6

“PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN TRONG SẠCH,

VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC NHÌN THẤY THIÊN CHÚA”

 1. Từ sự trong sạch theo nghi thức đến sự trong sạch trong tâm hồn

Bất cứ ai đọc hay nghe công bố hôm nay: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”, theo bản năng, sẽ nghĩ ngay đến nhân đức trong sạch, như thể Mối Phúc này thực sự tương đương theo hướng nội tâm hóa với điều răn thứ VI: “Chớ làm sự dâm dục.” Cách giải thích này từng thấy lác đác trong lịch sử linh đạo Kitô giáo, đã chiếm hàng đầu từ thế kỷ XIX. Thực ra, sự trong sạch trong tâm hồn, trong ý nghĩ của Đức Kitô, không chỉ một nhân đức đặc biệt nào, nhưng là một phẩm chất luôn đi kèm mọi nhân đức, để chứng tỏ là những nhân đức thực sự, chứ không phải những “nết xấu huy hoàng”. Ngược với sự trong sạch này, trực tiếp nhất, không phải là sự không trong sạch, nhưng là sự giả hình. Một chút chú giải và lịch sử sẽ giúp chúng ta hiểu hơn.

Người ta dễ đoán ra điều Đức Giêsu muốn nói về “sự trong sạch trong tâm hồn”, khi đi từ ngữ cảnh “Bài giảng trên núi”. Theo Phúc Âm, hành động trong sạch hay không trong sạch, dù đó là bố thí, chay tịnh hay cầu nguyện, là ở ý định, nghĩa là làm hành động này cốt cho người ta thấy hay cốt làm hài lòng Thiên Chúa.

“Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và cha anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” (Mt 6,2-4)

Trong suốt cả Kinh Thánh, giả hình là tội bị Thiên Chúa tố giác mạnh mẽ. Có lý do hẳn hoi. Vì khi giả hình, con người đưa Thiên Chúa xuống hạng hai, dành chỗ nhất cho thụ tạo, cho những gì nơi công cộng. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1Sm 16,7): coi trọng vẻ bên ngoài hơn tâm hồn có nghĩa là cho con người quan trọng hơn Thiên Chúa. Như vậy, giả hình chủ yếu là thiếu đức tin, và cũng là thiếu bác ái đối với người lân cận, vì nó có khuynh hướng coi con người chỉ là những người thán phục ca ngợi ta mà thôi. Nó không thừa nhận phẩm giá cá nhân nơi họ, nhưng chỉ nhìn họ tùy theo hình ảnh của họ.

Sự xét đoán của Đức Giêsu về thái độ giả hình là dứt khoát: Receperunt mercedem suam (họ đã có phần thưởng rồi). Mà phần thưởng này chỉ là ảo tưởng, ngay cả trên bình diện nhân loại, vì như ta biết, ai cố tìm vinh quang thì không có được nó, còn ai trốn chạy nó thì lại có được nó.

Chúng ta cũng có thể hiểu ý nghĩa của Mối Phúc dành cho những người có tâm hồn trong sạch nhờ những lời Chúa lên án mạnh mẽ các kinh sư và Biệt Phái. Tất cả những người này tập trung vào sự đối lập giữa cái “bên trong” và cái “bên ngoài” của con người:

“Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Biệt phái giả hình. Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt 23, 27-28).

Cuộc cách mạng của Đức Giêsu trong lãnh vực này vô cùng quan trọng. Ngày nay người ta có khuynh hướng giảm nhẹ sự tương phản giữa Đức Giêsu và những người Biệt Phái, khi lưu ý rằng hai bên đồng nhất với nhau trong cách nại tới luật Môsê. Tuy nhiên chắc chắn là trước Đức Kitô, trừ một vài trường hợp mà các tiên tri hay Thánh vịnh ám chỉ (Tv 24,3: “Ai được lên núi Chúa? Đó là kẻ tay sạch lòng thanh), sự trong sạch được trình bày theo một ý nghĩa chủ yếu là nghi thức và phụng tự; hệ tại ở chỗ tránh xa những đồ vật, thú vật, con người hay nơi chốn được coi là dễ làm dơ bẩn và làm con người xa rời sự thánh thiện của Thiên Chúa. Cũng nằm trong lãnh vực này chủ yếu là những gì liên hệ đến sự sinh, sự tử, thực phẩm, tình dục. Dưới những hình thức và vì những lý do khác nhau, người ta thấy cùng một quan niệm như vậy trong những tôn giáo khác ngoài Kinh Thánh.

