2
“PHÚC CHO ANH EM LÀ NHỮNG KẺ
BÂY GIỜ ĐANG PHẢI KHÓC,
VÌ ANH EM SẼ ĐƯỢC VUI CƯỜI”
Các Mối Phúc không phải là một bản thảo đã chết mà Giáo Hội phải nhận và truyền đi một cách trung thực nhất có thể; chúng là một nguồn linh hứng vĩnh cửu, vì người công bố chúng đã sống lại và hằng sống. Người ta có thể áp dụng cho chúng điều mà thi sĩ Charles Péguy đã nói về tất cà những lời của Đức Kitô:
“Đức Giêsu đã không ban những lời đã chết
Để chúng ta giữ kín trong những chiếc hộp nhỏ
Và bảo tồn chúng trong dầu hôi […]
Nhưng Ngài đã ban cho ta những lời hằng sống
Để nuôi dưỡng […]
Những lời nuôi sống
Những lời hằng sống chỉ có thể được giữ cho sống […]
Chúng ta phải nuôi dưỡng lời của Con Thiên Chúa.
Chúng ta có nhiệm vụ
Làm cho người ta nghe thấy lời đó
Làm cho lời đó vang lên đến muôn đời[15]”.
1. Tương quan mới giữa lạc thú và đau khổ
Chúng ta suy niệm về Mối Phúc thứ hai: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5,4). Trong một số thủ bản và bản dịch mới, thứ tự giữa Mối Phúc thứ hai và Mối Phúc thứ ba – Mối Phúc của những người sầu khổ và Mối Phúc của những người hiền lành – bị đảo lộn, nhưng điều đó không ảnh hưởng gì trên ý nghĩa của chúng.
Trong Phúc Âm Luca, các Mối Phúc (bốn) được trình bầy dưới hình thức diễn từ trực tiếp, và được tăng cường bằng các mối họa “Khốn cho anh em”. Cùng một Mối Phúc được công bố như sau: “Phúc cho anh em là những người bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than” (Lc 6,21.25).
Trước hết cần lưu ý đây là Mối Phúc duy nhất dựa trên ý tưởng về một sự thay đổi. Trong những Mối Phúc khác, tương quan giữa tình hình hiện tại và tương lai dựa trên ý tưởng về sự hoàn tất: người nghèo được hạnh phúc vì Nước Trời thuộc về họ, người hiền lành được hạnh phúc vì sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Trái lại ở đây, giữa Mối Phúc và phần thưởng của nó có sự đảo lộn, từ một tình trạng sang một tình trạng đối nghịch: từ tiếng khóc sang tiếng cười, hoặc ngược lại, từ tiếng cười sang tiếng khóc.
Sứ điệp khác thường nhất chứa đựng ngay trong cơ cấu của Mối Phúc này, theo bản văn Luca. Nó cho phép ta hiểu cuộc cách mạng mà Phúc Âm đem lại trong lãnh vực lạc thú và đau khổ. Khởi điểm – chung cho cả tư tưởng tôn giáo lẫn phàm tục – là ở chỗ nhận ra niềm vui và nỗi khổ không thể tách rời nhau trong cuộc sống. Chúng tiếp nối nhau đều đặn như sóng biển: thân sóng nối tiếp ngọn sóng và như sức hít lôi kéo người bơi lội.
Con người tìm cách tách rời lạc thú với đau khổ nhưng vô ích, cũng như đã tìm cách tách rời cặp song sinh dính liền nhau người Thái Lan mà vô vọng. Chính lạc thú vô trật tự quay lại chống họ, và biến thành đau khổ. Và lạc thú, theo cách tức khắc hoặc bi đát hoặc có một chút cả hai cùng lúc, thuộc bản chất nhất thời, mau chóng khiến người ta nhọc mệt và nôn mửa. Đó là một bài học xẩy ra hàng ngày như cơm bữa, được con người diễn tả bằng nhiều cách trong nghệ thuật và văn chương. Lucrêtiô, một thi sĩ ngoại giáo, đã viết: “Một sự cay đắng lạ lùng xuất hiện giữa mỗi lạc thú và làm chúng ta lo âu giữa cơn khoái lạc của chúng ta[16]”.
