4
“PHÚC CHO ANH EM LÀ NHỮNG KẺ
BÂY GIỜ ĐANG PHẢI ĐÓI,
VÌ THIÊN CHÚA SẼ CHO ANH EM
ĐƯỢC NO LÒNG”
1. Lịch sử và Thần Khí
Công cuộc tìm kiếm Đức Giêsu lịch sử, có tính chất thời thượng ngày hôm nay, cho dù do các chuyên viên tín hữu làm, hay do những người vô tín làm, cũng rất nguy hiểm, vì làm cho người ta tưởng rằng tất cả những gì sẽ được nói ra qua con đường mới mẻ này về Đức Giêsu, sẽ được coi là xác thực, và tất cả những gì khác đều không xác thực. Quả thực, điều đó có nghĩa là chỉ giới hạn vào Lịch sử những phương tiện được Thiên Chúa sử dụng để tự mạc khải mình. Như vậy là mặc nhiên từ bỏ chân lý đức tin của sự linh hứng Thánh kinh, và do đó tính chất mạc khải của Sách Thánh.
Lời Thiên Chúa, lời quy chuẩn đối với người tín hữu, không phải là hạt nhân nguyên thủy giả định mà các sử gia muốn tái tạo bằng nhiều cách, nhưng hệ tại ở những gì được viết trong Phúc Âm. Lưu ý đến thành quả của những công cuộc tìm kiếm lịch sử là điều quan trọng, vì cho phép ta hiểu sự tiến triển về sau của truyền thống, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục công bố: “Đó là lời Chúa” khi kết thúc bài Phúc Âm, chứ không phải khi kết thúc bài đọc của sách cuối cùng về Đức Giêsu lịch sử.
Hai cách đọc, đọc theo lịch sử và đọc theo đức tin, nơi cả hai có một điểm gặp nhau quan trọng. Một chuyên viên Tân Ước nổi tiếng đã viết: “Một biến cố mang tính lịch sử khi tập hợp hai truy vấn : biến cố đã “xảy ra” và, hơn nữa, có tầm quan trọng đáng kể và mang tính quyết định đối với những người có liên hệ và đã xác chứng câu chuyện[40].” Có vố số sự kiện đã xẩy ra, nhưng chúng ta không coi chúng như “thuộc về lịch sử”, vì chúng không để lại dấu vết nào trong Lịch sử. Chúng không làm ai quan tâm, và không gì làm cho chúng lại xẩy ra nữa. Như vậy, “thuộc về lịch sử” không chỉ là một sự kiện đã xẩy ra, trần trụi và sống sượng, nhưng là sự kiện cộng thêm với ý nghĩa của nó.
Cách tiếp cận này cho thấy các sách Phúc Âm “thuộc về lịch sử”, không do điều các sách ấy thuật lại đã thực sự xẩy ra cho bằng do ý nghĩa các sự kiện mà Phúc Âm làm sáng tỏ dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Các tác giả sách Phúc Âm, và cộng đồng thời tông đồ trước các ngài, do những thêm thắt và nhấn mạnh khác nhau của mình, chỉ làm sáng tỏ những ý nghĩa hay hàm ý của một sự kiện hay một lời của Đức Giêsu. Vả lại, điều các ngài làm sáng tỏ không ở bên kia, nhưng ở bên này của điều chứa đựng tiềm tàng trong sự kiện hay lời nói, vì người ta phải gán cho những lời của Đức Kitô nói chung, một cách rất nghiêm túc, tính chất “vô tận” mà các Giáo Phụ nhận ra nơi Kinh Thánh[41].
Gioan quan tâm để Đức Giêsu cắt nghĩa trước sự kiện này cho mình, khi gán cho Ngài những lời sau đây:
“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xẩy đến. ” (Ga 16,12-13)
Ở đây, người ta thấy lại vấn đề muôn thuở về mối tương quan giữa Lịch sử và Thần Khí. Lịch sử không Thần Khí thì câm. Thần Khí không Lịch sử thì mù.