Đức Giêsu bãi bỏ tất cả những cấm kỵ này. Trước hết bằng những cử chỉ của Ngài: Ngài ăn uống với người tội lỗi, chạm vào người phong cùi, giao du với kẻ ngoại – tất cả những việc đó đều bị coi là biến chất ở mức cao – và cả trong nhiều lời giảng dạy của Ngài. Rồi khi nói về sạch và dơ, giọng điệu long trọng giúp cho người ta hiểu rằng Ngài ý thức về sự mới mẻ trong lời giảng dạy này như thế nào:

“Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người mà lại có thể làm con người ra ô uế được, nhưng chính cái từ con người xuất ra là cái làm cho con người ra ô uế. .. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7,15.21-23).

“Như vậy Người tuyên bố mọi thức ăn đầu thanh sạch”, tác giả Phúc Âm ngạc nhiên ghi nhận lời Đức Giêsu nói (Mc 7,19). Trước một số Kitô hữu gốc Do thái muốn phục hồi sự phân biệt giữa sạch và dơ trong đồ ăn và trong những lĩnh vực khác của đời sống, Giáo Hội thời tông đồ mạnh mẽ tái khẳng định: “Mọi sự đều trong sạch với những người trong sạch” (Tt 1,15; x. Rm 14,20).

Sự trong sạch hiểu theo nghĩa tiết dục và khiết tịnh không phải là không có trong Mối Phúc này (ta thấy khi liệt kê những gì làm dơ bẩn tâm hồn, Đức Giêsu có nói đến tà dâm, ngoại tình, trác táng); nhưng nó chỉ chiếm một chỗ hạn chế, và có thể nói được là “thứ yếu”. Đó là một lãnh vực trong số các lãnh vực khác, trong đó chỗ dành cho tâm hồn được nhấn mạnh, như khi Ngài nói rằng: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người đó rồi” (Mt 5,28).

Thực ra, những hạn từ “trong sạch” và “sự trong sạch” (kar haros, katharores) không bao giờ được sử dụng trong Tân Ước theo nghĩa như chúng ta sử dụng ngày hôm nay, tức là không mắc tội xác thịt. Người ta sẽ sử dụng các hạn từ khác như “làm chủ mình” (enkrateia), “tiết độ” (sophrosyne), “khiết tịnh” (hagneia).

Cứ như những gì đã trình bầy thì rõ ràng, như mọi khi, người có tâm hồn trong sạch tuyệt hảo chính là Đức Giêsu. Các đối thủ của Ngài đã phải nói: “Thưa Thày, chúng tôi biết Thầy là người chân thật… vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa.” (Mc 12,14) Và Đức Giêsu đã có thể nói về mình như sau: “Tôi không tìm vinh quang cho mình.” (Ga 8,50)

2. Nhìn vào lịch sử

Trong chú giải của các Giáo Phụ, chúng ta nhanh chóng thấy ba chiều hướng căn bản, trong đó Mối Phúc về tấm lòng trong sạch sẽ được đón nhận và giải thích trong lịch sử tu đức Kitô giáo: hướng luân lý, hướng thần bí và hướng khổ chế. Cách giải thích theo hướng luân lý nhấn mạnh ý định ngay thẳng; hướng thần bí nhấn mạnh thị kiến về Thiên Chúa; hướng khổ chế nhấn mạnh việc chống lại những đam mê xác thịt. Giải thích tương ứng cho các hướng trên là Augustinô, Grêgoriô Nyssê và Gioan Kim Khẩu.

