“Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. (Mc 10, 22)
BÀI ĐỌC I: Hc 42, 15-26 (Hl 15-25)
“Các công trình của Chúa đầy ánh vinh quang của Người”.
Trích sách Huấn Ca.
Tôi sẽ ghi nhớ công trình của Chúa, và sẽ thuật lại những điều tôi đã thấy. Nhờ lời Chúa mà Chúa đã thực hiện những kỳ công. Mặt trời chiếu soi vạn vật, và công trình của Chúa đầy ánh vinh quang của Người.
Nào Chúa đã không ban cho các thánh được cao rao các việc kỳ diệu của Người, những việc mà Chúa toàn năng đã củng cố trong vinh quang của Người sao?
Người dò xét vực thẳm và lòng con người, thấu biết những mưu chước của họ, vì Chúa thấu suốt mọi sự và theo dõi những dấu thời đại, tuyên bố những gì thuộc về dĩ vãng và hậu lai, tỏ bày những dấu vết các việc ẩn kín. Không một tư tưởng nào mà Người không biết, không một lời nào có thể giấu được Người.
Người sắp đặt những kỳ công sự khôn ngoan của Người. Người có trước muôn đời và tồn tại muôn thuở, không thêm không bớt, không cần đến vị cố vấn nào. Mọi công trình của Người thực đáng quý chuộng, và như những ánh lửa người ta có thể ngắm nhìn. Mọi vật ấy đều sống động và tồn tại muôn đời, và vâng phục Người trong mọi hoàn cảnh. Tất cả đều có từng đôi và cái này đối diện với cái nọ, và Người không làm chi khuyết điểm. Vật này làm nổi bật vẻ đẹp cho vật kia. Và ai có thể nhàm chán nhìn xem vinh quang của Người?
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 32, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9
Đáp: Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành (c. 6a).
Xướng:
1) Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. Hãy ca mừng Người bài ca mới, hát mừng Người với tiếng râm ran.- Đáp.
2) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng của Chúa. – Đáp.
3) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng. – Đáp.
4) Toàn thể địa cầu hãy tôn sợ Chúa, mọi người sống trong vũ trụ hãy kính nể Người. Vì chính Người phán dạy mà chúng được tạo thành, chính Người ra lệnh mà chúng trở nên thực hữu. – Đáp.
Tin mừng: Mc 10, 46-52
46 Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ, và một đám đông, thì có con ông Timê tên là Bartimê, một người mù ăn xin đang ngồi ở vệ đường.
47 Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi”.
48 Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua Ðavít , xin thương xót tôi”.
49 Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”.
50 Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. 51 Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”.
52 Chúa Giêsu đáp: “Ðược, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.
SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa
CỬA SỔ TÂM HỒN
“Anh muốn tôi làm gì cho anh ? Thưa Thầy xin cho tôi nhìn thấy được”… “Cứ về đi, lòng tin của anh đã cứu chữa anh…” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và theo Người lên đường. (Mc 10,51-52)
Suy niệm: Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Nhờ cặp mắt chúng ta có thể nhận biết và tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Vì chúng ta sáng mắt nên nhiều khi chúng ta ít quan tâm đến sự quan trọng của đôi mắt. Chúng ta cứ thử bịt mắt lâu giờ mới cảm nhận được sự đau khổ cùng cực của những người bị mù, cũng như nỗi khao khát của họ muốn được thấy ánh sáng. Do đó chúng ta dễ hiểu tại sao anh mù Ba-ti-mê vất áo choàng và nhảy chồm lên đến gần Chúa khi Chúa gọi anh. Chắc chắn lúc đó anh rất vui sướng vì biết mình sắp sửa được thoát khỏi bóng tối, sắp sửa được nhìn thấy ánh sáng.
Mời Bạn: Anh mù đã kêu xin Chúa cứu chữa dù người ta cấm cản anh. Càng ngăn cấm anh càng kêu lớn hơn. Anh không xin tiền, xin gạo, xin bánh như mọi khi, nhưng xin được nhìn thấy. Thái độ vất áo choàng, chạy chồm đến với Chúa chứng tỏ anh có lòng tin sâu xa mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa. Chính niềm tin này mà Chúa đã chữa anh và khi được sáng mắt anh đã đi theo Chúa. Thái độ và hành động của anh là mẫu gương cho bạn. Phần bạn, bạn làm thế nào để cặp mắt tâm hồn của bạn luôn trong sáng ?
