7

“PHÚC THAY AI XÂY DỰNG HÒA BÌNH,

VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC GỌI LÀ CON THIÊN CHÚA”

1. Ai là người xây dựng hòa bình?

Mối Phúc thứ bẩy có thể thức như sau: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”. Cùng với Mối Phúc của những người thương xót, đây là Mối Phúc duy nhất không nói về những người “là” (nghèo khó, sầu khổ, hiền lành, có tâm hồn trong sạch) mà là những người “làm”. Hạn từ eirenopoioi chỉ những người hoạt động cho hòa bình, “xây dựng hòa bình”. Tuy vậy, không theo nghĩa họ hòa giải với kẻ thù cho bằng theo nghĩa họ giúp các người thù nghịch hòa giải với nhau.

“Đây là những người yêu chuộng hòa bình nên không sợ liên lụy đến sự bình an của cá nhân họ khi can thiệp vào những cuộc tranh chấp, để thiết lập hòa bình giữa những người đang chia rẽ nhau[70].”

Kiểu nói “người xây dựng hòa bình” không đồng nghĩa với người “hiếu hòa” (pacifique), tức người yên lặng, bình thản, tránh tranh chấp ngần nào có thể (người này được công bố là có phúc qua một Mối Phúc khác, Mối Phúc của những người hiền lành). Nó cũng không đồng nghĩa với người “chủ hòa” (pacifiste), nếu qua hạn từ này người ta hiểu về những người chống chiến tranh (nói rõ hơn chống một trong những lực lượng đang có mặt!), nhưng không làm gì để giúp các bên tham chiến hòa giải. Hạn từ chính xác nhất hẳn là “người dẹp yên” (pacificateur).

Vào thời Tân Ước, người dẹp yên này là các hoàng đế, khởi đầu là hoàng đế Rôma. Quả thực, trong sự nghiệp của mình, hoàng đế Augustô vẫn tự phụ đã thiết lập hòa bình trên toàn thế giới, nhờ những chiến thắng quân sự (parta victoriis pax). Ông đã cho lập ở Rôma một Ara Pacis nổi tiếng, bàn thờ hòa bình.

Một số người cho rằng Mối Phúc Tin Mừng chống lại sự tự phụ này khi cho biết ai là những người xây dựng hòa bình và hòa bình này được cổ võ bằng cách nào: bằng những chiến thắng, đúng vậy, nhưng là chiến thắng chính mình chứ không phải chiến thắng kẻ thù, không phải bằng cách tiêu diệt kẻ thù, nhưng tiêu diệt sự thù nghịch, như Đức Giêsu đã làm trên thập giá (Ep 3,16). Tuy nhiên ngày nay, ý tưởng chủ lực là đọc Mối Phúc trong tương quan với toàn bộ Kinh Thánh và với các nguồn Do thái. Một trong những việc chính chứng tỏ lòng thương xót là giúp các bên tranh chấp hòa giải với nhau và chung sống hòa bình. Trên môi miệng Đức Kitô, Mối Phúc của những người xây dựng hòa bình phát xuất từ giới răn mới dạy yêu thương nhau; nó là một cách thể hiện tình yêu đối với người lân cận.

Người ta ngạc nhiên khi nghe từ chính môi miệng Đức Kitô một lời quả quyết dường như ngược lại điều trên đây: “Anh em tưởng Thày đến để ban hòa bình cho trái đất sao ? Thày bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.” (Lc 12,51). Nơi Matthêu, thay cho “sự chia rẽ” là một lời thẳng thừng: “gươm giáo” (Mt 10,34). Tuy vậy, đó thực sự không phải là một mâu thuẫn. Phải xem đâu là sự bình an và hợp nhất mà Đức Giêsu đem đến, đâu là sự bình an và hợp nhất mà Ngài đến cất bỏ. Ngài đem đến sự bình an và hợp nhất trong sự lành, thứ bình an đưa tới sự sống vĩnh cửu; Ngài đến cất bỏ sự bình an giả tạo chỉ ru ngủ lương tâm và đưa tới hoang tàn.

