Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói:
“Ông này thật là vị ngôn sứ”.
(Ga 7,40)
BÀI ĐỌC I: Gr 11, 18-20
“Con như chiên con hiền lành bị đem đi giết”.
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Lạy Chúa, Chúa đã tỏ cho con và con đã biết; vì Chúa đã chỉ cho con những mưu toan của chúng. Còn con, con như chiên con hiền lành bị đem đi giết. Con đã không biết chúng mưu toan hại con khi chúng nói: “Chúng ta hãy bỏ cây vào bánh của nó, chúng ta hãy diệt trừ nó khỏi đất kẻ sống, và người ta không còn nhớ đến tên nó nữa”.
Nhưng lạy Chúa các đạo binh, Chúa xét xử công minh, và dò xét tâm can. Chớ gì con sẽ thấy Chúa báo thù chúng, vì con đã phó thác việc con cho Chúa.
ĐÁP CA: Tv 7, 2-3. 9bc-10. 11-12
Lạy Chúa là Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài
Xướng:
1) Lạy Chúa là Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài, xin cứu con khỏi mọi người đang lùng bắt, và xin giải thoát thân con, kẻo có người như sư tử chộp bắt hồn con, xé nát ra mà không ai cứu gỡ. – Đáp.
2)Xin minh xét cho con, thân lạy Chúa, theo sự công chính và vô tội ở nơi con. Nguyện cho chấm dứt sự độc dữ kẻ ác nhân, và xin Ngài củng cố người hiền đức, khi Ngài lục soát tâm can, ôi Chúa công minh. – Đáp.
3)Thuẫn che thân con là Thiên Chúa, Đấng cứu độ những kẻ lòng ngay. Thiên Chúa là vị công minh thẩm phán, và Thiên Chúa hăm dọa hằng ngày. – Đáp.
TIN MỪNG: Ga 7,40-53
Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói: “Ông này thật là vị ngôn sứ.” Kẻ khác rằng: “Ông này là Đấng Ki-tô.”
Nhưng có kẻ lại nói: “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao? Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao?”
Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt. Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu.
Họ liền hỏi chúng: “Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây?” Các vệ binh trả lời: “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy!”
Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng: “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu? Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa!”
Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su; ông nói với họ: “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không?”
Họ đáp: “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.” Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.
SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa
KHÂM PHỤC CÁC VỆ BINH
Các vệ binh trở về trả lời: “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy.” (Ga 7,50-51)
Suy niệm: Những người lính trong toán vệ binh đền thờ được ‘chỉ thị’ đi nghe ngóng và bắt Chúa Giê-su điệu về cho các bậc vị vọng kia ‘xử lý’. Nhưng họ đã trở về tay không. Đã thế họ còn có gan trả lời không hề sợ hãi: “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy.” ‘Bất tuân thượng lệnh’ như vậy không chỉ có nghĩa là họ sẽ bị ‘bể nồi cơm’ mà họ còn bị những người có chức có quyền kia liệt vào hạng ‘những người bị nguyền rủa’. Tuy không có kiến thức uyên bác về Thánh Kinh và luật Mô-sê như các ông thượng tế và Pha-ri-sêu, nhưng họ lại giàu lương tri: họ không thể bắt người vô tội. Hơn nữa, những con người đơn sơ ấy lại thật là dũng cảm: dám nói lên sự thật dù có bị trù dập.
Mời Bạn: Các anh vệ binh ơi! Chúng tôi khâm phục các anh. Các anh vẫn có thể bắt Đức Giê-su điệu về cho các thượng tế mà không có lỗi gì: các anh chỉ làm theo lệnh cấp trên. Các anh cũng có thể né tránh trách nhiệm: chưa bắt được vì quần chúng đang ủng hộ ông ấy. Thế nhưng các anh đã quyết không làm điều sai trái, và dám can đảm nói lên sự thật. Hành động của các anh có khác gì các anh đang làm chứng cho Đức Ki-tô! “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ,” các anh xứng đáng hưởng mối phúc thứ tám đó. Chúng tôi khâm phục các anh, các anh vệ binh ơi!
Sống Lời Chúa: Tâm sự với Chúa bằng lời cầu nguyện sau đây:
Cầu nguyện: Lạy Chúa, con hổ thẹn khi suy gẫm lời chứng của các anh vệ binh. Xin Chúa ban sức mạnh cho con dám làm chứng cho Chúa, cho công bằng và chân lý.