Dường như đòi hỏi không giới hạn việc nghiên cứu Tân Ước vào Lịch sử mà thôi, bắt đầu vạch ra một con đường nơi các chuyên gia Kinh Thánh; những người này thêm vào khoa chú giải lịch sử-ngữ học một khoa chú giải được định nghĩa là “qui điển”, khoa này trên thực tế có để ý đến quy điển Kinh Thánh và giá trị thần học phát xuất từ đó.
2. Ai là người “đói khát” và ai là người “no thỏa?”
Những nhận xét trên đây đặc biệt hữu ích cho chúng ta khi phải sử dụng các Mối Phúc Tin mừng.
Chúng ta biết các Mối Phúc trong hai bản văn khác nhau. Nơi Matthêu có tám Mối Phúc, nơi Luca chỉ có bốn, nhưng tiếp ngay sau là bốn mối họa, đối nghịch với các Mối Phúc. Nơi Matthêu, diễn từ có tính chất gián tiếp: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”, “Phúc thay ai khao khát”, còn nơi Luca, diễn từ có tính chất trực tiếp: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó”, “Phúc cho anh em là những kẻ đang phải đói”. Matthêu nói về những người “có tâm hồn” nghèo khó, những người “khát khao nên công chính”. Luca nói thuần túy về “những người nghèo khó”, “những người đang phải đói”. Người ta hẳn nói rằng ngay cả bầu khí bên ngoài cũng phản ánh những viễn tượng khác nhau này: Matthêu thiên về thiêng liêng hơn, nên để Đức Giêsu công bố bài diễn từ ở trên cao, trên núi; Luca chú ý hơn tới những gì đang xẩy ra dưới đất, nên để Đức Giêsu công bố ở dưới thấp, chỗ đất bằng (Lc 6,17).
Sau tất cả công việc phê bình để phân biệt trong các Mối Phúc điều gì đưa về Đức Giêsu lịch sử, điều gì là riêng của Matthêu và của Luca, trách nhiệm của người tín hữu hôm nay không phải là giữ lại một trong hai bản với danh nghĩa là có sự xác thực, và bỏ qua bản kia. Đúng hơn phải thu nhận sứ điệp chứa đựng trong cả hai bản và – tùy trường hợp và nhu cầu của thời đại – lần lượt làm tăng giá trị viễn tượng này hay viễn tượng kia, như mỗi người trong hai tác giả sách Phúc Âm đã từng làm trong thời của các ngài.
Theo nguyên tắc này, hôm nay chúng ta suy niệm về Mối Phúc của những người đang đói, khởi đi từ nhãn quan của Luca: “Phúc cho anh em là những người bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng” (Lc 6,21). Như chúng ta sẽ thấy sau, bản văn Matthêu “khát khao nên người công chính” không đối nghịch với bản văn Luca, nhưng củng cố và tăng cường bản văn này. Khi nghe công bố Mối Phúc này, nhiều người phản ứng, tức tối: làm sao có thể công bố những người đói khát là có phúc, trong một thế giới có hàng triệu người lớn và trẻ em chết đói, trong khi nhiều người khác có dư thừa đồ ăn thức uống đến nỗi phải vất vào thùng rác hàng tấn thực phẩm?
Một sự tức giận quá đúng mà chính Đức Giêsu cũng chia sẻ. Ngài nói đến một mối họa “Khốn cho” ngay sau Mối Phúc này: “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói!”. Đức Giêsu đã đưa ra dụ ngôn về ông nhà giầu và người nghèo khó Ladarô (Lc 16,19-31), chính là để tố giác tình trạng, tuy hiển nhiên là không mới trên thế giới, nhưng người ta thấy lại thậm chí trên phạm vi toàn cầu. Trong Mối Phúc, Đức Giêsu nói: “Phúc cho những người đang đói, vì họ sẽ được no thỏa”; “Khốn cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các người sẽ phải đói”. Trong dụ ngôn, cùng một kết luận được trình bầy theo cách kể truyện: “Thế rồi người nghèo này chết và được thiên thần đem vào lòng ông Abraham. Ông nhà giầu cũng chết, và người ta đem chôn dưới âm phủ.”