Đức Giêsu không đến với ý định đem lại chia rẽ và chiến tranh. Dầu vậy, chính vì Ngài đến mà có những chia rẽ và tranh chấp không tránh được, vì Ngài đặt con người trước lựa chọn của họ. Thế mà, cứ như ta biết, khi cần lựa chọn thì sự tự do của con người phản ứng cách khác nhau. Lời nói và ngay cả con người của họ làm hiện lên trên khuôn mặt những gì ẩn giấu trong lòng. Khi ẵm con trẻ Giêsu, ông già Simêon đã tiên báo: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng, và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra.” (Lc 2,34-35) Nạn nhân đầu tiên của sự chống báng này, người đầu tiên chiu khổ vì “gươm giáo” mà Ngài đem đến cho trái đất, sẽ chính là người, trong sự tương phản này, sẽ đem lại cho chúng ta sự sống.

2. Sứ điệp của Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình

Người ta hẳn có thể nói Mối Phúc của những người xây dựng hòa bình dành đặc biệt cho Giáo Hội Rôma cùng với Giám mục của mình. Một trong những việc cao quý nhất mà Tòa Thánh làm cho các Kitô hữu, trong những thời điểm tốt đẹp nhất của mình, là thực sự tìm kiếm sự bình an giữa các Giáo Hội khác nhau, thậm chí, trong một số thời kỳ, giữa các ông hoàng Kitô hữu. Tông thư đầu tiên của một Giáo hoàng, tức Tông thư của thánh Clêmentê I, đã viết vào khoảng năm 96 sau Đức Giêsu Kitô (có lẽ trước cả Phúc Âm thứ tư) có mục đích loan báo sự bình an trong Giáo Hội Corintô, một Giáo Hội đã bị xâu xé vì những bất hòa.

Lịch sử Giáo Hội chứng kiến nhiều thời kỳ mà các Giáo Hội địa phương, các Giám mục hay tu viện trưởng bất hòa với nhau hay với đàn chiên của mình, và đã nại tới Đức Giáo hoàng làm trung gian hòa giải. Tôi tin rằng ngay cả ngày hôm nay, đó là một trong những dịch vụ thường xuyên nhất dành cho Giáo Hội toàn cầu, cho dù là một dịch vụ ít được biết đến nhất. Chính sách ngoại giao của Vaticanô, các sứ thần Tòa thánh là những dụng cụ phục vụ hòa bình. Thừa tác vụ này của các ngài được mọi người thừa nhận. Muốn biết cái giá của dịch vụ này, chỉ cần nhìn vào những khó khăn xẩy ra khi không có dịch vụ này.

Từ ít lâu nay, việc phục vụ của Đức Giáo hoàng trong lãnh vực hòa bình cũng được thể hiện qua sứ điệp của Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình, trùng với ngày 1 tháng 1 mỗi năm. Tôi muốn sử dụng sứ điệp ngày 1/1/2007, để suy niệm về Mối Phúc của chúng ta[71]. Đây là một sứ điệp về hòa bình trong mọi lãnh vực, từ lãnh vực cá nhân đến lãnh vực rộng lớn hơn là chính trị, kinh tế, môi sinh, những tổ chức quốc tế. Đó là những lãnh vực khác nhau, nhưng liên kết với nhau, vì tất cả đều có đối tượng đầu tiên là nhân vị. Do đó mà sứ điệp có tựa đề: “Nhân vị, trọng tâm của hòa bình.”

Trong sứ điệp này, chúng ta thấy một xác quyết nền tảng như chìa khóa giúp đọc cả bản văn:

“Hòa bình là một quà tặng mà cũng là một trách nhiệm, Nếu đúng là hòa bình giữa các cá nhân và giữa các dân tộc – khả năng sống bên cạnh nhau với những tương quan công bằng và liên đới – biểu thị một sự dấn thân không ngungu nghỉ, thì cũng đúng, và còn đúng hơn, là hòa bình là một quà tặng của Thiên Chúa. Quả thực, hòa bình là một nét đặc trung trong hành động của Thiên Chúa, được bày tỏ cả trong việc sáng tạo một thế giới trật tự và hài hòa, lẫn trong việc cứu độ nhân loại, một nhân loại cần được chuộc lại cho khỏi hỗn loạn vì tội lỗi. Vậy sáng tạo và cứu chuộc cho chúng ta chìa khóa để đọc, giúp hiểu biết ý nghĩa cuộc sống của chúng trên trái đất[72].”

Những lời trên đây giúp chúng ta hiểu Mối Phúc của những người xây dựng hòa bình, và lời sau cùng  soi sáng đặc biệt bản văn này. Chúng ta sẽ suy niệm về hòa bình như một quà tặng và như một trách nhiệm

3. Hòa bình là một quà tặng

Chính Thiên Chúa, chứ không phải con người, là Đấng xây dựng hòa bình chính thực và tối cao.