Lạc thú bất chính đánh lừa bạn, vì hứa điều không thể cho. Trước khi bạn nếm mùi lạc thú ấy, dường như nó cống hiến cho bạn vô tận và vĩnh cửu; nhưng khi bạn hưởng thụ xong, bạn chỉ còn bàn tay trắng. Nó là thông điệp bi đát của nhiều thi phú hiện đại. Như Charles Baudelaire nói, “hoa đau khổ” chúng ta vừa mới hái đã phai tàn, xông lên mùi hôi thối.
Kinh Thánh cho ta biết đã đưa ra câu giải đáp cho kịch tính này của cuộc đời con người. Và đây là lời giải thích. Ngay từ đầu, con người đã lựa chọn, một sự lựa chọn có thể làm được, vì họ có tự do và vì bản tính của họ gồm cả tinh thần lẫn vật chất, đưa họ tới chỗ hướng sự khao khát niềm vui hoàn toàn tới những sự vật hữu hình, trong khi nó đã được Thiên Chúa ban tặng, để họ có thể hưởng sự Thiện vô biên là chính Thiên Chúa.
Do con người đã chọn lạc thú chống lại lề luật Thiên Chúa, biểu thị bằng việc Ađam và Evà ăn trái cấm, Thiên Chúa đã cho phép đau khổ và sự chết xẩy ra, làm phương dược hơn là hình phạt, để con người, theo tính ích kỷ và bản năng, đừng bao giờ phá hủy mình và người lân cận. Vì vậy, ta thấy đau khổ gắn liền với lạc thú như bóng với hình.
Cuối cùng Đức Kitô đã phá vỡ dây liên kết này. Ngài “đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá” (Dt 12,2). Quả thực, Đức Kitô đã làm ngược lại điều Ađam đã làm, và mọi người đang làm. Thánh Maximô Người Tuyên Tín viết:
“Cái chết của Chúa không giống với cái chết của những người khác. Cái chết của Chúa không phải là trả nợ cho lạc thú, mà đúng hơn, là một cái gì đó chống lại chính lạc thú. Vì vậy, nhờ cái chết này, số mệnh con người đã thay đổi[17]”.
Khi sống lại từ cõi chết, Ngài đã khai mào một mẫu lạc thú mới, không phải vui rồi mới khổ như là nguyên nhân của khổ, nhưng khổ rồi mới vui như là kết quả của khổ. Không chỉ niềm vui tinh thần, nhưng là mọi niềm vui trung thực, kể cả niềm vui mà người đàn ông và người đàn bà có kinh nghiệm qua việc trao thân gửi phận cho nhau, khi họ sản sinh ra sự sống, và thấy con cháu của mình lớn lên, thấy trong nghệ thuật và sáng tạo, trong vẻ đẹp, trong tình bạn, trong công việc, đi tới kết thúc một cách thành công. Niềm vui nào cũng phát xuất từ việc hoàn thành bổn phận.
Tất cả điều này, Mối Phúc đang bàn công bố cách tuyệt vời bằng diễn tiến khóc-cười đối lại với diễn tiến cười-khóc. Đây không phải là sự đảo lộn thuần túy theo thời gian. Sự khác biệt, vốn vô tận, ở chỗ, trong thứ tự do Đức Giêsu đề ra, chính niềm vui là tiếng nói cuối cùng, chứ không phải đau khổ, và điều quan trọng hơn hết, chính tiếng nói cuối cùng này kéo dài tới vĩnh cửu.
Tuy nhiên, sự xét đoán của Đức Kitô về tiếng cười và tiếng khóc không chỉ có ý nghĩa trong viễn tượng của đời sống vĩnh cửu, mà còn soi sáng ít nhất một phần đời sống hiện tại. Chúng ta phải hiểu chữ đầu tiên “Phúc thay” nghĩa là gì, muốn nói về hạnh phúc nào. Ở đây không phải là một hạnh phúc giới hạn ở những nghĩa khoan khoái thuần túy và không phải lo lắng gì, nhưng ở chỗ “thoải mái” hoàn toàn và lâu dài cho bất cứ ai. Khóc lóc và sầu khổ cũng được công bố là hạnh phúc, vì thật sự cho phép chín muồi, trưởng thành theo chiều sâu, khi hiểu biết nỗi đau khổ của người khác. Nói khác đi, có cách xử sự nhân bản.
