“Giữa các ngươi có một Ðấng mà các ngươi không biết”.

Bài Ðọc I: Is 61, 1-2a. 10-11

“Tôi hớn hở vui mừng trong Chúa”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Thánh Thần Chúa ngự trên tôi: vì Chúa đã xức dầu cho tôi; Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn đau thương, báo tin ân xá cho những kẻ bị lưu đày, phóng thích cho những tù nhân, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.

Tôi hớn hở vui mừng trong Chúa, và lòng tôi hoan hỉ trong Chúa tôi, vì Người đã mặc cho tôi áo phần rỗi, và choàng áo công chính cho tôi, như tân lang đầu đội triều thiên, như tân nương trang sức bằng ngọc bảo. Như đất đâm chồi, như vườn nảy lộc, Chúa cũng làm phát sinh công chính và lời ca tụng trước mặt muôn dân.

Ðáp Ca: Lc 1, 46-48. 49-50. 53-54

Ðáp: Linh hồn tôi nhảy mừng trong Chúa.

Xướng: Ðức Maria nói: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ tôi, vì Người đã nhìn đến phận hèn tớ nữ Người; thực từ đây, thiên hạ muôn đời sẽ khen tôi có phước.

Xướng: Vì Ðấng đã làm cho tôi những điều trọng đại, Người quyền năng, và danh Người là thánh. Ðức từ bi Người từ đời nọ tới đời kia dành cho những ai kính sợ Người.

Xướng: Kẻ đói khát, Người cho no đầy thiện hảo; bọn giàu sang, Người đuổi về tay không. Chúa đã nhận săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng từ bi của Người.

Bài Ðọc II: 1 Tx 5, 16-24

“Thần trí, linh hồn và thể xác anh em được gìn giữ cho tới ngày Chúa đến”.

Trích thơ thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Thêxalônica.

Anh em thân mến, anh em hãy vui mừng luôn. Hãy cầu nguyện không ngừng. Trong mọi việc, hãy cảm tạ Chúa. Vì đó là thánh ý Thiên Chúa về tất cả anh em trong Chúa Giêsu Kitô. Ðừng dập tắt Thánh Thần; đừng khinh khi các lời tiên tri, nhưng hãy nghiệm xét mọi sự, điều gì tốt hãy giữ lại. Hãy tránh xa sự dữ dưới mọi hình thức.

Xin chính Thiên Chúa bình an thánh hoá anh em toàn diện, để thần trí, linh hồn và thể xác anh em được gìn giữ toàn vẹn trong ngày Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta ngự đến. Ðấng đã kêu gọi anh em, chính Người là Ðấng Trung Tín. Chính Người sẽ thực hiện.

Alleluia: Is 61, 1 (x. Lc 4, 18)

Alleluia, alleluia! – Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó. – Alleluia.

Tin Mừng: Ga 1, 6-8. 19-28

“Giữa các ngươi có một Ðấng mà các ngươi không biết”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Có người đã được Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến như chứng nhân để làm chứng về sự sáng, hầu mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là sự sáng, nhưng ông chỉ làm chứng về sự sáng. Và đây là chứng của Gioan, khi những người Do-thái từ Giêrusalem sai các vị tư tế và các thầy Lêvi đến hỏi ông: “Ông là ai?” Ông liền tuyên xưng, ông không chối, ông tuyên xưng rằng: “Tôi không phải là Ðấng Kitô”. Họ liền hỏi: “Thế là gì? Ông có phải là Elia chăng?” Gioan trả lời: “Tôi không phải là Elia”. – “Hay ông là một đấng tiên tri?” Gioan đáp: “Không phải”.

Họ liền bảo: “Vậy ông là ai, để chúng tôi trả lời cho những người sai chúng tôi. Ông tự xưng là ai?” Gioan đáp: “Tôi là tiếng kêu trong hoang địa: Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi, như tiên tri Isaia đã loan báo”.