Vì vậy mà những ai hết mình cho hòa bình được gọi là “con Thiên Chúa”, vì họ giống Người, bắt chước Người, làm những gì Người làm. Sứ điệp của Đức Giáo hoàng nói rằng hòa bình là nét đặc trưng trong hành động của Thiên Chúa trong việc Sáng tạo và Cứu chuộc, tức là cả trong hành động của Thiên Chúa lẫn trong hành động của Đức Kitô.

Kinh Thánh nói về “bình an của Thiên Chúa” (Pl 4,7) và còn nói thường xuyên hơn về “Thiên Chúa là nguồn bình an” (Rm 15,33). Bình an ở đây không những chỉ điều Thiên Chúa làm hay ban, mà còn cho thấy Thiên Chúa sự bình an.

Hầu như mọi tôn giáo đồng thời với Kinh Thánh tin vào một thế giới thần linh trong đó các vị thần luôn tranh chấp với nhau. Các thần thoại về nguồn gốc vũ trụ ở Babylon và Hy lạp nói về các thần gây chiến với nhau. Trong lạc thuyết ngộ đạo Kitô giáo, không có hiệp nhất và bình an giữa các thần trên trời, và sự hiện hữu của thế giới vật chất chỉ là kết quả của một vụ rắc rối và một sự bất hòa xẩy ra trên thiên giới.

Trên nền tảng tôn giáo như vậy, người ta có thể hiểu rõ hơn nét độc đáo mới mẻ trong giáo lý về Ba Ngôi, chỉ có một tình yêu hoàn hảo trong ba Ngôi vị. Trong thánh thi dâng kính Ba Ngôi, Giáo Hội gọi Ba Ngôi là “đại dương bình an êm ả”, và đây không chỉ là cách diễn tả của thi phú. Khi chiêm ngắm bức icône Ba Ngôi nổi tiếng của Rublev, điều gây ấn tượng nhất chính là cảm giác về sự bình an của thiên giới tỏa ra từ bức tranh. Bằng hình ảnh, họa sĩ đã diễn tả khẩu hiệu của thánh Serge de Radonège, mà bức ảnh được vẽ dành cho đan viện của ông: “Chiến thắng sự chia rẽ đau lòng của thế giới này bằng việc chiêm ngắm Ba Ngôi chí thánh”.

Người ca ngợi hay nhất sự bình an của Thiên Chúa đến từ phía bên kia của Lịch sử, là một Giáo Phụ Hy lạp (Denys l’Aréopagite). Theo ngài, sự bình an là một trong những “danh hiệu của Thiên Chúa”, ngang với “tình yêu”[73]. Đức Kitô cũng được gọi “là sự bình an của chúng ta” (Ep 2,14-17). Khi nói với các môn đệ “Thày ban sự bình an của Thày cho anh em”, Đức Giêsu chuyển đạt cho chúng ta điều mà chính Ngài là.

Có một mối tương quan chặt chẽ giữa bình an như quà tặng của Đấng ngự trên cao và Chúa Thánh Thần. Không phải vô lý mà cả hai được biểu thị bằng hình chim bồ câu. Buổi chiều ngày Phục Sinh, Đức Giêsu đã ban cho các môn đệ cả sự bình an lẫn Chúa Thánh Thần hầu như bằng một hơi thở duy nhất: “Bình an cho anh em” […] Nói xong Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,21-22). Theo thánh Phaolô, bình an là một “hoa quả của Thần Khí” (Gl 5,22).

Nhưng sự bình an mà chúng ta nói là sự bình an nào? Định nghĩa mà thánh Augustinô đưa ra đã trở thành cổ điển: “Bình an là một trật tự yên hàn[74].” Dựa trên câu này, thánh Tôma cho rằng nơi con người có ba mẫu trật tự: với chính mình, với Thiên Chúa và với người lân cận. Do đó có ba hình thức bình an: bình an nội tâm, qua đó con người sống bình an với chính mình; bình an qua đó con người sống bình an với Thiên Chúa và hoàn toàn tuân phục thánh ý Ngài; và bình an liên hệ với người lân cận của mình, qua đó người ta sống bình an với mọi người[75].

Tuy nhiên, trong Kinh Thánh, chữ shalom, “hòa bình”, đi xa hơn trật tự yên hàn thuần túy. Nó còn nói lên sự thoải mái, nghỉ ngơi, an ninh, thành công, vinh quang. Đôi khi nó chỉ toàn bộ thiện ích của thời kỳ cứu thế, và khi đó nó sẽ đồng nghĩa với ơn cứu độ: “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52,7). Giao ước mới được gọi là “giao ước bình an” (Ed 37,56), Phúc Âm được gọi là “Tin Mừng bình an” (Ep 6,15), như thể chữ “bình an” thâu tóm tất cả nội dung của Giao Ước và Phúc Âm.

