chúa và Chúa đã không hề bỏ rơi các Ngài.
Xin Chúa củng cố niềm tin nơi mỗi tâm hồn chúng ta, đừng để một biến động nào có thể làm cho chúng ta nao núng. Xin giúp chúng ta biết xây dựng niềm tin mình trên nền tảng các tông đồ, để mãi mãi Giáo Hội Chúa luôn trung thành và đứng vững trước những thử thách của mọi thời đại, bởi Chúa chính là “Đá tảng” vững chắc của chúng ta.
C/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
TRUNG THÀNH TUÂN GIỮ
Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Phêrô và Phaolô hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã ban cho chúng ta được vui mừng hoan hỷ, nhân ngày đại lễ kính hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Chính nhờ các ngài, mà Hội Thánh đã bắt đầu đón nhận đức tin, thì xin cho Hội Thánh cũng luôn trung thành tuân giữ lời các ngài giảng dạy. Thánh Phêrô và thánh Phaolô không giống nhau về tính khí, cũng không giống nhau về phạm vi hoạt động. Hoàn cảnh các vị gặp Chúa đã tạo nên nét đặc biệt cho sứ vụ tông đồ của mỗi vị. Rồi tài ba của thánh Phaolô quả là có một không hai trong Kitô giáo. Tuy nhiên, hai vị liên kết với nhau nhờ lòng tin sâu xa và lòng yêu mến nhiệt thành đối với Đức Kitô. Các vị đã đổ máu mình để làm chứng cho Chúa Kitô, tại Rôma: có lẽ thánh Phêrô năm 64 và thánh Phaolô năm 67.
Luôn trung thành tuân giữ lời các ngài giảng dạy, bởi vì, các ngài được Chúa tuyển chọn cách đặc biệt, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, thánh Phaolô nói: Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Luôn trung thành tuân giữ lời các ngài giảng dạy, bởi vì, các ngài đã dùng chính cái chết của mình để làm chứng cho những gì các ngài giảng dạy, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Autinh nói: Một khi các ngài đã đi theo đường công chính, vì tuyên xưng và chết cho chân lý, thì giờ đây, các vị tử đạo này được thấy: thể hiện điều các ngài đã rao giảng. Một ngày kính chung cuộc tử đạo của hai vị Tông Đồ: Thánh Phêrô đi trước, rồi thánh Phaolô theo sau, hôm nay là một ngày thánh, vì đã được ghi bằng máu của các Tông Đồ.
Luôn trung thành tuân giữ lời các ngài giảng dạy, cho dẫu, bị bắt bớ, bị bách hại, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy: Các Tông Đồ bị tống ngục, nhưng, Chúa đã giải thoát họ, như lời thánh Phêrô nói: Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hêrôđê, và khỏi mọi điều dân Dothái mong muốn tôi phải chịu. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 33, vịnh gia cũng cho thấy: Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng. Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi. Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn. Luôn trung thành tuân giữ lời các ngài giảng dạy, ắt sẽ được Chúa ban thưởng xứng đáng, như trong bài đọc hai của Thánh Lễ, thánh Phaolô nói: Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói với thánh Phêrô: Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy. Chính vì là đại diện duy nhất của toàn thể Hội Thánh, nên thánh Phêrô xứng đáng được nghe Chúa nói: Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Không phải một cá nhân, nhưng cả Hội Thánh duy nhất đã lãnh nhận chìa khóa này. Do đó, địa vị nổi bật của thánh Phêrô được đề cao, vì chính ngài tiêu biểu cho đặc tính phổ quát, và duy nhất của Hội Thánh. Ước gì khi mừng lễ hai thánh Tông Đồ, chúng ta biết quý chuộng đức tin, đời sống, công lao khó nhọc và những khổ hình của các ngài, biết quý chuộng những lời các ngài tuyên xưng, và những điều các ngài rao giảng, hầu chúng ta có thể trung thành tuân giữ lời các ngài giảng dạy. Ước gì được như thế!