Trung thành với bối cảnh Phúc Âm, Augustinô giải thích Mối Phúc này theo quan điểm luân lý, như một sự từ chối “làm việc lành phúc đức cốt phô trương cho thiên hạ thấy” (Mt 6,1), tức là như một sự đon sơ, chân thành ngược với sự giả hình.

“Người đó chỉ có một tấm lòng đơn sơ, tức trong sạch, vượt lên trên các lời khen của con người ; khi làm việc thiện, người đó chỉ nhằm tìm cach làm hài lòng Đấng thấu suốt mọi tâm hồn[55].”

Yếu tố quyết định để biết có trong sạch ít nhất trong tâm hồn hay không, ở đây là ý định.

“Hành vi của ta tốt và làm hài lòng Thiên Chúa nếu ta làm mà có tâm hồn trong sạch, nghĩa là hướng về Chúa, có mục đích là tình yêu… Chúng ta xem xét không phải chính hành vi cho bằng ý định thúc đẩy hành vi ấy[56]”.

Kiểu giải thích trên đây về ý định được tiếp tục mãi trong truyền thống tu đức sau này, nhất là truyền thống Ignatiô.

Giải thích theo hướng thần bí được Grêgoriô Nyssê đề xướng, giải thích Mối Phúc nhằm phục vụ cho việc chiêm niệm. Phải thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi liên hệ với thế gian và với điều xấu. Chỉ nhờ vậy tâm hồn con người sẽ lại trở thành hình ảnh của Thiên Chúa, tinh tuyền và trong sáng, như đã có từ ban đầu. Thụ tạo sẽ có thể “nhìn thấy Thiên Chúa” trong linh hồn mình như trong một tấm gương.

“Nếu như bạn ý thức và chú ý tẩy sạch những gì xấu xa trong tâm hồn, thì vẻ đẹp của Thiên Chúa sẽ chói sáng nơi bạn. […] Khi nhìn vào mình, bạn sẽ thấy nơi bạn Đấng mà lòng bạn mong ước, và bạn sẽ được hạnh phúc[57]”.

Ở đây, tất cả nhấn mạnh vào quy đề (apodose), nghĩa là vào kết quả được hứa ban cho Mối Phúc : có tâm hồn trong sạch chỉ là phương tiện, còn mục đích là “nhìn thấy Thiên Chúa”. Trên bình diện ngôn ngữ, người ta ghi nhận ảnh hưởng của những tư biện nơi Plotinô, mà người ta còn bắt gặp lại rõ hơn nơi thánh Basiliô[58].

Đường lối giải thích này cũng được tiếp tục trong tất cả lịch sử linh đạo Kitô giáo, qua thánh Bênađô, thánh Bonaventura và các nhà thần bí vùng sông Rhine[59]. Tuy vậy, trong một số môi trường đan viện, người ta còn thêm vào một ý tưởng mới mẻ và hay hay: ý tưởng về sự trong sạch như là hợp nhất bên trong mà người ta sẽ có được nếu chỉ muốn một sự mà thôi, “sự” này là Thiên Chúa. Thánh Bênađô viết: “Phúc cho những tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”, như thể ngài nói: hãy thanh tẩy tâm hồn bạn, hãy vứt bỏ mọi sự, hãy là một đan sĩ tức là chỉ một mình, hãy tìm kiếm một sự duy nhất của Chúa, hãy theo đuổi sự đó (x. Tv 27,4), hãy thoát khỏi mọi sự và bạn sẽ nhìn thấy Thiên Chúa (x. Tv 46,11)[60].”

Ngược lại, giải thích theo hướng khổ chế khá lẻ loi, nơi các Giáo Phụ và các tác giả thời Trung cổ, giải thích Mối Phúc tùy theo sự khiết tịnh sẽ có ưu thế, như tôi đã nói trên, kể từ thế kỷ XIX. Thánh Gioan Kim Khẩu cho chúng ta một ví dụ rất rõ:

“Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”. Theo Đức Giêsu Kitô, những người đó có tâm hồn trong sạch, có một nhân đức chung chung và phổ quát, không cảm thấy mình có lỗi nào, và có nhân đức khiết tịnh trổi vượt. Là vì không có nhân đức nào cần cho chúng ta hơn để đáng nhìn thấy Thiên Chúa[61]”.