Trong Cựu Ước, hòa bình thường sóng đôi với “công lý” (Tv 85,11) “Hòa bình và công lý giao duyên”, còn trong Tân ước thì sóng đôi với “ân sủng”. Khi thánh Phaolô viết: “Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa” (Rm 5,1), rõ ràng “được bình an với Thiên Chúa” có cùng một ý nghĩa hàm súc như “trong ân sủng của Thiên Chúa”.

4. Hòa bình là một trách nhiệm

Đức Thánh Cha nói với chúng ta rằng hòa bình là một quà tặng mà cũng là một trách nhiệm. Mối Phúc của những người xây dựng hòa bình nói cho chúng ta trước tiên về hòa bình như một trách nhiệm. Nếu Thiên Chúa và, trên bình diện lịch sử, Đức Kitô phục sinh, là nguồn mạch đích thực của sự bình an Kitô giáo, làm người xây dựng hòa bình không có nghĩa là phát minh hay tạo ra sự bình an, nhưng chuyển đạt nó, để sự bình an của Thiên Chúa và sự bình an của Đức Kitô đi qua, một sự bình an “vượt quá mọi trí khôn”, “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an.” (Rm 1,7) Đó là sự bình an mà vị Tông Đồ chuyển đạt cho các Kitô hữu ở Rôma. Chúng ta không phải là nguồn mạch, nhưng chỉ là máng chuyên sự bình an. Phanxicô Assisi diễn tả điều đó cách hoàn hảo trong lời kinh được gán cho ngài: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa” (*)

Điều kiện để có thể trở thành một máng chuyên bình an là phải kết hợp với nguồn mạch là chính ý muốn của Thiên Chúa. Trong tác phẩm Thần Khúc (Divina Commedia), thi sĩ Dante đã đặt vào miệng một linh hồn đang trong chốn Luyện ngục câu nói: “Bình an của chúng ta ở trong ý muốn của Thiên Chúa”. Bí mật của bình an nội tâm là phó thác hoàn toàn và không ngừng đổi mới cho ý muốn của Thiên Chúa. Để có thể gìn giữ hay tìm lại được sự bình an nội tâm này, chỉ cần chúng ta cùng với thánh nữ Têrêxa Avila thường xuyên lặp lại cho chúng ta:

“Ước mong không gì làm bạn bối rối, không gì làm bạn sợ hãi. Tất cả qua đi. Thiên Chúa còn lại. Nhẫn nại cho phép mọi sự. Ai ở trong Thiên Chúa sẽ không thiếu thốn gì. Chỉ mình Thiên Chúa là đủ”.

Lời các Tông đồ khuyến khích làm điều thiện bao gồm rất nhiều chỉ dẫn thực hành về những gì cổ võ hay ngăn cản sự bình an. Một trong những đoạn văn nổi tiếng nhất là ở trong thư Giacôbê:

“Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. Đức Khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3,16-18).

Mọi nỗ lực xây dựng hòa bình phải đến từ môi trường rất cá nhân này. Sự bình an giống như lằn của một con tầu trải rộng tới vô tận, nhưng khởi sự từ một điểm, và ở đây, điểm này là tâm hồn con người. Một trong những sứ điệp cho Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình, sứ điệp năm 1984, có tựa đề: “Hòa bình phát sinh từ một tâm hồn mới.”

Có một khẩu hiệu rất thời thượng hiện nay: “Suy nghĩ ở tầm mức toàn cầu, hành động ở tầm mức địa phương” (Think globally, act locally). Có thể áp dụng khẩu hiệu này cho hòa bình. Phải nghĩ tới hòa bình trên thế giới, nhưng xây dựng hòa bình ở địa phương (vì thực ra có muốn góp phần xây dựng hòa bình trên thế giới, thì điều đó cũng vượt ra ngoài khả năng và tầm tay của chúng ta). Hòa bình không được tạo ra như chiến tranh. Chiến tranh cần có sự chuẩn bị lâu dài: về quân đội, vũ khí, chiến lược, tìm kiếm đồng minh. Xây dựng hòa bình thì ngược lại: bắt đầu ngay, thậm chí có khi chỉ một mình, và chỉ bằng cái bắt tay. Cũng như hàng tỉ giọt nước mặn không thể tạo ra một đại dương nước ngọt, thì hàng tỉ người và gia đình bất thuận với nhau không bao giờ có thể tạo thành một nhân loại hòa bình.

