Buôn Dà Lơngềt (Giáo họ Phaolô) thuộc Giáo xứ Tân Bùi, Giáo hạt Bảo Lộc người Kinh đọc trại đi thành Đạ Nghịch mãi rồi thành quen; nhưng dân tộc Mạ ở đây rất vui khi các Cha, các anh em người Kinh sử dụng lại cái tên đúng của cha ông họ để lại: Dà Lơngềt có nghĩa tiếng Kinh là Dòng Suối Mát… Và hôm nay – ngày 5 tháng 5 năm 2010 – gần 1200 nhân danh người Mạ ở buôn Dà Lơngềt này còn vui mừng hơn bội phần khi được đón tiếp Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn – Giám Mục Giáo Phận Dalat về buôn của mình để dâng Thánh lễ và đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng ngôi Nhà nguyện cho Giáo họ.
Giáo xứ Tân Bùi là Giáo xứ lớn trong Giáo phận kể về số Giáo dân, về các cơ sở để sinh hoạt đạo đức tại các Giáo họ. Mặc dù cách đây vài năm, Đức Cha Phêrô đã cho thiết lập những Giáo xứ mới được tách ra từ những Giáo họ đông Giáo dân như Suối Mơ, Lê Bảo Tịnh; nhưng hiện tại Tân Bùi vẫn là Giáo xứ có số Giáo dân đông. Tính đến ngày 31/7/2009 Giáo xứ có 2400 hộ với 11.400 Giáo dân. Hầu hết các Giáo họ trong Giáo xứ đã có những Nhà nguyện đáp ứng được căn bản những sinh hoạt đạo đức trong Giáo họ. Và Dà Lơngềt có thể là ngôi Nhà nguyện cuối cùng của Giáo xứ.

Mặc dù là một Giáo họ, nhưng Dà Lơngềt có đủ các ban, đoàn thể để sinh hoạt tại Giáo họ cũng như tham gia các sinh hoạt trong Giáo xứ.
Giáo dân Dà Lơngềt 100% là dân tộc Mạ, cuộc sống còn nhiều khó khăn, nên việc hôm nay mới khởi công xây dựng Nhà nguyện cũng là sự nỗ lực lớn của các Cha, các ban, các đoàn thể trong Giáo xứ Tân Bùi và Giáo dân Dà Lơngềt. Nhìn thửa đất để xây dựng ngôi Nhà nguyện hôm nay sẽ thấy được phần nào công và sức của nhiều thành phần dân Chúa.
9 giờ 30, đoàn đồng tế tiến lên lễ đài trong bài Ca nhập lễ của khoảng 100 ca viên Dà Lơngềt và trên 3000 Giáo dân trong và ngoài Giáo xứ tham dự.
Mở đầu Thánh lễ, Đức Cha Phêrô nói: “…Đây là một ước mơ mà chúng ta đã ấp ủ từ gần 15 năm qua. Chúng ta ao ước mọi thành phần trong Giáo phận đều được chăm sóc, phục vụ một cách đích đáng, để đức tin của mình được phát triển và lòng đạo đức của mình được lớn lên. Nhưng đồng thời với sự phát triển đó, chúng ta cũng muốn con người mà Chúa đã tạo dựng, chẳng những là có nam có nữ, có sắc tộc này và có tiếng nói kia mà còn muốn trong đại gia đình của Hội Thánh cũng đều được phát triển. Mặc dù biết rằng: Dà Lơngềt thì rất gần với Tân Bùi, nhưng Dà Lơngềt là một buôn thuần dân tộc Mạ, có ngôn ngữ, có lịch sử, có nền văn hóa riêng… Vậy nếu anh chị Dà Lơngềt mọi cái đều phải sinh hoạt ở Nhà thờ Tân Bùi thì e rằng cái bản sắc riêng của anh em nó mai một. Cho nên anh chị em ở Dà Lơngềt hiểu rằng: Giáo phận mong ước anh chị em ở nơi này phát triển về niềm tin và cả về văn hóa, sắc tộc của mình, nên chấp nhận, giúp đỡ để có một ngôi Thánh đường cho anh chị em. Nơi đó, anh chị em có thể nói với Chúa bằng chính ngôn ngữ của mình và Chúa nói qua lời Kinh Thánh cũng bằng ngôn ngữ của anh em. Anh em cầu nguyện, anh em ca hát bằng tiếng nói, bằng những nét độc đáo của mình. Ngay từ giây phút đầu tiên chuẩn bị làm Nhà thờ chúng ta có cái hướng rõ ràng đó, và tôi tin rằng Giáo phận chúng ta quyết tâm phục vụ, cộng tác, đồng hành để Dà Lơngềt sẽ trở nên một gia đình mà Chúa ưa thích hiện diện…”
Và bài giảng trong Thánh lễ Đức Cha đã chia sẻ:
“Qua ba bài Kinh thánh chúng ta vừa nghe, chúng ta có thể tóm ba ý chính, nói ba ý nhưng cũng tập trung và một điểm chính. Điểm thứ nhất lấy từ bài đọc 2, nói về ý định của Thiên Chúa muốn cứu rỗi mọi người và muốn cho mọi người được nhận biết chân lý. Nhận biết chân lý là nhận biết Đức Giêsu Kytô là người con mà Chúa Cha đã sai đến trong thế gian. Ngài đã chia sẻ thân phận của con người và qua mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh Ngài cứu chuộc loài người. Để những ai tin vào Ngài thì sẽ được sự sống đời đời, đó là chân lý. Chân lý đó không tự mình khám phá ra, nó là một hồng ân Chúa ban và chỉ những ai có lòng khiêm tốn mở tâm hồn của mình để đón nhận thì người đó sẽ hiểu biết và được ơn cứu độ. Chân lý đó Ngài trao lại cho Hội Thánh, để Hội Thánh tiếp tục sứ mạng của Ngài đi rao giảng.
