23/10/2005 – Chúa Nhật 30 Thường Niên
Khánh Nhật Truyền Giáo lần thứ 80
09 giờ 30: Đức Giám mục giáo phận cùng với khoảng 40 linh mục trong giáo hạt Đà-lạt và đại diện các giáo hạt khác trong giáo phận, dâng thánh lễ đồng tế với ba ý chỉ sau đây (theo lời giáo đầu của vị chủ tế):
– Hiệp thông cùng Giáo hội toàn cầu cử hành Khánh Nhật Truyền Giáo lần thứ 80 (Khánh Nhật Truyền Giáo do ĐGH Pi-ô XI thiết lập năm 1926).
– Hiệp thông cùng Giáo hội toàn cầu cử hành lễ bế mạc năm Thánh Thể (cũng là lễ bế mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới thường lệ lần thứ XI).
– Hiệp thông cùng Giáo hội Việt-nam cử hành lễ khai mạc Năm Sống Lời Chúa.

Trong bài giảng lễ, khi quảng diễn bài đọc 1 (I-sai-a 60, 1-6), Đức cha nói rằng, như dân Ít-ra-en ngày xưa là mối chúc phúc của Gia-vê Thiên Chúa cho muôn dân muôn nước thế nào, thì ngày nay Hội Thánh cũng là nguồn ơn cứu độ cho thế giới như vậy. Qua bài đọc 2 (Rô-ma 10, 9-18), Đức Cha nói về sứ mạng loan báo Tin Mừng mà mỗi người tín hữu nhận được từ Thiên Chúa qua các bí tích đã lãnh nhận, cách riêng Bí tích Thêm Sức; sứ mạng đó chúng ta có bổn phận thi hành, không nhất thiết phải bằng lời nói, mà trước hết bằng lời cầu nguyện, việc hy sinh, và nhất là bằng chứng tá đời sống. Gương của các vị thừa sai cho chúng ta thấy rõ: các ngài đã lôi kéo tổ tiên chúng ta là những người lương dân vào đạo, trước tiên không phải bằng lời rao giảng – vì lúc khởi đầu, các ngài chưa nói, chưa hiểu được tiếng nói của cha ông chúng ta – nhưng là bằng chính đời sống bác ái yêu thương của các ngài. Đến bài đọc 3 (Lu-ca 26-53), Đức Cha nói đến niềm hân hoan của các môn đệ của Chúa trên đường trở lại Giê-ru-sa-lem sau khi Chúa lên trời. Lẽ ra họ phải buồn phiền vì mới chia tay với một người thân yêu, nhưng ngược lại, “lòng họ đầy hoan hỷ” (Lu-ca 24, 52), vì họ biết rằng Chúa vẫn luôn ở với họ (x. Mat-thêu 18, 20), để giúp họ thực hiện mệnh lệnh của Người là “nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” (Lu-ca 24, 47).

Khi nhắc lại ba ý chỉ mà ngài đã nói trong lời giáo đầu, Đức cha nhấn mạnh rằng ba ý chỉ đó gắn liền với nhau để chỉ nhắm đến một điều duy nhất, đó là sứ mạng loan báo Tin Mừng của mọi người tín hữu. Thật vậy, trong Sứ điệp cho Khánh Nhật Truyền Giáo 2005 (ấn ký ngày 22/02/2005), Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II nói rằng “linh đạo truyền Giáo” phải kết hiệp mật thiết với “linh đạo Thánh Thể”: người tín hữu, cách riêng nhà truyền giáo, phải là “tấm bánh bẻ ra cho sự sống thế gian” (số 4).