D/ Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist
HAI CON NGƯỜI HAI CÁCH LÀM CHỨNG
Hợp hoan cùng toàn thể Hội Thánh chúng ta long trọng mừng kính hai Thánh Phêrô và Thánh Phaolô tông đồ, hai cột trụ nâng đỡ Hội Thánh Chúa Kitô, qua muôn thế hệ.
Khi chiêm ngắm hai vị Thánh lừng danh này, chúng ta thấy các ngài có nhiều điểm khác biệt nhau:
– Phêrô là dân chài, trực tính và thực tiễn
– Còn Phaolô là người trí thức hay lý luận và tinh tế
– Phêrô là vị tông đồ Chúa kêu gọi đầu tiên
– Còn Phaolô là vị tông đồ thứ 13
– Phêrô ra sức loan báo Tin mừng cho người Do Thái
– Còn Phaolô nhiệt thành loan báo Tin mừng cho dân ngoại…
Trong thư Galat Thánh Phaolô không ngại kể lại vài cuộc tranh luận gay go, do bất đồng quan điểm giữa hai vị (x. Gl 2,2tt).
Dẫu vậy, Thánh Phêrô và Thánh Phaolô hai con người, hai tính cách, hai lối rao giảng khác biệt nhau ấy, lại có cùng một lòng mến yêu Chúa tha thiết, biểu lộ ra theo cách thức Chúa muốn. Đúng như lời Kinh Tiền Tụng trong Thánh lễ hôm nay, Hội Thánh tạ ơn Chúa Cha vì: “Hôm nay, Cha cho chúng con được vui mừng trong ngày lễ trọng kính hai thánh Tông Đồ: Phêrô và Phaolô. Cha đã sắp đặt để Thánh Phêrô là người đầu tiên tuyên xưng đức tin, Thánh Phaolô là người làm sáng tỏ đức tin. Thánh Phêrô thiết lập Hội Thánh tiên khởi cho người Ítraen, Thánh Phaolô là thầy giảng dạy muôn dân.
Như vậy, các ngài đã dùng đường lối khác biệt để quy tụ một gia đình duy nhất cho Đức Kitô, nên các ngài đáng được thế giới ngưỡng mộ và được lãnh nhận cùng một triều thiên vinh quang…”
Thật vậy, chính do lòng mến Chúa tha thiết đã thúc bách các ngài dám từ bỏ cái tôi của mình để toàn tâm làm vinh danh Chúa; làm cho mọi người kính mến Chúa. Động lực đó đã giúp các ngài biến những khác biệt thành lợi khí mở rộng nước Chúa. Những khác biệt của các ngài chẳng những không loại trừ nhau mà còn bổ túc cho nhau, làm cho nền móng của Hội Thánh được vững bền.
Thánh Phêrô là Giáo hoàng, nhưng không vì thế mà áp đặt ý kiến của mình. Thánh Phaolô là Giám mục, nhưng không vì thế mà không thẳng thắn trình bày quan điểm của mình để trao đổi tìm ra ý Chúa. Các ngài đã bắt tay nhau để tỏ dấu hiệp thông, đồng lòng mở rộng Nước Chúa. Các ngài đã trung thành loan báo Tin mừng chẳng quản ngại những gian truân thử thách: đói rét, gông cùm, tù tội mà hân hoan hiến mạng vì yêu mến Chúa (x. Cv 5,40; 2Cr 11,23-28).
Lòng mến Chúa nơi Thánh Phêrô và Thánh Phaolô hẳn khơi lên trong chúng ta một câu hỏi quan trọng: Tôi đã tỏ lòng mến Chúa như thế nào giữa thế giới hôm nay? Hẳn nhiên, lòng mến Chúa sẽ được biểu lộ qua đời sống cầu nguyện cá nhân cũng như cộng đoàn. Đặc biệt lòng mến Chúa được bộc lộ rõ nhất trong tương quan với tha nhân: yêu thương, tha thứ, nâng đỡ, ủi an mọi người nhất là những người đau khổ bị bỏ rơi loại trừ.