Những người đang đói trong Mối Phúc theo Luca không thuộc về một hạng người khác với hạng người được nói đến trong Mối Phúc thứ nhất. Tất cả đều là những người nghèo, được xem xét dưới khía cạnh đáng thương nhất trong điều kiện của họ: thiếu lương thực. Song song với những người trên, những người no thỏa, là những người giầu có, sung túc, có thể làm thỏa mãn nhu cầu của mình đã vậy, mà còn làm thỏa mãn thói tham ăn tham uống của mình. Ngay cả dụ ngôn ông nhà giầu cũng xem xét sự giàu nghèo dưới góc độ thiếu hay thừa lương thực: ông nhà giầu thì “ngày ngày yến tiệc linh đình”, anh người nghèo thì “thèm những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho no”, nhưng chẳng ai cho cả. Nét tương phản còn tiếp tục, đảo lộn trong thế giới bên kia: trước đây, Ladarô muốn những thứ từ trên bàn của người giầu mà ăn cho no; ngày hôm nay, chính người giầu van xin Ladarô rưới xuống mấy giọt nước để thoa dịu cơn khát của ông.
Tuy vậy, dụ ngôn không chỉ nhằm cho biết ai là người đói khát và ai là người no thỏa. Nó còn muốn cho thấy tại sao người trước được coi là hạnh phúc và người sau lại bất hạnh. Ông nhà giầu cũng như những người giầu có khác không bị kết án chỉ vì mình giầu, nhưng vì cách sử dụng hay không sử dụng sự giầu có của mình, và theo những gì sự giầu có gây ra nơi họ.
Sự giầu có và no thỏa dễ làm cho người ta chỉ biết nhìn đến những của cải trần gian, vì như Chúa nói: “Kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó” (Lc 12,34). Chúng làm cho lòng con người ra nặng nề, vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời (21,34) bóp nghẹt nơi họ hạt giống lời Chúa (x. Mt 13,22). Chúng làm cho người ta không còn nhớ rằng có thể ngay ngày hôm sau người ta phải tính sổ về cuộc đời của mình (Lc 16,19-31). Người giầu không có được may mắn, vì đối với họ, vào Nước Trời “khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”.
Trong dụ ngôn, Đức Giêsu giúp cho người ta hiểu rằng hẳn là đã có một lối thoát cho người giầu, đó là nhớ tới Ladarô đang ngồi ngoài cửa, và chia sẻ bữa tiệc thịnh soạn với anh ta. Giải pháp là ở chỗ “dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè” (Lc 16,9), ở chỗ mời vào ăn “những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” (Lc 14,13-14). Nhưng điều kiện quá thỏa mãn làm cho tinh thần ra đờ đẫn, khiến người ta thực khó mà đi vào con đường này (câu truyện Dakêu cho thấy là có thể, nhưng họa hiếm biết bao!). Do đó ta hiểu vì sao Đức Giêsu cảnh báo người giầu có no thỏa bằng mối họa “Khốn cho!” Lời “Khốn cho”, phát xuất từ tình yêu, là một lời đòi người ta phải lưu ý, hơn là một lời nguyền rủa.
Bình giải hay nhất về Mối Phúc của người nghèo khó và đói khát là của Đức Maria trong kinh Magnificat: “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, Người giầu có lại đuổi về tay trắng” (Lc 1,51-53). Sử dụng một loạt những động từ mạnh ở thì aoriste (thì quá khứ trong tiếng Hy lạp), Đức Maria cho thấy sự đảo ngược và thay đổi tận căn tình trạng giữa những con người: “Người đã hạ bệ! Người đã nâng cao! Người đã ban của đầy dư! Người đã đuổi về tay trắng!” Vậy đó là một biến cố đã xẩy ra hoặc thường bắt gặp lại trong cách hành động của Thiên Chúa.
Nếu người ta nhìn vào Lịch sử, thì không gì cho thấy có một cuộc cách mạng xã hội trong đó người giầu bỗng trở nên nghèo, người đói khát bỗng được no thỏa. Cuộc đảo lộn có đó, nhưng trong đức tin. Nước Thiên Chúa đã tỏ hiện, gây ra một cuộc cách mạng âm thầm nhưng triệt để. Người giầu giống như một người để dành một số tiền rất lớn, nhưng ban đêm, sau cuộc đảo chính, số tiền này mất giá 100%, và khi ngủ dậy, người ấy đột nhiên thấy mình trở thành một người nghèo khó và đáng thương. Ngược lại, người nghèo khó và đói khát lại được ưu đãi, vì được chuẩn bị tốt hơn để đón nhận thực tế mới. Họ không sợ thay đổi, tâm hồn họ đã sẵn sàng.
