3
“PHÚC THAY AI HIỀN LÀNH,
VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC ĐẤT HỨA LÀM GIA NGHIỆP”
Để biết xem ai là những người hiền lành được Đức Giêsu công bố là có phúc, thiết tưởng nên duyệt qua những hạn từ khác nhau được sử dụng trong các bản dịch hiện nay để dịch từ “hiền lành” (praeis). Trong tiếng Ý, hai hạn từ là : miti và mansueti, hạn từ sau cũng được sử dụng trong các bản dịch tiếng Tây Ban Nha : los mansos, “những người ngoan ngoãn”.
Trong tiếng Pháp, từ này được dịch là “hiền lành” (doux), tức là những người có nhân đức “hiền lành” (la douceur). Trong tiếng Đức, người ta thấy có nhiều cách dịch. Martinô Luthêrô dịch từ này là Sanftmutigen, có nghĩa là “hiền lành” ; trong bản dịch Kinh Thánh đại kết bằng tiếng Đức, bản Eineits Bibel hay “Kinh Thánh đại kết”, những người hiền lành là “những người không sử dụng bạo lực”, những người bất bạo động. Một vài tác giả nhấn mạnh chiều kích khách quan và xã hội học khi dịch praeis là Machtlosen, những người “không được bảo vệ”, những người “không có quyền hành”. Tiếng Anh thường dịch praeis là gentle, làm cho các Mối Phúc có một sắc thái giữa tử tế và lịch thiệp.
Mỗi bản dịch trên làm nổi bật một thành tố thực sự của Mối Phúc, cho dù chỉ một phần. Để có một ý tưởng về sự phong phú ban đầu của hạn từ Phúc âm, chúng ta phải giữ chúng lại chung với nhau, không tách riêng hạn từ nào. Hai cách kết hợp không thay đổi, trong Kinh Thánh cũng như trong khuyến thiện Kitô giáo cổ thời, giúp ta hiểu “ý nghĩa đầy đủ” của từ hiền lành: một cách đưa hai từ hiền lành và khiêm nhường lại gần nhau, một cách đưa từ hiền lành lại gần với từ nhẫn nại; một cách nhấn mạnh thái độ nội tâm từ đó phát xuất ra hiền lành, một cách gợi ra những cách xử thế nên có với người lân cận, nghĩa là nhã nhặn, dịu hiền, tôn trọng, tử tế… cũng chính là những nét mà thánh Tông Đồ nhấn mạnh khi ngài nói về đức ái (1Cr 13,4-5).
1. Hai chìa khóa giúp đọc các Mối Phúc
Đức Giêsu công bố: “Phúc thay ai hiền lành” và ở một đoạn khác cũng trong Phúc Âm Matthêu, Ngài nói: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (11,29). Từ đó ta có thể thấy các Mối Phúc không chỉ là một chương trình đạo đức tốt đẹp, mà vị Thầy đã vạch ra tỉ mỉ cho các môn đệ, nhưng còn là một chân dung tự họa của Ngài. Ngài chính là con người nghèo thực sự, hiền lành, có tâm hồn trong sạch, bị bách hại vì lẽ công chính. Thánh Augustinô kêu lên: “Chúng ta đã tìm thấy một người nghèo thực sự. Đó là người nghèo mà chúng ta thấy mọi người nghèo thực sự là chi thể[27].”
Điều này giúp chúng ta có cơ hội cho thấy hai cách giải thích căn bản về các Mối Phúc Tin mừng trong suốt dòng lịch sử: cách giải thích luân lý và cách giải thích Kitô học. Cách giải thích luân lý, chẳng hạn của thánh Tôma Aquinô khi bàn về các Mối Phúc trong phần luân lý của Tổng luận, trong ngữ cảnh các nhân đức và ân huệ[28]. Theo cũng cách giải thích luân lý này, cùng với các Mối Phúc, Đức Giêsu phác họa cho các môn đệ một lý tưởng hoàn thiện vượt lên trên lề luật. Những đòi hỏi của nó đôi khi xem ra không thể thực hiện. Chính vì vậy chúng không được ban như những “lệnh truyền”, nhưng như các “Mối Phúc”. Theo cách phân biệt của kinh viện giữa lệnh truyền và lời khuyên Phúc âm, chúng thuộc phạm trù lời khuyên hơn.