Như trong bài đọc 1 – trích sách Tông đồ Công vụ đã cho thấy: trong hoàn cảnh khó khăn và bức xúc, vì Têphanô đã bị nhà cầm quyền, bị người Do Thái ghét bỏ ném đá cho chết. Họ thấy việc đó làm đẹp lòng nhiều người cho nên họ lại tiếp tục những cuộc bắt bớ, làm cho các tín hữu phải trốn tránh nơi khác. Nhưng khi đi đến nơi khác thì các tín hữu không phải giấu giếm, sợ hãi gì hết, mà lại bắt đầu rao giảng vào chính niềm tin mà họ đã được đón nhận. Cho nên chúng ta thấy trong hoàn cảnh khó khăn thường thì chúng ta chán nản, bỏ bê. Thí dụ như chúng ta ở một nơi quá nghèo hay quá xa Nhà thờ… chúng ta nại vào đó mà chúng ta sống thờ ơ với đức tin của mình. Thì ngược lại chính trong những giây phút khó khăn đó Chúa lại dùng chúng ta, Chúa lại sai chúng ta để có thể đi được nhiều nơi, những nơi bình thường chúng ta không tới. Phải có hoàn cảnh khó khăn thúc đẩy chúng ta, chúng ta mới đến những nơi đó. Nhưng khí chúng ta đến nơi đó thì phải ý thức sứ mạng, nhiệm vụ của một người đã đón nhận tình yêu, tin mừng cứu độ phải chia sẻ cho người khác. Mà không phải chia sẻ bằng lời nói, mà trên hết bằng chứng tá, bằng đời sống của mình. Nếu không có những người đi đầu sống sứ mạng đó, thì chúng ta không có một Tân Bùi ngày nay, và làm gì có một Dà Lơngềt ngày nay.

Vậy làm thế nào chúng ta có thể thực hiện được sứ mạng đó? Bài Phúc âm Thánh Luca cho chúng ta thấy: Chúa Thánh thần đến, Ngài sẽ mở lòng trí kẻ nói người nghe, và người nói sẽ biết phải nói thế nào, người nghe phải biết nghe như thế nào… Và người nói cũng như người nghe được lớn lên trong đức tin, được hiểu biết về chân lý, và đi trong sự thật để được cứu rỗi.
Chúng ta áp dụng ba bài Kinh Thánh vào trường hợp cụ thể của chúng ta. Đặt viên đá đầu tiên để xây dựng ngôi Nhà thờ Dà Lơngềt lấy tước hiệu là Thánh Phaolô trở lại. Trong Giáo phận Dalat rất nhiều Giáo xứ, Giáo họ người dân tộc Thượng cũng lấy Thánh Phaolô trở lại làm bổn mạng. Vì tất cả đều thấy ở nơi Thánh Phaolô một gương thật tuyệt vời. Khởi đầu là một người chống đối Tin mừng, thù nghịch Tin mừng, một người đi tìm cách bắt bớ các Kytô hữu. Nhưng rồi Chúa đã Thánh hóa, thanh tẩy tâm hồn đó để Ngài trở nên một nhà truyền giáo tuyệt vời. Khi Giáo hội nói đến vị truyền giáo không cần nói tên người ta cũng hiểu nói về Thánh Phaolô. Chúng ta chọn Ngài thì chúng ta phải nhìn vào gương của Ngài, nhờ lời Ngài cầu bầu, bắt chước Ngài cũng để trở nên những người rao giảng làm chứng cho Tin mừng của Đức Giêsu Kytô. Không phải làm chứng đâu xa mà làm chứng trên chính buôn Dà Lơngềt này.
