
“Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”
Bài Ðọc I: Is 11, 1-10
“Chúa lấy sự công minh mà xét xử người nghèo khó”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ngày ấy, từ gốc Giêsê sẽ đâm ra một chồi và cũng từ gốc ấy sẽ đơm lên một bông hoa. Trên bông hoa ấy, thần linh của Thiên Chúa sẽ ngự xuống, tức thần khôn ngoan và thông suốt, thần chỉ dẫn và sức mạnh, thần hiểu biết và đạo đức, và thần ấy sẽ làm cho Ngài biết kính sợ Thiên Chúa.
Ngài không xét đoán theo như mắt thấy, cũng không lên án theo điều tai nghe, nhưng Ngài sẽ lấy đức công minh mà xét xử những người nghèo khó, và lấy lòng chính trực mà bênh đỡ kẻ hiền lành trong xứ sở. Ngài sẽ dùng lời như gậy đánh người áp chế, và sẽ dùng tiếng nói giết chết kẻ hung ác. Ngài lấy đức công bình làm dây thắt lưng, và lấy sự trung tín làm đai lưng.
Sói sống chung với chiên con; beo nằm chung với dê; bò con, sư tử và chiên sẽ ở chung với nhau; con trẻ sẽ dẫn dắt các thú ấy. Bò (cái) và gấu (cái) sẽ ăn chung một nơi, các con của chúng nằm nghỉ chung với nhau; sư tử cũng như bò đều ăn cỏ khô. Trẻ con còn măng sữa sẽ vui đùa kề hang rắn lục, và trẻ con vừa thôi bú sẽ thọc tay vào hang rắn độc. Các thú dữ ấy không làm hại ai, không giết chết người nào khắp núi thánh của Ta. Bởi vì thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Chúa, như nước tràn đầy đại dương.
Ngày ấy gốc Giêsê đứng lên như cờ hiệu cho muôn dân. Các dân sẽ khẩn cầu Ngài, và mộ Ngài sẽ được vinh quang.
Ðáp Ca: Tv 71, 2. 7-8. 12-13. 17
Ðáp: Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người (c. 7).
Xướng: Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người đoán xét dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực.
Xướng: Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người cho tới khi mặt trăng không còn chiếu sáng. Và người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái đến tận cùng trái đất.
Xướng: Vì người sẽ giải thoát kẻ nghèo khó khỏi tay kẻ quyền thế, và sẽ cứu người bất hạnh không ai giúp đỡ. Người sẽ thương xót kẻ yếu đuối và người thiếu thốn, và cứu thoát mạng sống người cùng khổ.
Xướng: Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca khen người.
Bài Ðọc II: Rm 15, 4-9
“Chúa Kitô cứu rỗi hết mọi người”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, những gì đã viết ra là có ý để giáo huấn chúng ta, hầu nhờ Thánh Kinh thêm sức và an ủi, chúng ta được cậy trông. Xin Thiên Chúa, nguồn kiên tâm và an ủi, ban cho anh em biết thông cảm với nhau theo gương Chúa Giêsu Kitô, để anh em đồng thanh tôn vinh Chúa là Cha Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Vì thế, anh em hãy tiếp rước nhau như chính Chúa Giêsu đã tiếp nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa. Vì chúng tôi quả quyết với anh em: để chứng tỏ sự chân thật của Thiên Chúa, Ðức Giêsu Kitô đã phục vụ những người chịu phép cắt bì, hầu xác nhận lời hứa cùng các tổ phụ. Còn dân ngoại, họ tôn thờ Thiên Chúa vì lòng nhân từ Người, như lời chép rằng: “Vì vậy, lạy Chúa, con sẽ cao rao Chúa và sẽ ca tụng danh Chúa giữa các dân ngoại”.
Alleluia: Lc 3, 4. 6
Alleluia, alleluia! – Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng; và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 3, 1-12
“Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Ngày ấy, Gioan Tẩy Giả đến giảng trong hoang địa xứ Giuđêa rằng: “Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến”. Chính ông là người mà Tiên tri Isaia đã tiên báo: “Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”.
Bởi vì chính Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Bấy giờ dân thành Giêrusalem, khắp xứ Giuđêa và các miền lân cận sông Giođan tuôn đến với ông, thú tội và chịu phép rửa do tay ông trong sông Giođan.
Thấy có một số đông người biệt phái và văn nhân cũng đến xin chịu phép rửa, thì Gioan bảo rằng: “Hỡi nòi rắn độc, ai bảo các ngươi trốn lánh cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối. Chớ tự phụ nghĩ rằng: tổ tiên chúng ta là Abraham. Vì ta bảo cho các ngươi hay: Thiên Chúa quyền năng có thể khiến những hòn đá trở nên con cái Abraham. Ðây cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây. Cây nào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và bỏ vào lửa. Phần tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, để các ngươi được lòng sám hối; còn Ðấng sẽ đến sau tôi có quyền năng hơn tôi và tôi không đáng xách giày Người. Chính Ðấng ấy sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Ngài cầm nia trong tay mà sảy lúa của Ngài, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt”.
SUY NIỆM
A/ 5 phút Lời Chúa
VỊ TIÊN TRI KHÔNG CẢ NỂ
“Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối. Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: ‘Chúng ta đã có tổ phụ Ápraham.’ Vì tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham.” (Mt 3,8-9)
Suy niệm: Đừng tưởng con người có vẻ bán khai rừng rú mặc chiếc áo lông lạc đà và ăn toàn những châu chấu và mật ong rừng mà cho rằng vị tiền hô ấy sẽ nể nang những bậc quyền thế vị vọng như quý ông thuộc phái Sađốc hay nhóm Pharisêu. Trái lại, Gioan Tẩy Giả lại “giáng” xuống trên những hạng người ấy những lời lẽ nặng nề nhất: nào là “nòi rắn độc” “tìm cách trốn cơn thịnh nộ của Chúa”, nào là những bọn “con ông cháu cha” đừng “tưởng bở” cậy mình đã có tổ phụ Ápraham. Kèm theo đó là những lời đe doạ khủng khiếp: “chiếc rìu đã đặt sát gốc cây”. Thế nên, không phải cứ đến sông Giođan để cho Gioan Tẩy Giả trầm mình dưới làn nước mà đã gọi là ăn năn sám hối. Lòng ăn năn sám hối thực sự phải phát sinh hoa quả tương xứng bằng một cuộc đổi đời tận gốc và hiệu quả: “Hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.”
