5

 “PHÚC THAY AI XÓT THƯƠNG NGƯỜI,

VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC THIÊN CHÚA XÓT THƯƠNG”

 1. Lòng thương xót của Đức Kitô

Mối Phúc thứ năm, theo thứ tự được thánh Matthêu ghi nhận, là: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”. Như thường lệ, từ chỗ quả quyết các Mối Phúc là bức chân dung tự họa của Đức Kitô, cả lần này nữa, chúng ta đặt ngay câu hỏi: Đức Giêsu đã xót thương người ta như thế nào? Cuộc đời của Ngài nói gì với ta về Mối Phúc này?

Theo Kinh Thánh, từ “thương xót” (hesed) có hai nghĩa căn bản. Trước hết nó cho thấy rõ thái độ của người mạnh hơn (trong Giao ước thì người này là chính Thiên Chúa) đối với người yếu hơn; thái độ này thường được diễn tả bằng việc tha thứ các lầm lỗi và bất trung. Nghĩa thứ hai chỉ thái độ trước nhu cầu và đau khổ, được diễn tả qua những việc từ thiện. Có thể nói: có một sự thương xót của tấm lòng và một sự thương xót của đôi tay.

Cả hai hình thức thương xót trên đây đều nổi bật trong cuộc đời của Đức Giêsu. Đức Giêsu phản ánh lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân, nhưng Ngài cũng tỏ lòng thương xót trước mọi nỗi đau khổ và khó khăn của con người, ban lương thực cho đám đông, chữa lành các bệnh nhân, giải phóng những người bị áp bức. Tác giả Phúc Âm nói về Ngài như sau: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta, và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17).

Trong Mối Phúc đang bàn, chắc chắn nghĩa thứ nhất, tức tha thứ tội lỗi, có ưu thế hơn. Chúng ta suy ra như thế từ sự tương ứng giữa Mối Phúc và phần thưởng dành cho mối phúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương”, nơi Thiên Chúa, Đấng người ta hiểu ngầm là sẽ tha thứ các lầm lỗi của họ. Câu: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” lập tức được làm rõ bằng câu tiếp theo: “Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha” (Lc 6,36-37).

Trong Phúc Âm, Đức Giêsu đón nhận những người tội lỗi là điều ai nấy đều biết, cũng vậy là những kẻ bảo vệ Lề Luật chống đối việc làm này của Ngài, chính họ tố cáo Ngài là “tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Lc 7,34). Một trong những câu nói của Đức Giêsu qua đó người ta thấy rõ nhất chứng cớ lịch sử là: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17). Những người tội lỗi thấy mình được Đức Giêsu đón nhận, thấy mình không bị Ngài xét xử, và đã sẵn lòng lắng nghe Ngài.

Những người tội lỗi này là ai? Hạn từ này áp dụng cho những người nào? Theo khuynh hướng phổ biến hiện nay muốn giải oan cho nhóm Biệt Phái của Phúc Âm, và gán một hình ảnh tiêu cực cho những thêm thắt sau này của các tác giả Phúc Âm, một số người quả quyết rằng các tội nhân đó là “những người cố tình phạm luật, không chịu hối cải [47]”. Nói khác đi, đó là những can phạm sống ngoài vòng pháp luật của thời ấy.

Nếu quả như vậy thì các đối thủ của Đức Giêsu thực sự có lý do cảm thấy bị xúc phạm, có lý do coi Ngài như một người vô trách nhiệm, một thành phần nguy hiểm cho xã hội. Giống như ngày nay người ta đánh giá một linh mục đi lại với bọn mafia, bọn vô lại, những kẻ phạm tội hình sự, lấy lẽ để nói về Thiên Chúa cho họ.

Thực ra, sự việc không phải vậy. Nhóm Biệt Phái có một nhãn quan riêng về lề luật, về những gì phù hợp hay không phù hợp với lề luật, và bác bỏ tất cả những người không phù hợp với lề luật. Đức Giêsu không phủ nhận tội lỗi có thực, cũng như tội nhân có thực. Ngài không biện minh cho những hành vi gian lận của Dakêu, cũng không biện minh cho tội ngoại tình của người phụ nữ. Sự kiện gọi những người đó là “người mắc bệnh” cho thấy rõ điều đó. Điều Đức Giêsu lên án là người ta muốn đặt ra một thứ công lý được coi là công lý thật, còn những loại công lý khác được coi là của “phường trộm cướp, những người bất công và ngoại tình”, như vậy là cho rằng họ không thể thay đổi. Chúng ta thấy Luca dẫn nhập vào dụ ngôn người Biệt Phái và người thu thuế bằng những lời rất có ý nghĩa: “Đức Giêsu kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào mình là người công chính mà khinh chê những người khác” (Lc 18,9). Quả thực Đức Giêsu tỏ ra nghiêm khắc với những người khinh bỉ hoặc lên án tội nhân hơn là với chính tội nhân[48].

