“Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức,
vì anh em không biết khi nào thời ấy đến”.
(Mc 13,33)
BÀI ĐỌC I: Is 63, 16b-17; 64, 1. 3b-8
“Xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Lạy Chúa, Chúa là Cha và là Đấng Cứu Chuộc chúng con: danh Chúa đã có từ muôn đời. Lạy Chúa, tại sao Chúa để chúng con đi lạc xa đường Chúa, và làm cho tâm hồn chúng con trở nên chai đá, không còn biết kính sợ Chúa nữa ? Vì các tôi tớ Chúa, các chi tộc thừa hưởng gia nghiệp Chúa, xin hãy đoái nhìn lại.
Xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống: các núi đồi rung chuyển trước tôn nhan Chúa. Chúa đã ngự xuống và các núi đồi rung chuyển trước tôn nhan Chúa. Đó là việc từ xưa đến nay chưa từng có ai nghe thấy; lạy Chúa, không tai nào nghe thấy không mắt nào nhìn thấy một chúa nào khác ngoài Chúa đã dành những hồng ân cho những ai trông đợi Chúa. Chúa đã đón tiếp kẻ hân hoan thi hành công lý, và nhớ đến Chúa khi đi trong đường lối Chúa.
Này Chúa thịnh nộ, vì chúng con đã phạm tội. Chúng con đã luôn luôn ở trong tình trạng tội lỗi, thì làm sao sẽ được cứu rỗi ? Tất cả chúng con đều đầy vết nhơ, và công nghiệp chúng con đều như chiếc áo dơ bẩn.
Và không còn ai kêu cầu thánh danh Chúa, không còn ai tỉnh thức để bám lấy Chúa. Chúa đã ẩn nấp không cho chúng con nhìn thấy nữa, và Chúa đã phó mặc chúng con cho quyền lực tội lỗi. Tuy nhiên, lạy Chúa, Chúa là Cha chúng con, chúng con là đất sét, còn Chúa là người thợ gốm, tất cả chúng con đều do tay Chúa làm nên.
ĐÁP CA: Tv 79, 2ac và 3b. 15-16. 18-19
Đáp: Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin cho chúng con được phục hồi, xin tỏ thiên nhan hiền từ Chúa ra, hầu cho chúng con được ơn cứu sống (c. 4).
1) Lạy Đấng chăn dắt Israel, xin hãy lắng tai! Chúa ngự trên các Vệ Binh Thần, xin hiện ra trong sáng láng. Xin thức tỉnh quyền năng của Chúa, và ngự tới để cứu độ chúng con. – Đáp.
2) Lạy Chúa thiên binh, xin thương trở lại, tự trời cao xin nhìn coi và thăm viếng vườn nho này. Xin bảo vệ vườn nho mà tay hữu Ngài đã cấy, bảo vệ ngành nho mà Ngài đã củng cố cho mình. – Đáp.
3) Xin Chúa ra tay bang trợ người ở bên tay hữu Chúa, con người mà Chúa đã củng cố cho mình. Chúng con sẽ không còn rời xa Chúa nữa, Chúa cho chúng con được sống, và chúng con ca tụng danh Ngài. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: 1 Cr 1, 3-9
“Chúng ta mong chờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tỏ mình ra”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, chúc cho anh em đầy ân sủng và bình an của Thiên Chúa là Cha chúng ta, và của Đức Giêsu Kitô.
Tôi hằng cảm tạ Chúa thay cho anh em, vì ơn đã ban cho anh em trong Chúa Giêsu Kitô. Vì chưng, trong Ngài, anh em được tràn đầy mọi ơn: ơn ngôn ngữ và ơn hiểu biết, đúng như Chúa Kitô đã minh chứng nơi anh em, khiến anh em không còn thiếu ơn nào nữa trong khi mong chờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tỏ mình ra. Cũng chính Ngài sẽ ban cho anh em bền vững đến cùng, không có gì đáng trách trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ngự đến. Thiên Chúa là Đấng Trung Tín, đã kêu mời anh em hiệp nhất với Con của Người, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
TIN MỪNG: Mc 13,33-37
33 “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. 34 Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức. 35 Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.
36 Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. 37 Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!”
SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa
CANH THỨC
“Người giữ cửa phải canh thức.” (Mc 13,34)
Suy niệm: Truyện cổ Hy Lạp có kể chuyện người Hy Lạp, để chiếm thành Troa, dùng kế dâng cho vua thành ấy một con ngựa gỗ khổng lồ. Nào ngờ trong bụng con ngựa gỗ ấy chứa đầy quân lính. Nửa đêm toán lính chui ra, mở cửa thành cho đại quân tiến vào chiếm thành. Ngày nay người ta dùng điển tích ấy – gọi là “trojan” – để đặt tên một thứ vi-rút nguỵ trang có vẻ vô hại, nhưng một khi đột nhập vào hệ thống máy tính rồi, nó sẽ phá hoại dữ liệu, đánh cắp thông tin máy chủ, tác hại khôn lường. Chúa Giê-su dùng hình ảnh “người giữ cửa phải canh thức” có ý nhắc ta phải sẵn sàng đón Chúa đến bất cứ lúc nào, và cũng để đề phòng kẻ trộm nhằm lúc bất ngờ nhất đào ngạch khoét vách, lẻn vào căn nhà tâm hồn tác hại từ bên trong.
Mời Bạn: Thực trạng xã hội cho thấy người ta đã mở ‘cổng sau; cho những “trojan” đột nhập và ngấm ngầm tác hại lên nếp sống của cá nhân, cộng đoàn. Các công ty dám xả nước thải ra sông ra biển mà không áy náy vì đã từ lâu, người ta vẫn ‘vô tư’ quét rác rưởi ra đường phố hay xuống cống rãnh. Báo chí dám đưa thông tin dối trá, nhà trường dám gian lận bài thi, giả bằng cấp, vì đã từ lâu người ta cầu an hưởng thụ, không dám chấp nhận thách đố để sống chân thật, công bằng. Lương tâm là người giữ cửa tâm hồn bạn phải canh thức, để không lẫn lộn coi điều xấu thành điều tốt. Để người giữ cửa tâm hồn của bạn tỉnh thức cần có một nếp sống tiết độ và chuyên cần cầu nguyện.
Sống Lời Chúa: Lấy “Trung thực và Công bằng” làm châm ngôn sống.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho Danh Chúa vinh hiển, cho Nước Chúa trị đến.
B/ Giám mục Antôn Vũ Huy Chương
CẦN BIẾT YÊU THƯƠNG HƠN LÀ PHÊ PHÁN
Lời Chúa trong Bài đọc I (x. Is 63.16b-17.19), nhắc nhớ việc Chúa đến lần thứ nhất, cho chúng ta thấy tình trạng dân Israel bị lưu đày nơi đất khách quê người rất khốn khổ. Ngôn sứ Isaia đã thay mặt dân bày tỏ rằng: “Chúng tôi đã luôn ở trong tình trạng tội lỗi. Tất cả chúng tôi đều đầy vết nhơ”, nhưng “xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống” để tha thứ và cứu thoát, bởi lẽ “Chúa là Cha chúng con, chúng con là đất sét, còn Chúa là người thợ gốm, tất cả chúng con đều do tay Chúa làm nên”. Đó cũng là tâm tình cầu nguyện của Mùa Vọng nhắm tới việc Chúa lại đến, được diễn tả trong Đáp ca (TV 79) với niềm tin của dân Israel chính là vườn nho mà Chúa đã trồng và là đoàn chiên do Chúa chăn dắt: “Lạy Chúa tể càn khôn, xin đoái lại. Xin trở về thăm nom vườn nho cũ”. Nhắm đến việc trông đợi Chúa đến lần thứ hai, bài Tin Mừng (x. Mc 13,33-37) chỉ rõ thái độ cần phải có là tỉnh thức, như người đầy tớ chờ chủ về bất ngờ giữa đêm khuya.
Tỉnh thức là thái độ luôn gắn bó với Ðức Giêsu Kitô, biết noi gương Ngài nhận ra và thi hành thánh ý Chúa Cha. Lời Chúa Giêsu được thánh Marcô ghi lại trong Bài Tin Mừng (x. Mc 13,33-37): “Các con hãy coi chừng, hãy tỉnh thức và cầu nguyện…, vì các con không biết lúc nào chủ nhà trở về…, kẻo khi ông trở về thình lình, bắt gặp các con đang ngủ”. Cầu nguyện để biết ý thánh ý Chúa. Tỉnh thức để noi gương Chúa Giêsu “yêu thương như Thầy yêu thương” (Ga 15, 12). Thánh Gioan Tông thấm nhuần thánh ý đó nên đã định nghĩa “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,16), và khẳng định rằng: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1 Ga 4, 11).