Và có những người thuộc nhóm biệt phái cũng được sai đến. Họ hỏi Gioan rằng: “Nếu ông không phải là Ðức Kitô, cũng không phải là Elia hay một tiên tri, vậy tại sao ông làm phép rửa?” Gioan trả lời: “Tôi làm phép rửa trong nước; nhưng giữa các ngươi, có Ðấng mà các ngươi không biết. Ðấng ấy sẽ đến sau tôi, nhưng chính Ðấng ấy đã có trước tôi và tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người”. Việc này xảy ra tại Bêtania, bên kia sống Giođan, nơi Gioan làm phép rửa.

SUY NIỆM

A/ 5 Phút Lời Chúa

CHỨNG NHÂN ÁNH SÁNG

Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng. (Ga 1,6-7)

Suy niệm: Hãy tưởng tượng một đường hầm của mỏ than bị sập, và bạn cùng nhiều người khác bị kẹt ở dưới đó. Mọi người tìm kiếm lối thoát trong bóng tối dày đặc. Bỗng người dẫn đường thông báo đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Đó quả là một tin mừng bùng nổ, tin mừng đem lại hy vọng sự sống. Gioan là vị ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến để loan báo Tin Mừng như thế. “Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng.” Đức Giêsu chính là “ánh sáng thế gian” nhưng vì Ngài “đang ở giữa các ông mà các ông không biết” nên Gioan vẫn còn phải làm chứng.

Mời Bạn: Cũng vậy, mỗi Kitô hữu đều được kêu gọi để trở thành “ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14), và có sứ mạng tiếp tục “làm chứng cho ánh sáng”. Cha Teilhard de Chardin đã ví von rất sống động: “Ánh sáng xuyên qua những đám mây, người ta đoán là có mặt trời trên đó. Nhìn vào đời sống chúng ta, mọi người cũng đoán được có Đức Kitô”. Vì là chứng nhân ánh sáng, người Kitô  hữu luôn sống trong niềm vui, vui vì Đấng Cứu độ chúng ta đã đến, niềm vui đó phải luôn tỏ hiện, lan truyền để ở bất cứ nơi đâu người Kitô hữu hiện diện, ở đó đều ngập tràn niềm vui.

Sống Lời Chúa: Bằng chứng bạn đang vui vì có Đức Kitô ở với bạn, đó là bạn không buồn giận, ghét ghen; trái lại bạn luôn vui tươi, hiền hoà, vì ý thức mình là chứng nhân ánh sáng.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn ý thức mình được kêu gọi để làm chứng cho Chúa là ánh sáng ban sự sống “để con đem yêu thương vào nơi oán thù… đem an hoà vào nơi tranh chấp”. Amen.

B/ TGM Giuse Nguyễn Năng

Suy niệm: Ðức Giêsu Kitô là ánh sáng từ muôn thuở và tồn tại muôn đời. Ánh sáng đem hạnh phúc đích thực cho con người. Trước lầm tưởng của dân chúng. Gioan không dựa vào thế để tìm vinh quang cho mình, nhưng ông đã chân thành và can đảm dám sống, dám làm chứng cho một chân lý: Ông chỉ là con người hèn mọn, là tôi tớ dọn đường cho Ðấng đến sau. Ngài mới là chính Ðấng muôn dân đợi trông. Chỉ có Ngài mới đem tự do hạnh phúc đích thực cho con người.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Gioan là con người ngay thẳng, khôn ngoan, khiêm hạ. Ông sáng suốt để nhận đúng: mình là mình. Ông không ảo tưởng, không tham vọng.

Con người với bản tính sa đọa thường không muốn là mình, nhưng muốn làm Thiên Chúa. Ađam – Eva xưa ăn trái cấm vì muốn có quyền biết lành biết dữ như Thiên Chúa, bằng Thiên Chúa. Khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ khiến con người ngày càng kiêu căng tưởng rằng: đó là do sức lực của mình, mà chối bỏ sự can thiệp đầy tình thương của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, như lời Thánh Augustinô đã cầu xin: “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con”, để nhờ đó con luôn sống trong tâm tình tôn thờ, tạ ơn, yêu mến và sống chứng nhân giữa lòng cuộc đời. Amen.

Ghi nhớ: “Giữa các ngươi có một Ðấng mà các ngươi không biết”.

