Hàng năm cứ vào Chúa Nhật cuối tháng Mười lại có ngày họp mặt anh chị em các sắc tộc trong Giáo Hạt Đơn Dương. Năm nay nhằm ngày Chúa Nhật 27/10/2013 tại nhà thờ Prõh, quy tụ hơn 700 anh chị em dân tộc, chủ yếu là Churu và K’Ho.
Khởi đầu ngày giao lưu vào lúc 9g15, sau nghi thức cầu nguyện, tiếng cồng chiêng của anh chị em Churu thuộc Giáo xứ Prõh vang lên như mời gọi mọi người bước vào không khí của ngày hội. Cha Quản hạt Phaolô Phạm Công Phương đã khai mạc ngày hội trong tiếng ca điệu múa chào đón của mọi người.

Tiếp đến, cha Quản hạt chia sẻ về đề tài “những bước khởi đầu truyền giáo cho người Kinh và người Thượng” để nhìn lại con đường đã dẫn đưa Tin Mừng đến với các dân tộc, cảm tạ Chúa đã ban ơn đức tin, biết ơn những người đã dày công vun tưới và thêm sức mạnh tiếp tục loan báo Tin Mừng cho nhiều người hơn nữa. Đầu tiên cha nói về “con đường tơ lụa” trên bộ và trên biển, con đường buôn bán giữa Tây phương và Đông phương và nhờ đó mà Tin Mừng đã đến với các dân tộc Á Đông chúng ta.
Để giúp cho mọi người dễ hiểu, cha so sánh “con đường tơ lụa” (gùng dra) với “con đường muối” (gùng boh) của người dân tộc miền cao phải băng rừng vượt núi xuống vùng biển mua muối như sau :
“Các đây khoảng hai trăm năm, các dân tộc sống ở vùng núi này đều phải tổ chức những đoàn người hàng năm băng rừng vượt núi xuống Ninh Thuận hay Bình Thuận để mua muối, một thức gia vị không thể thiếu trong các món ăn. Vùng miền núi thì đào đâu ra muối mặn bây giờ, có đốt rễ tranh trộn vào thức ăn thì nó cũng chỉ hơi có vị mặn, không thể bằng muối, mà muốn có muối thì chỉ có xuống vùng biển mới có. Vì thế hàng năm các gia đình dòng tộc phải cử người mở đường xuống núi, mang theo nhiều lương thực thức ăn như gà vịt trâu bò vì phải đi xa và đồng thời phải có hàng hóa để trao đổi lấy muối đưa về. Khi về họ thường mua các cái chóe của người Chăm về để đựng rượu cần vì dân vùng núi này không có ai sống nghề gốm nung, và như vậy họ đổ muối vào các cái chóe rồi gùi về. Chính vì vậy mà ngày nay chúng ta còn thấy sót lại những cái chóe một trâu, hai trâu.
Cũng từ các con đường muối đó (gùng lòt blơi boh) mà bác sĩ Yersin đã lần mò thám hiểm vùng đất cao nguyên này. Năm 1893, bác sĩ Yersin cùng đoàn thám hiểm, trong đó có cha Robert, quản lý Hội Thừa Sai Paris, leo đèo Xông Pha, dĩ nhiên cũng phải thuê một vài người Thượng dẫn đường …
Cũng từ con đường muối này mà chúng ta có thể giải thích tại sao gọi người vùng núi này được gọi là dân tộc K’Ho hay Churu.
Trong ngôn ngữ K’Ho, từ sre có nghĩa là ruộng nước, và người ta gọi dân sinh sống ở ruộng lúa là dân tộc Sre ; hoặc từ lát, làk có nghĩa là rừng thưa, và người ta gọi những người sống ở rừng cao nguyên Lang Bian là dân Lát hay Lạch, nhưng riêng từ K’Ho thì không có nghĩa gì cả. Một số nhà nghiên cứu cho rằng từ K’Ho là tên một ông tổ hay tên người đầu tiên đến sinh sống ở vùng này và con cháu gọi là vùng đất của ông K’Ho vì dựa trên hình thức của từ này có tiền âm tiết là Kơ, một tên gọi phổ biến trong nam giới.
Tuy nhiên có một số nhà nghiên cứu cho rằng từ K’Ho là biến âm phát xuất từ tên gọi của người Chăm cổ. Thật vậy, người Chăm ngày xưa gọi những người ở trên miền núi hàng năm xuống Phan Rang hay Bình Thuận mua muối và chóe gốm nung là Ka How, có nghĩa là người rừng rú. Vô tình những người miền núi này cũng tự nhận mình là người Ka how nhưng lại đọc là Kơ Ho, giống như người Việt nói từ savon của người Pháp thành xà bông, salade thành xà lách, hay Dà Làk của người K’Ho ở Lang Bian thành Đà Lạt (nước của người Lạch).
Nếu cũng dựa vào từ Chăm cổ thì từ Churu phát xuất từ tiếng Chăm cổ là Chăm bruh, có nghĩa là những người Chăm chạy trốn. Ngày xưa có một thời nhiều người Chăm đã phải chạy trốn lên miền núi này để tránh sự áp bức hoặc sưu cao thuế nặng, bằng chứng là tại vùng đất Prõh này còn dấu vết của hoàng tộc vua Chăm ẩn náu. Do đó, mỗi lần có đoàn người từ trên miền núi xuống mua muối thì người Chăm phân biệt hai hạng người: người Ka How (người rừng, người K’Ho) với người Chăm bruh, người Chăm bỏ trốn; và những người Chăm bruh này cũng tự nhận mình là người Chăm chạy trốn và với thời gian đọc trại là Churu. Thật vậy, người Churu còn nhiều nét sinh hoạt, phong tục tập quán, cách ăn mặc rất giống với người Chăm, ngay trong ngôn ngữ cũng có nhiều từ giống người Chăm vì phát xuất từ người Chăm và cũng có rất nhiều từ giống với người K’Ho vì chung sống với người K’Ho miền núi nhưng lại phát âm trại ra một chút khác với tiếng K’Ho.
Còn người Kinh gọi những người sống ở miền núi là người Thượng, bất kể là K’Ho hay Churu … Người Kinh có nghĩa là người sống ở vùng kinh rạch hay kinh kỳ, kinh thành, ám chỉ những người sống ở vùng thấp, đồng bằng sông ngòi hoặc những người sống ở thành thị, kinh đô của nhà vua. Từ Thượng có nghĩa là cao, ám chỉ dân sống ở trên vùng cao. Xét về từ ngữ thì người Thượng là một cách gọi rất cao quý và rất trân trọng của người Kinh, không có gì là khinh chê mỉa mai. Khi xưa người Chăm gọi những người sống ở miền cao là Ka How, người rừng rú thì dường như có nghĩa khinh chê người K’Ho nhưng, vô tình với thời gian, nó lại trở thành tên gọi của người miền núi…”.
Thánh lễ là nơi quy tụ của mọi lời tạ ơn của mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ. Tiếng Kinh, tiếng K’Ho hay tiếng Churu đều có thể là những lời ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa. Ngày truyền thống các dân tộc đã khép lại nhưng nó cũng nhắc nhớ mọi người phải có sứ vụ “Tân Phúc Âm hóa” vì “từ kinh nghiệm của các nước đã có nhiều Kitô hữu bỏ đạo, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện cuộc hoán cải mục vụ này, thì trong tương lai không xa, Hội Thánh tại Việt Nam cũng có thể rơi vào tình trạng băng giá của mùa đông đức tin như một số nơi trên thế giới” (Thư chung 2013).
Ban truyền thông Hạt Đơn Dương – Hải Đăng