Thánh Giacôbê đã nói với những người giầu có như sau: “Các người hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã hư nát” (Gc 5,1-2). Ngay cả như thế, thì vào thời Giacôbê, không có dấu gì cho thấy kho tài sản của những người giầu sắp sửa cạn đáy. Ở đây, ngài chỉ muốn nói rằng một biến cố đã xẩy ra làm tiêu tan mọi giá trị thực sự của giầu có: chính là một sự giầu có mới mẻ khác xuất hiện. “Thiên Chúa đã chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời, để họ trở nên người giầu đức tin và thừa hưởng Vương quốc” (Gc 2,5).
Đôi khi có người cho rằng lời trong bài Magnificat, còn hơn cả lời “khích động lật đổ kẻ quyền thế xuống khỏi ngai vàng để nâng cao những người phận nhỏ”, chính là một lời cảnh báo có ích cho người giầu có và quyền thế về những nguy hiểm kinh khủng đang rình chờ họ. thật giống như lời “Khốn cho” của Đức Giêsu, và dụ ngôn ông nhà giầu bất nhân.
3. Một dụ ngôn cho ngày hôm nay
Suy tư về Mối Phúc của người đói khát và người no thỏa không giới hạn ở chỗ chú giải ý nghĩa, bản văn và ngữ cảnh. Nó phải giúp ta đọc những gì xẩy ra quanh ta, và giúp ta hành động theo hướng mà Phúc Âm đề ra.
Dụ ngôn ông nhà giầu bất nhân và anh Ladarô nghèo khó đang được lặp lại ngày hôm nay, giữa chúng ta, trong phạm vi thế giới. Quả thực, hai nhân vật biểu thị cho hai bán cầu: người giầu có là Bắc bán cầu (Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản); người nghèo khó là Nam bán cầu, trừ một vài quốc gia. Hai nhân vật, hai thế giới: thế giới đệ nhất và thế giới đệ tam. Hai thế giới có tầm vóc chênh lệch nhau: quả thực thế giới mà ta gọi là đệ tam thực tế chiếm hai phần ba thế giới.
Phung phí là nét chung trong các nước giầu có. Trước đây nhiều năm, tại Hoa Kỳ, người ta tính rằng cứ 161 triệu tấn thực phẩm thì có đến 43 triệu tấn bị vất vào thùng rác (gần ¼). Nếu muốn, người ta có thể dễ dàng giữ lại 2 triệu tấn số thực phẩm bỏ đi này, một con số đủ nuôi 4 triệu người trong một năm.
Tội nặng nhất chống lại người nghèo khó và người đói khát có lẽ là tội thờ ơ, lãnh đạm, của những người giả vờ như không thấy, người “tránh qua một bên” (x. Lc 10,31), người tránh sang vỉa hè bên kia. Không biết đến bao nhiêu người đói khát, ăn xin, không nhà không cửa, không được giúp đỡ thuốc men, nhất là không hy vọng gì về một tương lai sáng sủa hơn – như Đức Gioan Phaolô II viết trong Thông điệp Sollicitudo rei socialis (Quan tâm đến vấn đề xã hội), số 42 – chính là đồng hóa mình với ông nhà giầu bất nhân “vờ như không biết đến người ăn xin Ladarô đang ngồi trước cửa” (x. Lc 10,31).
Chúng ta có khuynh hướng lắp bộ đôi cửa kính giữa người nghèo và ta. Hiệu quả của bộ đôi cửa kính, hiện được sử dụng nhiều, là để ngăn gió lạnh và tiếng ồn lùa vào, làm mọi sự yếu đi, giảm đi. Đúng là chúng ta thấy người nghèo rục rịch, cựa quậy, hò hét trên vô tuyến truyền hình, trên báo chí hay tập san truyền giáo, nhưng tiếng kêu cứu của họ dường như từ rất xa. Nó không đánh động tâm hồn ta hoặc chỉ đánh động chốc lát.