Mời Bạn: Không ai được miễn chước khỏi việc ăn năn sám hối. Nhưng không phải là ăn năn kiểu “sĩ diện”, vụ hình thức, như quý ông Pharisêu và Sađốc. Áp dụng vào bí tích hoà giải, hoa quả tương xứng với lòng thống hối là việc từ bỏ vết xe đổ của tính hư nết xấu (dốc lòng chừa) và thực thi bác ái (đền bù đi đôi với việc đền tội).
Sống Lời Chúa: Hẳn là bạn đang chuẩn bị cho việc sám hối mùa Vọng? Bạn hãy ăn năn dốc lòng chừa thật nghiêm túc.
Cầu nguyện: Sốt sắng đọc kinh “Ăn Năn Tội”.
B/ TGM Vũ Văn Thiên
THỜI THIÊN SAI
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG – NĂM A
Mỗi năm, khi Mùa Vọng về, Phụng vụ lại hướng chúng ta về thời Thiên sai. Đó sẽ là thời an bình. Trật tự hài hoà Thiên – Địa – Nhân, là trật từ vốn đã có từ thời sáng tạo, sẽ được tái lập. Ngôn sứ Isaia đã say sưa chiêm ngưỡng một xã hội thanh bình: “Sói ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái. Sư tử cũng ăn rơm như bò”. Qua ngòi bút của vị ngôn sứ, những loài động vật thường ngày vẫn “không đội trời chung” lại trở nên thân thiện và chung sống hài hoà. Ai trong chúng ta cũng đều nhận ra, vị ngôn sứ dùng hình ảnh thế giới động vật để diễn tả thế giới loài người. Khi Đấng Thiên sai đến, con người sẽ không còn thù ghét và chống lại nhau. Tất cả trở nên thân thiện. Sẽ không còn bạo lực và chém giết. Mọi người sống với nhau trong tình huynh đệ.
Đấng Thiên sai đã đến trong lịch sử cách đây hơn hai ngàn năm. Ngôi Lời đã làm người và ở với chúng ta. Bằng giáo huấn, và nhất là những phép lạ, Chúa Giêsu chứng minh Người là Đấng Thiên sai. Người được Chúa Cha sai đến trần gian để loan báo Nước trời và làm chứng cho tình thương của Chúa Cha. Những ai sẵn sàng dành cho Người một tình yêu trọn vẹn, sẽ trở nên môn đệ đích thực của Người, và sẽ cùng Người thừa kế gia nghiệp vĩnh cửu.
Mùa Vọng giúp ta suy gẫm việc Chúa Giêsu đã đến trong lịch sử. Người vẫn đang đến trong cuộc đời mỗi người. Những ai thiện chí và mở rộng tấm lòng, sẽ được đón Đấng Thiên sai. Giáo Hội mượn lời ông Gioan Tẩy giả để loan báo với chúng ta: Đức Giêsu, Đấng Thiên sai đã đến và đang đến. Lời kêu gọi sám hối của ông Gioan Tẩy giả cũng chính là lời rao giảng của Chúa Giêsu, khi Người khởi sự sứ vụ loan báo Tin Mừng (x. Mc 1,15). Thông điệp của ông Gioan Tẩy giả vẫn mang tính thời sự đối với chúng ta. Bởi lẽ trong xã hội hôm nay, nhiều người vẫn khước từ giáo huấn của Chúa Giêsu. Họ dửng dưng với Thiên Chúa và với lương tâm. Con người cậy dựa vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật, để nghĩ rằng đã đến lúc mình có thể thay thế Tạo Hoá, và gạt bỏ Tạo Hoá ra khỏi cuộc đời này. Kitô hữu là người tuyên xưng Đức tin vào Thiên Chúa. Kitô hữu cũng là người xác tín Đức Giêsu đang hiện diện trong cuộc sống. Người hiện diện để đồng hành và đỡ nâng chúng ta trên mọi nẻo đường, thêm sức cho chúng ta trong những gian nan thử thách. Chúa Giêsu đã đến thế gian và hôm nay Người vẫn hiện diện giữa chúng ta. Người đã hứa với các môn đệ: “Này đây Thày ở cùng anh em cho đến ngày tận thế” (Mt 28, 20).
Những người Do Thái nghe theo lời kêu gọi của ông Gioan Tẩy giả, xếp hàng để được ông làm phép rửa, như cử chỉ sám hối chân thành. Trong lời rao giảng, ông Gioan cảnh báo những tai hoạ trong tương lai nếu không sám hối. Ông cũng phê phán thái độ một số người Do Thái cậy mình chủ quan, viện cớ mình là con cháu ông Abraham thì sẽ được cứu thoát. Ông khẳng định: Do Thái cũng như dân ngoại, điều quan trọng là phải sám hối ăn năn và đón nhận Đấng Chúa Cha sai đến. Vị ngôn sứ nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, là người dọn đường cho Đấng Thiên sai đến. So sánh với Đấng Thiên sai, ông không đáng xách dép cho Người. Vai trò của ông chỉ là người giới thiệu. Trước đám đông của những người hâm mộ, ông không dành vinh quang cho riêng mình, nhưng khiêm tốn nhận mình là người dọn đường. Hình ảnh ông Gioan vừa nêu bật sứ điệp sám hối, vừa diễn tả sự khiêm nhường của người loan báo Chúa Giêsu. Sau này, ông Gioan khẳng định với các môn đệ mình: “Người phải nổi bật lên, còn thày phải lu mờ đi” (Ga 3,30).
Người thời nay đặt câu hỏi: “Tại sao thời Thiên sai đến rồi mà sói vẫn chưa ở chung với chiên con, dân này nước nọ còn xung đột chém giết và thế giới vẫn chưa có hoà bình?”. Chúa Giêsu không đem đến trần gian một nền hoà bình có sẵn như từ trên trời rơi xuống, mà Người đem đến trần gian những hạt giống của hoà bình. Người mời gọi mọi người hãy là những người gieo rắc hoà bình trong thế giới mình đang sống. Đó chính là thành tâm thiện chí sống theo giáo huấn Người rao giảng. Hơn nữa, thời Thiên sai Chúa Giêsu loan báo mới là chỉ khởi đầu và đang dần dần từng bước hoàn thành. Người mời gọi chúng ta cộng tác với Người để Nước Cha trị đến và ý Chúa Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời, như nội dung lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã dạy. Mỗi Kitô hữu được mời gọi trở nên một Gioan Tẩy giả, loan báo việc Chúa Giêsu đến trần gian và minh chứng cho sự hiện diện đầy yêu thương của Người bằng đời sống cụ thể của mình. Như thế, thế giới mới sẽ được thiết lập.