B/ Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng
Thứ bảy Tuần IV Mùa Chay
Ga 7, 40-53
Các vệ binh trở về trả lời (với các thượng tế và người Pharisêu): “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy”
Những người lính trong toán vệ binh đền thờ được “chỉ đạo” đi nghe ngóng và bắt Chúa Giêsu điệu về cho các bậc vị vọng kia “xử lý.” Nhưng họ đã trở về tay không. Đã thế họ còn cả gan trả lời một cách đầy thách thức: “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy.” “Bất tuân thượng lệnh” như vậy không chỉ có nghĩa là họ sẽ bị “trừng phạt” mà họ còn bị những người có chức có quyền kia liệt vào hạng “những người bị nguyền rủa.” Tuy không có kiến thức uyên bác về Thánh Kinh và luật Môsê như các ông thượng tế và biệt phái, nhưng họ lại giàu lương tri: họ không thể bắt người vô tội. Hơn nữa, những con người đơn sơ ấy lại thật là dũng cảm: dám nói sự thật dù có bị trù dập.
Chúng ta khâm phục các vệ binh. Các anh vẫn có thể bắt Chúa Giêsu điệu về cho các thượng tế mà không có lỗi gì: các anh chỉ làm theo lệnh cấp trên. Các anh cũng có thể đùn đẩy trách nhiệm: sở dĩ chưa bắt được vì quần chúng đang ủng hộ ông ấy. Thế nhưng các anh đã quyết không làm điều sai trái, và dám can đảm nói lên sự thật. Hành động của các anh có khác gì các anh đang làm chứng cho Đức Kitô! “Những ai chịu khốn nạn vì đạo ngay ấy là phúc thật, vì Nước Trời là của họ,” các anh xứng đáng hưởng mối phúc thứ tám đó. Chúng ta khâm phục các anh vệ binh.
Chúng ta phải hổ thẹn khi suy ngắm hành động làm chứng của các anh vệ binh, bởi vì chúng ta chưa dám làm như vậy. Xin Chúa ban sức mạnh cho chúng ta dám làm chứng cho Chúa, cho công bằng và chân lý.
C/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
HƯỚNG LÒNG VỀ CHÚA
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Bảy Tuần 4 Mùa Chay này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa hướng lòng chúng ta về cùng Chúa, vì nếu không có Chúa phù trì, chúng ta không thể làm chi đẹp ý Chúa.
Hướng lòng về Chúa sẽ được chữa lành. Trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, sách Dân Số cho thấy: Ngay cả khi, chúng ta được những đặc sủng lớn lao như ông Môsê, thì không phải vì thế mà, chúng ta sẽ không lầm lỗi và không bị phạt. Khi Dân Chúa biết hướng lòng về Chúa với niềm tin, cậy, mến: hướng nhìn lên con rắn đồng, thì họ được chữa lành. Thánh Gioan dạy chúng ta, nhìn thấy trong con rắn đồng: biểu tượng của Đức Kitô chịu đóng đinh: Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.
Hướng lòng về Chúa là hướng về Mầu Nhiệm Vượt Qua. Trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công Đồng Vaticanô II đã cho thấy: Mọi hoạt động lo toan của con người đang bị đe dọa mỗi ngày, do tính kiêu ngạo và lòng vị kỷ, cho nên, chúng cần phải được thanh tẩy và hoàn thiện nhờ Thập Giá và sự Phục Sinh của Đức Kitô. Đức Giêsu đã dùng gương sáng, để dạy chúng ta: phải vác lấy thập giá, mà xác thịt và thế gian, đặt trên vai những người mưu tìm hòa bình và công lý.
Hướng lòng về Chúa để được Chúa nâng đỡ khi bị bách hại, bị chống đối. Trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Giêrêmia cho thấy: Con khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt. Chúng đang mưu tính hại con, chúng bảo nhau: “Cây đương sức, nào ta chặt nó đi, loại nó ra khỏi đất dành cho kẻ sống, để không còn ai nhớ đến tên tuổi nó nữa!” Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 7, vịnh gia đã kêu xin: Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con ẩn náu bên Ngài. Xin cứu vớt và giải thoát con khỏi tay mọi người đang đuổi bắt, kẻo họ vồ lấy con, xé nát như sư tử, mà không người giải thoát.