2. Một Thiên Chúa thích thể hiện lòng thương xót

Để biện minh cho cách xử sự của mình đối với người tội lỗi, Chúa nói rằng Cha Ngài trên trời cũng hành động như vậy. Ngài nhắc cho kẻ thù lời của Thiên Chúa nói qua miệng các tiên tri: “Ta muốn lòng nhân từ chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9,13). Lòng nhân từ đối với dân bất trung là một trong những nét nổi bật nơi Thiên Chúa của giao ước, được bày tỏ trong cuốn Kinh Thánh từ đầu đến cuối. Để cắt nghĩa những biến cố của lịch sử Israel, một Thánh vịnh đã lặp đi lặp lại như một thứ kinh cầu: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (Tv 136)

Như vậy, tỏ lòng thương xót là một khía cạnh chủ yếu của sự kiện được tạo dựng “theo hình ảnh và giống Thiên Chúa”: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36). Câu này là một cách giải thích dài dòng cho câu nổi tiếng trong sách Lêvi: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Lv 19,2).

Tuy nhiên, điều khiến người ta ngạc nhiên nhất, liên hệ đến lòng thương xót của Thiên Chúa, chính là niềm vui của Người khi bày tỏ nó. Kết thúc dụ ngôn con chiên lạc, Đức Giêsu nói: “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7). Người đàn bà, khi tìm lại được đồng bạc bị đánh mất, đã nói với bạn bè: “Xin chung vui với tôi” (Lc 15,9). Còn trong dụ ngôn người cha nhân hậu hay đứa con phung phá, niềm vui bùng nổ biến thành lễ lạc, tiệc tùng. Chủ đề này không phải là một chủ đề đơn độc. Nó cắm rễ sâu trong Kinh Thánh. Trong Êdêkien, Thiên Chúa nói: “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” (Ed 33,11). Tiên tri Mikha nói rằng Thiên Chúa “thích thú ban ơn” (Mi 7,18), tức là Người cảm thấy vui khi làm việc đó.

Người ta có thể thắc mắc: làm sao chỉ có một con chiên duy nhất mà lại đáng giá hơn chín mươi chín con chiên còn lại, hơn nữa, đây lại là con chiên đi lạc, khiến người chăn phải lo lắng đi tìm? Tôi thấy thi sĩ Charles Péguy đã đưa ra một cách giải thích đầy thuyết phục như sau: Cũng như người con út, con chiên này khi đi lạc đã làm cho trái tim của Thiên Chúa phải thổn thức, run rẩy. Thiên Chúa sợ mất nó mãi mãi, sợ buộc phải phạt nó, sợ không bao giờ còn được thấy nó. Chính sự sợ hãi này đã làm nẩy sinh niềm hy vọng nơi Người, và khi đang hy vọng mà thấy được cái mình tìm, thì hy vọng biến thành niềm vui và lễ lạc.

“Hành vi sám hối nào của con người cũng làm cho niềm hy vọng của Thiên Chúa kết thúc tốt đẹp[49].”

Đó là một ngôn ngữ hình tượng, như ngôn ngữ của Thiên Chúa, nhưng hàm chứa một sự thật.

Đối với con người chúng ta, điều kiện để có thể hy vọng là do chúng ta không biết được tương lai, nên chỉ có thể hy vọng mà thôi. Còn đối với Thiên Chúa, Đấng biết trước tương lai, thì điều kiện là do Người không muốn (và một cách nào đó là không thể) thực hiện điều Người muốn trái ý chúng ta. Sự tự do của con người cắt nghĩa sự hy vọng nơi Thiên Chúa.

Vậy phải nói gì về chín mươi chín con chiên không đi lạc và về người con cả? Trên trời không vui mừng vì chúng và vì anh ta sao? Nếu vậy, sống cả cuộc đời như những Kitô hữu tốt mà làm gì? Chúng ta hãy nhớ lại lời người cha đáp lại người con cả: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con” (Lc 15,31). Sai lầm của người con cả là coi việc luôn ở nhà, chia sẻ mọi sự với cha, không phải là một đặc ân lớn lao cho anh ta, mà là một công trạng. Anh ta có thái độ của một người làm công hơn là của một người con. Đây hẳn phải là một lời cảnh báo cho mọi người chúng ta, về cách chúng ta sống giống như người con cả.