Đối với chúng ta hôm nay, lời thánh Phao-lô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô (1Cr 1,3-9) vẫn mang tính thời sự. là một cộng đoàn sinh động nhưng cũng gặp nhiều khó khăn nội bộ: Chia rẽ, kiện tụng, luân lý suy đồi… Vì thế, trước hết Thánh Phao-lô nhắc họ nhớ đến muôn ân sủng mà Thiên Chúa đã ban, để họ biết đáp lại những ân sủng đó, kiên trì trong những ân sủng ấy để họ “không có gì đáng trách trong ngày Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ngự đến”. Thánh Phaolô bày tỏ niềm xác tín rằng :“Thiên Chúa là Ðấng Trung Tín, đã kêu mời anh em hiệp nhất với Con của Người, là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.
Trong diễn văn khai mạc Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 37 tại Lisbon, Bồ Đào Nha vào đầu tháng 8 năm 2023, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhớ rằng: “Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa gọi, vì Người yêu thương chúng ta. Mỗi ngày, Thiên Chúa không ngừng gọi chúng ta để ôm lấy và khích lệ, để biến chúng ta thành một kiệt tác độc nhất vô nhị”. Khi trả lời những băn khoăn về việc liệu Giáo hội có chỗ cho những người sai lỗi không, ĐTC khẳng định rằng: “Trong Giáo hội luôn có chỗ cho mọi người, cho những người đã phạm sai lầm, những người đã sa ngã, những người đang vất vả chiến đấu. Thiên Chúa là người dang rộng vòng tay. Vì thế, hãy loan truyền cho nhau sứ điệp yêu thương của Thiên Chúa”.
Như thế, chúng ta cần biết tín thác vào Tình Yêu của Thiên Chúa và biết yêu thương hơn là phê phán nhau. Đức Thánh Cha Phanxicô đã có lần nhắc đến những căn bệnh có thể thường xảy ra trong đời sống của Giáo hội, đặc biệt là bệnh ngồi lê đôi mách và nói hành nói xấu. Về bệnh này, ngài nói rằng: “Tôi đã nói nhiều về bệnh này nhưng sẽ không bao giờ nói cho đủ. Đó là một bệnh nặng. Người mắc bệnh này trở thành kẻ sát nhân máu lạnh, hủy hoại danh thơm tiếng tốt của đồng nghiệp và anh em mình. Đó là bệnh của những người hèn nhát, không can đảm nói thẳng, mà chỉ nói sau lưng”. Thánh Bônaventura chỉ ra 4 kiểu nói xấu: một là, khi người khác có sự tốt còn kín, ta tìm cách giấu đi kẻo có ai biết mà khen; hai là, khi người khác có sự tốt đã trống, ta tìm cách dèm pha để người ta nghi ngờ mà bớt khen; ba là, khi người khác có sự xấu còn kín, ta tìm cách khui ra để người ta biết mà chê; bốn là, khi người khác có sự xấu đã trống, ta tìm cách tuyên truyền rộng ra để người ta càng biết. Cuối bài nói chuyện, ĐTC kêu gọi mọi người cần “tăng trưởng trong tình hiệp thông… để chu toàn sứ mạng”, và cầu xin Đức Mẹ giúp chữa lành những căn bệnh thường gặp trong Giáo hội.
C/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
QUYẾT TÂM LÀM VIỆC THIỆN MÀ ĐÓN CHỜ CHÚA ĐẾN
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Mùa Vọng Tuần I, các nhà phụng vụ muốn chúng ta cầu xin cho mình: quyết tâm làm việc thiện mà đón chào Con Chúa đang ngự đến xét xử trần gian, nhờ đó, chúng ta sẽ được Người cho ở bên hữu và gọi vào hưởng phúc Nước Trời.
Trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, vào những thời khắc bi thảm nhất của cuộc chiến bại, ngôn sứ Isaia dạy cho Dân Chúa biết cách thế để lại được Chúa thương, không phải bằng những nghi lễ lỗi thời, nhưng bằng một cuộc trở về tận thâm tâm: Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa. Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình… Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông.
Trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Syrilô đã trích lời của ngôn sứ Malakhi để cho thấy: Chúa sẽ giáng lâm lần thứ hai là để xét xử trần gian: Ai chịu đựng nổi ngày Người đến? Ai đứng vững được khi Người xuất hiện? Người như lửa của thợ luyện kim, như bột giặt của thợ giặt. Người sẽ ngồi để nung nấu và thanh tẩy, và thánh nhân cũng mượn lời của thánh Phaolô để nhắc nhở chúng ta: phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.
Bài đọc một của Thánh Lễ, bài Đáp Ca, và Câu Tung Hô Tin Mừng là tâm tình nài xin Chúa trở lại xót thương và ban ơn cứu độ. Ngôn sứ Isaia xin Chúa xé trời mà ngự đến, cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan. Người ta chưa nghe nói đến bao giờ, tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy: có vị thần nào, ngoài Chúa ra, đã hành động như thế đối với ai tin cậy nơi mình. Vinh gia, qua Thánh Vịnh 79, đã cầu xin: Lạy Thiên Chúa, xin phục hồi chúng con, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ.
Bài Tin Mừng chỉ vỏn vẹn có năm câu, mà câu nào cũng có từ “canh thức”. Canh thức vì không biết ngày nào giờ nào, và không biết khi nào Chúa đến. Qua các bài đọc và những yếu tố đi kèm, mà các phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay, chúng ta nhận thấy rằng: “Canh thức” chính là quyết tâm làm việc thiện trong khi chờ Chúa đến xét xử trần gian.
Chắc chắn, “canh thức” như thế thì không dễ chút nào. Do đó, trong bài đọc hai, thánh Phaolô đã khích lệ chúng ta: anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người. Chính Người sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô.
Ân sủng luôn cần có sự tự do cộng tác của chúng ta. Câu Tung Hô Tin Mừng mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay: Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa và ban ơn cứu độ cho chúng con. Tình yêu đáp đền tình yêu, ân tình đền đáp ân tình. Một người con đi học xa nhà, nếu người đó cảm nhận được tình yêu của cha mẹ đã phải vất vả, chắt chiu từng đồng, để có tiền, gửi cho mình ăn học, thì người đó sẽ chăm chỉ học hành, và cố gắng sống tốt để không phụ ân tình mà cha mẹ đã dành cho mình. Ngược lại, nếu không nhận thấy tình yêu của cha mẹ, người đó sẽ dùng những “đồng tiền mồ hôi nước mắt” của cha mẹ mà phung phí vào việc chơi bời lêu lỏng, và trở nên hư đốn làm khổ cha khổ mẹ.
Nước Trời luôn mở cửa chào đón chúng ta. Chúa sẽ đến dẫn đưa chúng ta vào hưởng phúc muôn đời. Ước gì ngày Chúa đến, Chúa thấy chúng ta đang canh thức đợi chờ, xin cho chúng ta quyết tâm làm việc thiện để đón chờ Chúa, như Lời Tổng Nguyện mà các nhà phụng vụ muốn chúng ta cầu xin trong Chúa Nhật Mùa Vọng Tuần I này.
D/ Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
I.BỐI CẢNH PHỤNG VỤ:
Đoạn Tin Mừng hôm nay được chọn làm chủ đề cho Chúa Nhật đầu tiên của năm phụng vụ. Chúng ta vừa kết thúc năm phụng vụ với tuần 34 mùa thường niên năm A. Cũng nên nhớ lại, năm phụng vụ bắt đầu bằng Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng và kết thúc bằng Chúa Nhật thứ 34 mùa thường niên. Chúa Nhật 34 thường niên luôn luôn là lễ trọng mừng Đức Giêsu Kitô Vua vũ trụ. Tuy vậy, đỉnh cao của năm phụng vụ không phải là ngày mừng Lễ Chúa Kitô Vua, nhưng là Tam Nhật Thánh: Mừng mầu nhiệm Tử Nạn – Phục Sinh của Đức Giêsu. Năm Phụng Vụ năm nay là năm B. Tin Mừng Chúa Nhật được chọn trong suốt năm nay là Tin Mừng theo thánh Máccô (Năm A: Tin Mừng theo Thánh Mátthêu và năm C: Tin Mừng theo thánh Luca).[1] Phụng vụ Lời Chúa của Mùa Vọng luôn nhấn mạnh đến sự chờ mong. Mùa Vọng thường là để chuẩn bị mừng đại Lễ Giáng Sinh, nên cái mong chờ gần của người tín hữu có thể được xem là niềm mong chờ đại Lễ Sinh Nhật Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, quan trọng hơn, Mùa Vọng cũng là thời gian chuẩn bị để đón mừng Đức Giêsu đến lần thứ hai “để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Hay nói đúng hơn Mùa Vọng có mục đích kép: Đón mừng Đại Lễ Giáng Sinh và đón Chúa đến lần thứ hai. Hai mục đích này không tách biệt nhau. Sự chuẩn bị để mừng sinh nhật Đấng Cứu Thế, không khác biệt với sự chuẩn bị mừng Chúa đến lần thứ hai. Đón Chúa vào nhà mình, đón Chúa vào lòng mình, đón Chúa quang lâm đều cần cùng một sự chuẩn bị sẵn sàng như nhau. Chủ đề Lời Chúa của những ngày đầu năm Phụng vụ tiếp nối chủ đề của những ngày cuối năm Phụng vụ. Nó cũng nói về việc chờ đợi, và sẵn sàng luôn luôn.