Hướng lòng về Chúa là luôn ấp ủ Lời Chúa trong lòng, và kiên trì nhẫn nại sống theo lời Chúa dạy, như câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay: Hạnh phúc thay người thành tâm thiện chí, hằng ấp ủ lời Chúa trong lòng, nhờ kiên nhẫn mà sinh hoa kết quả.
Trong bài Tin Mừng, thánh Gioan cho thấy: các Thượng Tế và những người Pharisêu là những người không hướng lòng về Chúa, không chịu hướng nhìn về phía ánh sáng: Khi các vệ binh đi bắt Chúa trở về tay không, và nói: Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy, thì họ nhận được câu hỏi: Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao; Những người dân tin vào Chúa, thì bị cho là: bọn dân đen, thứ người không biết Lề Luật, đáng bị nguyền rủa; Ông Nicôđêmô khai sáng cho họ, thì bị họ chất vấn: Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả. Các Thượng Tế và những người Pharisêu không hướng lòng về Chúa, cho nên, họ luôn nhìn Chúa với cái nhìn cũ kỹ. Chúa không tạo ra những thứ cũ kỹ, mọi sự đều mới mẻ, đều thay đổi. Sự sống cần phải được khám phá liên tục, dừng khám phá, cái nhìn của chúng ta sẽ cũ kỹ. Ước gì chúng ta luôn biết hướng lòng về Chúa, để có được đôi mắt luôn tươi mới, hầu chúng ta có thể nhìn thấy được những thực tại mới, nhìn thấy những giá trị đích thực ẩn đằng sau lớp vỏ sần sùi xấu xí, nhất là, nhìn thấy được vinh quang ẩn đằng sau thập giá. Ước gì được như thế.
D/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
DƯ LUẬN CHIA RẼ VỀ ĐỨC GIÊSU
Khi nghe Đức Giêsu giảng trong Đền thờ, dân chúng đã dị nghị về Ngài. Và khi nghe bài giảng xong, dư luận càng chia rẽ về nguồn gốc của Ngài. Bài Tin mừng cho biết dân chúng trước đây cách chung ủng hộ Ngài nay hoang mang, kẻ thì nói Ngài là Đấng Kitô, kẻ khác không còn tin nữa, vì theo những kẻ này Đức Kitô không xuất thân từ Galilê, mà phải xuất thân từ Belem thành của Đavít. Các thượng tế và biệt phái thì nóng lòng muốn bắt Ngài. Nicôđêmô lên tiếng bênh vực Ngài thì bị chụp mũ là đồng bọn Galilê với Ngài.
Đức Giêsu là ai? Đứng trước Đức Giêsu, kẻ thì nhìn nhận Ngài là Con Thiên Chúa làm người, kẻ thì nghĩ Ngài là một vĩ nhân, một tiên tri có sứ mệnh đặc biệt nào đó, kẻ khác nữa thì cho là một người phàm như mọi người. Thế là người ta hoang mang chia rẽ nhau. Đó cũng là thái độ của người Do thái thời Đức Giêsu như được thuật lại trong bài Tin mừng hôm nay.
Chúng sẽ lần lượt nói đến những hạng người đó.
Thứ nhất: đây là những con người bình thường ngay lành có lương tâm trong sáng, không bị dư luận xấu chi phối. Họ thuộc giới bình dân. Họ đã nghe lời Chúa giảng, hoặc đã được hưởng việc lạ Chúa làm, và tuyên xưng Chúa là Đấng đến giải phóng cho muôn người, như tiên tri Isaia đã báo trước: “Ngài làm cho người mù được thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ câm nói được, kẻ què đi được, kẻ chết sống lại và tuyên bố năm hồng ân của Thiên Chúa”. Như vậy, những người này đã nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Đấng Kitô.
Thứ hai: những nhà lãnh đạo tôn giáo như thượng tế, biệt phái và luật sĩ chối bỏ tất cả, họ không công nhận Ngài là một tiên tri, cũng không phải là Đấng Thiên Sai hay Đấng Kitô, vì không hội đủ những điều kiện về địa dư và dòng tộc, họ coi Ngài chỉ là người tầm thường như mọi người, một người như thế không thể là Đấng Kitô được, thế mà tự nhận cho mình địa vị và vai trò đó. Cho nên họ tức giận và ra lệnh cho binh lính tìm bắt Ngài.