Phúc Âm không hề lên án mọi niềm hân hoan vui vẻ; ngược lại, Phúc Âm nói tới niềm vui, ngày lễ, hầu như trong mỗi trang sách. Tiếng cười và lễ lạc đồng nghĩa với ích kỷ khi mà, thay vì thích hợp với những lúc thư giãn và nghỉ ngơi sau những lúc mệt nhọc, chúng lại được coi như một thần tượng, một điều gì đó mà người ta phải coi như một quyền lợi hoặc như một điều kiện cần thiết của cuộc sống, dù phải làm cho người khác đau khổ.
Chắc chắn người ta phải xem xét cách khác trường hợp tiếng cười và niềm vui của những diễn viên hài và những người pha trò. Mục đích của họ thực tế là làm cho người ta cười, giúp giải trí và huấn luyện người ta, làm cho mọi người có được khoảnh khắc vui vẻ. Họ là quà tặng cho mỗi người, ít nhất khi họ tự giới hạn ở bình diện nghệ thuật, và không rơi vào chỗ dung tục và châm chích gây căm ghét. Nếu họ làm cho người ta cười mà không chế nhạo.
Cuốn phim Cuộc đời tuyệt đẹp của Roberto Benigni chẳng hạn, làm hài lòng nhiều người, vì yếu tố hài ở đây phục vụ tình yêu và, trong trường hợp chính xác này, là tình yêu của một người cha dùng trò chơi và tiếng cười muốn tránh cho đứa con nhỏ của mình những điều khủng khiếp của cảnh lưu đầy và trại tập trung. Người chủ xướng ở đây là một người chịu đau khổ cố gắng đem lại niềm vui, và theo mức độ của anh, dù nhà đạo diễn có ý thức điều đó hay không, anh đi vào trong phạm vi của Mối Phúc Tin mừng. Mối Phúc của Đức Kitô không chỉ hiểu về tương lai: “Phúc thay ai bây giờ sầu khổ, vì một ngày kia sẽ được Thiên Chúa ủi an”, nhưng còn hiểu cả về hiện tại: “Phúc thay ai chấp nhận phải đau buồn, để những người chung quanh họ có thể được ủi an.”
2. “Này Thiên Chúa ngươi đâu?”
Giờ đây chúng ta thử tìm hiểu xem ai thực sự là những người sầu khổ và ai là những người than khóc được Đức Kitô công bố là hạnh phúc. Các nhà chú giải hầu như nhất trí cho rằng những người này không phải là những người sầu khổ chỉ theo nghĩa khách quan và xã hội học, nghĩa là những người được Đức Giêsu công bố là hạnh phúc chỉ vì họ sầu khổ hay khóc lóc. Yếu tố chủ quan, tức lý do khiến người ta khóc lóc, có tính chất quyết định.
Đâu là lý do này? Các Giáo Phụ và các tác giả tu đức ngày xưa nhấn mạnh lý do sám hối, nước mắt của hối nhân sám hối về tội mình. Các tác giả hiện nay lại đề nghị một lý do hiện sinh: nước mắt của những người cảm thấy mình là lữ khách ở trần gian, xa cách quê hương, của những người “đau khổ vì thấy sự dữ đang thống trị thế giới[18]”. Một sự than khóc mang tính vũ trụ, nếu có thể nói được như thế, giống như Phaolô nói về sự rên siết của thụ tạo và con người đang trông chờ ơn cứu chuộc hoàn hảo (x. Rm 8,19-23), hoặc giống như kiểu nói của thi sĩ Virgiliô sunt lacrimae rerum, “đó là những giọt nước mắt của sự vật[19]”.
Theo tôi, không nên giới hạn vào hai lý do này. Con đường bảo đảm nhất để thấy thứ khóc lóc và sầu khổ nào được Đức Kitô công bố là hạnh phúc, chính là tìm hiểu xem tại sao người ta khóc trong Kinh Thánh và tại sao Ngài khóc trong Phúc Âm. Chúng ta thấy có thứ khóc lóc ăn năn như Phêrô sau khi phản bội Thầy; có thứ “khóc với người khóc” (Rm 12,15), tức là khóc lóc cảm thương với nỗi buồn của người khác, như Đức Giêsu khóc với bà góa thành Naim, với các chị của Ladarô; có thứ khóc lóc của những kẻ lưu đầy trông về cố hương, như những người Do Thái bên bờ sông Babylon. Và còn biết bao nhiêu thứ khóc lóc khác…
Tôi muốn nhấn mạnh hai lý do khiến người trong Kinh Thánh khóc và khiến Đức Giêsu khóc. Những lý do này xem ra đặc biệt quan trọng để suy niệm trong thời điểm lịch sử chúng ta đang sống.