II.BỐI CẢNH ĐOẠN TIN MỪNG:
Đoạn Tin Mừng này là đoạn cuối cùng trong những bài giảng về thời cánh chung của Tin Mừng theo thánh Máccô. Cũng như các Tin Mừng Nhất Lãm khác (Luca và Mátthêu), Tin Mừng Máccô cũng kết thúc những bài giảng của Đức Giêsu bằng những bài giảng về thời cánh chung. Hay nói đúng hơn, Mátthêu, và Luca, là những Tin Mừng được soạn sau, nên thường theo mẫu thức của Tin Mừng Máccô. Tuy Mátthêu thêm khá nhiều dụ ngôn khác, ông vẫn lấy lại nhiều tư liệu tương tự như Máccô. Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Vọng năm B (Mc 13,33-37) cũng được Mátthêu (Mt 25,13-14) lấy lại phần đầu, nhưng phần sau được thay bằng dụ ngôn những talanton. Mátthêu kết thúc loạt bài giảng về thời cánh chung bằng dụ ngôn “chiên và dê” (hay cuộc phán xét) (Mt 25,31-46), trong khi đó Máccô kết thúc nó bằng lời mời gọi “hãy tỉnh thức và sẵn sàng” (Mc 13,33-37). Đây có thể là đỉnh cao giáo huấn về thời cánh chung của Đức Giêsu theo Máccô, hay là lời đúc kết cho các bài giảng về thời sau hết.
III.CẤU TRÚC
Bản văn được xây dựng xoay quanh sự lặp lại bốn lần mệnh lệnh “hãy canh thức” và một lần “đang ngủ”.
33“Hãy cảnh giác, hãy canh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.
34 Người đàn ông xa nhà, truyền lệnh cho người giữ cửa để anh ta có thể canh thức
35 Hãy canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến
36 Ông không bắt gặp anh em đang ngủ.
37 Thầy cũng nói với tất cả mọi người là: Hãy canh thức!”
IV.MỘT VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
(1) Phải ý thức, để ý (βλέπω): Động từ này “blepo” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa chính yếu là nhìn, xem, nhưng trong bối cảnh này nó được dùng ở thể mệnh lệnh với nghĩa cảnh báo: Hãy coi chừng, hãy cảnh giác (βλέπετε). Nói theo ngôn ngữ bình dân là: “Hãy liệu hồn”. Trong tất cả các tác giả sách Tin Mừng, Máccô là tác giả sử dụng nhiều nhất động từ này ở mệnh lệnh cách, ngôi thứ hai số nhiều (các anh hãy nhìn, hay là cách anh hãy coi chừng). Máccô dùng tất cả tám lần (Mc 4,24; 8,15.18; 12,38; 13,5.9.23.33) trong khi đó Mátthêu (Mt 11,4; 13,17; 24,2.4) và Luca (Lc 8,18; 10,23; 10,24; 21,8) cùng dùng bốn lần. Vì lẽ đó, đây có thể được xem là động từ đặc trưng của Máccô. Trong tám lần xuất hiện trong Tin Mừng Máccô, thì có đến bảy lần động từ này được dùng dưới dạng mệnh lệnh cách mang tính cảnh báo cao độ. Trong khi đó, Mátthêu dùng bốn lần thì chỉ có một lần ở dạng mệnh lệnh cách. Luca sử dụng hai lần động từ này ở mệnh lệnh cách. Thật ngạc nhiên không biết tại sao Đức Giêsu của Máccô lại sử dụng nhiều lời cảnh báo “hãy coi chừng” như vậy. Trong số bảy lần cảnh báo “hãy coi chừng”, thì chương 13 chiếm đến bốn lần. Nghĩa là, trong bài giảng về thời cánh chung, lời cảnh báo này trở nên khẩn thiết đến dồn dập. Khi đọc chương 13 người ta cứ nghe nhắc đi, nhắc lại như điệp khúc: “Hãy đề cao cảnh giác”, “hãy cảnh giác đề cao”, “hãy hết sức coi chừng” và “hãy coi chừng hết sức”… chúng ta hãy thử lược lại những cảnh báo đi theo động từ này trong Tin Mừng Máccô. Thứ nhất, “hãy hết sức để ý đến điều mà anh em nghe, vì với mức độ anh dùng, nó sẽ được đong lại cho anh và còn được thêm nhiều hơn cho anh” (Mc 4,24). Thứ hai, Đức Giêsu dặn các môn đệ là “hãy hết sức coi chừng, ý tứ đến men Pharisêu và Hêrôđê” (Mc 8,15). Thứ ba, Đức Giêsu lại cảnh báo các môn đệ về nhóm lãnh đạo khác, nhóm kinh sư: “Hãy hết sức coi chừng các kinh sư, những kẻ thích dạo bộ vòng vòng với bộ áo dài thích được chào hỏi nơi chợ búa” (Mc 12,38). Thứ tư, “hãy cảnh giác, để không ai dẫn anh em lạc đường” (Mc 13,5). Thứ năm, “hãy lưu tâm vì họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng và anh em sẽ bị đánh đập trong các hội đường” (Mc 13,9). Thứ sáu, hãy cảnh giác trước những Kitô giả, ngôn sứ giả, những kẻ làm những dấu lạ và dẫn các môn đệ lạc đường (Mc 13,23). Và cuối cùng, chính là trong đoạn Tin Mừng này, “hãy hết sức coi chừng vì anh em không biết khi nào thời gian ấn định sẽ đến” (Mc 13,33). Đây là lời cảnh báo hết sức quan trọng trong Tin Mừng Máccô nói chung và đặc biệt trong trình thuật về cánh chung.
(2) Phải canh thức (ἀγρυπνέω, γρηγορέω): Mệnh lệnh “hãy tỉnh thức” (hãy canh thức) được lặp lại bốn lần trong đoạn văn chỉ vọn vẹn năm câu. Đó cũng không phải là một nhịp độ bình thường. Do vậy, “hãy tỉnh thức” cũng là một mệnh lệnh hết sức khẩn thiết và dồn dập. Mệnh lệnh này đóng khung đoạn văn này. Nghĩa là đoạn văn bắt đầu bằng câu có mệnh lệnh này (Mc 13,33) và kết thúc cũng bằng chính mệnh lệnh ấy (13,37). Cấu trúc này thường được gọi là cấu trúc incluso. Có thể thấy chủ đề nổi bật nhất của đoạn Tin Mừng này là mệnh lệnh “hãy canh thức”. Mệnh lệnh này được lặp lại bốn lần bởi hai động từ khác nhau “ἀγρυπνέω” và “γρηγορέω” có nghĩa tương tự. Động từ “ἀγρυπνέω” được sử dụng duy nhất một lần trong đoạn văn này, trong khi đó ba lần còn lại thuộc về động từ “γρηγορέω”. Động từ “ἀγρυπνέω” được các bản dịch Việt Ngữ (CGKPV), bản dịch Anh Ngữ (ESV), bản dịch Pháp Ngữ (TOB), và bản dịch Ý Ngữ (CEI), đồng loạt hiểu là “hãy tỉnh thức” (không ngủ). Thật ra, động từ này được đặt ngay sau động từ “hãy coi chừng” (βλέπω,13,33), và nó cũng có nghĩa là “hãy coi chừng”. Có thể nó được dùng để tăng thêm mệnh lệnh của động từ βλέπω, bởi vì cùng với động từ blepo nó làm thành một mệnh lệnh kép. Nhiều bản viết tay khác như là א C L W[2] và nhiều bản viết tay muộn hơn có thêm mệnh lệnh “hãy cầu nguyện” vào ngay sau hai mệnh lệnh này. Nghĩa là, câu mở đầu của đoạn văn này thành “hãy coi chừng, hãy tỉnh thức và hãy cầu nguyện” thay vì, “hãy coi chừng và hãy tỉnh thức”. J. Donahue – D. Harrington cho rằng việc thêm vào mệnh lệnh cầu nguyện ở đây là do ảnh hưởng bởi mệnh lệnh của Đức Giêsu trong vườn Ghéthsêmani (Mc 14,38).[3] Trong các tác giả Tân Ước, chỉ có Máccô và Luca (Lc 21,36) sử dụng động từ này ở mệnh lệnh cách với cùng ý nghĩa. Máccô sử dụng thường xuyên hơn động từ “γρηγορέω”. Động từ này được Máccô sử dụng tất cả bốn lần ở thể mệnh lệnh cách, ngôi thứ hai số nhiều. Hai lần trong đoạn văn này (Mc 13,35.37) và hai lần còn lại dành cho các môn đệ trong Vườn Cây Dầu (14,34.38). Rõ ràng, động từ này nối kết trình thuật về cánh chung với trình thuật về cuộc thương khó. Trong cả hai trường hợp, các môn đệ, hoặc rộng hơn là các tín hữu đều được mời gọi “hãy canh thức”. Động từ “γρηγορέω” đôi khi còn được dùng ẩn dụ với nghĩa là còn sống, đối lại với việc đã chết như trong thứ thứ nhất Thexalonica (1Tx 5,10).