Thứ ba: những người lính được các thượng tế sai đi bắt Chúa giải về cho họ xử. Những người này không dám bắt Ngài vì một phần còn sợ dân, nhất là khi nghe Ngài giảng như Đấng có uy quyền. Họ trở về trình diện các thượng tế với dáng vẻ sợ sệt, mà trình bầy với họ bằng những lời: “Chúng tôi chưa từng gặp một người nào nói năng như ông ấy”. Như vậy, mặc nhiên họ đã cống nhận Chúa là một người khác biệt, một siêu nhân.
Thứ tư: ông Nicôđêmô, là một người trong nhóm biệt phái, một người có thế giá, một thành viên hội đồng lập pháp, đã bênh vực Đức Giêsu khi ông nói: “Luật pháp của chúng ta có cho phép kết án ai trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không?” Như vậy ông đề nghị trước khi kết án Đức Giêsu thì phải điều tra cho cẩn thận; nhưng đề nghị của ông không được họ chấp nhận, đúng là họ theo luật rừng.
Đức Giêsu đã trở nên một dấu hỏi lớn. Mỗi người phải tìm một câu trả lời cho câu hỏi: “Đức Giêsu là ai? Thật ra điều kiện chính yếu để có thể nhận biết Thiên Chúa, đó là thái độ khiêm tốn, vô tư, trung thực, gạt bỏ tự cao tự đại, thay đổi quan điểm, thành kiến, hy sinh quyền lợi riêng tư, để theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa. Người Do thái xưa đã không tin nhận Đức Giêsu là vì họ thiếu những điều kiện kể trên.
Đối với chúng ta ngày nay, chúng ta đã tin nhận Đức Giêsu, nhưng chúng ta có thực hiện Lời Chúa dạy bảo không? Đức tin không việc làm là đức tin chết. Mùa Chay là ăn năn sám hối và sửa đổi đời sống, chúng ta hãy nghe Lời Chúa kêu gọi: “Hôm nay nếu anh em nghe Lời Chúa, thì đừng cứng lòng nữa”.
Truyện: Đức tin phải có việc làm
Blodin là một trong những tên tuổi của ngành xiếc tại Mỹ. Một trong những kỳ công đáng ghi nhớ nhất của anh là đã có thể đi trên một sợi dây qua thác Niagara là thác dài nhất và cao nhất thế giới. Trong một dịp biểu diễn, anh quay sang hỏi một cậu bé đứng gần đó: “Em có tin là tôi có thể mang một người trên vai và đi xuyên qua dòng thác không?” Giữa tiếng thác đổ ầm ầm, cậu bé thét lên: “Vâng, cháu tin là chú có thể làm được điều đó”. Thế nhưng khi anh đề nghị mang cậu bé trên vai thì em lắc đầu từ chối, vì không đủ tin tưởng vào sự đảm bảo của người biểu diễn.
Cậu bé trên đây có thể là hình ảnh của rất nhiều người trong chúng ta khi phải trả lời cho câu hỏi của Đức Giêsu: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Cũng như Phêrô khi đại diện cho các Tông đồ, chúng ta sẽ trả lời: “Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống”. Nhưng trong thực tế, thái độ sống của chúng ta có lẽ còn tương phản với lời tuyên xưng ấy. Chúng ta chưa là những Kitô hữu thực sự, nghĩa là chưa tin tưởng và sống theo lời mời gọi của Chúa” (Mỗi ngày một tin vui).
E/ Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist
QUAN NIỆM VỀ ĐẤNG KITÔ
Trong thời đại hôm nay, xu hướng a dua theo đám đông đã trở thành một trào lưu đáng lo ngại.
Một số người không có lập trường sống, nên nghĩ theo, nói theo, làm theo đám đông như một cái máy vô hồn; ai sao tôi vậy ai bậy tôi làm theo.
Một số người hưởng thụ theo đám đông: thấy người ta đổi điện thoại, đổi nhà, đổi xe, thì mình cũng làm theo để tỏ ra mình sang chảnh, dân chơi thứ thiệt.