Trong Thánh vịnh 41/42, chúng ta đọc thấy những lời này:
“Châu lệ là cơm bánh đêm ngày,
khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi
‘Này Thiên Chúa người đâu?’
Xương cốt con gẫy rời từng khúc,
bởi đối phương lăng nhục thần này,
khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi
‘Này Thiên Chúa ngươi đâu?’”
Người tín hữu chưa từng bao giờ có nhiều lý do để buồn phiền như hôm nay, vì có nhiều người chung quanh kiêu căng chối bỏ Thiên Chúa. Sau thời vô thần mácxít đến thời tương đối yên lặng, bây giờ chúng ta đang chứng kiến sự trở lại lại mạnh mẽ của một chủ nghĩa vô thần chiến đấu và gây hấn, nói chung mang tính khoa học. Tựa đề của một số sách mới đây nói lên tất cả: Khảo luận về khoa vô thần, Ảo tưởng về Thiên Chúa, Ngày tàn của đức tin, Tạo dựng không có Thiên Chúa, Một đạo đức học không Thiên Chúa, Thiên Chúa không vĩ đại, Tôn giáo đầu độc mọi thứ…
Ở một trong các sách trên đây, chúng ta đọc được những lời tuyên bố như sau:
“Các xã hội loài người đã phát triển nhiều phương tiện chuẩn mực để có được kiến thức, những kiến thức này thường được chia sẻ, và qua chúng người ta có thể xác minh một điều gì đó. Những người khẳng định sự hiện hữu của một thực thể mà không thể biết được thông qua những dụng cụ đó, phải đảm nhận việc dẫn chứng. Vì vậy, theo tôi, chủ trương Thiên Chúa không hiện hữu xem ra hợp pháp, cho đến khi chứng minh ngược lại[20].”
Chúng ta hẳn có thể dùng những cách biện luận tương tự để chứng minh rằng tình yêu cũng không hiện hữu, vì nó không thể được các công cụ khoa học xác minh. Chứng cớ Thiên Chúa hiện hữu là ở trong đời sống, chứ không ở trong sách vở hay phòng thí nghiệm sinh học; trước hết là trong cuộc đời của Đức Kitô, rồi trong cuộc đời của các thánh và vô số chứng nhân đức tin. Người ta cũng thấy sự hiện hữu ấy trong chứng cớ gây nhiều tranh cãi về các dấu chỉ và phép lạ do chính Đức Giêsu thực hiện, như để minh chứng cho chân lý Ngài công bố. Như Lessing nhận xét, đúng là các phép lạ có ích cho những ai chứng kiến, chứ không cho những ai được nghe kể lại, nhưng những phép lạ vẫn còn xẩy ra ngày hôm nay, trước mắt chúng ta. Không nên tiên thiên cho rằng chúng không thể xẩy ra, mà không chịu khó xem xét các chứng cớ về chúng, cũng không nên bác bỏ toàn bộ chỉ với lý do là đã có thể chứng minh một số những phép lạ đó là giả.
Lý do buồn phiền của người tín hữu, cũng như của vịnh gia, là thấy mình bất lực trước thách đố đặt ra cho mình: “Này Thiên Chúa ngươi đâu? Bằng thái độ yên lặng nhiệm mầu, Thiên Chúa giữ thinh lặng và Người kêu gọi người tín hữu chia sẻ sự yếu đuối và thất bại cùa Người, hứa cho họ chiến thắng chỉ với điều kiện này: “Cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1,25).
Để có những giọt nước mắt chân thành và có kết quả, người tín hữu phải khóc không chỉ vì các người không tin, mà còn khóc cho các người không tin, với lòng trắc ẩn trung thực, cho dù bị họ từ chối hay nhạo báng. Triết gia Kierkegaard đã viết:
“Người ta nói nhiều về cảnh nguy khốn và lầm than của con người. Tôi cố gắng tìm hiểu những cảnh ấy, và tôi thấy sát những khía cạnh khác nhau của nhửng cảnh ấy. Người ta nói nhiều về những cuộc đời bị lãng phí, nhưng chỉ lãng phí cuộc đời của người đã sống qua những ngày tháng để mình bị những niềm vui và nỗi buồn phỉnh phờ, đến độ không bao giờ có một ý thức vĩnh cửu và mang tính quyết định về chính mình như một tinh thần, như một “cái tôi” hoặc, nói cách khác, không bao giờ nhận thấy hay có cảm tưởng sâu sắc là có một Thiên Chúa và “chính mình”, con người của mình, cái tôi của mình được tạo dựng là cho Thiên Chúa […] Và dường như tôi có thể thương tiếc một cõi đời đời trước sự khốn cùng này[21]!”