“Anh em hãy sám hối vì Nước trời đã đến gần”. Hôm nay, ở thế kỷ 21 này, Giáo Hội vẫn tiếp nối lời kêu gọi của ông Gioan và của Chúa Giêsu, để khẳng định: Nước Trời đã đến gần. Nước Trời không phải là một không gian được cố định bằng biên giới, giống như các quốc gia trần thế. Nước Trời ở chính trong tâm hồn chúng ta, như lời khẳng định của Chúa Giêsu (x. Lc 17,20). Tâm hồn chúng ta sẽ là Nước Trời khi có Chúa hiện diện, và khi ta cố gắng giữ tâm hồn thanh thản an bình. Nước trời không có trong ta, khi lòng ta chất chứa mưu mô và tham vọng. Chúa luôn chờ đợi để đến với ta. Chúa đã hứa: “Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta mà mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20). Mùa Vọng giúp chúng ta nhận ra Chúa đang hiện diện, đồng thời giúp chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đón Chúa đến trong đời sống cá nhân mỗi người. Nhiều người có thói quen coi nhẹ Mùa Vọng và chỉ chú ý đến Mùa Giáng sinh, với những trang trí lộng lẫy và những sinh hoạt sầm uất mang tính lễ hội. Niềm vui Giáng sinh chỉ trọn vẹn, khi chúng ta được đón Chúa đến tâm hồn, qua Bí tích Hoà giải và Bí tích Thánh Thể.
Trong Bài đọc II, thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy đón Chúa qua việc đón nhận anh chị em đồng loại. Ngài viết: “Anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đang hiện diện giữa chúng ta, nhưng đó là sự hiện diện vô hình huyền nhiệm. Những anh chị em bất hạnh cơ nhỡ nghèo đói, chính là hiện thân của Chúa Giêsu, vì Người đã đồng hoá với họ khi khẳng định: những ai giúp đỡ người nghèo là giúp đỡ chính Chúa. Lễ Giáng sinh sẽ có ý nghĩa tròn đầy, khi chúng ta vừa đón Chúa Giêsu Thánh Thể, vừa đón Chúa qua những anh chị em đau khổ bần hàn. Những nghĩa cử bác ái đối với anh chị em xung quanh, sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui.
Kính thưa anh chị em, Ngôi Lời đã làm người và ở cùng chúng ta. Ngôi Lời đã làm người, để cho con người được trở nên con Thiên Chúa. Thánh Gioan tông đồ viết: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa” (1Ga 1,31). Đây là sự trao đổi kỳ diệu, là sáng kiến đến từ tình yêu và lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Quỳ bên hang đá máng cỏ trong mùa Giáng sinh, chúng ta hãy tôn thờ, cảm tạ và cầu xin cho chúng ta xứng đáng với danh hiệu cao quý ấy. Kính chúc Quý vị và anh chị em một Mùa Vọng đầy ân sủng và mùa Giáng sinh hạnh phúc vui tươi, trong bình an của Đấng Thiên Sai, Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Amen.
C/ TGM Nguyễn Năng
Suy niệm: Gioan kêu gọi mọi người ăn năn sám hối vì Nước Trời đã gần. Ăn năn sám hối là gì ? Là thay đổi cuộc sống, thay đổi tư tưởng và những hành động không hợp với ý Chúa, để bắt đầu một cuộc sống mới tốt đẹp. Dẹp bỏ những chướng ngại lớn nhất trên con đường trở lại.
Cầu nguyện: Lạy Cha, xin giúp chúng con nhìn ra con người yếu hèn của mình. Xin cho chúng con khám phá ra những ngăn trở làm chúng con không đến được với Cha, không đến được với anh chị em chúng con. Chúng con đánh mất chính mình.
Xin cho chúng con biết tìm về tận căn của những lỗi phạm ấy và làm một cuộc hoán cải đúng nghĩa. Nhờ hoa trái của lòng sám hối, chúng con đáng được Cha thương trong ngày đó. Amen.
Ghi nhớ: “Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến”.
D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật này nêu bật những viễn cảnh thời Mêsia: viễn cảnh xa: sấm ngôn của Isaia vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên; viễn cảnh gần: lời loan báo của thánh Gioan Tẩy Giả vào thời Đức Giê-su. Hai viễn cảnh này sẽ được thực hiện ở nơi Chúa Kitô và bởi Chúa Kitô, như thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu điều này.
Is 11: 1-10
Ngôn sứ Isaia tiên báo rằng một vị vua công chính, thuộc dòng dõi Đavít, sẽ đến trong tương lai. Ngài sẽ quan tâm đến những người khiêm hạ, sẽ làm cho sự công chính hoàn hảo ngự trị và sẽ thực hiện sự hòa giải giữa muôn loài thọ tạo.
Rm 15: 4-9
Thánh Phaolô mời gọi những người tín hữu Rôma phải nên tâm đầu ý hợp với nhau, theo tinh thần Chúa Kitô, Đấng đã hiệp nhất và hòa giải người Kitô hữu gốc Do thái với người Kitô hữu gốc lương dân; người đầu tiên là con cái của Lời Hứa, người thứ hai, con cái của Lòng Xót Thương.
Mt 3: 1-12
Tin Mừng Mát-thêu, qua lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả, giới thiệu cho chúng ta một biến cố được chờ mong và chuẩn bị trong suốt nhiều thế kỷ: Đấng đến, Ngài sẽ tuyển lựa giữa thóc mẩy được đưa vào kho và thóc lép bị thiêu đốt. Không có lối thoát nào có thể ngoài tấm lòng hoán cải, đó là điều kiện tất yếu.
BÀI ĐỌC I (Is 11: 1-10)
Bản văn này là một trong ba sấm ngôn về Đấng Mêsia được gặp thấy ở đầu sách Isaia, ở các chương 7, 9 và 11. Trong Năm Phụng Vụ, Năm A này, chúng ta đọc cả ba sấm ngôn này, vào Chúa Nhật II Mùa Chay, vào Chúa Nhật IV Mùa Vọng và vào ngày lễ Giáng Sinh.
1. Bối cảnh:
Cả ba sấm ngôn của ngôn sứ Isaia đều nêu bật “Đấng Mêsia vương đế”, vì chúng được định vị vào trong sự nối dài của sấm ngôn Nathan cho vua Đavít: “Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi…Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi” (2Sm 7: 12-16). Vì thế, cả ba sấm ngôn này đều hướng đến cuộc sinh hạ của một con trẻ thuộc hoàng tộc Đavít, mà tên của con trẻ này là“Emmanuen” (Is 7: 14-17), nghĩa là, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Con trẻ này sẽ giải thoát dân Thiên Chúa khỏi cảnh đời tối tăm và áp bức (Is 9: 1-6), sẽ thiết lập triều đại công minh chính trực và kiến tạo một nền hòa bình viên mãn (Is 11: 1-9).