(3) Vì không biết khi nào là thời điểm đã được ấn định (ὁ καιρός). Mệnh đề được bắt đầu bằng một liên từ chỉ lý do (γὰρ) nhằm lý giải cho mệnh lệnh “phải coi chừng”, “phải canh thức”. Danh từ thời điểm được xác định bởi mạo từ cho thấy nó diễn tả một thời điểm rõ ràng chứ không phải bất cứ loại thời điểm nào. Ngoài lần này, Máccô còn sử dụng hai lần khác danh từ này với mạo từ xác định (ho kairos, thời điểm). Lần thứ nhất, ngay từ đầu Tin Mừng, Đức Giêsu cho biết là thời kỳ đã mãn, và Nước Trời đã đến gần bên (Mc 1,15). Và tiếp theo sau đó là lời mời gọi hết sức long trọng: “Hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng”. Đó là thời điểm của Đức Giêsu, của Đấng Mêsia, hay thời điểm Chúa hoàn thành lời hứa ban Đấng Mêsia cho dân Người. Một lần khác, trong dụ ngôn cây vả không ra trái, danh từ này được dùng để chỉ về thời điểm mùa vả. Trong bối cảnh này, bối cảnh mà Đức Giêsu tiền báo về việc “Con Người đầy quyền năng và vinh quang đến trong đám mây” (Mc 13,26), “Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi” (Mc 13,28), thì “thời điểm ấn định, ho cairos, (thời điểm)” rất có thể ám chỉ đến thời điểm xuất hiện của Con Người.[4] Thời điểm này là bí mật, nói theo kiểu các nhà nho là “thiên cơ bất khả lộ”. Đức Giêsu chốt hạ tính bí mật của nó: “Không ai có thể biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con Người. Chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13,32).
Điệp khúc: “Không ai biết”, “vì anh em không biết” (Mc 13,32.33.25) cho thấy lý do rõ ràng mạnh mẽ của lời mời gọi “hãy coi chừng” và “hãy canh thức”. Vì không biết lúc nào cho nên phải luôn luôn canh thức.
(4) Như một người đi phương xa (ἀπόδημος): Người này được định nghĩa bằng tính từ apodemos, nghĩa là người ở xa quê hương, người đang ở trong chuyến hành trình xa quê hương. Cũng cùng một cách diễn tả như Mátthêu (Mt 25,14) trong dụ ngôn những talanton (những nén bạc). Tuy nhiên, Mátthêu dùng động từ “đi xa” ở dạng phân từ, chứ không phải tính từ như Máccô. Thế nhưng, ý nghĩa của nó có lẽ cũng như nhau. Sự vắng mặt của chủ nhà để lại một không gian tự do và trách nhiệm cho từng người đầy tớ. Mức độ trưởng thành của từng người đầy tớ sẽ được kiểm chứng. Không có mặt ông chủ, người đầy tớ sẽ hành động một cách chuyên nghiệp, hành động với lương tâm, với tình yêu và trách nhiệm chứ không phải vì ông chủ đang nhìn. Một người đầy tớ trưởng thành và trách nhiệm là rất đáng quý, nhưng những người đầy tớ đích thực như thế thường không có nhiều. Trong bậc sống tu trì hay trong bậc sống giữa đời, người ta thường gặp những tu sĩ hay những nhân viên chỉ làm việc chăm chỉ, tích cực trước mặt bề trên hay cấp trên. Vắng mặt bề trên, cấp trên, những bề dưới và thuộc cấp thiếu trưởng thành và thiếu trách nhiệm, thường làm việc lơ là, gian dối và kém hiệu quả hơn. Thiên Chúa dường như vắng mặt trong cuộc đời mỗi người tín hữu, Ngài trao lại không gian hoạt động hoàn toàn cho họ và mong chờ họ hành động một cách trách nhiệm, tín thành và trưởng thành. A. Collins – H. Attridge cho rằng người đàn ông đi xa chính là Đức Giêsu Phục Sinh và những người đầy tớ chính là cộng đoàn môn đệ sau Phục Sinh.[5] Cộng đoàn này có thể mở rộng ra cho tất cả những tín hữu qua mọi thời đại.
Liên từ “như là” (ὡς) có chức năng nối liền với lời cảnh báo “phải coi chừng”, “phải canh thức” và lý do của mệnh lệnh ấy. Mệnh đề bắt đầu bằng liên từ này nhằm minh họa, làm rõ, cho mệnh lệnh và lý do phía trước. Mệnh lệnh “hãy canh thức” của Đức Giêsu sẽ được minh họa bằng mệnh lệnh tương tự của chủ nhà dành cho người giữ cửa. Lý do “vì không biết khi nào thời điểm ấn định” được minh họa bằng việc những người đầy tớ và người giữ cổng sẽ không biết lúc nào chủ nhà về.
(5) Trao quyền cho các đầy tớ của mình (δοὺς τοῖς δούλοις αὐτοῦ τὴν ἐξουσίαν): khác với ông chủ trong dụ ngôn những talanton (Mt 25,14-30) hay dụ ngôn mười nén bạc (Lc 19,11-27), ông chủ của Máccô không trao talanton hay những nén bạc, cái mà ông trao cho họ là quyền, công việc của mình cho mỗi người. Danh từ quyền (ἐξουσίαν), với chức năng túc từ trực tiếp, được Máccô sử dụng bảy lần (Mc 1,22.27; 2,10; 3,15; 6,7; 11,28; 13,34). Bốn lần được dùng để diễn tả quyền của Đức Giêsu: người ta ngạc nhiên vì Đức Giêsu giảng dạy như một đấng có uy quyền (Mc 1,22.27), Đức Giêsu xác nhận rằng Con Người có quyền tha tội (Mc 2,10), Đức Giêsu bị chất vấn về quyền thanh tẩy đền thờ (Mc 11,28). Có hai lần quyền này được Đức Giêsu trao cho các môn đệ: Nhóm Mười Hai được chỉ định và sai đi rao giảng, có quyền trừ quỷ (Mc 3,15; 6,7). Như thế, các người đầy tớ được trao quyền ở trong bối cảnh này có thể liên quan đến các môn đệ, hay cộng đoàn của Máccô, hay rộng hơn là tất cả các độc giả qua mọi thời đại.[6] A. Collins – H. Attridge cho rằng hình ảnh người giữ cửa cũng ám chỉ đến một hình ảnh khác. Chức năng của người giữ cửa là bảo vệ tài sản của chủ nhà. Họ còn cho rằng “nhiệm vụ” được giao ở đây rất có thể ứng với những cảnh báo coi chừng các ngôn sứ và Mêsia giả đã đề cập trước trong các câu 5b-6 và 21-23, nơi mà cảnh báo “hãy coi chừng”, cùng với mệnh lệnh “hãy canh thức” trong câu 34 đồng thời xảy ra.[7] Tuy nhiên, công việc, phận vụ ở đây có thể ám chỉ đến bất cứ phận vụ nào thường ngày của người đầy tớ. Đó cũng là phận vụ đức tin của các tín hữu đối với Chúa và với tha nhân. Ông chủ, Chúa đã trao toàn quyền xử lý công việc cho từng con dân của Chúa. Họ phải dùng tất cả những tài năng Chúa ban hết khả năng của mình để biểu tỏ tình yêu với Chúa và tha nhân hay là qua tha nhân.