Về điểm này, thực tế đã tốt hơn dụ ngôn. Trong thực tế, người con cả, tức Trưởng Tử của Chúa Cha, Ngôi Lời, không ở lại nhà cha. Ngài đi đến “một miền xa” để tìm người con út, tức là đi tìm cả nhân loại sa ngã. Chính Ngài đưa nhân loại về nhà Cha, mặc bộ đồ mới cho nó, mở tiệc mừng nó (là tiệc Thánh Thể mỗi ngày).

Trong một cuốn tiểu thuyết của mình, Dostoievski đã kể lại một cảnh tượng có vẻ như có thực. Một phụ nữ thuộc hàng thượng lưu đang bế đứa con trai vài tuần tuổi của chị, thì lần đầu tiên, chị đột nhiên thấy đứa bé cười với mình. Quá xúc động và hân hoan, chị vội đưa tay làm dấu Thánh giá. Có người hỏi tại sao chị làm vậy thì chị trả lời:

“À, cũng như một người mẹ vui mừng trước nụ cười đầu tiên của con mình, Thiên Chúa cũng vui mừng khi một người tội lỗi quỳ xuống và dâng lên Ngài lời cầu nguyện tự đáy lòng[50].”

3. Lòng thương xót của ta: lý do hay hiệu quả của lòng Chúa thương xót?

Đức Giêsu nói: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” và trong Kinh Lạy Cha, Ngài dạy ta cầu nguyện như sau: “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Ngài cũng nói: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em” (Mt 6,15). Những lời này hẳn có thể khiến ta nghĩ rằng lòng thương xót của Thiên Chúa đối với ta là hiệu quả của việc ta thương xót người khác, hơn nữa, ta thương xót người khác bằng nào thì Thiên Chúa cũng thương xót ta bằng ấy. Tuy nhiên, nếu đúng như vậy, tương quan giữa ân sủng và việc lành hoàn toàn bị đảo ngược, và tính chất nhưng-không (gratuité) của lòng Chúa thương xót, mà chính Thiên Chúa đã long trọng công bố trước mặt Môsê, sẽ không còn ý nghĩa: “Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót” (Xh 33,19).

Dụ ngôn về tên đầy tớ mắc nợ không biết thương xót (Mt 18,23 tt) chính là chìa khóa giúp ta hiểu cho đúng tương quan này. Trong dụ ngôn, ta thấy chính ông chủ đi bước trước, tha vô điều kiện một món nợ rất lớn cho người đầy tớ (10 ngàn yến vàng!). Chính sự quảng đại này của ông chủ lẽ ra phải thúc đẩy tên đầy tớ thương xót người bạn chỉ mắc nợ anh một số tiền nhỏ là 100 quan tiền.

Bởi vậy, chúng ta phải tỏ lòng thương xót đã được Thiên Chúa thương xót, chứ không phải để được Thiên Chúa thương xót. Chúng ta phải có lòng thương xót, nếu không, lòng thương xót của Thiên Chúa không mang lại hiệu quả nào cho chúng ta. Thiên Chúa sẽ không thương xót ta nữa, như ông chủ trong dụ ngôn không còn thương xót tên đầy tớ bất nhân nữa. Ân sủng bao giờ cũng đến trước và chính nó tạo ra bổn phận. Thánh Phaolô viết cho dân Colossê: “Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,13). Chúng ta phải tha thứ cho nhau, vì Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta trước. Về sự thương xót cũng vậy.

Nếu trong Mối Phúc đang bàn, lòng thương xót của Thiên Chúa đối với ta dường như là hiệu quả của việc ta thương xót người anh em mình, chính là vì ở đây Đức Giêsu cho thấy viễn tượng về ngày chung thẩm (Họ sẽ được Thiên Chúa xót thương: động từ ở thì tương lai). “Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn ai thương xót thì chẳng quan tâm đến việc xét xử” (Gc 2,13).

4. Kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa

Nếu lòng thương xót của Thiên Chúa là nguồn gốc mọi sự, và giúp chúng ta có thể thương xót nhau, thì điều quan trọng nhất cho chúng ta là làm mới lại kinh nghiệm của ta về lòng thương xót ấy.