Theo đường hướng này, nhà thần bí Ruysbroec phân biệt ba loại khiết tịnh hay trong sạch : trong tâm trí, nơi tâm hồn và ngoài thân xác. Mối Phúc đang bàn liên hệ đến sự khiết tịnh trong tâm hồn. Tác giả viết như sau:

“Sự khiết tịnh trong tâm hồn gom lại và tăng cường các giác quan bên ngoài, trong khi ở nội tâm, nó kiềm chế và làm chủ các bản năng thô bạo, nó kìm hãm và làm chủnhững bản năng xấu… nó khép tâm hồn lại trước những sự vật trần thế, những mồi chài phỉnh phờ, trong khi mở lòng cho những thực tại trên trời và chân lý[62]”.

Với những tầm mức trung thành khác nhau, tất cả các giải thích chính thống đều ở trong khung cảnh chân trời mới của cuộc cách mạng do Đức Kitô thực hiện, đưa tất cả diễn từ luân lý vào trong tâm hồn. Một cách nghịch lý: những người phản bội lại Mối Phúc của những người “trong sạch” (katharoi) trong tâm hồn lại chính là những người dựa vào đó mà lấy tên là những Người Trong Sạch (Cathares), với tất cả những phong trào tương tự xẩy ra trước và sau họ trong lịch sử Kitô giáo. Quả thực họ được xếp vào hạng những người đặt sự trong sạch ở chỗ tách khỏi những người và những sự vật bị coi là không trong sạch, trên bình diện nghi thức và xã hội, trong sự trong sạch bên ngoài hơn bên trong.

3. “Người có hai cuộc đời”

Như ta đã thấy: trrong ý nghĩ của Đức Giêsu, sự trong sạch trong tâm hồn tiên vàn không đối nghịch với sự không trong sạch, nhưng là với sự giả hình, dường như là một lầm lỗi rất thường thấy nơi con người, nhưng lại rất ít được xưng thú. Theo Pascal, con người ta có hai cuộc đời, một cuộc đời thật và một cuộc đời tưởng tượng dựa vào ý kiến, ý kiến của mình hay ý kiến của người khác. Chúng ta không ngừng tô điểm và bảo vệ con người tưởng tượng của mình, và lờ đi con người thật. Có được một nhân đức hay một công trạng nào, chúng ta vội làm cho người ta biết đến nó, cách này hay cách khác, để làm giầu cho con người tưởng tượng của chúng ta bằng nhân đức hay công trạng đó, dù phải mất chúng, để thêm cái gì đó cho con người tưởng tượng ấy, đến độ đôi khi chấp nhận hèn nhát để vờ là can đảm, và thậm chí hy sinh cuộc đời, miễn được người ta nói về nó[63]”.

Khuynh hướng này, như Pascal vạch rõ, rất nổi bật trong văn hóa hiện thời của chúng ta, một văn hóa bị thống trị bởi các phương tiện truyền thông đại chúng. Descartes nói: “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu”; nhưng ngày nay, người ta có khuynh hướng thay thế câu ấy bằng câu: “Tôi xuất hiện, vậy tôi hiện hữu”. Từ gốc gác, từ “giả hình” được dành cho nghệ thuật sân khấu. Nó chỉ có nghĩa là đọc truyện, biểu diễn trên sân khấu. Thánh Augustinô có nhắc đến nó khi bình giải Mối Phúc của những tâm hồn trong sạch. Ngài viết: “Người giả hình là tác giả những chuyện giả tưởng, theo hình ảnh của những người đóng các vai khác nhau biểu diễn trên sân khấu[64].” Ngày nay, tất cả đều là giả tưởng trên các màn ảnh truyền hình.