(6) Đầu hôm (ἢ ὀψὲ) … nửa đêm (ἢ μεσονύκτιον) … gà gáy (ἢ ἀλεκτοροφωνίας) … tảng sáng (ἢ πρωι) … thình lình (ἐξαίφνης). Bốn loại thời gian khác nhau được đề cập trong câu này rất có thể ám chỉ đến bốn canh của một đêm (từ 6.00 tối đến 6.00 sáng) theo cách phân chia của người Rôma. Mỗi canh kéo dài khoảng ba tiếng đồng hồ.[8] Bốn canh được phân chia tương ứng với số như sau: Canh thứ nhất (6.00-9.00); Canh thứ hai (9.00-12.00); Canh thứ ba (12.00-3.00); Canh thứ bốn (3.00-6.00).[9] Tất cả các thời điểm được nhắc đến là cách nói bao quát diễn tả tất cả khoảnh khắc của một đêm. Từ khoảnh khắc bình thường là lúc đầu hôm (canh một) cho đến khoảnh khắc bất thường nhất là lúc nửa đêm và cuối đêm (canh cuối). Người giữ cửa phải canh thức suốt, không được lơ là một khoảnh khắc nào. Danh từ “canh” (φυλακή) trong Hy ngữ, cũng có nghĩa là canh gác, canh chừng, hay nhà tù, là nơi người ta cũng nhốt và canh chừng các tù nhân. Danh từ tiếng gà gáy (ἢ ἀλεκτοροφωνίας) được ghép bởi danh từ “con gà trống” (ἀλέκτωρ) và danh từ “tiếng gọi” (φωνῆς). Con gà kêu, con gà gáy gợi nhớ đến trình thuật về cuộc thương khó trong đó sự kiện gà gáy được nhắc đến hai lần (Mc 14,30.72). Lần thứ nhất là lời cảnh báo hết sức nghiêm túc của Đức Giêsu đối với Phêrô. Lời cảnh báo được bắt đầu bằng từ Amen: “Quả thật, thầy nói với anh, ngay đêm nay, trước khi gà gáy lần thứ hai, anh đã chối thầy đến ba lần” (Mc 14,30). Và lần thứ hai, chính là lúc lời cảnh báo của Đức Giêsu ứng nghiệm (Mc 14,72). Phêrô đã quá tự tin vào sức riêng của mình. Ông đã khẳng định rằng: dù tất cả có bỏ thầy thì ông cũng không bỏ thầy (Mc 14,29), và dù có phải chết ông cũng không chối thầy mình (Mc 14,31). Đó là lời khẳng định kép. Nó đóng khung lời cảnh báo của Đức Giêsu. Không ai có thể tin rằng, những lời khẳng định ấy lại bị bẻ gãy tan tành như thế. Có lẽ, chính Phêrô cũng không thể tin nổi. Tuy nhiên, nó đã xảy ra như Đức Giêsu cảnh báo.
(7) Đang ngủ (καθεύδοντας): Động từ ngủ “καθεύδω” được dùng ở dạng phân từ[10] (καθεύδοντας) làm túc từ cho động từ tìm thấy, phát hiện ra (εὑρίσκω), được sử dụng nhiều nhất trong Tin Mừng Máccô, (ba lần: 13,36; 14,37.40), so với Mátthêu (hai lần: 26,40.43). Các tác giả Luca và Gioan không có cách dùng này. Ngoài dụ ngôn này ra, Máccô dùng hai lần khác nữa, đều để diễn tả cảnh Đức Giêsu và các môn đệ trong trình thuật về cuộc thương khó. Cấu trúc ý chang là: Một ai đó tìm thấy một ai đó đang ngủ. Trong dụ ngôn này: Chủ nhà tìm thấy anh em (đại từ ngôi thứ hai số nhiều) đang ngủ. Chủ nhà có thể là Đức Giêsu, hoặc là Thiên Chúa, và anh em, rất có thể là các môn đệ, hay những người đang nghe Đức Giêsu giảng, và thậm chí tất cả những ai đọc Tin Mừng. Trong bối cảnh cuộc thương khó, Đức Giêsu đã đến và tìm thấy các Phêrô, Giacôbê và Gioan đang ngủ. Nói thế không có nghĩa là những môn đệ còn lại đều thức. Những môn đệ còn lại chắc còn ngủ say hơn vì không bị Đức Giêsu quấy rầy. Ba ông này được đem đi xa hơn, gần Đức Giêsu hơn mà vẫn bị phát hiện là “đang ngủ” đến ba lần chứ không phải một lần (Mc 14,37.40.41). “Đang ngủ” trong bối cảnh ấy được đặt đối lại với “không thể canh thức một giờ”: “Anh em không thể canh thức một giờ hay sao?” (Mc 14,37) Ngoài cấu trúc Người tìm thấy các ông đang ngủ thì Máccô còn thêm một lần nữa Đức Giêsu khám phá ra họ vẫn đang ngủ qua câu hỏi của Đức Giêsu: “Anh em vẫn ngủ sao?” Lý do họ ngủ được đưa ra là “vì mắt họ nặng nề” (Mc14,40). Hành động “ngủ” li bì của các môn đệ cứ đi kèm với mệnh lệnh “hãy canh thức” (14,34.37) và “hãy canh thức và cầu nguyện” (14,38) của Đức Giêsu. Ngủ là một nhu cầu hết sức bình thường của một con người. Ai cũng cần phải ngủ và Đức Giêsu cũng từng ngủ trên thuyền (Mt 8,24; Mc 4,38). Tuy nhiên, ngủ khi được cảnh báo là phải tỉnh thức là một thái độ lỳ lợm, sơ sài, sai sai sao ấy.[11] Ngủ khi có trách nhiệm phải thức như những người canh cổng, lính gác, bảo vệ… là thiếu trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ. Chắc chắn động từ ngủ ở đây không chỉ có nghĩa về mặt thể lý nhưng là một giấc ngủ về mặt đức tin. Ngủ cũng có nghĩa là chết. Trong trình thuật về Ladarô, Đức Giêsu nói rằng Ladarô đang ngủ, ám chỉ đến cái chết của anh, nhưng các môn đệ lại tưởng là Thầy mình nói về giấc ngủ tự nhiên (Ga 11,13). Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thesalonica cũng diễn tả cái chết bằng động từ ngủ (1 Tx 4,13: “Hỡi các anh em! Chúng tôi không muốn anh em không ý thức về những người đã ‘ngủ’, để anh em khỏi phải khóc lóc như những người còn lại, người không có hy vọng”). Như thế, ngủ ám chỉ đến cái chết, sự bất động về mặt đức tin. Nó đối nghịch lại với sự tỉnh thức, một sự sống và năng động về mặt đức tin. Đức Giêsu mong các môn đệ canh thức, tỉnh ngủ nhưng các ông lại ngủ li bì. Vì lẽ đó, các ông đã gục ngã, chạy tán loạn, khi Thầy bị bắt. Kẻ bỏ Thầy, kẻ bán Thầy, kẻ chối Thầy. Tất cả đều là hậu quả trực tiếp của việc thiếu tỉnh thức.
(8) Hết thảy mọi người (πᾶσιν): Như đã nói trên, Đức Giêsu cẩn thận chốt lại mệnh lệnh “hãy canh thức” của mình và mở rộng đối tượng được mời gọi phải thi hành mệnh lệnh này. Lời cảnh báo ấy không còn dành riêng cho bốn tông đồ Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê, những người đã hỏi riêng Đức Giêsu (Mc 13,3).[12] Lời Đức Giêsu dành cho “tất cả.” “Tất cả” là lối diễn tả không biên giới. Trước nhất là cho những người nghe trực tiếp Đức Giêsu giảng, tiếp đến là tất cả các môn đệ, rồi cộng đoàn thánh Máccô, rồi cộng đoàn Kitô hữu thế kỷ thứ nhất, rồi tất các các tín hữu qua mọi thời đại, rồi tất cả những ai có duyên nghe Tin Mừng. “Tất cả” nói lên tính phổ quát và bình đẳng trong lời mời gọi của Tin Mừng Đức Giêsu.