Luthêrô cũng theo cách giải thích luân lý này, nhưng bằng cách đảo ngược nó, nếu có thể nói được như vậy. Những đòi hỏi khó khăn của Đức Giêsu chỉ là để cho con người thấy mình tội lỗi, không thể làm điều lành, như vậy thúc giục con người chỉ phó thác vào ân sủng của Đức Kitô. Chúng có giá trị “tố cáo”, và giống như, theo Phaolô, tất cả luật cũ. Chúng không chỉ ra điều chúng ta phải làm, nhưng đúng hơn, điều một mình chúng ta không thể làm. Ngay cả đối với thánh Tôma, các Mối Phúc, cũng như các lệnh truyền luân lý của Phúc Âm, sẽ là “văn tự giết chết”, nếu không thêm vào đó “ân sủng của đức tin chữa lành[29]”; tuy nhiên, không vì vậy mà ngài coi mục tiêu của chúng chỉ là “mạc khải về tội lỗi”.
Ngược lại, chìa khóa giúp đọc theo hướng Kitô học là đọc các Mối Phúc không như “tấm gương tội lỗi” của con người, nhưng như những khẳng định về Đức Kitô và về con người mới, được đúc theo khuôn của Ngài. Không phải theo cách tiêu cực, nhưng theo cách tích cực. Chính theo nghĩa này mà, như tôi đã nói lúc đầu, các Mối Phúc căn bản là bức chân dung tự họa của Đức Giêsu.
Như thường lệ, vấn đề không phải là đối lập hai cách xem xét này về các Mối Phúc, nhưng giữ cho chúng liên kết với nhau. Chắc chắn chúng có một giá trị luân lý, và trong chừng mực là Mối Phúc, chúng đòi con người chấp nhận và cộng tác, tuy vậy chúng có nền tảng Kitô học, cho ta biết Đức Giêsu là ai. Chính ở điểm này, ở bổn phận bắt chước Đức Kitô, mà phát sinh giá trị luân lý của chúng. Trong cả hai trường hợp, chúng ta nói về một cách đọc các Mối Phúc theo hướng Kitô học, miễn là coi Đức Kitô như một “hồng ân nhận được nhờ đức tin”, và đồng thời như một “kiểu mẫu để bắt chước nhờ các việc làm”.
Tôi nghĩ chính đó là hạn chế của ông Gandhi, khi ông tiếp cận “Bài giảng trên núi”, tuy rất thán phục Bài giảng này. Theo ông, diễn từ này hẳn có thể không dính dáng gì tới con người lịch sử của Đức Kitô. Ông nói :
“Nếu có ai chứng minh được rằng con người có tên là Giêsu chưa từng sống bao giờ, và tất cả những gì chúng ta đọc trong Phúc âm chỉ là do tác giả tưởng tượng, thì điều đó cũng không quan trọng. Trước mắt tôi, Bài giảng trên núi vẫn mãi mãi là một chân lý[30].”
Ngược lại chính con người và cuộc đời của Đức Kitô mới làm cho các Mối Phúc và toàn bộ “Bài giảng trên núi” trở thành một cái gì đó hơn là một ảo tưởng luân lý sáng ngời, vì được thực hiện trong lịch sử, trong đó mỗi người có thể múc lấy sức mạnh, để đạt tới sự hiệp thông thần bí liên kết mình với con người Đấng Cứu Thế. Không chỉ thuộc trật tự bổn phận mà thôi, nhưng còn thuộc trật tự ân sủng nữa.
2. Đức Giêsu, con người hiền lành
Nếu các Mối Phúc là một chân dung tự họa của Đức Giêsu, thì việc đầu tiên phải làm khi phải bình giải một Mối Phúc, là xem Ngài đã sống Mối Phúc ấy như thế nào. Các sách Phúc Âm, từ đầu tới cuối, đều chứng minh sự hiền lành của Đức Kitô, dưới hai khía cạnh khiêm nhường và nhẫn nại. Như chúng ta đã nhắc lại, chính Đức Giêsu cũng coi mình như một khuôn mẫu hiền lành. Matthêu gán cho Ngài những lời tiên tri Isaia tuyên sấm về người Tôi Trung của Thiên Chúa: “Cây lau bị dập, Ngài không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi” (x. Mt 12,20). Hình ảnh Ngài cỡi lừa vào thành Giêrusalem được coi như gương mẫu của một đức vua “hiền hậu”, ghê tởm mọi ý tưởng bạo lực và chiến tranh.