Cho nên, việc đầu tiên phải làm cho người nghèo, là đập vỡ “bộ đôi cửa kính”, vượt qua sự lãnh đạm, vô cảm, những viện cớ này khác để xa tránh những con người này, biết lo lắng trước những cảnh ngộ lầm than đen đủi tràn lan trên thế giới. Tất cả chúng ta được mời gọi chia sẻ những tâm tình của Đức Kitô: “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ không có gì ăn” (x. Mc 8,2). Đi thăm một số nước châu Phi, khi chúng ta có dịp thấy tận mắt – chứ không phải trên bản đồ – cảnh lầm than đói khát trong các làng mạc và các cùng ngoại ô tại những thành phố lớn, thì không còn quá khó khăn nữa…
Làm sao hủy bỏ hay giảm thiểu hố sâu bất công quá đáng ngăn cách giữa người no thỏa và người đói khát trên thế giới, đó là thách thức cấp bách nhất, nhiệm vụ nặng nề nhất dành cho thiên niên kỷ vừa mới bắt đầu. Một sự dấn thân mà các tôn giáo phải cho thấy rõ hơn, hoạt động phối hợp vượt lên trên mọi tranh chấp. Không một lãnh đạo quốc gia nào, không một quyền lực chính trị nào có thể thực hiện một công trình như thế, do những lợi ích quốc gia của họ, mà thường ra là những lợi ích kinh tế.
Trong buổi nói chuyện với ngoại giao đoàn bên cạnh Tòa thánh ngày 8 tháng 1 năm 2007, Đức Bênêđitô XVI đã phát biểu mạnh mẽ:
“Trong số những vấn đề chủ yếu, làm sao lại không nghĩ tới hàng triệu con người, đặc biệt phụ nữ và trẻ em, đang thiếu lương thực, nước uống và một mái nhà để dung thân. Tình trạng đáng buồn về nạn đói có khuynh hướng gia tăng, là chuyện không chấp nhận được trong một thế giới có nhiều của cải, kiến thức và phương tiện để chấm dứt tình trạng ấy”.
Trong thế giới hiện nay, kỹ thuật cho phép trao đổi trong thời gian thực tất cả các loại thông tin, không có bất kỳ rào cản nào giữa thế giới đệ nhất và thế giới đệ tam, nhưng nó dừng lại khi nói đến việc trao đổi những mặt hàng cần thiết nhất cho cuộc sống, mặt hàng thực phẩm.
4. “Phúc thay ai khao khát nên người công chính”
Như tôi đã nói ở đầu bài suy niệm, hai bản văn về Mối Phúc của những người đang đói, tức bản văn của Matthêu và bản văn của Luca, không được trình bầy xen kẽ nhau, nhưng sáp nhập vào nhau. Matthêu không nói về sự đói khát phần xác, nhưng về đói khát “nên người công chính”. Từ điều trên đây, người ta rút ra hai cách giải thích căn bản. Cách giải thích thứ nhất theo đường lối thần học Luthêrô, giải thích Mối Phúc dựa vào điều Phaolô nói về sự công chính hóa bởi đức tin. Đói khát nên người công chính có nghĩa là ý thức về nhu cầu cần sự công chính, cũng như về việc không thể chỉ dùng việc làm mà có được nó, nên khiêm tốn chờ đợi Chúa ban. Cách giải thích thứ hai thấy sự công chính này không phải là “sự công chính do Thiên Chúa thực hiện hoặc ban cho con người, nhưng là sự công chính Thiên Chúa chờ đợi nơi con người, sự công chính có giá trị cho con người như Giuse được gọi là công chính (Mt 1, 19)[42].”
Dựa vào cách giải thích thứ hai này, được nhiều người chấp nhận hơn và có nền tảng hơn trên bình diện chú giải, sự đói khát phần xác theo Luca và sự đói khát thiêng liêng theo Matthêu có liên hệ với nhau. Việc đứng về phía những người đói khát và nghèo khó nằm trong số những việc làm công chính, và theo Matthêu, sẽ là tiêu chuẩn nền tảng, để xem ai là người công chính và ai là người bị loại, trong ngày chung thẩm (x. Mt 25).