Kafka là một tác giả nổi tiếng thế giới, người Tiệp Khắc, đã viết cuốn tiểu thuyết Vụ kiện (Le Procès). Ông kể chuyện về một người, một ngày kia bị người ta tuyên bố có thể bắt giữ mà không ai biết tại sao, trong khi ông sống bình thường, làm công việc của một công nhân bình dị. Ông miệt mài tìm kiếm mong khám phá ra lý do, tòa án, những lời tố cáo, thủ tục. Nhưng không ai có thể giải thích cho ông. Chỉ có một điều chắc chắn: thật sự người ta đang kiện ông.  Cho tới ngày người ta sẽ tìm ông để thi hành án lệnh.

Trong vụ việc này, người ta được biết ông gặp ba tình huống có thể xẩy ra: thật sự được miễn tội, bề ngoài được miễn tội và hoãn xét. Tuy nhiên bề ngoài được miễn tội và hoãn xét không giải quyết được gì; chúng chỉ khiến cho bị cáo phải ở trong một tình trạng bấp bênh chết người trong suốt cuộc đời của ông. Ngược lại, nếu thực sự được miễn tội, “những biên bản vụ kiện phải được hủy bỏ hoàn toàn, chúng không còn trong thủ tục nữa; không những lời tố cáo, mà cả vụ kiện, ngay cả án quyết cũng hoàn toàn bị hủy.” Tuy nhiên người ta không biết liệu những miễn tội thực sự này, mà ông hằng mong mỏi, đã có ngày nào xẩy ra chưa; người ta chỉ nghe nói về chúng, chúng chỉ là những chuyện hoang đường rất hay”. Cũng như tất cả các tiểu thuyết khác của tác giả, tác phẩm kết thúc thế này: có một cái gì đó mà người ta thoáng thấy từ xa, và người ta nhọc mệt theo đuổi trong cơn ác mộng ban đêm, nhưng không bao giờ có thể nắm bắt được nó[51].

Lời Chúa loan báo cho ta một tin vui quá sức tưởng tượng là có sự miễn tội thực sự cho con người, chứ không chỉ là một chuyện hoang đường, một sự việc tốt đẹp, nhưng ngoài tầm với. Đức Giêsu Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. Ngài đã “xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Ngài đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá” (Cl 2,14). Ngài đã phá hủy tất tần tật. Thánh Phaolô đã kêu lên: “Giờ đây, những ai ở trong Đức Kitô Giêsu thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8,1). Không còn kết án nào, thuộc bất cứ loại nào, dành cho những ai tin vào Đức Giêsu Kitô!

Ở Giêrusalem có một cái hồ nước lạ lùng. Người nào nhảy xuống đầu tiên khi nước động thì sẽ được khỏi bệnh (x. Ga 5,2 tt). Nhưng ngay cả ở đây, thực tại còn lớn hơn vô vàn so với biểu tượng. Từ thập giá của Đức Kitô vọt ra một nguồn nước và máu, để mọi người, chứ không phải chỉ người đầu tiên, ngụp lặn trong đó đều được chữa lành lúc ra khỏi đó.

Sau phép Rửa thì hồ nước lạ lùng là bí tích Hòa giải. Đôi khi là chuyện tốt nếu chúng ta thực hiện một lần xưng tội “ngoại thường”, khác với những lần xưng tội quen thuộc, trong đó chúng ta để cho Chúa Thánh Thần “bắt lỗi ta về tội”.

Có một ân sủng đặc biệt, khi không chỉ từng người mà là cả cộng đồng đặt mình trước mặt Chúa với thái độ thống hối này. Sau đó chúng ta được đổi mới, tràn đầy hy vọng, nhờ có kinh nghiệm sâu sắc này về lòng thương xót của Thiên Chúa:

“Thiên Chúa giầu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô” (Ep 2,4-5).

5. Một Giáo Hội “giầu lòng thương xót”

Sau khi đã có kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa, thì đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải áp dụng điều đó cho các anh em mình, trên bình diện cộng đồng Giáo Hội cũng như trên bình diện cá nhân. Khi giảng tĩnh tâm cho giáo triều Rôma dịp Năm Thánh 2000, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, khi ám chỉ tới nghi thức mở Cửa thánh, đã nói trong một bài suy niệm:

“Tôi mơ ước một Giáo Hội là một “Cửa thánh”, mở rộng tiếp đón mọi người, đầy lòng trắc ẩn và hiểu biết trước những vất vả khổ đau của nhân loại, hoàn toàn hướng tới chỗ an ủi họ[52].”