Chính trong cuộc Khổ Nạn mà Đức Kitô cho thấy bằng chứng rõ nhất về sự hiền lành này: không một chút giận dữ, không một lời đe dọa. “Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe” (1 Pr 2,23). Tư cách này của Chúa ghi đậm trong ký ức của các môn đệ Ngài, đến nỗi thánh Phaolô, khi muốn van nài người Corintô về một điều gì đó thân thương và thiêng thánh, đã viết cho họ: “Tôi xin dựa vào lòng nhân từ (prautes) và khoan dung (épieikeia) của Đức Kitô mà khuyên nhủ anh em” (2 Cr 10,1)
Tuy vậy, Đức Giêsu đã làm hơn nhiều, chứ không chỉ để lại cho ta gương mẫu về sự hiền lành và nhẫn nại đến độ anh hùng; Ngài còn biến hiền lành và bất bạo động thành dấu chỉ nói lên sự cao cả đích thực. Cao cả không ở chỗ đưa mình lên trên người khác, trên đám đông, nhưng hạ mình xuống để phục vụ và đưa người ta lên. Theo thánh Augustinô, trên Thánh giá Đức Giêsu cho thấy sự chiến thắng đích thực không ở chỗ biến người khác thành nạn nhân, nhưng biến mình thành nạn nhân (tế vật), victor quia victima[31].
Như ta biết, triết gia F. Nietzsche không chia sẻ nhãn quan này với chúng ta. Theo ông, đó là thứ “đạo đức của người nô lệ”, chấp nhận thế yếu của mình trước kẻ mạnh hơn. Khi dạy người ta sống khiêm nhường, hiền lành, bổn phận trở nên như con trẻ, giơ má kia cho người ta đánh, Kitô giáo du nhập vào giữa lòng nhân loại một dạng ung thư, phá vỡ và, do đó, hủy hoại đà sống và tất cả cuộc sống của con người.
Từ ít lâu nay, người ta ghi nhận một khuynh hướng muốn bác bỏ những lời tố cáo Nietzsche, muốn phục hồi uy tín cho ông, thậm chí muốn coi ông là một Kitô hữu. Người ta cho là ông không muốn chống Đức Kitô, mà chỉ chống các Kitô hữu. Những người này có thời kỳ đã rao giảng sự từ bỏ như một mục đích, khinh chê cuộc sống, chống lại thân xác… Mọi người hiểu lầm tư tưởng đích thực của Nietzsche, bắt đầu từ Hitler. Thực ra, ông đã có thể là một tiên tri của thời đại mới, đi tiên phong cho thời hậu hiện đại.
Chỉ có một tiếng nói, nếu có thể nói như thế, đã bác lại khuynh hướng này, đó là tiếng nói của triết gia Pháp René Girard. Theo ông, tất cả những cố gắng đó tiên vàn làm hại cho chính Nietzsche. Với một đầu óc sáng suốt hiếm có vào thời ấy, Nietzsche đã thấy rõ trọng tâm thực sự của vấn đề, đó là : cái thế buộc phải lựa chọn giữa ngoại giáo và Kitô giáo. Ngoại giáo ca ngợi sự hy sinh người yếu vì lợi ích của người mạnh và vì sự thăng tiến của đời sống con người, trong khi đó Kitô giáo lại ca ngợi sự hy sinh người mạnh vì lợi ích của người yếu. Không khó để có thể thấy mối liên hệ khách quan giữa đề nghị của Nietzsche với kế hoạch của Hitler, nhằm xóa sổ hết một nhóm người, để giúp cho văn minh được tiến triển, chủng tộc được thuần khiết. Thế nên không chỉ Kitô giáo, mà cả Đức Kitô, là mục tiêu tấn công của Nietzsche. Ông đã từng nói trong một mảnh di cảo: “Dionysos chống lại kẻ bị đóng đinh, đây thật là một sự đối kháng[32].”