Phần thứ hai của cử hành hôm nay là việc trao sách Kinh Thánh, tượng trưng cho việc sai đi truyền giáo: sau khi thầy phó tế đọc đoạn Tin Mừng theo thánh Gioan ghi lại lời cầu nguyện mà Chúa Giê-su, trong bữa tiệc ly, đã dâng lên Thiên Chúa Cha để xin ơn phù trợ cho các môn đệ của Người – “Con cầu nguyện cho họ… những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha.” (Gioan 17, 1-11), toàn thể cộng đoàn phụng vụ hát vang bài Lắng nghe Lời Chúa. Đức Cha vắn tắt suy niệm về lời cầu nguyện của Chúa. Sau đó ngài giới thiệu sơ lược về Sách Kinh Thánh (KT): Sách KT của Giáo hội gồm có Sách Cựu Ước và Sách Tân Ước. Cựu Ước gồm 46 cuốn, được hình thành trong khoảng từ năm 1200 đến năm 100 trước khi Chúa Giê-su ra đời; Tân Ước gồm 27 cuốn, được viết vào hậu bán thế kỷ thứ I của Công nguyên. Tiếng Híp-ri (hay A-ram), ngôn ngữ của người Do-thái cổ, được dùng để viết hầu hết các sách KT. Cựu Ước được dịch sang tiếng Hy-lạp (quen gọi là bản Bảy Mươi) vào khoảng cuối thế kỷ thứ IV, đầu thế kỷ thứ III trước Công nguyên. Bản dịch bằng tiếng La-tinh (quen gọi là bản Vulgate) là công trình của Thánh Giê-rô-ni-mô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh (342-420). Ngoài các bản dịch bằng tiếng Hy-lạp và tiếng La-tinh, hiện nay trên thế giới có trên 2000 bản dịch KT, bằng đủ mọi thứ tiếng, kể cả những thổ ngữ ít được biết đến. Riêng tại Việt-nam, từ đầu thế kỷ XX đã có bản dịch sách KT sang tiếng Việt. Năm 1913, có bản dịch toàn bộ KT của Cố Chính Linh; năm 1963 có bản phỏng dịch của cha Gérard Gagnon CSSR; rồi có bản dịch một vài phần trong bộ KT của Ông Mai Lâm Đoàn Văn Thăng, của cha An-sơn Vị, của cha Trần Văn Kiệm. Anh em Tin-lành cũng có trọn bộ KT bằng tiếng Việt. Từ sau Công đồng Vatican II, có 4 bản dịch toàn bộ KT bằng tiếng Việt: bản của cha Đa-minh Trần Đức Huân, dịch từ bản tiếng La-tinh, năm 1970; bản của cha Giu-se Nguyễn Thế Thuấn dịch từ nguyên bản Do-thái, A-ram, Hy-lạp, năm 1976; bản của Đức Hồng Y Giu-se Ma-ri-a Trịnh Văn Căn, dịch từ bản La-tinh, năm 1985; bản của Nhóm Các Các Giờ Kinh Phụng Vụ, dịch từ nguyên bản Do-thái, A-ram, Hy-lạp, năm 1998. Giáo phận Đà-lạt, nơi mà số tín hữu thuộc các dân tộc thiểu số chiếm một phần ba tổng số giáo dân, đã nỗ lực thực hiện bản dịch KT sang tiếng Kô-Hô, là ngôn ngữ của đa số anh em tín hữu dân tộc ít người.
Và sau cùng, 12 đại diện cộng đồng dân Chúa tiến lên nhận sách KT từ tay Đức Giám mục:
– đại diện linh mục hạt Đà-lạt nhận bản KT tiếng Do-thái.
– đại diện linh mục hạt Bảo-lộc nhận bản KT tiếng Hy-lạp.
– đại diện linh mục hạt Đức-trọng nhận bản KT tiếng La-tinh.
– đại diện linh mục hạt Di-linh nhận bản KT tiếng Việt của Đức Hồng y G.M. Trịnh Văn Căn.
– đại diện linh mục hạt Đơn-dương nhận bản KT tiếng Việt của Cha Nguyễn Thế Thuấn.
– đại diện nam tu sĩ nhận bản KT tiếng Việt của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
– đại diện nữ tu sĩ nhận bản KT tiếng Việt của cha Huân.
– đại diện chủng sinh nhận bản KT tiếng Pháp Đại kết (TOB).
– đại diện gia trưởng (Langbian) nhận bản KT tiếng Việt của cha An-sơn Vị và cha Gagnon.
– đại diện hiền mẫu (Tà-nung) nhận bản KT tiếng Kô-Hô.
– đại diện giới trẻ nhận bản KT Tân Ước của Cha Thuấn.
– đại diện thiếu nhi nhận bản KT Tân Ước của Nhóm Các GKPV.
Cộng đoàn phụng vụ giải tán trong âm thanh tưng bừng rộn rã của bài Đẹp thay.
Đẹp thay bước chân người loan báo Tin Mừng,
công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ. (I-sai-a 52, 7).
YU-MA
(Vui Mừng và Hy Vọng tháng 11/2005)