Giáo Hội của Thiên Chúa “giầu lòng thương xót”, dives in misericordia, không thể không dives in misericordia. Từ thái độ của Đức Kitô đối với tội nhân, chúng ta rút ra một vài tiêu chuẩn. Ngài không coi tội lỗi là tầm thường, nhưng tìm ra phương tiện không những không bao giờ mất đi cảm tình của các người có tội, ngược lại còn lôi kéo họ đến với Ngài. Họ thế nào, Ngài không chỉ thấy như vậy, nhưng còn thấy họ có thể trở nên như thế nào, nếu họ để cho lòng thương xót của Thiên Chúa chạm vào họ, nơi sâu thẳm nhất của sự khốn cùng và thất vọng, mà họ đang phải chịu. Ngài không chờ họ đến với Ngài, mà thường ra Ngài đi tìm kiếm họ.

Ngày hôm nay, các nhà chú giải Kinh Thánh tương đối đồng ý với nhau thừa nhận rằng Đức Giêsu đã không có thái độ thù nghịch với luật Môsê, luật mà Ngài tuân giữ chu đáo. Điều làm Ngài chống lại giới ưu tú tôn giáo thời ấy, là một thái độ cứng nhắc nào đó, đôi khi thiếu tình người, trong cách họ giải thích luật. “Ngày sabbát được tạo nên cho con người, không phải con người cho ngày sabbát” (Mt 2,27), và điều Ngài nói về sự nghỉ ngơi trong ngày sabbát, một trong những luật thánh thiêng nhất nơi dân Israel, cũng có giá trị cho mọi luật khác.

Đức Giêsu cương quyết và nghiêm khắc trên nguyên tắc, nhưng Ngài biết khi nào thì một nguyên tắc phải nhường bước trước một nguyên tắc cao hơn, là nguyên tắc về lòng thương xót của Thiên Chúa và ơn cứu rỗi của con người. Cách thức mà những tiêu chuẩn này, rút ra từ hành động của Đức Kitô, áp dụng cụ thể cho xã hội hôm nay, tùy thuộc vào việc nhẫn nại tìm kiếm, và rốt cuộc là vào sự phân định của huấn quyền. Trong đời sống Giáo Hội, theo hình ảnh đời sống của Đức Giêsu, lòng thương xót của đôi tay và của tâm hồn, cả những việc từ thiện lẫn những “tấm lòng thương xót”,  phải cùng nhau tỏa rạng.

6. “Hãy mặc lấy những tình cảm thương xót”

Lời cuối cùng về mỗi Mối Phúc phải luôn là lời có quan hệ đến với mỗi người chúng ta, thúc giục mỗi người chúng ta hoán cải và thực hành. Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu Colossê bằng những lời phát xuất từ đáy lòng như sau:

“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).

Thánh Augustinô nói: “Con người chúng ta là những bình sành làm cho nhau khó chịu[53].” Trong một gia đình hoặc bất cứ một kiểu cộng đồng nào khác, không thể sống hài hòa với nhau, nếu không biết tha thứ và thương xót nhau. Từ “thương xót” do misereorcor hợp thành, có nghĩa là thương xót từ con tim, cảm thương trước nỗi khổ và sự lầm lạc của anh em mình. Chính theo cách ấy mà Thiên Chúa đã thương xót dân riêng lầm đường lạc lối: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” (Hs 11,8).

Phải phản ứng bằng cách tha thứ, và trong mức độ có thể, bằng cách xin lỗi chứ không lên án. Khi là trường hợp của chúng ta, chúng ta làm cho người ta thấy giá trị của câu ngạn ngữ sau đây: “Ai không nhận mình có lỗi thì Thiên Chúa bắt lỗi người ấy”. Nhưng nếu là về người khác thì ngược lại: “Ai không bắt lỗi anh em thì Thiên Chúa không bắt lỗi người ấy ; ai bắt lỗi anh em thì Thiên Chúa bắt lỗi người ấy”.

Tha thứ trong cộng đồng giống như dầu mỡ cho động cơ. Nếu khởi hành mà không còn giọt dầu nào trong động cơ xe máy, xe sẽ nổ. Cũng như dầu, sự tha thứ làm giảm cọ xát. Dầu chúng ta phải cho vào trong bánh xe cuộc đời hệ tại đặc biệt ở những lời nói tốt đẹp. Thánh Tông Đồ khuyên người Êphêsô như thế này: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp để xây dựng.” (Ep 4,29) Một lời nói tốt đẹp, tức một lời nói tích cực, khuyến khích và khen ngợi, là một niềm an ủi, đặc biệt trong môi trường gia đình.