Riné Girard chứng minh rằng công trạng lớn nhất của xã hội hiện nay, tức quan tâm tới các nạn nhân, đứng về phía người yếu thế và bị áp bức, bảo vệ sự sống bị đe dọa, công ấy thực ra là sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng Phúc Âm, là sản phẩm mà, ngày nay, trong một trò chơi nghịch lý của những cạnh tranh bắt chước, các phong trào khác đòi lại như một cuộc chinh phục cá nhân, đối lập với Kitô giáo[33].
Thực sai lầm khi cho rằng Phúc Âm cản trở ước muốn làm những việc lớn và làm đầu. Đức Giêsu nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35). Vậy muốn làm đầu là chuyện hợp pháp, thậm chí được khuyến khích nữa. Chỉ con đường đưa đến chỗ làm đầu phải thay đổi: không đưa mình lên trên người khác, đè bẹp họ nếu họ là vật cản trên đường, nhưng là hạ mình để đưa họ lên và lên cùng với họ.
3. Hiền lành và khoan dung
Mối Phúc của người hiền lành đã trở thành quan trọng đặc biệt trong những cuộc tranh luận về tôn giáo và bạo lực, nhất là sau ngày 11 tháng 9 năm 2001. Tiên vàn Mối Phúc nhắc cho người Kitô hữu chúng ta nhớ rằng, trong Phúc Âm, không có chỗ cho bất cứ hồ nghi nào. Không hề có những lời khuyên bất bạo động xen lẫn với những lời khuyên ngược lại. Có thể người Kitô hữu, vào một thời kỳ nào đó, đã xa rời truyền thống, nhưng nguồn mạch thì vẫn trong sáng và Giáo Hội lại có thể dựa vào đó, vào bất cứ thời nào, an tâm chỉ tìm thấy trong đó chân lý và sự thánh thiện.
Phúc Âm nói: “Ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Nhưng kết án là kết án ở trên trời, không phải ở dưới đất, do Thiên Chúa, chứ không do con người. Đức Giêsu nói: “Khi người ta bách hại anh em trong thành này thì hãy trốn sang thành khác” (Mt 10,23), chứ Ngài không dạy: “Hãy phá hủy thành đó”. Có một hôm hai trong số các môn đệ là Giacôbê và Gioan không được một làng Samari tiếp đón. Họ hỏi Chúa: “Thưa Thày, Thày có muốn cho chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?” Nhưng Đức Giêsu “quay lại quở mắng các ông”. Một lời quở mắng mà nội dung được nhiều thủ bản thuật lại: “Anh em không biết anh em thuộc loại thần khí nào, vì Con Người không đến để làm cho người ta mất mạng, nhưng là để cứu mạng” (x. Lc 9, 53-55).
Lệnh truyền nổi tiếng compelle intrare, “Ép người ta vào” (Lc 14,23) mà thánh Augustinô buộc phải miễn cưỡng dùng lại[34], để biện minh cho việc ngài chấp thuận những luật của hoàng đế chống lại người phái Đonatô[35], và sau đó sẽ được sử dụng để biện minh cho biện pháp chính trị cưỡng chế các người lạc giáo, lệnh truyền ấy rõ ràng là do người ta giải thích bản văn Phúc Âm một cách gượng gạo. Chính giải thích này là kết quả của việc đọc Kinh Thánh theo nghĩa đen.
Đức Giêsu đặt lệnh truyền này trên môi miệng một người, sau khi làm tiệc lớn và thấy những khách được mời xin kiếu, đã sai đầy tớ ra các đường làng đường xóm “ép các người nghèo khổ, tàn tật, đui mù, què quặt vào nhà mình”. Rõ ràng trong loại ngữ cảnh này, ép người nào không có nghĩa gì khác hơn là nài nỉ. Những người nghèo khổ, què quặt, cũng như mọi người bất hạnh, hẳn cảm thấy ngại ngùng đi dự tiệc trong một tình trạng đáng thương. Cho nên chủ nhà bảo các đầy tớ cứ nói với họ đừng ngại, đừng sợ vào nhà. Trong những hoàn cảnh này, biết bao lần trong đời chúng ta cũng đã nói: “Ông ấy ép qua nên tôi phải nhận”, khi biết rằng sự nài nỉ trong trường hợp này là dấu chỉ tử tế chứ không phải cưỡng bức.