Vậy gốc gác của hạn từ giúp chúng ta khám phá ra bản chất của giả hình. Giả hình là ở chỗ biến cuộc đời mình thành một sân khấu, nơi đó người ta trình diễn trước một cử tọa, ở chỗ đeo mặt nạ, không còn là mình, để trở thành một nhân vật của bản kịch. Tôi đọc đâu đó hai chuyện được làm rõ nét như sau:

“Nhân vật (personnage) không gì khác hơn là sự thoái hóa của con người (personne). Con người trần truồng tận gốc rễ, nhân vật bận đầy trang phục. Con người thích những gì xác thực và chủ yếu, nhân vật sống bằng giả tưởng và mưu mẹo. Con người tuân theo những xác tín của mình, nhân vật làm theo kịch bản. Con người thì khiêm tốn và nhẹ nhõm, nhân vật thì nặng nề và cồng kềnh.”

Tuy vậy, sự giả tưởng trong kịch nghệ chỉ là sự giả hình vô tội, vì dầu sao vẫn có sự phân biệt giữa sân khấu và cuộc đời. Không phải vì xem một vở kịch về Agamemnon (ví dụ do Augustinô đưa ra) mà khán giả tưởng diễn viên thật sự là Agamemnon. Thế mà ngày nay, người ta chứng kiến một sự kiện mới mẻ và đáng lo ngại, đó là muốn phết gôm sự chênh lệch này và biến cuộc đời thật thành một sân khấu. Đó là điều mà reality shows, chương trình đang tràn ngập các kênh truyền hình trên toàn thế giới, có tham vọng. Theo triết gia Pháp Jean Beaudrillard, từ nay khó mà phân biệt những biến cố thực sự xẩy ra với những gì mà truyền thông thuật lại. Điều xẩy ra thực với điều có thể xẩy ra lẫn lộn vào nhau.

Lời nhắc nhở về nội tâm, điều làm rõ nét Mối Phúc của chúng ta, cũng như toàn bộ Bài giảng trên núi, là một lời mời gọi đừng chạy theo khuynh hướng tìm cách thanh lọc con người, biến con người thành một hình ảnh, hoặc, tệ hơn, thành một ảo ảnh. Kierkegaard cho thấy sự vong thân là kết quả của một cuộc sống thuần túy bên ngoài, luôn luôn và chỉ sống trước mặt người khác chứ không bao giờ đối diện với Thiên Chúa và với chính mình. Một anh chăn bò có thể là một ông chủ đối với đàn bò của mình, nếu anh luôn sống với chúng và chỉ đối chiếu mình với chúng, Một ông vua có thể là một “cái tôi” đối với thần dân của mình, và thấy mình là một “cái tôi” quan trọng. Cũng vậy là đối với con cái trong tương quan với cha mẹ chúng, đối với công dân trước Nhà Nước…Nhưng đó luôn là một “cái tôi” bất toàn vì thiếu cái làm chuẩn.

“Bù lại “cái tôi” có được một thực tại vô biên biết bao, khi nó ý thức mình hiện hữu trước Thiên Chúa và khi nó trở thành một “cái tôi” nhân bản từ đó mà Thiên Chúa cấu tạo nên chuẩn mực…Nét nhấn vô biên biết bao đặt trên “cái tôi” khi nó có được Thiên Chúa làm chuẩn mực[65]!”

Người ta hẳn nói một lời bình giải về câu ngạn ngữ này của thánh Phanxicô Assisi:

“Con người là thế nào trước mặt Thiên Chúa, thì là thế ấy, không hơn[66].”

4. Một loại giả hình tập thể

Người ta thường làm nổi bật tầm quan trọng về phương diện xã hội và văn hóa của Mối Phúc này. Không hiếm những câu như: “Phúc cho những ai xây dựng hòa bình” trên các bảng khẩu hiệu mà những đoàn tuần hành của nhóm người chủ hòa mang theo, và Mối Phúc của những người hiền lành được viện dẫn để ủng hộ thái độ bất bạo động. Tuy vậy, người ta không bao giờ nói đến tầm quan trọng về phương diện xã hội của Mối Phúc dành cho những tâm hồn trong sạch, một mối phúc dường như chỉ dành đích danh cho lãnh vực cá nhân. Dầu vậy tôi xác tín là Mối Phúc này, ngày hôm nay, có thể thực hiện một chức năng phê phán trong số những phê phán cần thiết nhất của xã hội chúng ta.