Sống Lời Chúa: Quyết tâm gìn giữ cặp mắt tâm hồn không bị hoen ố bởi những phim ảnh hình ảnh xấu.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con biết bắt chước anh Ba-ti-mê sẵn sàng và dứt khoát vứt bỏ mọi quyến luyến lệch lạc để nhảy đến với Chúa trong Bí tích giải tội để cặp mắt tâm hồn luôn được trong sáng. Amen.
B/ Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng
“Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót con”.
Lời van xin này không chỉ là lời van xin riêng rẽ của một người hành khất có tên là Bartimê ngồi ăn xin bên vệ đường thành Giêricô. Nhưng có thể nói đây là lời van xin tiêu biểu cho cả một nhân loại đang lầm than trong cảnh mù loà tăm tối của tội lỗi, đang kêu gào xin được Thiên Chúa thương xót.
Hôm đó Chúa Giêsu đang dẫn đầu cả một đoàn người tiến về Giêrusalem. Họ theo Chúa với niềm phấn khởi và hy vọng, vì họ tin rằng chắc chắn lần này Chúa Giêsu sẽ về giải phóng Giêrusalem và sẽ làm vua, đem lại độc lập và tự do cho đất nước. Như vậy là cả cái đoàn người đang theo Chúa này, tất cả họ đều sáng mắt, nhưng lại chẳng ai nhận ra Chúa Giêsu là Đấng nào. Trong khi đó thì một người mù không trông thấy gì, nhưng đôi mắt tinh thần của anh lại sáng suốt, khiến anh nhìn thấy con người Đức Giêsu và nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế khi gọi Ngài là Con Vua Đavít. “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót con”.
Người ta càng cản ngăn anh thì anh càng kêu to. Và tiếng kêu của anh đã thấu đến tai Chúa, Ngài dừng lại, cho gọi anh tới. Và khi tiếng gọi của Chúa vừa tới tai anh, đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của con người lầm than này. Vì vừa nghe tiếng Chúa gọi, anh vội vất áo choàng, nhảy chồm dậy mà đến cùng Chúa Giêsu. Anh cởi tung áo choàng, vất sang một bên, một cử chỉ muốn cởi tung và vất bỏ cái số phận đen tối, chết chóc, vẫn bao trùm lên anh từ bấy lâu nay. Như vậy, khi Lời Chúa vừa tới tai anh thì dường như phép lạ đã xảy ra rồi. Lập tức anh thấy được và theo Chúa Giêsu lên đường.
Theo chúa Giêsu lên đường. Đó chính là điểm chính yếu của toàn bộ câu chuyện. Chúa chữa anh ta khỏi mù, không phải để anh ta thấy đường mà tiếp tục đi ăn xin, tiếp tục số kiếp lầm than. Nhưng chữa ta khỏi mù để thấy đường mà theo Chúa.
Tất cả chúng ta cũng đã từng sống trong cảnh mù loà tăm tối của tội lỗi. Nhưng điều quan trọng không phải là vui mừng vì được cứu rỗi, nhưng là hãy bắt chước anh mù Bartimê: Hãy chỗi dậy mà nhập vào đoàn người đi theo Chúa.
C/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
ÁNH SÁNG ĐỨC TIN
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Năm Tuần 8 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa.
Chúa đã an bài mọi việc luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, vì thế, câu trả cho mọi đau khổ trên trần gian này cũng không nằm ngoài tình yêu quan phòng của Chúa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, sách Gióp cho thấy: Những người bạn của ông Gióp chẳng hiểu gì về những đau khổ của ông. Họ chỉ lặp lại những công thức mà họ đã thuộc nằm lòng. Thấy người ta đau khổ, mà nói năng như thế, thì thật là, không thể giúp được gì. Giả như, có thánh Phaolô ở đó, chắc chắn, chúng ta sẽ được nghe những lời đầy xác tín: Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi.