Cả ba sấm ngôn này được công bố cho dân thành Giêrusalem vào hậu bán thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên. Đối với toàn dân Ítraen, đây là thời kỳ bi thảm: thế lực của đế quốc Átsua đang bành trướng, bắt triều cống và cuối cùng tiêu diệt vương quốc miền Bắc vào năm 721 trước Công Nguyên. Vương quốc miền Nam cũng không thể tránh khỏi, phải chịu số phận chư hầu và nhận biết những đột biến đầy bi thảm.
Bản văn chúng ta đọc vào Chúa Nhật này là sấm ngôn thứ ba trong ba sấm ngôn này; niên biểu của nó thật khó xác định; chắc chắn phải đặt nó vào một trong những giờ phút lịch sử nghiêm trọng này (có thể vào cuối thế kỷ thứ tám khi vua Xankhêríp, vua Átsua, xâm lăng và bao vây thành đô Giêrusalem?). Dù hoàn cảnh lịch sử có nghiêm trọng đến mấy đi nữa, sấm ngôn này là bài ca tràn đầy niềm hy vọng.
2. Một niềm hy vọng lớn lao:
“Từ gốc tổ Giesê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non”. Hình ảnh này chắc chắn gợi lên tình trạng bi thương của vương tộc Đavít được ví như một cây bị chặt cả thân lẫn cành chỉ còn trơ trọi một gốc cây; nhưng vương tộc này sẽ sống lại, như gốc rễ mà người ta tưởng là đã chết lại đâm chồi nẩy lộc. Trong sấm ngôn, vị ngôn sứ tránh nêu tên Đavít, thậm chí cả tước hiệu vương đế nữa; ông chỉ kể một tên duy nhất: Giesê.
3. Gốc tổ Giesê:
Việc không nêu tên Đavít có thể xem ra khác thường. Nhưng nếu khảo sát Kinh Thánh, chúng ta nhận ra rằng ông Giesê luôn luôn được gọi là “người Bêlem”, trong khi vua Đavít gắn liền tên tuổi mình vào thành thánh Giêrusalem. Về phương diện lịch sử, ông Giesê vẫn là một nông dân khiêm tốn của làng Bêlem. Có thể qua cách phác họa đạm bạc này, vị ngôn sứ có một linh cảm: hậu duệ tương lai của ông Giesê sẽ là một con trẻ Bêlem khiêm tốn.
4. Thánh Thần xức dầu tấn phong:
“Thần Khí Chúa sẽ ngự trên vị này”. Những ân huệ của Chúa Thánh Thần được liệt kê từng cặp, theo lối sêmít:
– thần khí khôn ngoan và minh mẫn,
– thần khí mưu lược và dũng mãnh,
– thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa.
Như vậy tổng cộng là sáu ân huệ. Bản Bảy Mươi, bản dịch Hy lạp, đã thêm vào “lòng xót thương” để cho có bảy ân huệ, bởi vì con số bảy là con số chỉ sự viên mãn. Đây là nguồn gốc bảy ơn Chúa Thánh Thần của chúng ta.
Việc nhấn mạnh đến những ân huệ phong phú và thường hằng của Chúa Thánh Thần thật đáng chú ý. Nhân vật thuộc hậu duệ Giesê sẽ lãnh nhận ơn phù trợ, không phải tùy dịp, nhưng thường hằng. Chúng ta biết rằng Đấng mà Chúa Thánh Thần xức dầu tấn phong này bắt nguồn từ chữ Hy bá “Mêsia”, được dịch sang Hy ngữ “Christos” và được phiên âm“Kitô” nghĩa là “Đấng được xức dầu” phong vương.
5. Triều đại của vua công chính:
“Người sẽ không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói, nhưng xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng, và phán quyết vô tư bênh kẻ nghèo trong xứ sở”. Chân dung của vị vua lý tưởng trước hết là chân dung của vị vua công chính: đức công chính của vua được thể hiện ở nơi việc bênh vực những kẻ nghèo hèn trong xứ sở, vốn là những kẻ thấp cổ bé miệng không có tiếng nói trong xã hội, những nạn nhân của những kẻ quyền cao chức trọng, giàu có.
Được cai trị theo lẽ công minh, vương quốc của Ngài sẽ được hưởng một nền hòa bình chân thật và viên mãn. Những bất công xã hội mà các ngôn sứ không ngừng tố cáo và lên án sẽ không còn nữa. Sẽ không còn cảnh người bốc lột người, sẽ không còn cảnh áp bức và cấu xé lẫn nhau như lang sói, thiên hạ sẽ vui hưởng cảnh thái bình. Cảnh thái bình này được vị ngôn sứ diễn tả bằng những hình ảnh rất sống động: “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cùng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang”.
Phải chăng ở nơi bức tranh diễm tình này chúng ta thấy chủ đề vườn địa đàng đã mất nay được tái lập? Thực ra, đề tài này thì hiếm tại các văn sĩ kinh thánh, họ quan niệm lịch sử thánh theo chiều hướng đi lên: nhân loại tiến bước đến một trật tự mới của các tạo vật, họ hướng đến một Đấng. Cuộc trở về “thời hoàng kim” thuộc văn chương ngoại giáo hơn, ở đó lịch sử được quan niệm như một chu trình: “hết hồi bĩ cực lại sinh thời thái lai”.
Vì thế, chắc chắn đề tài được đề cập ở nơi sấm ngôn này là đề tài Kinh Thánh, đề tài về sự liên đới của thiên nhiên với vận mệnh của con người. Chúng ta có thể trích dẫn nhiều ví dụ về đề tài này. Chẳng hạn như vào Chúa Nhật tới chúng ta sẽ đọc thấy rằng sa mạc tưng bừng nở hoa hân hoan chào đón bước chân của những người lưu đày Babylon trở về cố hương (Is 35: 1-10).
6. Sự hiểu biết Thiên Chúa:
Thiên hạ sẽ vui hưởng cảnh thái bình chân thật, bởi vì mọi người đều được hiểu biết Thiên Chúa cách sung mãn: “Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển”. Đó là những dấu chỉ của thời đại Mêsia, thời mà sự hiểu biết Thiên Chúa sẽ tràn ngập giữa con người. Đó sẽ là công trình của chồi non Giesê. Không có sấm ngôn nào tốt hơn sấm ngôn này về việc mặc khải Chúa Cha mà Chúa Con đem đến.