Có những sự giả hình cá nhân và những sự giả hình tập thể. Tôi muốn vach rõ một hình thức giả hình tập thể trong đó chúng ta ngập tới cổ. Trái với nghỉa thông thường của hạn từ, đây là một sự giả hình không ở chỗ phủ kin, nhưng là mở ra; không ở chỗ che giấu, nhưng là vạch ra. Tôi nói về sự phô bầy thân xác con người, đặc biệt thân xác phụ nữ, được trình bầy như nghệ thuật, như thú vui thẩm mỹ và như vượt qua những cấm kỵ, trong khi nó chỉ đáp ứng với lợi nhuận thương mại và thị hiếu của khán giả, khác với cái người ta thấy trong nghệ thuật – cái thật, chẳng hạn như tranh của Botticelli.

Hiện tượng này đặc biệt thấy rõ ở Ý. Lâu trước đây, một nhật báo Anh có uy tín, tờ Financial Times, đã mở một mục có tựa đề “Naked Ambition” (tham lam khỏa thân). Đó là lời tố giác thói tục của người Ý phô trương phụ nữ khỏa thân theo đủ cách và nhằm bất cứ mục đích nào. Người ta đọc thấy ở đó tất cả những thiếu nữ Ý đều muốn làm những “bản sao”, Người ta tự hỏi phong trào nữ quyền, một phong trào đã đề ra cuộc tranh đấu chống lại khuynh hướng trọng nam khinh nữ, giản lược người phụ nữ chỉ còn ở thân xác và giới tính của họ, phong trào ấy đang ở đâu trên đất Ý?

Nếu lời tố cáo trên đây là của các Giám mục Ý, chẳng ai cần quan tâm, nhưng vì phát xuất từ một nhật báo có uy tín ở Anh, người ta chứng kiến một loạt các bình giải tự phê và những lưu ý trong phần đông các cơ quan báo chí. Báo Corriere della Sera (một nhật báo Ý) có một bài dành cho vấn đề, kết thúc bằng suy nghĩ như sau:

“Cả thế giới quan sát và cười nhạo chúng ta, và những phương tiện truyền thông của chúng ta không biết vấn đề: phải có một tờ báo ngoại quốc nhắc cho chúng ta điều ấy. Nước Ý thường chỉ trích thế giới Ả rập và Hồi giáo, nhưng khi nhìn vai trò của phụ nữ trong các phương tiện truyền thông, trong chính trị, người ta nói: À không, đó là chuyện khác.”

Người ta đã phân tích nhiều về hiện tượng này. Tất cả đều đồng ý vạch rõ rằng trách nhiệm chính thuộc về những người đang tiếp tục hành quyền trên phụ nữ, hóa trang cho hiện tượng dưới lớp vỏ là khâm phục có tính thẩm mỹ. Trong nhật báo lớn khác của Ý, tờ La Republica, một phụ nữ than phiền là, thay vì đánh giá cao hai bằng tiến sĩ của bà và sự đào tạo chuyên nghiệp như bà cho thấy, các đồng nghiệp lại quý mến bà ở những chuyện khác…Tất cả đều đúng thôi, nhưng cũng phải gán một phần trách nhiệm cho chính các phụ nữ. Cái mà đàn ông nhìn ở phụ nữ cũng tùy thuộc vào cái mà họ cho đàn ông thấy về họ (những năm qua thì đặc biệt là lỗ rốn!) Người ta thấy lời Thiên Chúa nói với bà Evà được thực hiện: “Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi.” (St 3,16). Chúng ta đang đứng trước một hình thức thống trị và khai thác phụ nữ, không biết là hình thức thứ mấy (bất hạnh thay lại là thống trị và khai thác về phương diện nhục dục).