Sự thương xót nhau hẳn phải là tình cảm tự nhiên nhất có thể có, cho chúng ta là những thụ tạo con người. Thi sĩ Charles Péguy đắt nơi môi miệng Thiên Chúa những lời sau đây:

“Bác ái không làm Ta ngạc nhiên. Những thụ tạo đáng thương bất hạnh quá đến nỗi, trừ khi là một trái tim đá, làm sao lại không thể sống bác ái với nhau[54]?”

Muốn không một chút động lòng trắc ẩn, có lẽ phải che mắt, bịt tai lại, để như vậy không nhìn không nghe thấy những tiếng kêu than từ khắp nơi.

Đây có lẽ là điểm giúp cho Kitô giáo gần gũi với Phật giáo nhất. Trong Phật giáo, lòng trắc ẩn đối với mọi chúng sinh là điều làm nên “chính mệnh”, con đường này là một trong “bát chính đạo” đưa tới giác ngộ. Những lý do thay đổi từ vũ trụ tôn giáo này đến vũ trụ tôn giáo khác. Trong Kitô giáo, nền tảng là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, là “Cha giầu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an” (2Cr 1,3), theo lời nói: “Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra” (Kn 11,24). Trong Phật giáo, nơi người ta không biết đến ý tưởng về một Thiên Chúa có ngôi vị và sáng tạo, nền tảng có tính cách nhân học và vũ trụ: con người phải có lòng thương xót vì sự liên đới và trách nhiệm liên kết họ với mọi sinh vật. Tuy vậy sự khác biệt này không ngăn cản chúng ta cùng nhau hành động trên bình diện thực tế, nhất là ngày nay, khi mà cuộc sống bị bạo lực đe dọa và những tương quan giữa con người quá nghiệt ngã và “tàn nhẫn”. Là người Kitô hữu, chúng ta phải học hỏi nhiều nơi một cuốn sách của Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay, Tenzin Gyatso, người đã đề nghị một “đạo đức học bình an và chữa lành” cho thiên niên kỷ thứ ba. Từng trang một, người ta thấy lộ ra một ý thức mãnh liệt về sự liên đới và gần như sự yêu thương dịu dàng đối với mọi sinh vật, cũng như một ước muốn chuyển nhãn quan này sang lãnh vực chính trị, kinh tế và tất cả những thực tại khác của  nhân sinh.

Trái đất hẳn sẽ là một nơi chào đón hơn nhiều, nếu chúng ta biết nghĩ nhiều hơn một chút đến những bất hạnh và đau khổ của người khác, và ít hơn một chút đến những bất hạnh và đau khổ của chúng ta; nếu chúng ta biết thay thế sự trắc ẩn cho mình bằng sự trắc ẩn đối với người lân cận. Đức Giêsu đã nói: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương.” Không chỉ nơi Thiên Chúa mà họ sẽ tìm thấy sự xót thương ấy trong ngày tận thế, nhưng cả ở trần gian này, nơi những người lân cận của họ.

Tôi đã sử dụng hình ảnh dầu. Có một Thánh vịnh ca ngợi nét đẹp và niềm vui được sống với nhau như những anh em được giải hòa. Thánh vịnh ấy nói rằng chính là “thứ dầu quý đổ trên đầu, xuống râu xuống cổ áo chầu Aharon” (x. Tv 133,2). Aharon của chúng ta, Vị Thượng Tế của chúng ta, chính là Đức Kitô; sự thương xót và tha thứ chính là dầu chảy từ “Đầu’ bị treo trên thập giá, lan xuống toàn thân là Giáo Hội, cho tới tận viền tua áo, tới tận những người sống bên lề Giáo Hội.

Chúng ta hãy cố gắng xác định, trong mối liên hệ của chúng ta với từng người, xem những mối liên hệ nào trong đó có vẻ chúng ta cần làm cho dầu thương xót và hòa giải thấm sâu, và đổ dầu đó không cần giữ gìn, trong thinh lặng. Nơi đâu chúng ta sống như thế, trong sự tha thứ và thương xót lẫn nhau, thì như câu kết thúc của Thánh vịnh nêu trên, nơi đó “chúng ta có ân huệ Chúa ban, chính là sự sống chứa chan muôn đời”.