Chúa đã an bài mọi việc luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, tất cả đều diễn tiến theo quy luật tình yêu của Chúa, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Ghêgôriô Cả nói: Thật thế, không có gì diễn tả luật Đức Kitô cách thích đáng hơn đức ái; luật ấy, chúng ta giữ trọn được khi chúng ta lấy tình thương mà mang gánh nặng cho anh chị em mình. Luật ấy là luật đa diện, vì đức ái có mặt trong mọi hành vi của các nhân đức khác nhờ sự nhiệt tâm ân cần. Luật đó khởi đầu với hai điều răn, nhưng khai triển thành vô số các điều răn khác.
Chúa đã an bài mọi việc luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, và chúng ta phải loan báo những kỳ công của Người bằng lối sống ngay lành của chúng ta, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, thánh Phêrô nói: Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi họ vu khống, coi anh em là người gian ác, họ cũng thấy các việc lành anh em làm, mà tôn vinh Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm. Vì thế, trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 99, vịnh gia cũng đã kêu gọi: Hãy vào trước thánh nhan Chúa giữa tiếng hò reo. Bởi vì Chúa nhân hậu, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Trong bài Tin Mừng, thánh Máccô tường thuật lại: Đức Giêsu hỏi anh mù Batimê: Anh muốn tôi làm gì cho anh? Anh mù đáp: Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được. Người nói: Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh! Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. Chỉ có những ai bước đi trong ánh sáng của Chúa, mới có thể nhìn thấy được nẻo chính đường ngay: con đường dẫn đến sự sống. Chỉ với con mắt đức tin, chúng ta mới nhìn thấy được tình yêu quan phòng của Chúa ẩn đằng sau những gì mà chúng ta cho là mất mát, thua thiệt. Chúa đã an bài mọi việc luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, nhằm để chúng ta được bình an hạnh phúc, nhưng vì, đôi mắt của chúng ta cứ dõi theo những dục vọng của thế gian, cho nên, chúng ta cứ thấy cuộc đời mình là tai họa, bất an. Ước gì chúng ta biết phó mình trong bàn tay quan phòng của Chúa, cho dẫu, hiện thực đời sống có ra sao, chúng ta vẫn xác tín rằng: Chúa luôn yêu thương bảo bọc chúng ta, để qua cách sống của chúng ta, người khác cũng nhìn thấy Chúa giữa những thăng trầm, biến động của cuộc sống này. Ước gì được như thế!
D/ Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist
E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
Người mù thành Giêricô
1. Thánh Marcô thuật lại cho chúng ta việc Đức Giêsu chữa người mù từ mới sinh tại cổng thành Giêricô. Lời kêu van của người mù :”Lạy Con vua Đavít, xin thương xót tôi”, cho thấy dân chúng tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng khôi phục và giải phóng dân tộc. Nhưng khi Đức Giêsu chữa lành cho người mù được sáng mắt, Ngài muốn hướng người ta về sứ mạng đích thực của Ngài là cứu độ muôn dân. Ngài đến để giải thoát nhân loại khỏi đau khổ và tối tăm của sự dữ. Như thế, tin vào Đức Giêsu, con người mới được ánh sáng, được giải phóng và được tự do làm con Thiên Chúa.
2. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Nhờ cặp mắt chúng ta có thể nhận biết và tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chúng ta có thể nhìn thấy mọi người, mọi vật. Có những người mù từ thuở mới sinh, hay bị mù do tai nạn, bệnh tật. Họ giống như ngọn đèn bị tắt, suốt đời phải chịu lần mò trong bóng tối, không còn đuợc hưởng ánh sáng mặt trời và những vẻ đẹp của thế tới sự sáng, họ phải buồn phiền khổ cực biết bao. Vì thế, anh mù thành Giêricô hôm nay đang phải ở trong tình trạng đó, anh đau khổ nên anh đã phải tha thiết xin Chúa giúp đỡ :”Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương xót tôi”.
3. Hôm nay, nghe biết Đức Giêsu đi qua, anh mù kêu xin Chúa cứu chữa, người ta cấm anh, anh càng kêu lớn hơn. Anh không xin tiền, xin gạo, xin bánh như mọi khi, nhưng xin được xem thấy. Khi nghe tiếng Đức Giêsu gọi, anh vội vàng vứt áo choàng, nhảy chồm về phía Chúa. Lời kêu xin và thái độ của anh chứng tỏ anh tin tưởng sâu xa mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa, chính vì niềm tin này Đức Giêsu đã cứu chữa anh, và khi được sáng mắt anh đã đi theo Chúa.