Đức Giêsu đến loan báo “bình an cho người ở xa, bình an cho kẻ ở gần” (Ep 2,17). Làm sao chúng ta có thể coi mình là người cổ võ hòa bình ở xa, nếu sau đó chúng ta quay ra tranh cãi với nhau? Hãy nhớ lại những lời nghiêm khắc của Phaolô khi ngài nói với giáo đoàn Corintô:

“…nhân danh Đức Giêsu Kitô…tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau. Thật vậy…người nhà của bà Khơlôê cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như : tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apollô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm sẻ bẩy rồi ư? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng?” (1 Cr 1,10-13).

Sách Công vụ phác họa cho ta kiểu mẫu cộng đồng tín hữu đầu tiên, một cộng đồng thực sự là huynh đệ, hòa thuận, thương yêu nhau: “các tín hữu đông đảo mà chỉ có một lòng một ý” (Cv 2,32). Tuyệt vời! Chắc chắn họ được như vậy là nhờ Chúa Thánh Thần. Đây cũng là trường hợp của nhóm các Tông đồ. Trước lễ Ngũ Tuần, các ông chưa có một lòng một ý với nhau đâu, trái lại, thường tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm, ai được ngồi bên tả bên hữu Đức Giêsu. Chúa Thánh Thần hiện xuống đã hoàn toàn biến đổi các ông.

Những khuôn mẫu như vậy giờ đây không còn nữa, hoặc nếu còn thì rất hiếm. Có chăng là đạt tới một trình độ tương đối nào đó thôi. Ngay trong một cộng đồng nhỏ cũng có nhiều đối kháng, về phương diện này hay phương diện khác của đời sống, làm giảm sút, thậm chí làm mất đi, sự bình an và hiệp nhất.

Trong đời sống, nhất là đời sống chung, nếu không làm được những hành vi tích cực nhằm xây dựng hòa bình, thì ít nhất cố tránh những hành vi tiêu cực phá vỡ sự bình an.

Có một câu châm ngôn cổ (của Augustinô?) được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII sử dụng trong Thông điệp Ad Petri Cathedram, ngẫm nghĩ thấy còn rất hợp thời. Câu ấy như sau: “Trong những gì cần thiết thì có sự hiệp nhất, trong những gì hồ nghi thì có tự do, còn trong mọi sự thì có bác ái” (In necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus vero caritas). Thiết tưởng người muốn xây dựng hòa bình trong cộng đồng mình sống không thê không lưu ý đến lời dạy trên đây.

Có một cách khác giúp cho người xây dựng hòa bình, cách duy nhất mà ai nấy đều có thể và phải nại tới, đó là cầu nguyện cho hòa bình. Mỗi ngày đầu năm dương lịch, Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình, phải là dịp nhắc nhở cho chúng ta bổn phận này. Trong các sứ điệp dành cho ngày này, sau khi đã nêu ra những vấn đề đặc biệt cần lưu ý, liên hệ đến hòa bình trên thế giới, các Đức Giáo hoàng đều nhắc cho mọi tín hữu nhớ cầu nguyện cho hòa bình. Và hàng ngày, trong Thánh lễ, Giáo Hội vẫn nài xin Chúa ban bình an cho Giáo Hội.

5. Hòa bình tôn giáo

Ngày nay, một phạm vi hoạt động mới mẻ, khó khăn và cấp bách, đang mở ra trước mắt những người xây dựng hòa bình: họ phải cổ võ hòa bình giữa các tôn giáo và với tôn giáo, dù là giữa các tôn giáo với nhau hoặc giữa các tín đồ của các tôn giáo khác nhau với thế giới thế tục vô tín. Thần học gia Hans Kung đã tung ra khẩu hiệu sau đây, được lặp lại trong trụ sở quốc tế của Nghị viện tôn giáo ở Chicago năm 1993:

“Không thể có hòa bình giữa các quốc gia nếu không có hòa bình giữa các tôn giáo, và không thể có hòa bình giữa các tôn giáo nếu không có đối thoại giữa các tôn giáo”

Lý do cho phép một cuộc đối thoại nghiêm túc – dựa trên không chỉ các lý do đúng thời cơ mà chúng ta biết rõ, nhưng còn trên một nền tảng thần học chắc chắn – là tất cả chúng ta đều “có một Thiên Chúa độc nhất” như Đức Bênêđitô XVI đã nhắc lại nhân dịp ngài viếng thăm ngôi đền thờ Hồi giáo (Mosquée Bleue) ở Istanbul. Thánh Phaolô cũng đã dựa vào chân lý này trong bài diễn từ trước Hội đồng ở Aêrôpagô thành Athêna (x. Cv 17,28).