Mẹ Têrêxa Calcutta, người đã biết hết hoặc hầu như tất cả sự nghèo khó và khốn cùng, chỉ lặp đi lặp lại rằng sự nghèo khó kinh khủng nhất là sự nghèo khó của người nghĩ rằng có thể làm mà không cần Thiên Chúa.
3. “Chớ gì các linh mục, những thừa tác viên của Chúa, hãy khóc lên!”
Có những giọt nước mắt khác trong Kinh Thánh khiến chúng ta phải suy nghĩ, không phải nước mắt khóc cho người khác, nhưng khóc cho chính chúng ta. Các tiên tri nói về chúng. Êdêkien kể lại một thị kiến mà có lần ông đã thấy. Tiếng nói quyền năng của Thiên Chúa mời gọi một nhân vật huyền bí “mặc áo vải gai, đeo tráp ký lục ở ngang hông: “Hãy rảo khắp thành, khắp Giêrusalem. Hãy ghi dấu chữ thập trên trán những người đang rên siết khóc than về mọi điều ghê tởm đang xẩy ra trong khắp thành” (Êd 9,4).
Trong thời gian qua, Giáo Hội đã khóc than cho những tội lỗi ghê tởm ngay giữa lòng Giáo Hội mà một số các thừa tác viên và mục tử của mình đã phạm. Giáo Hội đã trả giá đắt cho những trường hơp ấu dâm của hàng giáo sĩ, đã đưa ra những biện pháp và những quy tắc chặt chẽ, để ngăn chặn những lạm dụng như vậy không xẩy ra nữa: khóc lóc trước mặt Thiên Chúa, đau buồn như Thiên Chúa đau buồn vì tội phạm đến Thân Thể Đức Kitô, và gương xấu gây ra cho “những người bé mọn nhất trong các anh em mình”. Đây là điều kiện để từ điều xấu này có thể thực sự phát sinh một điều tốt, và dân Chúa hòa giải với Thiên Chúa và với các linh mục của Người.
“Hãy rúc tù và tại Sion, ra lệnh giữ chay thánh, công bố mở cuộc họp long trọng…Giữa tiền đình và tế đàn, các tư tế phụng sự Đức Chúa hãy than khóc và nói rằng: Lậy Đức Chúa, xin dủ lòng thương xót dân Ngài. Xin đừng để gia nghiệp cùa Ngài phải nhục nhã và nên trò cười cho dân ngoại” (Ge 2,15-17).
Lời của tiên tri Gioen là một lời mời gọi mỗi người chúng ta. Chúng ta lại không làm như ông hôm nay sao: một ngày ăn chay và sám hối, ít nhất ở cấp địa phương hay quốc gia, nơi mà vấn đề trở thành nghiêm trọng nhất, để công khai bày tỏ lòng sám hối trước Thiên Chúa và liên đới với các nạn nhân?
Tôi tìm thấy sự can đảm của tôi trong những lời của Đức Giáo hoàng Bênêđitô XVI nói với hàng Giám mục của một quốc gia công giáo trong lần viếng ad limina:
“Những vết thương do những hành vi ấy gây ra sâu lắm. Công việc khôi phục sự tin tưởng là cấp bách, một khi sự tin tưởng này đã bị tổn thương. Theo cách này, Giáo Hội ở Ai Len sẽ được củng cố và sẽ ngày càng có khả năng làm chứng cho quyền năng cứu độ của thập giá Đức Kitô[22].”
Tuy vậy, chúng ta không thể không đem lại hy vọng cho những anh em bất hạnh đã gây ra tội ác. Liên hệ đến trường hợp loạn luân ở giáo đoàn Corintô, thánh Tông Đồ tuyên bố: “Chúng ta phải nộp con người đó cho Satan, để phần xác nó bị hủy diệt, còn phần hồn được cứu thoát trong Ngày của Chúa” (1Cr 5,5). Việc cứu rỗi tội nhân, chứ không phải hình phạt dành cho họ, đấy là điều thánh Tông Đồ quan tâm.