4. Mắt là cảm hứng cho thi sĩ làm thơ, cho nhạc sĩ viết nên cung nhạc. Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc. Có người nhìn đôi mắt như mùa thu. Có người nhìn đôi mắt như dòng sông. Trong văn chương và nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng đẹp. Trái lại khi nói về mắt, Phúc âm lại nói về đôi mắt mù. Mù đôi mắt thân xác đã bất hạnh, còn mù đôi mắt tâm hồn lại là một bất hạnh lớn. Mù đôi mắt tâm hồn là “mù” mà không chấp nhận mình “mù”, vì nghĩ rằng mình vẫn sáng suốt để nhìn ra Chúa. Nhưng đâu ngờ, đàng sau đôi mắt ấy, có thể chỉ là một màn đêm lạnh lẽo. Một tâm hồn trống trải, buồn tênh. Chẳng buồn nghe và thực thi Lời Chúa nữa (Hosanna).
5. Ngày nay trên thế giới số người mù về thể xác có lẽ suy giảm đi đôi chút, nhưng ai dám nói số người mù về tinh thần đã giảm đi ? Số người “thấy mà xem chẳng thấy”(kinh cám ơn rước lễ xưa) thì rất nhiều. Người ta biết mọi cái trên thế giới, kể cả cung trăng, một số hành tinh và một vài vì sao, nhưng có cái gần nhất người ta lại không thấy, đó là cái “tôi” của mình, là con người của mình, là bản thân mình.
Nói chi đến thực tại siêu nhiên, người ta mù tịt trước những vấn đề thiêng liêng. Anh mù Bartimê đã nhìn ra Đức Giêsu là ai, là Đấng Cứu Thế trong khi đám đông chưa nhìn ra con người thật của Ngài. Họ có con mắt sáng, nhưng lòng họ vẫn còn u tối. Họ cần được Chúa soi sáng cho họ để họ nhìn ra chân lý.
Còn chúng ta, những người sáng mắt thì sao ? Không những chúng ta phải cảm tạ Chúa, phải quí trọng giữ gìn, bảo vệ tâm hồn nữa. Nếu chúng ta đã lỡ để cho tâm hồn không còn trong sáng vì nhìn xem những hình ảnh xấu…thì chúng ta hãy bắt chước anh Bartimê cương quyết, can đảm và dứt khoát ném áo choàng, đến với Chúa Giêsu trong phép Giải tội để xin Ngài chữa lành, lấy lại ánh sáng tươi đẹp cho đôi mắt.
6. Truyện : Chiếc đèn lồng.
Có một người mù, một đêm kia đến thăm người bạn thân. Hai người trò truyện thân mật với nhau cả mấy tiếng đồng hồ. Trời đã khuya, khi chia tay nhau, người bạn sáng mắt tặng anh một chiếc đèn lồng để đi đường cho an toàn. Nhưng người mù nói :
– Tôi không cần đèn. Đối với tôi, tối và sáng như nhau.
Người bạn trả lời :
– Tôi biết anh không cần đèn để soi đường, nhưng nếu anh không cầm một cái đèn thì trời tối người ta có thể đụng phải anh, nguy hiểm lắm, anh nên cầm đi.
Nghe hợp lý, anh mù ra về với chiếc đèn lồng trong tay. Đi được một quãng đường, đột nhiên anh bị một người đụng phải anh. Với vẻ tức giận, anh mù nói :
– Người nào kỳ vậy, đui hay sao mà không thấy đèn của tôi ?
Người kia đáp :
– Xin lỗi anh, đèn của anh tắt rồi nên tôi không trông thấy. Mong anh thông cảm.
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy anh mù tưởng mình “thấy”, còn người kia không thấy đèn. Nhưng ngược lại, chính anh mù mới không thấy đèn mình tắt. Tác giả câu truyện kết luận : Con người tưởng mình thấy nhiều chuyện, nhưng lại quên hay cố ý quên nhiều cái mình không thấy.
Nhiều khi cuộc đời chúng ta chỉ là chiếc lồng đèn bị tắt lửa không còn ánh sáng để soi chiếu cho người khác, chúng ta bắt chước anh mù Bartimê mà kêu lên :”Lạy Chúa, xin thương xót con”.