Câu cuối cùng này đã được ngôn sứ Isaia đệ nhị, vị ngôn sứ thời hậu lưu đày, lấy lại hầu như theo sát từng từ, và đặt vào trong viễn cảnh cánh chung: “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa…Sói với chiên con sẽ cùng ăn cỏ, sư tử cũng ăn rơm như bò, còn rắn sẽ lấy bụi đất làm lương thực. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta” (Is 65: 17 và 25).
7. Cờ hiệu cho các dân tộc:
“Đến ngày đó, cội rễ Giesê sẽ đứng lên làm cờ hiệu cho các dân. Các dân tộc sẽ tìm kiếm Người, và nơi Người ngự sẽ rực rỡ vinh quang”. Đề tài này rất gần với chủ đề mà ngôn sứ đã khai triển ở chương 2, chương nói về thành thánh Giêrusalem và Đền Thờ, thật sự lôi cuốn tâm trí của toàn thể nhân loại.
BÀI ĐỌC II (Rm 15: 4-9)
Trong đoạn trích thư gởi cho các tín hữu Rôma này, thánh Phaolô đề cập đến hai chủ đề: tầm quan trọng của Kinh Thánh trong việc nâng đỡ đức tin và đức cậy của người Kitô hữu và lời kêu gọi hãy đồng tâm nhất trí với nhau giữa người Kitô hữu gốc Do thái và người Kitô hữu gốc lương dân.
1. Tầm quan trọng của Kinh Thánh:
Ở đoạn văn trước, thánh Phaolô đã trích dẫn Thánh Vịnh 69 mô tả những nỗi đau khổ của người công chính bị bách hại: “Lời kẻ thóa mạ Ngài, này chính con hứng chịu”. Đây là một ví dụ tuyệt vời cho thấy một sấm ngôn đã được chứng thực ở nơi con người và sứ vụ của Đức Kitô. Đây cũng là dịp để thánh nhân nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc đọc Kinh Thánh: “Quả thế, mọi lời xưa đã chép trong Kinh Thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiễn nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy”.
Chúng ta lưu ý rằng trong thư thứ hai gởi cho các tín hữu Côrintô, khi nói về người Do thái đọc Kinh Thánh, thánh Phaolô viết: “Cho đến nay, khi họ đọc Cựu Ước, tấm màn ấy vẫn còn, chưa được vén lên, vì chỉ trong Đức Ki-tô, tấm màn ấy mới được vứt bỏ” (2Cr 3: 14). Đây là lần đầu tiên thuật ngữ “Cựu Ước” xuất hiện trong văn chương Kitô giáo. Thánh Phaolô biết Kinh Thánh rõ hơn bất cứ ai, vì trước kia khi còn là một người Do thái nhiệt thành với niềm tin của cha ông, thánh nhân đã nghiên cứu Kinh Thánh một cách cẩn trọng qua việc thọ giáo với kinh sư Gamalien danh tiếng; bây giờ đã là môn đệ của Chúa Kitô, thánh nhân thích thú đọc và chiêm niệm những mầu nhiệm loan báo cuộc đời của Đức Kitô trong Kinh Thánh.
Lời khuyên bảo của thánh nhân cho ông Timôthêô, vừa là người môn đệ vừa là cộng tác viên thân tín của mình, chứng thực điều đó: “Tất cả những gì viết trong Kinh Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành” (2Tm 3: 16-17). Giờ đây, lời khuyên bảo tương tự như thế được gởi đến cho các tín hữu Rôma: “Quả thế, mọi lời xưa đã chếp trong Kinh Thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trong cậy”. Lời khuyên này chứng thực rằng những người Kitô hữu gốc lương dân đã bắt đầu học Kinh Thánh mà không cần phải học tiếng Hy-bá, vì họ đã có trong tầm tay bản Bảy Mươi, bản dịch Kinh Thánh bằng Hy ngữ.
Thật có ý nghĩa biết bao khi mà trong các sách Tin Mừng những lời trích dẫn Cựu Ước hầu như luôn luôn được trích dẫn từ bản Bảy Mươi chứ không từ bản Hy-bá. Sự kiện này ghi nhận một điều rất quan trọng theo đó, ngay từ khởi đầu Giáo Hội, những Kitô hữu gốc lương dân đã được Lời Chúa quy tụ và hiệp nhất với nhau nhờ bản văn Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp. Hiện nay cũng thế, các Kitô hữu thuộc mọi dân mọi nước trên thế giới được quy tụ và hiệp nhất với nhau nhờ các bản dịch Kinh Thánh sang tiếng mẹ đẻ của mình. Bởi lẽ đối với mỗi người Kitô hữu, trước hết Kinh Thánh chính là Lời Thiên Chúa, và trên tất cả là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Thứ nữa, khi đọc Kinh Thánh, họ ý thức với một niềm xác tín sâu xa rằng không đơn thuần đọc lại những lời nói và những hành động của Thiên Chúa trong quá khứ mà cốt yếu là nhận ra rằng vị Thiên Chúa, Đấng đã phán: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”, vẫn tiếp tục nói và hành động trong Giáo Hội và trong cuộc đời hiện nay của họ qua từng biến cố nhỏ to.
2. Lời kêu gọi hãy đồng tâm nhất trí với nhau:
“Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Giêsu Kitô đòi hỏi”. Lời khẩn cầu này khai mào chủ đề thứ hai và nói lên nỗi bận lòng sâu xa của vị Tông Đồ: sự hiệp nhất của cộng đồng gồm những người Kitô hữu gốc Do thái và những người Kitô hữu gốc lương dân, mà biết bao những đối kháng ngay từ đầu có nguy cơ dẫn đến sự đối lập giữa họ.
Đây không là một vấn đề đặc thù mà cộng đoàn Rôma gặp phải, tất cả thế hệ Kitô hữu đầu tiên đều đã nhận biết những căng thẳng như thế. Tuy nhiên, trong thủ đô của đế quốc, tình trạng đã trở nên trầm trọng hơn vì hoàn cảnh lịch sử. Hoàng đế Claudius đã ban chiếu chỉ vào năm 49 ra lệnh trục xuất những người Do thái khỏi kinh thành Rôma, lấy cớ những rối loạn “do bởi ông Kitô”. Có lẽ lời rao giảng của Kitô giáo đã gây nên những xáo trộn trong cộng đồng Do thái, một cộng đồng quan trọng trong thủ đô Rôma. Và vì không thể phân biệt giữa những người Do thái trung thành với luật Môsê và những người Do thái theo Kitô giáo, nên chiếu chỉ này được áp dụng cho cả hai (chính vì thế mà ông bà Aquila và Pơrítkila rời Rôma và đến lánh nạn ở Côrintô: Cv 18: 2-3).