Những linh mục này đã bị tước bỏ mọi sự, thừa tác vụ, danh dự, tự do, và không ai biết trách nhiệm luân lý như thế nào trong những trường hợp của các ngài. Các ngài trở thành những người rốt hết, những người bị loại bỏ. Nếu vì đó và được ân sủng tác động, một ngày nào đó các ngài đau buồn về tội ác mình gây ra, nếu các ngài kết hợp sự than khóc của mình với sự than khóc của cả Giáo hội, thì khi ấy, Mối Phúc của những người sầu khổ và than khóc, trong trường hợp ấy, trở thành Mối Phúc của các ngài. Các ngài hẳn có thể gần gũi Đức Kitô, bạn của những người rốt hết, hơn biết bao nhiêu người khác, những người tưởng mình được nhiều người kính trọng và có lẽ, giống như người Pharisiêu, sẵn sàng phán đoán những người làm điều lầm lỗi. Dĩ nhiên, người ta vẫn phải làm hết sức có thể, cộng tác ở mọi cấp với công lý của con người, để những gương xấu này không được lặp lại, và tìm cách giúp đỡ về phương diện thiêng liêng cả những nạn nhân bị lạm dụng nữa.
4. Những giọt lệ đẹp đẽ nhất
Cho tới lúc này chúng ta đã gợi ra một vài lý do khiến người Kitô hữu hôm nay đau buồn và khóc lóc, nhưng tôi không thể kết thúc bài suy niệm này mà không lưu ý đến những giọt nước mắt thuộc một loại khác. Người ta có thể khóc vì đau buồn, nhưng cũng có thể khóc vì cảm động và vui mừng. Những giọt nước mắt đẹp nhất là những giọt nước mắt trào ra khi mà, được Chúa Thánh Thần soi sáng, “chúng ta nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy” (Tv 34,9).
Trong tình trạng ân sủng như vậy, chúng ta ngạc nhiên khi thấy thế giới và chính chúng ta không quỳ gối, và không khóc vì ngạc nhiên và cảm động. Chính những giọt lệ loại này trào ra trên đôi mắt của Augustinô, khi ngài viết:
“Lạy Cha nhân từ, cha yêu thương chúng con dường nào, đến nỗi không chỉ chia sẻ Con Một của cha, mà còn nộp người Con ấy vì chúng con hết thảy. Cha yêu chúng con biết mấy[23].”
Pascal cũng đã khóc như vậy vào đêm ông nhận được mạc khải từ Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, Đấng tự mạc khải mình qua Phúc Âm. Ông viết trên một mảnh giấy nhỏ (được tìm thấy đính vào trong áo vét, sau khi ông qua đời): “Vui quá, vui quá, những giọt nước mắt vui mừng!”. Tôi nghĩ rằng những giọt nước mắt mà người đàn bà tội lỗi đổ ra để rửa chân cho Đức Giêsu không chỉ là những giọt lệ thống hối, mà còn là những giọt nước mắt tạ ơn và vui mừng.
Nếu ở trên trời người ta có thể khóc, thì khi ấy thiên đàng đầy những giọt nước mắt như thế. Ở Istambul, xưa là thành phố Constantinôpôli, là nơi mà thánh Simêon, Nhà Thần học Mới, đã sống khoảng năm 1000. Người ta gọi ngài là vị thánh hay khóc, Ngài là gương mẫu sáng chói nhất trong lịch sử tu đức Kitô giáo về những giọt lệ thống hối, đổi thành những giọt nước mắt ngạc nhiên và thinh lặng. Trong một tác phẩm của mình, ngài viết: “Tôi đã khóc mà vui khôn tả[24].” Giải thích dài dòng Mối Phúc của những người than khóc, ngài nói:
“Phúc thay những người luôn khóc lóc cay đắng về tội mình, vì ánh sáng sẽ giữ họ và sẽ biến đổi những giọt nước mắt cay đắng thành ngọt ngào[25].”
Một ngày kia, lúc đang khóc, thánh Simêon cảm nghiệm được niềm vui lớn lao đến nỗi ngài viết :
“Có gì lớn lao và đẹp đẽ hơn điều đó? Cứ để yên như vậy là đủ cho con, ngay cả sau khi con chết!” Tiếng Chúa đáp lại: “Con thực bủn xỉn khi hài lòng như vậy. Niềm vui của con hôm nay, so với niềm vui sẽ đến, giống như bầu trời vẽ trên giấy, so với bầu trời thật sự [26]”.