V.BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT
Đoạn Tin Mừng Mc 13,33-37 được lấy ra từ đoạn cuối cùng của chương 13 Tin Mừng Máccô. Chương 13 Tin Mừng Máccô thường được các chuyên gia gọi là bài khảo luận về cánh chung (vì nó nói về những sự cuối cùng), hay là Ôliu khảo luận (vì nó diễn ra ở núi Ôliu), hoặc là Tiểu Khải Huyền (vì nó bao hàm những yếu tố mang tính khải huyền).[13] Mỗi tên gọi chỉ nói lên được một khía cạnh nào đó của bản văn mà thôi, hoặc là một phần nội dung, hoặc là đặc tính văn chương, hoặc là vị trí nơi bài giảng được trình bày. Người ta không thể nào chối từ hoàn toàn được ba tên gọi này. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng bản văn tự nó vượt lên tất cả mọi tên gọi được gán cho nó. Ý thức như vậy, độc giả không bao giờ được phép đóng khung bản văn vào bất cứ một chủ đề nào. Chỉ có thể nói rằng một chủ đề nào đó xem ra nổi bật, rõ hơn các chủ đề còn lại. Trong đoạn văn này, dường như mệnh lệnh “hãy canh thức” (tỉnh thức) là nổi trội hơn cả, bởi vì có đến 2 động từ được dùng để diễn tả mệnh lệnh này. Và tần suất xuất hiện của mệnh lệnh này cũng rất đáng chú ý: bốn lần trong một bản văn chỉ có năm câu. Hơn nữa, mệnh lệnh “hãy canh thức” cũng là khung sườn của bản văn vì nó xuất hiện ngay câu đầu (13,33), ở câu giữa và lại xuất hiện ở câu cuối (13,37). Khung sườn của bản văn có thể được phác họa như sau: “Hãy coi chừng, hãy canh thức vì” (13,33) … “để mà người giữ cổng canh thức” (13,34)… “vì vậy, hãy canh thức vì” (13,35)… và “hãy canh thức” (13,37). Năm câu văn đều có mệnh lệnh “canh thức”. Chỉ có câu ba mươi sáu là câu duy nhất đề cập đến điều ngược lại với “canh thức”. Đó là “tìm thấy đang ngủ”. Lý do chắc nịch, rõ ràng dành cho mệnh lệnh dồn dập này là: “Vì anh em không biết khi nào” (là giờ ấn định, là lúc chủ nhà trở về). Lý do này nối kết với câu trước 13,32, để làm thành một điệp khúc về lý do phải tỉnh thức: “Vì anh em, không biết ngày nào giờ nào”. Thời điểm mà chủ nhà có thể đến được diễn tả bằng lối nói thời gian bao quát: “Lúc đầu đêm, lúc nửa đêm, lúc gà gáy, lúc rạng sáng). Tính bí mật của “thời điểm” này còn được Đức Giêsu chốt lại chắc nịch nằng: “Thậm chí các thiên sứ, ngay cả Người Con cũng không, ngoại trừ Người Cha mà thôi”. Như vậy, là vô phương cho những ai tìm cách muốn biết ngày tận thế, ngày Quang Lâm của con người. Lời mời gọi “tỉnh thức” dồn dập ấy là lời mời gọi giúp cho con người ý thức trách nhiệm làm người của mình mọi phút giây trong cuộc đời cho đến khi tắt thở. Sở dĩ phải mời gọi dồn dập như vậy là vì có những con người “sống mà như đã chết” và không có nhiều người “chết rồi nhưng vẫn như còn đang sống”. Có nghĩa là có những người sống mà không thật sự đang sống. Sự hiện diện của họ không thêm hương vị gì cho cuộc đời này. Chưa nói đến, có những con người toàn đem đến cho người khác, cho đời những vị mặn chát, cay đắng, đớn đau. Ngược lại, có những con người chỉ sống hơn chục năm trên dương gian, nhưng lại đem đến cho đời bao nhiêu hương vị cuộc sống. Một ví dụ điển hình nhất là cậu Á Thánh Carlo Acutis (1991-2006), người Ý, vừa được phong chân phước, tại Assisi, ngày 10 tháng 10 năm 2020. Thật là một ngày đẹp, đẹp như cuộc đời của cậu bé vậy (sáu số 10 tròn trịa, 10-10-10-10, 20=10+10). Dù sống chỉ vọn vẹn 15 năm thế nhưng cậu đã trở thành bổn mạng của giới trẻ, của sinh viên, của các lập trình viên internet. Cậu đã trở thành một biểu tượng của cách sống đời thường cách thánh thiện, thân thiện, sẻ chia, giản dị, đáng yêu của tất cả mọi người trên toàn thế giới. Còn đối với mẹ cậu, cậu là đấng cứu độ của bà (như bà đã chia sẽ nhiều lần). Cuộc sống gương mẫu, hương thơm thánh thiện của cậu đã ướp mặn đời sống đạo nhạt nhẽo của chính bà. Bây giờ, bà trở thành sứ giả Tin Mừng của chính con mình. Bà đã được nhiều người, nhiều tổ chức mời đến để chia sẻ về cuộc đời cậu. Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều từng viết rằng: “Xác là thể phách, hồn là tinh anh”. Cái tinh anh của linh hồn sẽ còn tồn tại mãi sau khi thể xác một người chết đi khi người đó dám sống cho người khác cho đến chết, cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Lời cảnh báo, mệnh lệnh, lời gọi mời “hãy tỉnh thức”, hãy sống cho ra người của Đức Giêsu vẫn vang vọng hơn hai ngàn năm, cho tất cả mọi người, không trừ một ai. Đó chắc chắn không chỉ là lời mời gọi của Mùa Vọng nhưng là lời mời gọi mỗi ngày trong đời người. Hay nói cách khác, đời người là một Mùa Vọng. Từ lúc con người sinh ra cho đến lúc họ trở về với Chúa là một Mùa Vọng. Mùa Vọng là Mùa ta mong Chúa, nhưng lại là mùa Chúa đợi ta. Bởi lẽ, chỉ có ta mới xa Chúa và phải trở về chứ Chúa thì vẫn luôn ở đó, mãi đợi chờ ta.
E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
MONG ĐỢI NGÀY CHÚA ĐẾN
A.DẪN NHẬP
Hôm nay chúng ta bắt đầu một năm Phụng vụ mới. Năm phụng vụ bắt đầu từ ngày Chúa nhật I Mùa Vọng.
Mùa Vọng là mùa trông đợi. Trước mắt chúng ta trông đợi Chúa đến trong ngày lễ Giáng sinh với tâm hồn vui tươi và đạo đức sau bốn tuần lễ đã chuẩn bị kỹ càng.
Như thế cũng chưa đủ, nhân bầu khí của Mùa Vọng này, Giáo hội hướng lòng ta về ngày quang lâm của Chúa, Ngài sẽ đến trần gian lần thứ hai để xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Ngoài ra, chúng ta cũng còn phải trông đợi Chúa đến với chúng ta trong ngày sau hết của đời mình. Vì thế, Giáo hội muốn dựa vào bài Tin mừng hôm nay để nhắc nhở chúng ta là Chúa sẽ đến với ta cách bất ngờ, thái độ của chúng ta là phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi Chúa đến.
B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Is 63, 16-64,7 – Dân Israel đã ký Giao ước với Thiên Chúa tại núi Sinai qua trung gian ông Maisen nhưng rồi dân lại bất trung, phá vỡ Giao ước để đi thờ thần dân ngoại. Do đó, Thiên Chúa đã trao dân vào đạo quân của vua Nabuchodonosor: thành Giêrusalem bị phá hủy, dân bị bắt đi lưu đày ở Babylon. Tình trạng lưu đày nơi đất khách quê người rất khốn khổ. Nhưng vào cuối thời lưu đày, dân Israel đã ý thức rằng họ khốn khổ là do họ tội lỗi, đã phản bội Chúa. Tiên tri Isaia đã dùng ngòi bút của mình ghi lại lời kêu van đầy cảm kích trong cơn khốn khổ: “Xin Chúa hãy đến cứu giúp dân Ngài”. Isaia đã thay mặt cho dân chúng bày tỏ đôi điều:
a) Thú nhận tình trạng tội lỗi của dân: Chúng tôi đã luôn ở trong tình trạng tội lỗi. Tất cả chúng tôi đều đầy vết nhơ.
b) Xin Chúa hãy tha thứ tội lỗi. Xin đến cứu thoát: “Xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống”.
+ Bài đọc 2: 1Cr 1, 3-9 – Sau khi đã nhận được Tin mừng do thánh Phaolô rao giảng, tín hữu Côrintô đã tỏ ra mình là một cộng đoàn sinh động, có những tấm lòng sốt sắng và chân thành. Tuy thế, họ cũng gặp nhiều khó khăn nội bộ: chia rẽ, kiện tụng, luân lý suy đồi…
Thánh Phaolô nhắc nhở họ hãy nhớ đến bao ân sủng của Thiên Chúa đã ban cho họ. Tuy nhẹ nhàng khiển trách họ nhưng ngài khuyên họ hãy tỏ ra xứng đáng hơn với những ân huệ đó và hướng dẫn họ nhìn tới ngày trở lại của Đức Kitô và mời gọi họ chuẩn bị đón chờ ngày đó, nhờ thái độ kiên trung trước mọi thử thách.