Sau khi hoàng đế Claudius băng hà vào năm 54, những Kitô hữu gốc Do thái trở lại Rôma. Ấy vậy, chỉ sau vài năm, Giáo Đoàn Rôma chỉ còn toàn những người Kitô hữu gốc lương dân. Những xích mích khó mà tránh khỏi giữa những người Kitô hữu gốc Do thái và những người Kitô hữu gốc lương dân. Thánh Phaolô đã viết thư này vào mùa xuân năm 57. Những sự cố vẫn còn hiển hiện trong bức thư này.
“Vậy, anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa”. Lời khuyên bảo của thánh Phaolô chủ yếu gởi đến những người Kitô hữu gốc lương dân, họ phải cho thấy mình là anh em đối với những người con của Lời Hứa, tức người Kitô hữu gốc Do thái; vì chính họ, những lương dân, nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, đã trở thành những người con mới của Lời Hứa, nhờ đó họ cũng có thể tôn vinh Thiên Chúa chân thật.
Và như để nhắc lại lời khẳng định ban đầu về giá trị của Kinh Thánh, thánh Phaolô kết thúc bằng lời trích dẫn Tv 18: “Vì thế giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa”. Qua hình thức đóng khung này, thánh Phaolô một lần nữa nhắc cho họ nhớ rằng không phải lời giáo huấn của thánh nhân, nói cách chính xác lời khuyên bảo của thánh nhân chỉ là phục vụ Lời Chúa mà thôi, nhưng chính Lời Chúa quy tụ và hiệp nhất tất cả các tín hữu, dù người Kitô hữu xuất thân từ Do thái hay từ lương dân, và thậm chí cả người Do thái nữa. Đó cũng là phương sách mà Đấng Phục Sinh đã vận dụng khi đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmau “bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Ngài giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Ngài trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24: 27).
TIN MỪNG (Mt 3: 1-12)
Thánh Mátthêu dẫn đưa chúng ta vào lãnh vực hoạt động của Gioan Tẩy Giả mà không có bất kỳ lời mào đầu nào. Chính nhờ một tác giả Tin Mừng khác, thánh Luca, mà chúng ta nhận biết nhân cách của Gioan Tẩy Giả, gia đình của ông, hoàn cảnh chào đời của ông, vân vân (Lc 1: 5-25, 57-80). Như vậy, chắc hẳn khoa giáo lý tiên khởi bắt đầu với sự xuất hiện đột ngột của vị Tiền Hô và sứ điệp của ông. Sách Tin Mừng Máccô và sách Tin Mừng Gioan xác nhận lời chứng này, theo cùng một hướng đi như phần mở đầu đột ngột của Tin Mừng Mátthêu. Phân đoạn mà chúng ta thường gọi là “Tin Mừng Thời Thơ Ấu” theo Thánh Mátthêu (ch. 1-2) đã được thêm vào sau như Tựa Ngôn.
1. Hoang địa miền Giuđêa:
Việc thánh Gioan Tẩy Giả chọn hoang địa làm khung cảnh cho lời rao giảng của ông không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đối với dân Ítraen, hoang địa gợi lên biết bao kỷ niệm sống động trong tâm trí của họ. Hoang địa là nơi dân Ngài gặp gỡ Thiên Chúa của mình, là nơi Thiên Chúa kết giao đính ước với dân Ngài và cũng là nơi dân Ngài đã trải qua kinh nghiệm tôn giáo trong những gian nan thử thách. Đã có một khoa thần bí về hoang địa, mà sự hiện diện của cộng đoàn Qumran trong vùng đất này làm chứng. Cộng đoàn này chuẩn bị tâm hồn trong đời sống khổ chế, cầu nguyện và thanh tẩy để chờ đón kỷ nguyên Mêsia. Mặt khác, hoang địa ban cho “nước” ý nghĩa tròn đầy của nó: hơn bất cứ nơi nào khác, ở đây nước là sự sống, đồng nghĩa với ơn cứu độ. Sau cùng, hoang địa còn mang biết bao giá trị biểu tượng: chính hoang địa khô khan cằn cỗi của những tâm hồn mà Gioan Tẩy Giả mời gọi biến thành những mảnh đất tâm linh phì nhiêu.
2. Nước Trời đã đến gần:
“Anh em hãy ăn năn sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. “Ăn năn sám hối” được dịch từ động từ Hy lạp, có nghĩa: suy nghĩ lại, thay đổi tâm tư tình cảm, thay lòng đổi dạ, thay đổi cách ăn nếp ở, hoán cải, tức là từ bỏ đàng tội lỗi mà quay trở về cùng Thiên Chúa. Nguyên do của việc hoán cải là vì “Nước Trời đã đến gần rồi”.
Động từ Hy ngữ được dùng trong câu: “Nước Trời đã đến gần” ở thì hiện tại hoàn thành, vì thế, phải hiểu: “Nước Trời đã đến và hiện có mặt ở đây rồi”. Thánh Mátthêu hầu như luôn luôn dùng diễn ngữ: “Nước Trời”, khác với thánh Máccô và thánh Luca: “Nước Thiên Chúa”. Đây là kiểu nói sêmít để tránh gọi tên cực thánh của Thiên Chúa. Ngoài ra, từ Hylạp “basileia” có nghĩa, “nước” hay “vương quốc”, hoặc “triều đại”. Thuật ngữ “triều đại” thích hợp hơn, vì trong Tin Mừng thuật ngữ này được dùng để chỉ không là một thực thể địa lý: một nước, một quốc gia, hay một vương quốc, nhưng là thời điểm thánh ý Thiên Chúa sẽ được thực hiện ở dưới đất cũng như ở trên trời. Đó là mục đích mà Thiên Chúa nhắm đến cho toàn thể vũ trụ như trong lời kinh Chúa dạy: “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.
Thánh Gioan Tẩy Giả cất tiếng kêu gọi sự hoán cải. Nhiều ngôn sứ đã cất cao lời mời gọi như thế rồi. Nhưng từ lâu, đã không còn có ngôn sứ nào xuất hiện trong dân Ítraen kể từ ngôn sứ Malakhi, Gioan Tẩy Giả là ngôn sứ cuối cùng, ông công bố Đấng Mêsia sắp đến rồi, ông là vị Tiền Hô mà ngôn sứ Isaia đã loan báo: “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẳn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”. Trong bối cảnh của mình, vị ngôn sứ Isaia đệ nhị loan báo cuộc hồi hương trở về của những người lưu đày Babylon sắp đến và mời gọi những người lưu đày này hãy chuẩn bị chờ đón Đức Chúa, Ngài sẽ thực hiện một cuộc xuất hành mới để dẫn dân Ngài hồi hương trở về quê cha đất tổ.