Một cuốn sách viết theo kiểu điều tra về Đức Giêsu, được nhiều người nói tới trong thời gian qua tại Ý, gán cho Ngài câu này: “Còn bọn thù địch của ta kia, những người không muốn ta làm vua cai trị chúng, thì hãy dẫn chúng lại đây và giết chết trước mặt ta” (Lc 19,27), và từ đó suy ra là “những người chủ trương thánh chiến dựa vào những câu đại loại như vậy[36].” Phải nói rõ: Luca không gán những lời này cho Đức Giêsu, nhưng cho nhà vua trong dụ ngôn. Người ta biết rằng không thể chuyển cả một khối mọi chi tiết của trình thuật từ dụ ngôn sang thực tế. Trong mọi trường hợp những chi tiết này phải được chuyển từ bình diện vất chất sang bình diện thiêng liêng. Ý nghĩa ẩn dụ của câu trên muốn nói rằng đón nhận hay chối từ Đức Giêsu đều gây ra hiệu quả: đón nhận thì sống, không đón nhận thì chết, nhưng đây là sống hay chết về phương diện thiêng liêng, không phải về thể lý. Thánh chiến không mắc mớ gì ở đây hết.
4. Với lòng hiền hòa và kính trọng
Chúng ta hãy để sang một bên những xem xét thuộc loại hộ giáo, và xem mối phúc này soi sáng đời sống Kitô hữu của chúng ta như thế nào. Trong thư thứ nhất của mình, thánh Phêrô đưa Mối Phúc ấy áp dụng vào mục vụ, trong cuộc đối thoại với thế giới bên ngoài:
“Hãy tôn Đức Kitô làm Chúa ngự trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa (prautes) và có lòng kính trọng” (1 Pr 3,15-16).
Ngay từ thời Giáo hội sơ khai, đã có hai loại hộ giáo, một loại theo kiểu của Tertullianô, một loại theo kiểu của Giustinô, loại trước lấy thắng làm cốt, loại sau nhằm thu phục. Tertullianô (hoặc một trong các môn đệ của ông) viết cuốn Chống người Do thái (Adversus Iudaeos), còn Giustinô viết cuốn Đối thoại với Tryphon người Do thái. Cả hai loại hộ giáo đó vẫn tiếp tục trong văn chương Kitô giáo (Giovanni Papini chắc chắn gần với Tertullianô hơn là với Giustinô), nhưng ngày nay chắc chắn chúng ta thích loại nhằm thu phục hơn.
Thông điệp Deus Caritas est của Đức Bênêđitô XVI là một mẫu gương sáng ngời khi trình bầy những giá trị Kitô giáo theo cách kính trọng và xây dựng, đem lại lý do cho niềm hy vọng Kitô giáo “cách hiền hòa và có lòng kính trọng”.
Thánh tử đạo Ignatiô Antiokia đã gợi ra cho các Kitô hữu thời ngài một thái độ vẫn còn đậm chất thời sự này, trước thế giới bên ngoài:
“Trước thái độ giận dữ của họ, anh em hãy tỏ ra hiền lành ; trước thói khoe khoang của họ, hãy tỏ ra khiêm tốn[37].”
Lời hứa gắn liền với Mối Phúc của người hiền lành (“sẽ được đất làm gia nghiệp”) được thực hiện theo nhiều cấp độ khác nhau, và cuối cùng là Đất Hứa vĩnh viễn là sự sống đời đời. Một trong những cấp độ ấy là cấp độ con người: đất biểu thị tâm hồn con người. Người hiền lành làm cho người ta tin tưởng, lôi cuốn người khác. Thánh Phanxicô Salêsiô, một vị thánh nổi tiếng hiền hòa, đã nói: “Các bạn hãy sống hiền hòa ngần nào có thể, và hãy nhớ rằng chỉ một giọt mật thôi thì bẫy được nhiều ruồi dễ hơn là một thùng dấm.”