C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên

ĐƯỢC SAI ĐI

Ý tưởng “Được sai đi” rất rõ nét trong các Bài đọc Lời Chúa của Chúa nhật 3 Mùa Vọng. Trước hết, Chúa Giê-su được Chúa Thánh Thần xức dầu, và được Chúa Cha sai đến trần gian để loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật; sau đó là thánh Gio-an Tẩy giả được sai đi để dọn đường cho Chúa Cứu thế đến thi hành sứ vụ; và cuối cùng là chính chúng ta đang được Chúa sai vào lòng cuộc đời.

Thánh Lu-ca kể với chúng ta, một ngày nọ, Chúa Giê-su về thăm quê hương là thị trấn Na-da-rét. Người vào Hội đường và đọc Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a, đoạn Kinh Thánh mà chúng ta nghe trong Bài đọc I hôm nay. Thật lạ lùng! Những gì được đọc hôm đó hoàn toàn ứng nghiệm nơi cuộc đời và sứ mạng của Chúa. Trước sự ngỡ ngàng khôn xiết của những người đồng hương, Chúa Giê-su tuyên bố: “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà tai quý vị vừa nghe!”. Chắc hẳn những người Do thái có mặt hôm đó là những người thông thạo Kinh Thánh và họ hiểu Chúa có ý nói gì, nên họ phản ứng rất gay gắt, đến nỗi phần cuối của trình thuật, những người đồng hương tức giận kéo Chúa lên đỉnh núi với ý đồ xô Người xuống. Tuy vậy, họ không thực hiện được ý đồ xấu xa đó. Thánh Lu-ca diễn tả việc Chúa “băng qua giữa họ mà đi”, như một hành động thể hiện quyền năng thiên linh của Người (x. Lc 4,16-30).

Đấng Ki-tô hay là Đấng Thiên sai, là người được Chúa Cha gửi đến trần gian, mang theo sứ vụ thực hành ý định yêu thương của Chúa Cha, đó là quy tụ muôn dân nên một. Thời Thiên sai cũng đã được loan báo trong Cựu ước, nhất là trong ngôn sứ I-sai-a. Vào thời đó, không còn mâu thuẫn giữa các dân tộc; chiến tranh chấm dứt; mọi người nắm tay nhau xây dựng hòa bình; những loài động vật vốn căm thù nhau cũng sẽ sống chung trong hòa bình. Các tác giả Phúc âm đã ghi lại lời giảng dạy của Chúa, cũng như những hành động của Người. Giáo huấn và phép lạ Chúa làm, chứng tỏ Người là Đấng Thiên sai.

Trước khi Đấng Thiên sai khởi đầu sứ vụ, một vị sứ giả được Thiên Chúa sai đến. Ông là Gio-an. Ông được trình bày như một người sống gần gũi với thiên nhiên. Sứ mạng của ông là kêu gọi mọi người chuẩn bị tâm hồn đón Chúa. Ông cũng là nhân chứng của Ánh Sáng đích thực là Đức Ki-tô. Ông không tự mình làm việc này, nhưng Thiên Chúa trao nhiệm vụ cho ông, và ông luôn trung thành với nhiệm vụ được trao phó. Ông có nhiều cơ hội để tự nhận những danh xưng vinh quang về mình, nhưng ông không làm thế. Ông khiêm tốn nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, và không xứng đáng cúi xuống cởi quai dép cho Đấng Thiên sai khi Người đến.

Trước sự kiện đoàn người đông đảo đến với ông Gio-an để xin ông làm phép thanh tẩy, một số tư tế từ Giê-ru-sa-lem sai người đến để điều tra. Những vị này có ý hạch sách và đe dọa ông. Tuy vậy, họ ngỡ ngàng trước phong thái vừa can đảm vừa khiêm nhường của ông. Ông không nhận mình là bất cứ vị ngôn sứ nào trong Cựu ước. Rất khiêm tốn nhưng sâu sắc, ông đã nói đến Đấng đang hiện diện mà mọi người không nhận ra. Đấng ấy là Đức Ki-tô.