Như thánh Máccô và thánh Luca, thánh Mátthêu trích dẫn Is 40: 3 theo bản Bảy Mươi chứ không theo bản gốc Hy bá. Có hai điểm khác nhau giữa bản văn Hy bá và bản văn Hy lạ về cách ngắt câu và về từ ngữ. Về cách ngắt câu, trong bản văn Hy bá cụm từ chỉ nơi chốn: “trong hoang địa” đi theo với câu sau và có một sự khác biệt của dụng ngữ giữa bản Bảy Mươi và bản Hy bá: thay vì “hãy mở một con đường” và “hãy vạch một con lộ”, bản Bảy mươi lại viết: “hãy dọn sẵn một con đường” và “hãy sữa cho thẳng những nẻo đường”. Như vậy, bản Hy bá viết: “Có tiếng người hô: ‘Trong hoang địa, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta”, thì bản văn Bảy Mươi điều chỉnh lại: “Có tiếng người hô trong hoang địa: ‘Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, hãy sữa cho thẳng những nẻo đường của Thiên Chúa chúng ta”. Vì thế, qua việc ngắt câu khác và qua các việc sữa đổi vài từ ngữ, bản Bảy Mươi đem lại cho sấm ngôn Isaia một chiều kích tâm linh hơn.
Các sách Tin Mừng Nhất Lãm trích dẫn Is 40: 3 theo bản Bảy Mươi, tuy nhiên các tác giả Tin Mừng có vài sữa đổi cho phù hợp với bối cảnh hiện nay của mình. Thay vì kiểu nói mơ hồ không xác định: “Có tiếng hô trong hoang địa” của bản Bảy Mươi, Tin Mừng Nhất Lãm thêm từ “người”: “Có tiếng người hô trong hoang địa”, nhờ đó Tin Mừng Nhất Lãm có thể áp dụng câu này vào sứ mạng của Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Hô của Đấng Mêsia. Và thay vì kiểu nói: “sữa lối cho thẳng những nẻo đường của Thiên Chúa chúng ta” của bản Bảy Mươi, thì Tin Mừng Nhất Lãm lại thay từ “Người” cho từ “Thiên Chúa”: “sữa lối cho thẳng để Người đi”, nhờ đó Tin Mừng Nhất Lãm dể dàng quy chiếu đến Đức Giêsu.
3. Cách sống của thánh Gioan Tẩy Giả:
Cách ăn mặc quá đạm bạc của Gioan Tẩy Giả cho thấy mẫu gương của đời sống khổ chế và tấm lòng sám hối: mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da. Cách ăn mặc này gợi nhớ cách ăn mặc của các ngôn sứ nhiều lần được mô tả trong các bản văn Kinh Thánh, nhất là ngôn sứ Êlia, vị ngôn sứ đã chọn cách ăn mặc như thế để bày tỏ sự phản kháng của mình chống lại thói xa hoa và hư hỏng của vương quốc Ítraen (2V 1: 8). Ấy vậy, rõ ràng ngôn sứ Êlia là vị ngôn sứ mà dân chúng đang mong đợi sự trở lại của ông vào thời đại Mêsia. Còn về châu chấu và mật ong rừng, mà vị Tiền Hô dùng làm lương thực, là những thức ăn được gặp thấy trong hoang địa này.
4. Phép rửa tỏ lòng sám hối:
Nghi thức phép rửa mà thánh Gioan Tẩy Giả đề xướng như dấu chỉ bày tỏ sự hoán cải là nghi thức rất phổ biến vào thời đó. Các vị lãnh đạo tôn giáo đòi hỏi các tân tòng muốn gia nhập vào cộng đoàn Ítraen phải lãnh nhận phép rửa, ngoài phép cắt bì. Người Do thái thực hành nhiều nghi thức thanh tẩy, và họ còn thêm một số lượng lớn vào thời hậu lưu đày. Những nghi thức này được thực hành hằng ngày tại cộng đoàn Qumran. Tuy thế, phép rửa mà thánh Gioan Tẩy Giả đề xướng là một nghi thức thanh tẩy độc nhất vô nhị; bởi vì ngoài việc thanh tẩy bên ngoài, nghi thức này là dấu hiệu của việc thanh tẩy nội tâm: chuẩn bị tâm hồn để đón nhận ơn tha thứ tội lỗi, nhưng chưa có quyền năng tha thứ tội lỗi.
5. Khắp miền Giuđêa:
“Bấy giờ, người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giuđêa, cùng khắp vùng ven sông Giođan, kéo đến với ông”. Việc Gioan Tẩy Giả rao giảng thành công là điều chắc chắn. Sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta biết rằng có những cộng đoàn tự nhận mình là môn đệ của vị Tiền Hô lâu sau khi Gioan Tẩy Giả qua đời. Những cộng đoàn này đã được hình thành thậm chí vượt ra bên ngoài miền Giuđêa nữa, như ở Êphêsô (Cv 19: 1-7) và ở Alêxanria (Cv 18: 24-25). Nhưng kiểu nói của thánh Mátthêu “khắp miền Giuđêa” là kiểu nói phóng đại có chủ ý để nhấn mạnh trước sự tương phản mà sau này đám đông dân chúng căm thù Đức Giêsu bày tỏ ra.
6. Những người Pharisêu và những người Xađốc:
Đây là lúc tác giả Tin Mừng cất cao giọng: qua Gioan Tẩy Giả, thánh ký lớn tiếng tố cáo thói giả hình của những người Pharisêu và những người Xađốc, như sau này Chúa Giêsu cũng sẽ làm như vậy. Những người này đến chịu phép rửa để tỏ lòng sám hối, nhưng tự thâm tâm, họ tự hào tự phụ rằng mình chẳng có gì phải sợ sự phán xét của Thiên Chúa cả, vì mình là “con cháu ông Ápraham” (x. Ga 8: 33-40; Rm 9: 7-8).
Thánh ký liên kết trong cùng một tiến trình hai nhóm người rất đối lập với nhau, bất đồng sâu xa về thái độ tôn giáo, xã hội và chính trị; nhưng họ đại diện những đối thủ tiêu biểu của Chúa Giêsu cũng như của Giáo Hội tiên khởi sau này. Những lời chỉ trích sinh động được đặt trên môi miệng của Gioan Tẩy Giả, tiên báo hoàn cảnh căng thẳng mà Chúa Giêsu và Giáo Hội tiên khởi sẽ trải qua.