Theo chỗ tôi được biết, ở buôn Dà Lơngềt này có hơn 1100 Kytô hữu dân tộc Mạ, và ở đây các anh chị có tay nghề dệt thổ cẩm rất đẹp, một số cửa hàng ở Saigon đã lên tận đây đặt hàng thổ cẩm của anh chị em. Và được biết rượu Cần của anh chị em cũng danh tiếng lắm. Nói về rượu Cần nếu anh chị em uống những dịp lễ hội hè…tôi ủng hộ. Vì uống rượu Cần là một phong tục của người Thượng, một phong tục đáng trân trọng. Một cái chóe, một cái cần có khi cả làng đều ngồi chung với nhau, có khi kéo dài một tiếng thậm chí có khi một đêm… say rồi thì cũng nằm đó thôi. Nhưng khi chúng ta bắt đầu chuyển qua rượu đế thì con người của anh chị em biến đổi, không còn nét hiền hòa, nét đẹp, nét nhu mì của người Mạ nữa. Cho nên khi Giáo phận nghĩ đến ngôi Nhà thờ cho anh chị em, là Giáo phận muốn nghĩ đến ở nơi này chỉ tồn tại rượu Cần và cách uống theo phong tục của người Mạ. Anh chị em không việc gì phải bắt chước việc khác không tốt đẹp. Nên đó là lý do anh chị em ở đây phải là những chứng tá Tin mừng. Khi người ta nói đến Dà Lơngềt thì người ta nói đến thổ cẩm và rượu Cần với những nét đẹp đặc trưng được duy trì. Muốn duy trì anh chị em phải biết gắn bó, kết hợp với nhau, nâng đỡ nhau…và như vậy Tin mừng sẽ được cắm vào trên vùng đất này theo cách thức, phong tục của người Mạ.
Trước giờ lễ tôi đã có ghé thăm ca đoàn một chút và có bỡ ngỡ, vì mấy năm trước ghé thăm thì thấy ca đoàn Dà Lơngềt chưa bề thế như thế này. Ca đoàn và giảng viên giáo lý là hai thành phần nòng cốt, trẻ phải cố gắng hết sức. Các con nhìn bao nhiêu người dự lễ cầu nguyện cho chúng con, cầu nguyện cho Nhà thờ hình thành, chúng con phải có trách nhiệm xây dựng ngôi nhà của Chúa cho thật tốt đẹp.
Tôi cũng có thấy những dãy ghế ghi dòng chữ quý khách, tôi cũng muốn dừng lại nhưng không có giờ. Tôi muốn dừng lại để cám ơn; có thể anh chị em ở từ những nơi xa đến đây vì có lòng quý mến Cha sở , các Cha phó, có lòng quý mến đối với các dì, với anh chị em ở đây. Đến để cầu nguyện, đến để chia sẻ những suy nghĩ của mình. Tôi luôn luôn nhắc nhở với người Kinh, họ phải chịu một trách nhiệm lớn trong cái cách liên hệ với người dân tộc Thượng; anh chị em Thượng vừa nghèo, vừa thiểu số vừa hạn chế sự hiểu biết… cho nên dễ bị sự cám dỗ lôi cuốn; chúng ta phải đem tình thương Chúa để giúp đỡ và tránh những gương mù, gương xấu. Như vậy mục đích của chúng ta xây dựng ngôi Nhà thờ này mới đạt được…”.
Bước vào phần thứ hai trong Thánh lễ, sau khi Cha đại diện Đaminh Nguyễn Chu Truyền đọc văn thư của Tòa Giám mục Dalat, cho phép xây dựng ngôi Nhà thờ ở Dà Lơngềt, Đức Cha Phêrô đã tiến hành làm phép diện tích xây dựng và làm phép viên đá đầu tiên. Và cũng chính tay Đức Cha đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi Nhà thờ này.
Phần cuối Thánh lễ Cha Giuse Nguyễn Đức Cường – Chánh xứ Tân Bùi đã đọc lời cảm tạ Đức Cha và Ngài cũng đã thay mặt Giáo dân có lời chia tay với Đức Cha Phêrô. Một Giáo dân Dà Lơngềt cũng đại diện đã lên tỏ bày tình cảm của buôn mình và dâng tặng những kỷ vật mang nét đặc trưng riêng của người Mạ đến với Đức Cha.
Thánh Lễ tại Dà Lơngềt sáng nay, là Thánh lễ cuối cùng của Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn – Giám Mục Giáo phận Dalat – với các Cha đổng tế và Giáo dân có mặt cùng hiệp dâng.
16 giờ chiều mai, ngày 6 tháng 5 năm 2010 Đức Cha Phêrô ra Hà Nội nhận sứ vụ mới.
Mọi người con trong Giáo phận sẽ cầu xin Chúa luôn ban bình an cho Đức Cha.
Nguyễn Thành Trung
Xuân Cường