Một cách chủ quan, chúng ta có những ý tưởng khác nhau về Thiên Chúa. Đối với người Kitô hữu chúng ta, Thiên Chúa là “cha của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” mà người ta chỉ có thể biết “nhờ chính Ngài”; nhưng một cách khách quan, chúng ta biết rõ là về Thiên Chúa, chỉ có thể có một Đấng duy nhất. “Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4,6). Mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ có hạn từ riêng của họ để chỉ mặt trời, nhưng chỉ có một mặt trời mà thôi!

Nền tảng thần học của đối thoại cũng chính là đức tin của chúng ta vào Chúa Thánh Thần. Là Thần Khi cứu chuộc và Thần Khí ân sủng, Ngài là dây liên kết bình an giữa những người được rửa tội của các hệ phái Kitô giáo khác nhau; nhưng là Thần Khí sáng tạo, Spiritus Creator, Ngài là một dây liên kết bình an giữa các tín đồ của mọi tôn giáo, cũng như giữa mọi người thiện chí. Thánh Tôma Aquinô viết: “Mọi chân lý, dù đến từ ai, thì cũng đều bởi Chúa Thánh Thần [76].” Cũng như Thần Khí sáng tạo hướng dẫn các tiên tri của Cựu Ước đến với Đức Kitô thế nào (1 Pr 1,11), người Kitô hữu chúng ta cũng tin rằng, bằng một cách mà chỉ mình Thiên Chúa biết, Thần Khí ấy đưa dẫn chúng ta đến với Đức Kitô và tới mầu nhiệm vượt qua trong hành động của Người bên ngoài Giáo Hội. Cũng như Chúa Con không làm gì mà không có Chúa Cha, cũng vậy, Chúa Thánh Thần không làm gì mà không có Chúa Con.

6. Một hòa bình không tôn giáo ?

Nói đúng ra, Tây phương tục hóa ước mong một hình thức khác của hòa bình tôn giáo, một hình thức là kết quả của sự biến mất mọi tôn giáo.

“Hãy tưởng tượng không có Thiên đàng nào,

Cũng dễ thôi nếu bạn cố gắng,

Không có địa ngục nào ở dưới chúng ta,

Không gì khác hơn là bầu trời ở trên chúng ta […]

Hãy tưởng tượng không có quê hương nào […]

Không có lý do nào để giết hay chết,

Cũng không có tôn giáo nào nữa.

Hãy tưởng tượng mọi người,

Sống cuộc sống của họ trong hòa bình […][77]

Bài hát này, được viết do John Lennon, một trong những thần tượng lớn của âm nhạc tạp diễn hiện đại, trên một giai điệu có sức thuyết phục, có một cái gì đó làm cho người ta mơ mộng, khiến cho rất nhiều người thích nó. Nhưng có ít người nhận ra bản chất hoàn toàn không phải là hiếu hòa của nó, vì theo chính lời của tác giả, ý định “chống tôn giáo, chống quốc gia, chống quy ước được bọc đường”.

Phải chăng xây dựng một thế giới trong đó sẽ “không có tôn giáo, không có quốc gia, không có tài sản riêng” là điều đáng mơ ước? Đó lại không phải là điều các chế độ cộng sản toàn trị đã dự tính thực hiện, với những kết quả mà chúng ta đều biết sao?  Hẳn mọi người sẽ hạnh phúc vì trên thế giời không có “lý do để giết chóc” nữa, nhưng nói sao về một thế giới trong đó sẽ không có “lý do để chết” nữa?

Nếu một “giấc mơ” như vậy được thực hiện, thế giới mà người ta nóng lòng chờ đợi sẽ là một thế giới đáng thương nhất và buồn tẻ nhất mà người ta có thể tưởng tượng; một thế giới nhạt nhẽo, trong đó sẽ không còn sự khác biệt nào, nơi mà người ta sẽ được định đoạt để xâu xé nhau, không “sống trong hòa bình”, vì, như René Girard nhấn mạnh, nơi nào mọi người đều muốn cùng một sự việc, nơi đó “ước muốn ngụy trang” được khích động, và cùng với nó là tranh chấp và chiến tranh. Một người khác tung ra khẩu hiệu: “Không có thiên đàng nữa. Không có địa ngục nữa. Không có gì khác hơn là trái đất” (và có lẽ tác giả bài hát đã lấy lại ý tưởng nơi ông ta); nhưng chính người khác này sau đó đã nhận thấy rằng “tha nhân là địa ngục[78].” Địa ngục “ở dưới chúng ta” chuyển chỗ lên “ở giữa chúng ta”.