Một số người ngả theo đám đông khi bỏ phiếu: ủng hộ phá thai, chúc lành hôn nhân đồng tính, cho phụ nữ làm linh mục. Họ đã làm đảo lộn trận tự tự nhiên và siêu nhiên mà Thiên Chúa đã thiết định.
Tin mừng hôm nay giới thiệu cho chúng ta ba mẫu gương dám tách mình ra khỏi đám đông, dám sống chết cho xác tín của mình. Đó là: dân chúng, các vệ binh, và ông Nicôđêmô thành viên nhóm Pharisêu.
Đầu tiên: Đám đông dân chúng những người được nghe Chúa giêsu giảng dạy, chứng kiến những việc Chúa giêsu. Trong khi có những kẻ đang phân vân chưa tin thì có những người đã mạnh dạn dám tách mình ra khỏi đám đông mà tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa giêsu: “ông này thật là vị ngôn sứ”; “kẻ khác rằng: “ông này là đấng kitô”.
Thứ đến: Các vệ binh Đền thờ, những người này được các thượng tế sai đến đền thờ bắt Chúa giêsu áp giải về cho họ xét xử. Thế mà khi đến đền thờ các vệ binh này đã đứng nghe Chúa giêsu giảng dạy. Cho nên khi họ về gặp các thượng tế và bị chất vấn rằng: Tại sao không điệu Giêsu về đây? Thì các vệ binh này trả lời đầy xác tín: “xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy!” những người lính này thật can đảm khi làm theo tiếng lương tâm ngay thẳng của mình: không áp bức người lương thiện, chứ không làm theo ý của thượng tế và Pharisêu -“những kẻ dẫn đường mù quáng”. Cho du có bị thẳng tay “trù dập” vì xác tín của mình.
Thứ ba: Ông Nicôđêmô thành viên nhóm Pharisêu, là Pharisêu nhưng ông Nicôđêmô dám tách mình ra khỏi nhóm cao ngạo, giả hình, và thích khoe khoang này. Trong hoàn cảnh đặc biệt của mình ông dám chứng tỏ mình là môn đệ của Chúa khi đến gặp Chúa ban đêm và giờ đây ông dám đứng lên biện hộ cho Chúa giêsu khỏi sự kết án vô căn cứ của giới lãnh đạo do thái giáo. Không chỉ nói suông mà chính ông Nicôđêmô đã lộ diện là môn đệ của Chúa trong cuộc khổ nạn và mai táng Chúa.
Ba hình ảnh của những con người anh dũng trên đây dám tách mình ra khỏi đám đông hỗn tạp, dám tách mình ra khỏi những gì là tầm thường để sống cao thượng giữa đời thường, chắc hẳn gợi lên trong chúng ta nhiều trăn trở trong đời sống đức tin hằng ngày.
Giữa cuộc sống xô bồ nhiều người chạy vào vòng theo danh, lợi, thú trần gian, liệu chúng ta có dám sẵn sàng làm nhân chứng của Chúa Kitô qua lời nói và việc làm trong cuộc sống thường ngày không? Cho dù có bị chế diễu, bị trù dập có khi bị thiệt thòi về vất chất, có khi mất danh dự vì niềm tin vào Chúa, chúng ta có dám can đảm là kitô hữu nữa không?
Xin cho chúng ta biết không ngừng thao thức, học hỏi, trao đổi, trình bày về Tin Mừng cứu độ Chúa dành cho nhân loại.
Xin cho chúng ta biết lấy Chúa làm quan trọng nhất trong cuộc đời này vì “ngoài Chúa ra đâu là hạnh phúc”, chính Chúa mới đầy tình thương và quyền năng để cho chúng ta được sống và sống dồi dào.
Xin cho chúng ta đừng vì mải mê thế sự mà quên đi phẩm giá của chúng ta là Con Thiên Chúa để luôn biết sống theo những giá trị Tin Mừng ngay trong cuộc sống thường ngày.
Lạy Chúa từng ngày xin ở với con. Để con có trái tim của Chúa, trái tim đầy ắp yêu thương nồng nàn. Để con có đôi tay của Chúa đôi tay trìu mến đỡ nâng dịu dàng. Để con có ánh mắt từ nhân để con có tấm lòng khoan dung. Để con biết nói lời tha thứ, sống đời yêu mến. Và Để con nên như là tấm gương phản chiếu bóng hình Chúa tình thương giữa thế giới hôm nay. Amen