Giờ đây tôi tưởng nên cắt nghĩa vì sao tôi đã xác định tất cả những chuyện đó như một hình thức giả hình tập thể. Bởi vì người ta đã dán nhãn một sự vô tội vô tư hoàn toàn sai lầm. Ai nấy dường như lặp đi lặp lại: “Sự dữ ở đâu vậy?” trong khi mọi người biết rõ có một sự dữ và là sự dữ nào. Nếu giả hình là che giấu những điều kiện thực sự đàng sau những vẻ ngoài giả tạo, thì đó chính là sự giả hình đẹp đẽ và tốt lành, hoặc nơi đàn ông, hoặc nơi đàn bà.

Người ta cũng nói về sự giả hình từ một khía cạnh khác. Bởi vì nó biến các thiếu nữ thành những “bản sao”, thành dáng vẻ bên ngoài, thành những thụ tạo không hồn, chỉ có giá trị như chúng có trước mắt người khác. Não trạng lan rộng theo cách này nơi những người trẻ gây chết người. Ý tưởng len lỏi nơi những người mà, để thành công trong cuộc sống, chuyên chú học tập, chấp nhận những hy sinh cần thiết để có được sự chuẩn bị chuyên môn tốt đẹp, học ngôn ngữ…đều không cần thiết. Nếu có thể thì chỉ cần lợi dụng thân xác mình là đủ, để sang một bên những đắn đo lo ngại. Than ôi, cuộc sống sẽ nhanh chóng nhận trách nhiệm cho họ thấy một ghi dấu: ngay sau khi thân xác và tuổi trẻ của họ tàn héo, nhiều thanh niên thiếu nữ thấy mình chỉ có một mình và không được chuẩn bị để đối mặt với cuộc sống. Thảm kịch xẩy ra hàng ngày.

Chỉ có một cách cụ thể chống lại mốt này: phá ngầm những sản phẩm và chương trình chiếu trên truyền hình, vồn sống bằng việc buôn bán thân xác phụ nữ. Hãy ra dấu cho các nhân viên quảng cáo và những linh hoạt viên của chương trình talk show rằng chúng ta đã chán hiện tượng này, hiện tượng khiến chúng ta trở thành trò cười trước mắt toàn thể thế giới, chưa kể, tất nhiên, chúng ta bị quở trách trước mặt Thiên Chúa. Phải chăng người ta khuyến khích phá hoại các nhà máy bán những vũ khí hay những thực phẩm pha chế, lấy lý do không có gì khác để làm đối với những người không biết chính những nguồn gốc sự sống? Nếu chúng ta không làm, tất cả chúng ta đều chịu trách nhiệm.

5. Sự giả hình tôn giáo

Khi nói về sự giả hình thì điều tệ hại nhất chính là chỉ dùng nó để xét đoán người khác, phê phán xã hội, văn hóa, thế giới. Đức Giêsu gọi những con người như thế là giả hình:

“Hỡi kẻ đạo đức giả ! Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em” (Mt 7,5).

Là người tín hữu, chúng ta cần nhắc lại lời của một giáo trưởng Do thái sống vào thời Đức Giêsu. Ông quả quyết ở Giêrusalem lúc đó có đến 90% sự giả hình của thế giới[67]. Sự giả hình đánh lừa đặc biệt những người sống thánh thiện, đạo đức. Lý do đơn giản thôi: nơi nào đặc biệt coi trọng các giá trị tinh thần, nhân đức (hoặc chính thuyết!) thì cám dỗ bày tỏ những giá trị ấy càng lớn, để chứng tỏ mình không thiếu các giá trị ấy. Đôi khi chính chức năng riêng của ta thúc đẩy ta làm như thế. Thánh Augustinô viết:

“Vậy, một vài nhiệm vụ trong xã hội loài người đòi hỏi chúng con phải được yêu thương và kính sợ, kẻ thù của hạnh phúc thật luôn theo dõi chúng con, và gài bẫy khắp nơi bằng những tiếng thúc giục: “Cố lên, can đảm lên”! Nó muốn lòng tham lam thu tích làm chúng con bị lừa; nó muốn niềm vui của chúng con di chuyển và rời bỏ sự thật của Chúa để bám chặt vào những lời dối trá của con người; nó muốn chúng con thích được yêu mến và kính sợ, không phải vì Chúa, mà là thay cho Chúa[68].”