– Phái Xađốc cốt yếu là giai cấp giáo sĩ; họ đại diện khuynh hướng bảo thủ tôn giáo: chỉ chấp nhận truyền thống văn tự mà các tư tế là những người chú giải duy nhất, chứ không các kinh sư giải thích Luật; họ thuộc vào giai cấp giàu có và tán thành cuộc chiếm đóng của đế quốc Rôma. Phái này biến mất sau năm 70, tức là, sau khi kinh thành Giêrusalem bị sụp đổ và Đền Thờ bị phá hủy.
– Phái Pharisêu, đông hơn phái Xađốc nhiều, đại diện yếu tố sống động của Do thái giáo. Ngoài truyền thống văn tự, họ còn chấp nhận các truyền thống miệng. Nhưng lòng nhiệt thành của họ đối với Lề Luật đã sinh ra muôn vàn luật cảnh huống nghiêm nhặt; họ hình thành nên một tầng lớp trung lưu; họ không là những người phục vụ Đền Thờ nhưng phục vụ các hội đường; chính qua các kinh sư thuộc phái của họ mà họ có ảnh hưởng trên dân chúng. Những kinh sư danh tiếng nhất đều thuộc phái Pharisêu, như kinh sư Gamalien, thầy của thánh Phao-lô sau này.
Gioan Tẩy Giả chỉ trích nặng lời hai nhóm này bằng ba câu. Trước hết, “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các ngươi cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?”. “Ai”được ám chỉ ở đây nếu không là quỷ? Do đó, việc kể ra con rắn độc là ám chỉ đến con rắn của sách Sáng Thế, con rắn dẫn đưa con người đến chỗ xa rời Thiên Chúa.
Thứ đến, thánh Gioan nhắc nhớ rằng đừng tự hào tự phụ mình là con cháu ông Ápraham vì “Thiên Chúa có thể làm cho những viên đá này trở nên con cháu ông Ápraham”. Câu nói lạ lùng này dựa trên lối chơi chữ không thể dịch được: theo ngôn ngữ Aram, từ “con cái ” là “benê” và “những viên đá” là “abênê”; tuy nhiên, ý nghĩa thì rất rõ ràng, thánh Gioan nhắc cho họ nhớ rằng đừng tự hào tự phụ mình là con cháu ông Ápraham, vì không có gì Thiên Chúa không làm được.
Và cuối cùng, “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa”. Trong Cựu Ước, dân Ítraen được ví như cây không sinh quả tốt như lòng Thiên Chúa mong đợi. Như vậy, hành vi sám hối mà thánh Gioan mời gọi không đơn giản đón nhận nghi thức phép rửa mà phải phát sinh những việc lành phúc đức. Đó là điều Thiên Chúa chờ đợi ở nơi từng người tín hữu.
Theo văn mạch, chắc chắn những lời này nhắm đến tính phụ tự mãn của những người Pharisêu và những người Xađốc, nhưng bài học cũng được gởi đến cho bất cứ những ai lấy cớ này hay cớ nọ để ru ngủ tiếng lương tâm mình.
7. Đức khiêm hạ của vị Tiền Hô:
Gioan Tẩy Giả có một cảm thức sâu xa về sự cao cả của Thiên Chúa, đồng thời ông có một ý thức sắc bén về tội lỗi. Hai thái độ này chung chung được liên kết với nhau trong con người của Gioan: ông nhận ra sự nhỏ bé của mình trước Đấng đến sau ông đến mức ông không xứng đáng xách dép cho Ngài. Hình ảnh so sánh này rất sinh động: những hối nhân cởi dép để bước xuống sông Giođan. Quả thật, truyền thống dạy rằng không được bắt những nô lệ gốc Do thái làm những việc quá nặng nhọc hay thấp kém, như “cởi dép cho chủ hay rửa chân cho chủ”. Như vậy, thánh Gioan Tẩy Giả tự đặt mình vào hàng nô lệ rốt hết để ghi nhân một khoảng cách quá lớn giữa thánh nhân, vị Tiền Hô, và Đấng Mêsia mà thánh nhân có sứ mạng loan báo.
Sau cùng, thánh nhân tuyên bố phép rửa mà ông làm thì chưa đủ, bởi vì phép rửa trong nước này chỉ để giục lòng ăn năn sám hối chuẩn bị đón nhận ơn tha thứ mà Đấng Mêsia đem đến. Còn Đấng mà ông loan báo đến sau ông, Ngài sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa. Phép rửa của Ngài mới có quyền năng tha thứ tội lỗi.
8. Đấng Mêsia Thẩm Phán:
Gioan Tẩy Giả thoáng thấy Đấng Mêsia đến như một vị Thẩm Phán. Quả thật, đây là một chủ đề thường hằng của trào lưu ngôn sứ, các ngài loan báo “Ngày của Chúa” như Ngày Chung Thẩm và trình bày kỷ nguyên Mêsia như tham dự trước kỷ nguyên cánh chung. Đức Giêsu thật sự sẽ là vị Thẩm Phán của thời cuối cùng: sự hiện diện của Ngài sẽ đòi buộc một sự chọn lựa dứt khoát.
Hình ảnh mùa gặt là hình ảnh kinh điển để chỉ về cuộc tụ họp vĩ đại của ngày cánh chung, ví dụ như Is 27: 12: “Rồi ngày kia Đức Chúa sẽ đập lúa từ sông Cả cho tới suối Aicập. Và anh em, hỡi con cái Ítraen, từng người một, anh em sẽ được Chúa mót nhặt về”. Chủ đề“lửa” xuất hiện ở đây với hai giá trị: lửa thanh luyện người công chính và ngay lành, vì thế, tác dụng của lửa gần với tác động của Chúa Thánh Thần: “Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thần Khí và lửa”; đồng thời cũng là lửa trừng phạt không hề tắt sẽ thiêu hủy những kẻ bất chính và bất lương.
Thánh Gioan Tẩy Giả đã thấy sự xuất hiện của Đức Giêsu như vị Thẩm Phán: thưởng những người lành thánh và phạt những kẻ gian ác. Vì thế, thánh nhân so sánh hành động của Ngài như một người tiều phu dùng rìu hạ những cây nào không sinh trái tốt và như một người nông dân sàng sẩy sân lúa, lúa tốt thì chất vào khó lẫm, còn lúa xấu thì sẽ dùng lửa không hề tắt mà thiêu hủy.
E/ Những bài suy niệm khác
HÃY SÁM HỐI VÌ CHÚA ĐÃ TỚI GẦN
SÁM HỐI LÀ CON ĐƯỜNG DẪN TỚI ƠN CỨU ĐỘ