Sứ điệp của Đức Giáo hoàng dành một đoạn cho những khó khăn bắt gặp ngày hôm nay trong mối tương quan giữa tôn giáo và thế giới tục hóa:

“Liên hệ tới sự tự do bầy tỏ đức tin, một triệu chứng đáng quan tâm khác về sự thiếu vắng hòa bình trên thế giới là do những khó khăn mà cả người Kitô hữu lẫn tín đố các tôn giáo khác thường gặp, là công khai và tự do tuyên xưng những xác tín tôn giáo của mình. […] Có những chế độ áp đặt cho mọi người một tôn giáo độc nhất, trong khi có những chế độ không quan tâm về tôn giáo, tuy không bách hại đạo gắt gao, nhưng lại dùng văn hóa duy trì một sự chế nhạo có hệ thống những niềm tin tôn giáo. Trong mọi trường hợp, quyền căn bản của con người không được tôn trọng, với những hậu quả nghiêm trọng cho sự chung sống hòa bình.” (số 5)

Từ những cố gắng gạt niềm tin tôn giáo ra ngoài lề, chúng ta thấy một dấu chỉ trong chiến dịch, được thực hiện trong các quốc gia và thành phố ở châu Âu cũng như ở châu Mỹ, loại bỏ mọi biểu tượng tôn giáo của lễ Giáng Sinh. Người ta đưa ra lý do là không muốn xúc phạm đến những người thuộc các tôn giáo khác sống giữa chúng ta, đặc biệt những người Hồi giáo. Đây chỉ là một cái cớ. Thực ra, chính thế giới tục hóa từ chối những biểu tượng này, chứ không phải những người Hồi giáo. Những người này không có gì phải chống lại lễ Giáng Sinh Kitô giáo, lễ mà họ cũng kính trọng. Trong kinh Coran, một sourate (chương) dành cho việc đản sinh của Đức Giêsu, nó đáng được biết đến để cổ võ cho cuộc đối thoại và tình thân hữu giữa các tôn giáo:

“Các thiên thần nói với Đức Maria : Thiên Chúa báo tin cho cô Ngôi Lời của Ngài. Người sẽ được gọi là Mêsia, Giêsu [‘Isà] con Đức Maria, được tôn kính trong thế giới này và trong thế giới khác…

Người sẽ nói cho con người, trẻ em nằm trong nôi cũng như người lớn, và Người sẽ vào số những người công chính.

Đức Maria thưa : Lạy Chúa, làm sao tôi sẽ có được một con trai ? Không người đàn ông nao đã gần gũi với tôi. Thiên thần tiếp lời : chính như vậy mà Thiên Chúa tạo dựng điều Ngài muốn. Ngài nói : Hãy có, và sự vật liền có[79].”

Chúng ta hãy tin vào điều không tin được: Một số người Hồi giáo mừng ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu, đi đến chỗ nói rằng “người không tin vào sự đản sinh lạ lùng của Đức Giêsu thì không thể là một tín đồ Hồi giáo[80]”, trong khi đó có những người xưng mình là Kitô hữu lại muốn biến Giáng Sinh thành một lễ hội mùa đông chỉ với những con tuần lộc và những con gấu nhung lông.

Tuy nhiên, là người Kitô hữu, chúng ta không thể chạy theo những oán hận hay bút chiến, ngay cả chống lại thế giới tục hóa. Bên cạnh việc đối thoại và hòa bình giữa các tôn giáo, những người xây dựng hòa bình gặp một trở ngại: trở ngại về hòa bình giữa những người tin và những người không tin, giữa những người có tôn giáo và thế giới tục hóa, thờ ơ hay thù nghịch với tôn giáo. Chúng ta phải trả lời, thậm chí một cách cương quyết, cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta, nhưng hãy làm như lời khuyên của thư Phêrô, “cách hiền hòa và với sự kính trọng” (1Pr 3,15-16).