Tất cả sự công chính mà Thiên Chúa chờ đợi nơi con người đều quy về giới răn mến Chúa yêu người (x. Mt 22,40). Vì vậy lòng thương yêu tha nhân phải thúc đẩy những người khao khát nên công chính quan tâm tới những người đói khát phần xác. Đây là nguyên tắc lớn để Phúc Âm hành động trên bình diện xã hội. Về điểm này, thần học giải phóng có quan điểm đúng, như những lời của Adolph von Harnack, một trong những đại biểu sáng giá nhất, cho thấy:
“Không chỗ nào trong Phúc Âm cho ta thấy phải thờ ơ trước những nhu cầu của anh em ta. Sự thờ ơ có tính Phúc âm (không quan tâm xem ngày mai người ta sẽ ăn gì, mặc gì) biểu lộ hơn tất cả những gì mà mỗi tâm hồn phải cảm thấy trước thế giới, của cải và kỹ thuật của nó. Ngược lại, khi là về người khác, Phúc Âm cũng không muốn nghe nói nữa về sự thờ ơ, nhưng áp đặt tình yêu và thương xót. Hơn nữa, Phúc Âm coi những nhu cầu thiêng liêng và trần thế của người anh em như tuyệt đối không thể tách rời nhau[43].”
Phúc Âm không khuyến khích người đói khát đòi hỏi công lý một mình, không khuyến khích người ta nổi dậy, nhất là vì vào thời Đức Giêsu, khác với ngày nay, không có phương tiện nào, trên lý thuyết cũng như trên thực tế, để làm việc đó. Phúc Âm không đòi họ hy sinh vô ích để phải bị giết khi chạy theo người khuấy động nào đó thuộc nhóm Nhiệt Thành hoặc chạy theo một lãnh tụ kiểu Spartacus. Đức Giêsu không đứng về phía yếu, cũng không đứng về phía mạnh. Ngài dùng kiểu nói “Khốn cho!” để đương đầu với sự tức giận và những lời mỉa mai của những người giầu (x. Lc 16,14), tránh cho chính các nạn nhân khỏi phải làm việc đó.
Muốn tìm bằng mọi giá trong Phúc âm những kiểu mẫu, hoặc những lời kêu gọi người nghèo khó và đói khát đứng lên tranh đấu để thay đổi số phận, không cần nhờ đến ai khác, thì quả là chuyện vô ích và không phù hợp. Cũng vậy điều đó sẽ khiến họ quên đi sự đóng góp thực sự mà họ có thể mang lại cho chính nghĩa của họ. Về điểm này, Rudolph Bultmann có lý khi ông viết rằng “Kitô giáo không biết đến bất cứ một chương trình nào làm biến đổi thế giới, và không có đề nghị nào nhằm canh tân những điều kiện chính trị và xã hội”, cho dù quả quyết của ông có lẽ cần một vài phân biệt tế nhị.[44]
Phương thế mà các Mối Phúc đề nghị không phải là phương thế duy nhất để đương đầu với vấn đề giầu có và nghèo khó, đói khát và no thỏa. Có thể có những phương thế khác, nhờ ý thức xã hội ngày một tiến bộ, khởi đi từ Lịch sử chứ không từ đức tin. Các Kitô hữu ủng hộ chúng cách chính đáng và Giáo Hội, nhờ học thuyết xã hội của mình, giúp họ phân định.
Sứ điệp lớn của các Mối Phúc có thể tóm tắt như sau: bất kể những gì người giầu có và no thỏa sẽ làm hay không làm, mà ngay cả như vậy thì trong tình hình hiện nay, tình trạng của những người nghèo khó và đói khát sự công chính là tốt hơn cho họ. Một vài diện hay khía cạnh của thực tế mà người ta không thấy bằng mắt trần, nhưng chỉ thấy nhờ một ánh sáng đặc biệt, nhờ các tia hồng ngoại và tử ngoại. Người ta hay sử dụng chúng trong các hình ảnh do vệ tinh chụp được. Hình ảnh xem thấy nhờ ánh sáng này rất khác, làm cho người quen nhìn cảnh tượng ấy dưới ánh sáng tự nhiên phải sửng sốt. Các Mối Phúc là một loại tia hồng ngoại. Chúng cho ta một hình ảnh khác với thực tại, một hình ảnh độc nhất và chân thực, vì cho thấy điều sẽ còn lại cho tới tận thế, trong khi “thế gian này qua đi.”