Sự giả hình độc hại nhất hẳn là che giấu… sự giả hình của mình. Trong các bản xét mình, tôi không nhớ đã tìm thấy câu hỏi: Tôi có đã sống giả hình không? Tôi có để tâm xem người khác nhìn tôi hơn là Thiên Chúa nhìn tôi không? Vào lúc nào đó trong đời, chính tôi phải đưa những câu hỏi này vào trong bản xét mình của tôi và ít khi tôi có thể bước qua câu hỏi sau mà thấy mình vô sự…Một hôm, đoạn Phúc Âm đọc trong Thánh lễ là dụ ngôn các nén bạc. Khi nghe, tôi đột nhiên hiểu ra một chuyện. Giữa việc có thể làm cho các nén bạc sinh lợi và không làm cho chúng sinh lợi, có thể có một cách thứ ba: làm chúng sinh lợi cho mình, chứ không phải cho chủ, cho vinh quang riêng của mình hay cho lợi lộc cá nhân. Việc này có lẽ là một tội nghiêm trọng hơn chôn giấu các nén bạc. Hôm đó lúc chịu lễ, tôi đã phải làm như tên trộm bị bắt quả tang, quá xấu hổ, móc hết túi ra và vất xuống chân chủ nhà tất cả những gì đã lấy trộm.

Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta một phương thế đơn sơ và đặc biệt, để điều chỉnh những ý định của ta nhiều lần trong ngày. Đó là đọc ba lời xin đầu trong kinh Lạy Cha: “Nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Có thể đọc như những lời nguyện xin, mà cũng có thể là cách nói lên ý định của chúng ta, tức là: mọi việc tôi làm, tôi muốn làm để Danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa trị đến, Ý Chúa thể hiện.

Hẳn là một sự góp phần quý giá cho xã hội và cho cộng đồng Kitô giáo, nếu Mối Phúc của những tâm hồn trong sạch gìn giữ sống động trong ta hoài niệm về một thế giới trong sạch, chân thực, thành thật không giả hình, tập thể cũng như cá nhân, ngoài đời cũng như trong đạo; một thế giới trong đó hành động tương ứng với lời nói, lời nói tương ứng với tư tưởng, tư tưởng của con người tương ứng với tư tưởng của Thiên Chúa.

Điều này sẽ chỉ xẩy ra viên mãn tại Giêrusalem thiên quốc, thành thánh tất cả đều được làm bằng kính, mà chúng ta it nhất phải hướng tới. Một tác giả viết ngụ ngôn đã viết một câu truyện có tựa đề  “Đất nước bằng kính”. Tác giả kể truyện một đứa trẻ nhờ ma thuật mà tới được một đất nước toàn bằng kính: nhà cửa bằng kính, chim chóc bằng kính, cây cối bằng kính, con người đi lại như những bức tượng kính yêu kiều. Tuy vậy, bất kể lúc nào kính này không bao giờ vỡ, vì ai nấy đều học cách di chuyển rất tinh tế, để không gây tai họa cho nhau. Khi gặp nhau, người này trả lời trước khi người kia hỏi, vì ngay cả ý tưởng cũng trở nên trong suốt và rõ ràng. Kính mà! Không ai dám nói dối ai vì biết rằng người này có thể đọc được tư tưởng của người kia[69].

Điều này mà xẩy ra với chúng ta hôm nay thì đáng lo quá. Thế nhưng, ít nhất hướng tới một lý tưởng như thế cũng là điều bổ ích. Đó là con đường đưa tới Mối Phúc mà chúng ta đang cố gắng bình giải: “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.”