5. “Hãy học với tôi vì tôi hiền lành”
Người ta có thể nhấn mạnh nhiều đến những áp dụng mục vụ của Mối Phúc này, nhưng chúng ta hãy chuyển sang một áp dụng có tính cá nhân hơn. Đức Giêsu nói: Anh em hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu” (Mt 11,29). Người ta có thể bắt bẻ: chính Đức Giêsu không phải lúc nào cũng hiền hậu. Chẳng hạn Ngài dạy đừng chống lại người ác, và: “Nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5,39) ; tuy vậy, khi đứng trước Thượng Hội đồng Do thái và khi có tên lính vả mặt Ngài, Ngài đã không chìa má kia mà lại nói: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào, còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18,23).
Điều đó có nghĩa là không được hiểu “Bài giảng trên núi” hoàn toàn theo mặt chữ. Đức Giêsu sử dụng những kiểu nói phóng đại và ngôn ngữ hình tượng, để khắc sâu hơn vào tâm trí người nghe một số ý tưởng. Chẳng hạn trong chuyện giơ má ra, quan trọng không phải là giơ má (có khi hành vi này lại có vẻ khiêu khích), nhưng là đừng dùng bạo lực chống lại bạo lực, lấy thinh lặng đương đầu với giận dữ. Theo nghĩa này, câu Ngài trả lời cho tên lính là gương mẫu về sự hiền lành của Thiên Chúa. Để đánh giá tầm quan trọng của nó, chỉ cần so sánh với phản ứng của tông đồ Phaolô (dù Phaolô cũng là một vị thánh) trong tình huống tương tự. Đứng trước Thượng Hội đồng Do thái, khi vị Thượng tế Khanania truyền vả Phaolô, Phaolô lớn tiếng: “Bức tường đá vôi kia, Thiên Chúa sẽ đánh ông” (Cv 23.2-3).
Có một nghi vấn cần phải làm sáng tỏ. Cũng trong cũng “Bài giảng trên núi”, Đức Giêsu nói:
“Ai giận anh em mình thì phải bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc thì phải bị đưa ra trước Thượng Hội đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” (Mt 5,22).
Rồi nhiều lần trong Phúc Âm, Đức Giêsu gọi những người Biệt Phái và kinh sư là “đồ giả hình, ngu si, mù quáng” (Mt 23,17), trách các môn đệ “tối dạ, chậm tin” (Lc 24,25).
Điều này cắt nghĩa cũng đơn giản thôi. Phải phân biệt nhục mạ và sửa lỗi. Đức Giêsu lên án những lời nói giận dữ, cố ý xúc phạm tới anh em, nhưng không lên án những lời nhằm giúp cho người khác ý thức về lỗi lầm của mình và sửa chữa. Khi một người cha nói với con mình : mày là đứa vô kỷ luật, không biết vâng lời, thì lời ấy không có ý xúc phạm đứa con đâu, nhưng muốn giúp nó sửa đổi tính tình. Trong Kinh Thánh, ông Môsê được khen là “người hiền lành nhất đời” (Ds 12,3). Vậy mà trong sách Đệ nhị luật, ta thấy ông nói với Israel: “Hỡi dân tộc ngu si khờ dại, ngươi đáp đền ơn Chúa vậy sao?” (Đnl 32,6).
Khác nhau ở chỗ người nói những câu đó là nói với tấm lòng yêu thương hay thù ghét. Augustinô bảo: “Hãy yêu đi rồi làm điều bạn muốn”. Khi yêu thì sửa lỗi hay bỏ qua cũng sẽ là yêu. Tình yêu không làm hại người khác. Từ gốc rễ tình yêu, như từ một cây tốt, chỉ có thể sản sinh những hoa trái tốt[38].
Chúng ta đi đến nét riêng của Mối Phúc này, đó là tấm lòng. Đức Giêsu nói: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Lòng là nơi quyết định có hiền hậu thật hay không. Ngài nói: chính từ lòng người phát xuất những ý định xấu: giết người, độc ác, phỉ báng” (x. Mc 7,21-22), giống như từ lòng núi lửa sôi sục vọt ra dung nham, đá và tro bụi nóng. Những vụ bạo động lớn nhất, những chiến tranh và trận chiến, như thánh Giacobê nói, bắt đầu âm thầm từ những “đam mê khuấy động bên trong con người” (x. Gc 4,1-2). Cũng như có ngoại tình trong lòng thì cũng có giết người trong lòng: “Ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân” (1Ga 3,15).