5. Bánh vật chất và bánh Thánh thể
Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta một bữa tiệc hoàn hảo, nhưng trái ngược với bữa tiệc của ông nhà giầu bất nhân: đó là Thánh Thể. Thánh Thể là cử hành hàng ngày bữa đại tiệc, mà chủ nhà mời gọi tất cả những người “nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt” (Lc 14,21), tức tất cả những Ladarô nghèo khó quanh ta. Thánh Thể là bữa tiệc chia sẻ hoàn hảo giữa những người tham dự: cùng một của ăn, cùng một thức uống, cùng một số lượng, cho cả vị chủ sự lẫn người đến muộn nhất trong cộng đoàn, cho cả người giầu lẫn người nghèo.
Người ta có thể thấy rõ mối liên hệ giữa bánh vật chất và bánh thần thiêng trong Giáo Hội sơ khai, khi bữa tiệc của Chúa, gọi là agape, được tổ chức trong khung cảnh một bữa ăn huynh đệ, trong đó người ta chia sẻ cùng một bánh ăn và cùng một Thánh Thể. Khi thấy cộng đoàn Corintô không còn giữ thói quen tốt đẹp này, thánh Phaolô đã viết cho họ như sau:
“Khi anh em họp nhau, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói, người lại say. Anh em không có nhà để ăn uống sao?” (1 Cr 11,20-22).
Một lời tố cáo nghiêm trọng, như thể Phaolô muốn nói với họ rằng: điều họ cử hành không còn phải là một bữa tiệc Thánh thể nữa.
Ngày nay, Thánh Thể không còn được sống trong trong khung cảnh một bữa ăn chung với nhau, nhưng sự tương phản giữa người có thừa thãi và người không có ngay cả cái cần thiết tối thiểu, mang những chiều kích toàn cầu, ngay cả nơi những người Kitô hữu. Tông huấn hậu-thượng hội đồng về Thánh Thể mạnh mẽ nhắc nhở:
“Lương thực sự thật đòi hỏi chúng ta phải tố giác những tình trạng vô nhân đạo, trong đó nhiều người phải chết đói do những bất công và bóc lột, và lương thực ấy đem lại cho chúng ta sức mạnh mới và sự can đảm, để không ngừng phục vụ cho nền văn minh tình thương[45].”
Tông huấn còn cho biết có thể đóng góp cụ thể vào việc này như thế nào:
“Những của bố thí thu góp trong cộng đoàn phụng vụ… những của từ thiện đó cũng thật cần thiết để đáp ứng những nhu cầu hiện tại. Những tổ chức bác ái của Giáo hội, đặc biệt Caritas, đã thực hiện công tác cứu giúp những người thiếu thốn nghèo túng ở những cấp độ khác nhau. Được gợi hứng từ Thánh Thể, Bí tích Tình yêu, họ trở thành một sự diễn tả cụ thể tình yêu ấy. Họ được tán dương và cổ võ vì dấn thân phục vụ sự liên đới trong thế giới chúng ta[46].”
Tưởng cũng cần nói thêm: những việc làm tương tự không chỉ được khuyến khích nơi các Kitô hữu. Nhiều người không thuộc Giáo Hội Công giáo, không biết đến Bí tích Tình yêu, cũng không nhân danh một tôn giáo nào, cũng có những hành vi bác ái với đồng loại thật đáng khen ngợi, chẳng hạn quyên góp cứu trợ những nạn nhân bão lụt.
Những hành vi trên, tuy chỉ như muối bỏ biển, chỉ là những giọt nước trong đại dương, nhưng như Mẹ Têrêxa Calcutta nói, chính đại dương cũng được tạo thành bằng những giọt nước nhỏ.
***
Chúng ta kết thúc bài suy niệm bằng lời kinh mà nhiều cộng đoàn đọc trước bữa ăn:
Lạy Chúa, xin ban phép lành cho những của ăn mà Chúa rộng lòng ban cho chúng con. Xin giúp chúng con, khi dùng của ăn này, cũng biết chia sẻ cho những người thiếu thốn.