Bài Tin mừng: Mc 13,33-37
Trong bài Tin mừng này, Chúa Giêsu báo trước cho tất cả các môn đệ là Ngài sẽ trở lại trần gian này cách bất ngờ. Để dễ hiểu, Ngài đưa ra dụ ngôn về người đầy tớ phải canh cửa để đón chủ về bất cứ lúc nào. Do đó, Chúa Giêsu chỉ rõ thái độ cần phải có để chờ Chúa trở lại là Tỉnh thức sẵn sàng như người đầy tớ thức chờ chủ về đột ngột giữa đêm khuya. Dụ ngôn người canh cửa giúp ta có thái độ cảnh giác chống lại tình trạng mê ngủ thiêng liêng đe dọa mọi người chúng ta. Mùa Vọng là mùa canh thức và sẵn sàng chờ đợi.
C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA:
ĐỢI CHỜ TRONG TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG
I.MÙA VỌNG TRONG ĐỢI CHỜ
1.Dân Israel đợi chờ
Lịch sử Israel là một cuộc chờ đợi. Trong suốt thời gian 70 năm lưu đày bên Babylon, dân Chúa đã thấm mệt: bị kẻ thù áp bức, hành hạ, khinh bỉ… Họ chờ Đấng Messia đến thiết lập nền công chính trên trái đất này. Sự đợi chờ đã đến cao điểm và tiên tri Isaia đã thay lời cho dân chúng kêu lên lời xin thảm thiết: “Trời cao hãy đổ sương xuống”.
Trong cảnh khốn cùng, dân Israel mới hồi tỉnh lại và nhận ra mình đã đi sai đường lối, đã lỗi phạm đến Chúa nên đã kêu xin: “Lạy Chúa, chúng con đã phạm tội. Chúng con như chiếc áo dơ bẩn… Chúa đã ẩn nấp không cho chúng con nhìn thấy và Chúa đã phó mặc chúng con cho quyền lực tội lỗi. Nhưng Chúa là Cha, chúng con là đất sét trong tay Chúa là người thợ gốm, tất cả chúng con đều do bàn tay Chúa làm nên… Xin Chúa hãy băng qua các tầng trời mà ngự xuống”.
Giáo hội dùng những lời đó để làm lời kinh trong Mùa Vọng này. Chúa Kitô thành Nazareth đến, đáp lại mối kỳ vọng ngàn đời của thế giới. Chúng ta, Giáo hội lữ hành đang mong đợi Chúa đến để đánh tan sự thất vọng và khơi dậy niềm tin và hy vọng. Đó là Mùa Vọng khởi đầu hôm nay.
2.Chúng ta chờ đợi
VỌNG tức là chờ đợi trông mong. Đã chờ đợi thì luôn có hy vọng. Đã hy vọng thì luôn có tin yêu, ví dụ hai người yêu chờ đợi nhau, hoặc chờ đợi người đi xa về. Mùa Vọng là mùa mong đợi Chúa đến. Từ ngữ “Chúa đến” thường được hiểu bằng 4 cách:
– Chúa đến trong lịch sử nhân loại.
– Chúa đến trong ngày phán xét chung.
– Chúa đến trong giờ chết của mỗi người.
– Chúa đến trong ơn thánh hằng ngày.
Như vậy, Chúa đến với loài người: lần thứ nhất và thứ hai công khai, còn các lần khác thì có tính cách âm thầm và riêng tư.
a)Chúa đến lần thứ nhất: Chúa đã đến trong hang đá Belem để thực hiện việc cứu chuộc nhân loại. Ngày nay ta chỉ còn kỷ niệm ngày Ngài giáng sinh tức là đến lần thứ nhất. Vậy mùa Vọng gồm có 4 tuần dọn lòng để mừng Chúa Giáng sinh ngày 25 tháng 12 mỗi năm.
b)Chúa đến lần thứ hai: Chúa Giêsu lại xuống thế một lần nữa với tư thế là một vị Vua Thẩm phán để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Không ai biết được ngày nào việc đó sẽ xảy ra, chỉ việc chờ đợi trong hy vọng. Vì thế, chúng ta phải sống trong mùa vọng triền miên, vì không biết ngày nào giờ nào Ngài sẽ đến.
c)Chúa đến giữa hai lần: Ngoài ra, Chúa sẽ đến với chúng ta giữa lần thứ nhất và lần thứ hai. Chúa sẽ đến với riêng từng người. Đó là giờ chết. Ngày tận thế thì còn xa vời và mù mờ lắm, còn việc Chúa đến gọi ta trong giờ sau hết thì gần. Nhưng nó cũng giống như Chúa đến lần thứ hai, không ai biết được ngày nào giờ nào Ngài sẽ đến vì “giờ chết đến như kẻ trộm”.
d)Chúa đến trong ơn thánh: Giáo hội dạy chúng ta vẫn phải mong đợi, và hàng năm Giáo hội tổ chức Mùa Vọng, không phải chỉ cốt để chuẩn bị lễ Giáng sinh, không phải chỉ dạy chúng ta gây dựng tâm tình mong đợi trong mùa đó, nhưng Giáo hội muốn nhân không khí lễ Giáng sinh dạy chúng ta phải có tâm tình mong đợi thường xuyên, phải mong đợi Chúa hằng ngày: Chúa đến với ta trong ơn thánh của Ngài, nhất là trong Bí tích Thánh Thể. Ngoài ra, chúng ta mong đợi Chúa trong ngày ta từ giã cuộc đời để về với Chúa.
II.ĐỢI CHỜ TRONG TỈNH THỨC
1.Giáo huấn của Giáo hội
Giáo hội ý thức về cuộc sống ở trần gian này: mọi sự sẽ qua đi và mọi người đều phải chết. Đây là một định luật khắt khe buộc mọi người phải tuân thủ. Nhưng Giáo hội cũng dạy chúng ta phải dọn lòng chờ Chúa đến, phải tỉnh thức và sẵn sàng đón Chúa vì Chúa đến bất ngờ. Công đồng Vatican 2 đã diễn tả tư tưởng ấy trong hiến chế Lumen Gentium:
“Đàng khác, vì không biết ngày và giờ, chúng ta phải theo lời Chúa dạy, luôn tỉnh thức, để khi cuộc đời độc nhất của chúng ta ở trên trần gian chấm dứt (Dt 9,27), chúng ta xứng đáng vào dự tiệc cưới với Người và được liệt vào số những người được chúc phúc (Mt 25,31-46), chứ không như những tôi tớ khốn nạn và lười biếng (Mt 25,26) sẽ bị đẩy vào lửa đời đời (Mt 25,41), vào chốn tối tăm, nơi khóc lóc và nghiến răng (Mt 22,13 và 25,30” (LG. số 48).
2.Phải tỉnh thức chờ đợi Chúa đến
a)Có hai kiếp sống
Bất cứ ai sinh ra ở trên trần gian này đều có hai kiếp sống: một đời sống tạm bợ và một đời sống vĩnh cửu; một đời sống hiện tại và đời sống tương lai; một đời sống hành hương và một đời sống quê thật; một đời sống trần gian và một đời sống thiên đàng hay hỏa ngục. Từ kiếp sống này qua kiếp sống kia, mỗi người phải qua sự chết duy có một lần, đó là lần bái yết Chúa đầu tiên và duy nhất.
b)Một cuộc chuyển tiếp
Không ai có thể sống mãi trên trần gian này vì số phận của con người thường phải qua 4 giai đoạn: sinh, lão, bệnh, tử. Chết là giai đoạn cuối cùng và kết thúc. Chết không phải là hết, không phải là đi vào hư vô mà chết chỉ là một sự chuyển đổi: “Sự sống thay đổi chớ không mất đi và khi nơi nương náu ở trần gian này bị hủy diệt tiêu tan thì là được một chỗ cư ngụ vĩnh viễn trên trời” (Kinh tiền tụng lễ An táng). Hiểu được ý nghĩa ấy, thánh nữ Têrêsa Hài đồng đã nói: “Tôi không chết, tôi đi vào cõi sống”.
c)Cuộc chuyển tiếp bất ngờ
Chết là một công lệ, không ai thoát được công lệ đó, nhưng có một điều làm cho day dứt là không biết lúc nào mình sẽ chết, vì giờ chết như “người thợ gặt không ngủ trưa” (Cervantes). Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng loan báo cho chúng ta biết là Ngài sẽ đến gọi chúng ta bất cứ lúc nào, nên phải luôn sẵn sàng tỉnh thức. Để nói về điểm bất ngờ này, Chúa Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn về người canh cửa đợi ông chủ về.
Trước khi trẩy đi xa, Ông chủ gọi các đầy tớ giao công tác cho mỗi người. Riêng tên giữ cửa, Ông dặn phải tỉnh thức mà coi chừng lúc Ông trở về. Ông căn dặn tên giữ cửa vì là phận sự riêng của hắn, nhưng Ông cũng có ý nhắn nhủ cho tất cả. Phải tỉnh thức vì không biết chắc vào giờ nào chủ về: chập tối, nửa đêm, gà gáy, hay ban mai.