Không chỉ có bạo lực nơi bàn tay, mà còn có bạo lực trong tư tưởng. Nếu để ý, ta thấy trong ta hầu như lúc nào cũng có những “vụ xử kín” (procès à huis clos) (*). Trong những bản dịch các Mối Phúc bằng tiếng Anh, thay vì hiền lành người ta thấy từ gentle, những người “tử tế”. Thuật ngữ này cũng được giải thích là hiền lành, cần phải nhắc lại. Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu Philipphê: “Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi.” (Pl 4,5). Từ Hy lạp mà chúng ta dịch là “hiền hòa rộng rãi” (modération) có nghĩa toàn bộ các thái độ từ lòng khoan dung tới khả năng nhượng bộ, tỏ ra đáng yêu, ân cần, niềm nở, gần với những gì chúng ta hôm nay hiểu về sự tử tế (“gentillesse”).
Tiên vàn cần tái khám phá giá trị nhân văn của nhân đức này. Sự tử tế là một nhân đức chịu nhiều nguy cơ, hoặc được coi như đang trên đường lụi tàn trong xã hội mà chúng ta đang sống. Bạo lực vô cớ được trình bầy trong các phim ảnh và truyền hình, ngôn ngữ dung tục cố ý, cuộc chạy đua xem ai là người sẽ đầu tiên vượt quá giới hạn có thể dung thứ về chuyện tàn bạo và giới tính được vạch trần công khai, khiến chúng ta quen với tất cả những biểu hiện của bạo lực và thô tục.
Sự tử tế là một thứ nhựa thơm trong các mối quan hệ giữa con người với nhau. Tôi xác tín là cuộc sống sẽ tốt hơn trong gia đình, nếu như có một chút tử tế hơn trong các cử chỉ, lời ăn tiếng nói và nhất là có những tình cảm trong lòng. Không gì làm hỏng niềm vui được sống với nhau cho bằng những cách ứng xử thô lỗ. Kinh Thánh cho biết:
“Câu đáp dịu dàng khiến cơn giận tiêu tan, lời nói khiêu khích làm nổi cơn thịnh nộ. […] Lời xoa dịu tựa cây ban sự sống” (Cn 15,1-4) “Ăn nói dịu dàng thì tăng thêm bạn hữu, phát biểu dễ thương thì tăng thêm lời thân ái.” (Hc 6,5)
Một người tử tế đi đến đâu cũng gây được thiện cảm và được người ta thán phục. “Ông/bà ấy thật tử tế”, đó là lời đầu tiên người ta bình phẩm khi người đó ra đi.
Bên cạnh giá trị nhân văn, chúng ta còn thấy sự tử tế có giá trị Phúc âm nữa, một giá trị không chỉ là một vấn đề về giáo dục và về những cách hành xử đẹp. Trong Kinh Thánh, những hạn từ “hiền lành” và “quá hiền” không có nghĩa “phục tùng” hay “dễ dãi”, nhưng nói lên cách hành xử của một người biết tôn trọng, lịch sự, tao nhã, thuận hòa với người khác.
Phaolô xếp sự tử tế vào số hoa quả của Thần Khí khi ngài nói rằng “Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22). Theo thánh Tôma, sự tử tế là một phẩm chất của đức ái. Điều này không loại trừ một cơn giận chính đáng, nhưng cho phép tiết chế sao cho cơn giận không cản trở người ta bình tĩnh xét đoán sự việc cách công bằng. Đó là dấu chỉ rõ ràng nhất giúp ta nhận ra người trước mắt chúng ta là một con người nhân bản, có sự nhạy cảm và phẩm giá của mình, và chúng ta không hơn họ.
6. Mặc lấy những tâm tình hiền lành của Đức Kitô
Một nhận xét trước khi kết luận. Tự bản chất, các Mối Phúc hướng tới chỗ thực hành. Chúng kêu gọi người ta bắt chước, làm cho công việc của con người được phong phú. Chúng ta có nguy cơ chán nản khi thấy mình không có khả năng thực hiện trong đời sống riêng của ta, thấy có vực sâu ngăn cách giữa lý tưởng và thực hành. Nhắc lại ở đây mục đích mà Luthêrô đã gán cho các Mối Phúc có lẽ là điều hữu ích: thúc giục tội nhân thừa nhận mình không có khả năng, và biến các nhân đức của Đức Kitô thành của mình.