Lý tưởng tốt đẹp đó chúng ta không thể thành toàn được nếu không nhờ ơn Chúa trợ giúp. Bởi vậy, xin Chúa cho chúng ta có lòng khiêm nhường như Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, để rồi chính Chúa sẽ biến đổi chúng ta nên ân phúc cho mọi người. Chính lòng khiêm tốn chân nhận những nỗi yếu hèn nơi bản thân và luôn tín thác vào Chúa mà Chúa đã biến các ngài từ những con người chối Chúa, bách hại Đạo, trở thành lợi khí của tình yêu.
Mừng lễ Thánh Phêrô và Phaolô cho chúng ta thêm tin tưởng, an lòng và hy vọng tiến bước. Vì dù cho chúng ta có xuất thân từ giai cấp nào, quá khứ có làm sao, nhưng chỉ cần một tấm lòng khiêm nhường thống hối, tin cậy nơi Chúa, thì chính Chúa sẽ biến đổi chúng ta trở nên tinh tuyền thánh thiện như đã biến đổi cuộc đời Thánh Phêrô và Phaolô.
E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
1. Sau một thời gian giảng dạy và làm nhiều phép lạ, Đức Giêsu muốn biết người ta nghĩ sao về mình và Ngài cũng muốn hỏi các Tông đồ nghĩ sao về Ngài.
Dân chúng biết mù mờ về Đức Giêsu bởi họ không chú ý đến giáo huấn của Ngài. Lúc này đã gần đến giờ của Đức Giêsu, giờ Ngài sắp bước vào cuộc Thương khó – đỉnh cao của chương trình cứu chuộc nhân loại. Ngài muốn các môn đệ xác tín lập trường của mình, để các ông can đảm theo Ngài. Chúng ta cũng không thể biết Đức Giêsu là ai, nếu chúng ta không quan tâm học hỏi và khám phá. Không biết Đức Giêsu là một thiệt thòi lớn lao. Vì chỉ khi biết Đức Giêsu, chúng ta mới đạt được nguồn bình an và hạnh phúc vĩnh cửu.
2. Có nhiều câu trả lời về Chúa Giêsu: người thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó. Mọi câu trả lời đều nói lên phần nào sứ mệnh của Chúa, nhưng chưa đúng hẳn, tức là dân chúng chỉ coi Chúa Giêsu là một tiên tri, tức là một người được Thiên Chúa sai đến để dọn đường cho Đấng Thiên Sai, chứ chưa phải là Đấng Thiên Sai. Vì thế, chỉ với câu trả lời của ông Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu mới hoàn toàn bằng lòng, tức là ông Phêrô tuyên xưng Chúa là Đấng Thiên Sai. Quả thực, tin nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống là diễn tả được cả sứ mạng lẫn con người của Ngài.
3. Lời đáp trả của Phêrô quả là một lời tuyên xưng: “Ngài là Đức Kitô” tức là Đấng Thiên Chúa sai đến để giải phóng dân tộc. Tuy nhiên chúng ta thấy, trong cái nhìn của Phêrô và phù hợp với giấc mơ chung của các ông, thì Đức Kitô mà các ông mong đợi là Đấng sẽ đánh đuổi ngoại xâm và biến đất nước thành một vương quốc cường thịnh.
Chính vì thế, khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn Ngài phải trải qua, Phêrô đã can gián Ngài. Tuyên xưng một Đức Kitô Cứu Thế mà không chấp nhận con đường thập giá, Chúa Giêsu gọi đó là thái độ của Satan. Ba cám dỗ của Satan đối với Chúa Giêsu đều qui về một mối là khước từ con đường Thập giá. Do đó, khi Phêrô can gián Ngài từ bỏ ý định cứu rỗi bằng con đường Thập giá, Ngài đã gọi Phêrô là Satan.
Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống và được Ngài khen là người có phúc. Tuy nhiên, ông không thể chấp nhận Đấng Kitô phải chịu đau khổ và chịu chết như thế được. Cũng như bao người Do thái khác, Phêrô mong đợi một Đấng Kitô như là một vị vua trần thế nắm quyền lực chính trị, giải phóng Israel khỏi ách thống trị Rôma, làm bá chủ thế giới. Nhưng đường lối của Chúa thì khác, con đường hiến thân phục vụ: “Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mc 10, 45) (5 phút Lời Chúa).
4. Phêrô và các môn đệ chỉ hiểu được sứ mệnh của Chúa Giêsu khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại. Đấng Kitô là một danh hiệu gắn liền với Thập giá. Mang danh hiệu Kitô, tuyên xưng Đức Kitô cũng có nghĩa là chấp nhận đi theo con đường của Ngài. Phêrô và các môn đệ đã sống đến tận cùng lời tuyên xưng của các ông. Tất cả đều lặp lại cái chết khổ hình của Đức Kitô.
Chúng ta ghi dấu Thánh giá trên người chúng ta, chúng ta mang thánh giá trong người chúng ta, đó không là dấu hiệu của sự chết, nhưng là biểu dương của một sức sống của Đấng đã chết, đã phục sinh và đang tác động trong chúng ta. Nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Chúa Kitô sống trong chúng ta để tiếp tục và hoàn tất chương trình cứu rỗi loài người. Chúa Kitô đã vác Thập giá và đã chết một lần, cuộc Tử nạn ấy cần phải được tiếp tục qua các Kitô hữu. Cũng chính thánh Phaolô đã nói: “Tôi cần phải bổ khuyết những gì còn thiếu sót trong cuộc tử nạn của Chúa Kitô” (Mỗi ngày một tin vui).
5. Truyện: Ý nghĩa của một bức tượng
Nhà điêu khắc Dannecker người Đức, đã để nhiều công khó trong công tác tạc một bức tượng của Chúa Giêsu bằng cẩm thạch. Trong hai năm đầu, bức tượng đã xong, nhà điêu khắc mời một em bé vào phòng vẽ của mình và hỏi em bé rằng:
– Ai đó?
Em bé tức khắc trả lời:
– Một vĩ nhân.
Nhà điêu khắc buồn và nghĩ rằng, công khó của mình trong hai năm kể như đã hỏng. Ông tiếp tục tạc lại trong sáu năm nữa và mời một em bé khác vào phòng vẽ và hỏi:
– Em biết bức tượng này là ai không?
Sau khi nhìn bức tượng một lúc, yên lặng và nước mắt tràn ra đôi mi, em khẽ nói:
– Hỡi những con trẻ đau khổ hãy đến cùng ta!
Nhà điêu khắc thoả mãn, thành công về tác phẩm của mình. Nhà điêu khắc Dannecker sau đó đã tuyên bố:
– Tôi đã thấy Chúa Cứu Thế Giêsu và hình ảnh của Ngài đã thể hiện trong khi tôi tạc bức tượng Ngài bằng cẩm thạch này.
Sau đó ít lâu, hoàng đế Napoléon Bonaparte yêu cầu nhà điêu khắc tạc cho hoàng đế bức tượng nữ thần Vệ Nữ để trưng bày trong viện bảo tàng Louvre, Paris. Hoàng đế hứa sẽ trả cho ông một món tiền rất lớn, nhưng Dannecker từ chối. Ông nói rằng: “Một người đã thấy Đấng Kitô và đã tạc vẽ mặt của Ngài rồi, thì không thể dùng nghệ thuật của mình vào những việc ở đời này được nữa, bởi vì làm như thế là tục hoá nghệ thuật của mình mất rồi”.