Dụ ngôn cốt nhấn mạnh tư tưởng: mọi người cần phải tỉnh thức vì Ông chủ (là Con Người, cũng là Chúa Giêsu) không báo trước giờ Ngài sẽ đến.
Những điều Chúa nói ở đây là nói cho 3 tông đồ Phêrô, Giacôbê và Anrê (Mc 13,3), nhưng Chúa nhấn mạnh là Chúa có ý nói với tất cả mọi người: “Điều Ta bảo cho chúng con, thì Ta bảo cho tất cả mọi người là hãy tỉnh thức”.
Việc Ông chủ trở về ban đêm có ý nhấn mạnh rằng: ban đêm thường ít ai để trí vì ai nấy cũng dễ mê ngủ, vì thế cần phải đề cao cảnh giác, tỉnh thức và sẵn sàng luôn. Ban đêm còn diễn tả ý nghĩa thời gian hiện tại ở trần gian, để phân biệt với thời gian ở Nước trời đời sau là ban ngày. Trong khi sống ở trần gian này, cần phải tỉnh thức và sẵn sàng, có nghĩa là phải sống trong ơn nghĩa Chúa, có đủ điều kiện để được vào Nước trời ở đời sau.
Truyện: con quạ thiếu cảnh giác
Một người dân Mỹ bị đám quạ hoang phá hoại ruộng ngô. Mang súng ra bắn nhưng không sao lại gần vì trên cái cọc thông cao có một con đậu canh chừng khi các con khác ăn. Len lỏi lâu dưới hố sâu ông lại gần được mà con gác không hay biết. Một tràng đạn nổ, những con sống sót bay vù lên, nhưng không bay đi xa, chúng sà xuống con canh gác với những tiếng kêu giận dữ. Con chim khốn nạn này bị đồng bọn xử một cách tàn nhẫn và nhanh chóng, không thể ở lại trong bầy, phải rời hàng ngũ đi nơi khác
Đoạn Tin mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta: Chúa sẽ đến, nhưng chúng ta không biết ngày giờ nào. Vậy phải canh thức để sẵn sàng đón Ngài khi Ngài đến. Canh thức sẵn sàng như người đầy tớ hoàn thành nhiệm vụ được trao phó, như các trinh nữ khôn ngoan cầm đèn đi đón chàng rể, như người được trao vốn đem kinh doanh sinh lời lãi, và cuối cùng bằng đời sống yêu thương phục vụ. Đó là cách thức chờ đợi Chúa đến.
Phải tỉnh thức chờ đợi Chúa đến. Tỉnh thức ở đây là phải sẵn sàng chờ đợi. Từ ngữ “SẴN SÀNG” nói lên một thái độ sinh động chứ không phải ù lỳ, ngồi một chỗ mà chờ đợi. Sẵn sàng ở đây là phải nỗ lực làm việc với ý thức rằng mình đang phải làm việc để đợi chờ Chúa đến. Làm việc ở đây là làm sinh sôi nảy nở ra các ơn Chúa đã ban cho ta, phải sinh hoa kết quả tốt là các việc lành. Khi Chúa đến tính sổ linh hồn, ta sẽ như một tên đầy tớ tỉnh thức đi đón Chúa, trình với Ngài các việc làm của ta để được lĩnh phần thưởng.
Nhìn vào cuộc sống, chúng ta có thể nói như thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu: “Tất cả là hồng ân”. Hồng ân của Chúa có thể đến từ bất cứ nơi đâu, trong mọi cảnh huống cuộc đời, lúc vui mừng hay khi đau khổ, lúc thành công hay khi thất bại. Điều quan trọng là chúng ta biết nhìn ra đó là ân ban của Chúa, và mỗi ân ban là một “Chúa đến viếng thăm”.
Phụng vụ thánh lễ hôm nay nhắc nhở cho chúng ta dọn mình: đón nhận ơn Chúa trong mỗi giây phút hiện tại, chờ đợi Chúa đến trong giờ chết và trong ngày chung thẩm của nhân loại. Thái độ chúng ta phải có là hãy sẵn sàng theo như lời khuyên rất khôn ngoan của chân phước Charles de Foucauld: “Bạn hãy sống như bạn sẽ chết vào tối nay”. Nếu những cuộc thăm viếng là những hồng ân của Chúa, thì chúng ta đừng để mất những hồng ân ấy chỉ vì sự thờ ơ, thiếu chuẩn bị, không sẵn sàng.
Sẵn sàng còn có nghĩa là đã và đang bắt tay vào việc. Việc chờ đợi Chúa đến đây là phải có tinh thần sám hối, sửa đổi lại con người của mình cho phù hợp với ý Chúa. Bài đọc I hôm nay dạy chúng ta một cách tỉnh thức chờ đợi rất hay: như miếng đất sét trong tay người thợ gốm. Tiên tri Isaia đã nói lên một sự thật: “Chúng tôi là đất sét, còn Chúa là người thợ gốm”. Sự thật này đã được sách Sáng thế nói lên ngay từ đầu (St 2,7). Kiểu diễn tả cụ thể của tác giả sách Sáng thế và của tiên tri Isaia có ý rằng: con người lệ thuộc vào Thiên Chúa.
Sự lệ thuộc chỉ toàn có lợi. Miếng đất sét chịu lệ thuộc bàn tay uốn nắn của người thợ gốm thì sẽ trở thành những vật dụng rất hữu ích, thậm chí trở thành những tác phẩm mỹ thuật rất đẹp.
Vậy, tỉnh thức và chờ đợi Chúa trong Mùa Vọng là làm như miếng đất sét trong tay người thợ gốm: ngoan ngoãn vâng theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, để cho Chúa uốn nắn mình thành những tác phẩm tuyệt vời đúng ý Chúa (Lm. Carôlô, Sợi chỉ đỏ B, tr 12).
Chúng ta là những người đầy tớ đợi chủ về nhưng không biết vào lúc nào. Chúng ta chỉ biết sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Trong lúc chờ đợi, chúng ta phải làm tròn phận vụ của mình. Chúng ta phải sống dường như việc Ngài trở lại lúc nào cũng là việc bình thường. Ngài đã giao cho chúng ta nhiệm vụ quan trọng là mỗi ngày phải làm việc thích hợp để Ngài xem xét, bất cứ giờ phút nào chúng ta cũng phải sẵn sàng để gặp mặt Ngài mặt đối mặt. Cả đời sống chúng ta là việc chuẩn bị để gặp mặt Vua.
Truyện: Ngày mai ông chủ sẽ đến
Ngày kia có một khách du lịch dừng chân trước một biệt thự rất sang trọng cạnh một hồ nước trong xanh ở Thụy Sĩ, nhưng không phải trên con đường mà khách vãn cảnh thường qua lại. Khách du lịch gõ vào hàng rào sắt, tức thì một cụ già coi vườn ra mở cổng nặng nề vẫn đóng chặt. Sung sướng vì được thấy một người khách, cụ dẫn ông tham quan cả một khu vườn rộng lớn. Người khách hỏi:
– Cụ ở đây bao lâu rồi ?
– Thưa ông, tôi ở đây đã 24 năm.
– Chủ của cụ ít khi nghỉ tại biệt thự này, có phải không ? Cụ đã trông thấy ông mấy lần rồi ?
– Tôi đã trông thấy ông bốn lần. Lần cuối cùng cách đây đã 12 năm.
– Ông có viết thư cho cụ chăng ?
– Chẳng bao giờ.
– Thế ai trả công cho cụ ?
– Người quản gia của ông.
– Thế người quản gia này có năng đến đây không ?
– Tôi chưa hề thấy mặt ông. Ông ấy liên lạc với tôi qua thư từ.
– Thế thì ai hưởng sự đẹp đẽ này ?
– Trừ vợ tôi và tôi thì không ai hưởng hết.
– Tuy vậy, cụ coi sóc vườn này, sân hoa này, bãi cỏ này cách chu đáo, dường như ngày mai chủ của cụ sẽ đến.
– Ồ, Thưa ông, tôi làm như chủ tôi phải đến ngày hôm nay, vâng thưa ông, ngày hôm nay.
Mùa Vọng đã bắt đầu. Mùa Vọng là mùa trông đợi trong tin yêu, đợi ngày Chúa đến trong ngày tận thế. Nhưng cũng là trông đợi giây phút cuối cùng của mỗi người khi đi ra gặp Chúa. Chúng ta phải chuẩn bị hành trang cho lần gặp Chúa ấy và hy vọng rằng cuộc gặp gỡ này sẽ đem đến cho ta sự vui mừng khi được nghe Chúa nói lời êm ái: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Nước trời dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa, Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các người đã đến thăm”.