Như đã nói ở đầu chương này, các Mối Phúc là bản chân dung tự họa của Đức Giêsu. Ngài đã sống tất cả những Mối Phúc ấy, và sống cách viên mãn. Tuy vậy – và đây là tin vui cho ta – Ngài không chỉ sống chúng cho bản thân mình, mà còn cho tất cả chúng ta. Ngoài việc được mời gọi bắt chước các Mối Phúc, chúng ta còn được mời gọi biến các Mối Phúc đó thành của mình. Trong đức tin, chúng ta có thể có được sự hiền lành của Đức Kitô, cũng như sự trong sạch của trái tim Ngài, hoặc bất cứ nhân đức nào trong các nhân đức của Ngài. Chúng ta cũng có thể cầu xin để có được tấm lòng hiền hậu, như thánh Augustinô đã cầu xin để có được tấm lòng khiết tịnh:
“Lạy Chúa, xin truyền cho con sống hiền lành, xin ban cho con điều Chúa truyền và truyền cho con điều đẹp lòng Chúa[39].”
Thư Colossê viết: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại” (Cl 3,12). Sự nhân hậu và hiền lành giống như một chiếc áo mà Đức Kitô đã có được cho ta nhờ công lao của Ngài, và chúng ta có thể mặc, trong đức tin, không phải để được miễn thực hành, nhưng để khuyến khích ta thực hành. Thánh Phaolô xếp sự hiền lành vào số những hoa quả của Thần Khí (Gl 5,23), nghĩa là vào số những phẩm chất mà người tín hữu minh chứng trong cuộc sống của mình, khi lãnh nhận Thần Khí của Đức Kitô, và cố gắng đáp ứng.
Chúng ta có thể kết thúc bằng cách cùng nhau tin tưởng lặp lại lời cầu xin rất hay trong kinh cầu Trái tim Chúa Giêsu : Lậy Đức Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng chúng con nên giống Trái Tim Chúa (Iesu, mitis et humilis corde, fac cor nostrum secundum cor tuum).
———-
(*) Trong Bài giảng II Mùa Chay năm 2007 ở Phủ Giáo hoàng, cha Cantalamessa diễn giải “vụ xử kín” như sau:
Nếu để ý, ta thấy trong ta hầu như lúc nào cũng có những vụ xử kín (procès à huis clos). Một đan sĩ vô danh đã viết những trang rất sâu sắc về đề tài này. Ông nói với tư cách một đan sĩ, nhưng điều ông nói không chỉ áp dụng cho các đan viện. Ông đưa ra thí dụ về các thành viên, nhưng rõ ràng vấn đề cũng đặt ra cho các bề trên, tuy theo một cách thức khác. Ông viết:
“Cứ quan sát ý nghĩ của bạn, dù chỉ một ngày thôi, bạn sẽ ngạc nhiên thấy có những ý nghĩ phê bình thường xuyên và sống động, với những người đối thoại tưởng tượng, nếu không muốn nói là những người xung quanh bạn. Từ đâu mà có những lời phê bình ấy? Từ những sự kiện này: bất mãn với bề trên, vì không được các ngài yêu thương và hiểu biết, các ngài nghiêm khắc, bất công hoặc quá bủn xỉn với ta…; bất mãn với anh em, vì ít thông cảm, cứng đầu, phiến diện, vô trật tự… Khi ấy, một tòa án được thiết lập trong tâm trí ta, trong đó chúng ta là biện lý, chánh án, thẩm phán, hiếm khi là trạng sư trừ khi để bênh vực ta. Chúng ta trình bầy những sai lầm, cân nhắc lý do, tự bảo vệ và biện minh, lên án người vắng mặt. Đôi khi chúng ta đề ra các chương trình trả đũa, những hành động gian giảo báo thù”. [Un monaco, Le porte del silenzio, Ancora, Milano, 1986, p. 17 (Originale: Les portes du silence, Librairie Claude Martigny, Genève)]