Hạn từ kính trọng trong trường hợp này không có nghĩa là “kính trọng theo cách con người”, nghĩa là muốn giữ kín Đức Giêsu để không gây ra những phản ứng. Đây là sự kính trọng của một nội tâm mà chỉ mình Thiên Chúa có thể đi vào, và không ai khác có thể vi phạm hay dùng sức mạnh thay đổi. Vấn đề không phải là để Đức Giêsu trong ngoặc, nhưng bày tỏ Đức Giêsu và Phúc Âm của Ngài trong tất cả đời sống chúng ta. Chúng ta chỉ ước mong sao cho những người khác cũng tỏ ra kính trọng như vậy đối với các Kitô hữu, một điều mà cho tới nay rất thường không có.

Gần tới lễ Giáng Sinh, chúng ta có thể nhớ rằng những lời chúng ta nghe trong đêm, trích từ bài ca của các thiên thần: “Bình an dưới thế cho những người Chúa thương.” Điều này có nghĩa là không phải ước mong có bình an, nhưng là đang có bình an. Đó không là một điều mong ước, một nguyện vọng, nhưng là một tin vui. Thánh Lêô Cả nói: “Lễ Giáng Sinh của Chúa là một lễ Giáng Sinh của an bình[81].”

Làm sao dâng lại cho Chúa Cha quà tặng vô biên mà Ngài đã làm cho thế gian khi ban cho thế gian người Con Một của Ngài? Nếu thực sự có một điều hớ hênh không được làm trong dịp lễ Giáng Sinh, chính là dùng món quà mà, vì lầm lẫn, tặng lại cho chính người đã tặng nó cho chúng ta. Vậy mà với Thiên Chúa lúc nào chúng ta cũng có thể làm điều hớ hênh này. Việc cám ơn duy nhất có thể làm là dâng cho Ngài Đức Giêsu là Con Ngài, mà cũng là anh em của chúng ta. Quà tặng duy nhất xứng đáng với Thiên Chúa là Thánh Thể.

Còn đối với Đức Giêsu, chúng ta sẽ dâng quà tặng nào đây? Một bản văn lễ Giáng Sinh của phụng vụ Đông phương nói rằng:

“Lạy Đức Kitô, chúng con có thể dâng gì cho Ngài, để Ngài làm người trên trái đất? Mọi thụ tạo mang lại cho Ngài dấu biết ơn: các tiên thần là lời ca hát, các tầng trời là các tinh tú, trái đất là hang đá, sa mạc là máng cỏ. Còn chúng con, chúng con dâng cho Ngài một người Mẹ trinh nữ[82]!”

(*) Ghi chú của người dịch về Kinh Hòa Bình

Lâu nay người ta nghĩ tác giả của kinh này là thánh Phanxicô Assisi. Thật ra kinh này chỉ được viết ở đầu thế kỷ XX.

Kinh được phổ biến lần đầu tiên trên một tập san tu đức tiếng Pháp năm 1912, như một lời kinh dùng trong Thánh lễ. Năm 1915, một nhóm công giáo Pháp thấy hay, nên trình lên ĐGH Bênêđitô XV, muốn dùng kinh này để cầu xin cho Thế chiến I chấm dứt. ĐGH truyền cho in kinh này trên báo của Tòa Thánh. Sau đó nhật báo La Croix (Pháp) cũng xin phép được phổ biến.

Ở Hoa Kỳ, cũng vào thời này, nhiều người thấy kinh hay nên đã gán cho thánh Phanxicô Assisi là tác giả, rồi in và phân phát rộng rãi để cầu nguyện cho hòa bình cả thế giới.

Bản dịch tiếng Anh được ưa chuộng nhất do dịch giả Johann Sebastian Von Tempelhoff, ofm, ở Nam Phi. Ông đã phổ nhạc và cho lưu hành khắp nơi.

Mẹ Têrêxa đưa bản kinh vào các lời cầu nguyện buổi sáng cho các chị em Hội Thừa sai Bác ái. Mẹ còn muốn cho cộng đoàn đọc kinh này ngày Mẹ nhận giải Nobel Hòa bình năm 1979 ở Oslo (Na Uy).

Chẳng ai rõ vì sao kinh này được gán cho thánh Phanxicô Assisi, nhưng ý tưởng của lời kinh rất phù hợp với lối sống và lời dạy của thánh nhân. Cũng có người cho là một tu sĩ dòng Capucinô cho in bản kinh vào mặt sau tấm ảnh thánh Phanxicô, khiến dân chúng tưởng ngài là tác giả bản kinh.