“Như Cha đã sai thầy, thầy cũng sai anh em”, Đức Giê-su đã nói với các môn đệ như thế. Lời ngôn sứ I-sai-a thường được đọc trong Hội đường Do Thái năm xưa, đã được thực hiện nơi Chúa Giê-su, và cũng đang được thực hiện đối với Ki-tô hữu hôm nay. Bởi lẽ, chúng ta cũng được xức dầu (nhờ đó mà được gọi là Ki-tô hữu), chúng ta cũng được Thần Khí Chúa ngự trong tâm hồn, chúng ta cũng được Chúa sai vào giữa lòng cuộc đời để, như ông Gio-an Tẩy giả, làm chứng cho Đức Giê-su Ki-tô, Ánh Sáng trần gian.

Vì Thần Khí Chúa ngự trong chúng ta, nên thánh Phao-lô dạy: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí” (Bài đọc II). Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, được so sánh như ngọn lửa, trong tâm hồn chúng ta. Tội lỗi, ích kỷ, đam mê… là những nguyên nhân có thể làm dập tắt Thần Khí trong tâm hồn. Một tâm hồn chai đá, không phục thiện, là khước từ hoạt động của Thần Khí nơi bản thân mình. Hiểu như thế, người tín hữu sẽ cố gắng chu toàn bổn phận của mình, dù ở bậc sống nào, hoặc dù ở điều kiện kinh tế nào. Chúa vẫn luôn mời gọi và sai chúng ta đi vào trần gian để nói với mọi người rằng: “Có một Vị đang ở giữa anh chị em mà anh chị em không biết. Vị ấy là Đức Giê-su, Đấng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật III Mùa Vọng đều ngân vang cùng một sứ điệp mời gọi các tín hữu: “Hãy vui lên, Chúa sắp đến gần rồi”.

Is 61: 1-2a, 10-11

Bài Đọc I loan báo Tin Mừng cho những ai nghèo khổ, bất hạnh, bị giam cầm… biết rằng năm hồng ân của Chúa sắp đến rồi.

1Tx 5: 16-24

Thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca hãy vui luôn mãi và không ngừng tạ ơn Chúa vì những thiên ân mà họ đã lãnh nhận được.

Ga 1: 6-8, 19-28

Tin Mừng tường thuật chứng từ của Gioan Tẩy giả, thánh nhân khẳng định rằng Đấng mà muôn dân mong đợi hiện đang ở giữa anh em.

BÀI ĐỌC I (Is 61: 1-2a, 10-11)

Bài Đọc I được hình thành bởi hai đoạn trích khác nhau từ chương 61 của sách I-sai-a. Đoạn trích thứ nhất (61: 1-2a) là phần mở và đoạn trích thứ hai (61: 10-11) là phần kết của một bài thánh thi. Đây là bài Thánh Thi Chúc Tụng được cộng đoàn xướng đáp.

1. Đoạn trích thứ nhất (61: 1-2a):

Chúng ta nhận ra đoạn trích thứ nhất này mà vào một ngày sa-bát, trong hội đường Na-da-rét, Đức Giêsu công bố trước cộng đoàn (Lc 4: 18-20). Sau khi công bố xong, Ngài ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Ngài. Ngài bắt đầu ngỏ lời với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh qu‎ý vị vừa nghe”. Như vậy Đức Giê-su áp dụng cho chính mình lời loan báo này: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi để loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn…”. Đây cũng là đoạn trích mà Đức Giê-su cũng sẽ viện dẫn để trả lời cho những sứ giả mà Gioan Tẩy giả đang bị giam trong tù phái đến để hỏi Ngài: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn đợi ai khác?” (Lc 7: 19).

Vì thế, vị ngôn sứ này là ai mà Đức Giê-su quy chiếu đến hai lần? Và sứ điệp của ông ngỏ lời với ai?

A. Tác giả

Những sự kiện được định vị vài năm sau năm 538 trước Công Nguyên, năm những đoàn người lưu đày ở Ba-by-lon lần đầu tiên được hồi hương trở về quê cha đất tổ. Tác giả của bài thánh thi này là một vị ngôn sứ nặc danh sống ở giữa những người hồi hương tại Giê-ru-sa-lem. Ông thường được các nhà chuyên môn gọi biệt danh là I-sai-a đệ tam, hay I-sai-a thời hậu lưu đày (Is 56-66) để phân biệt với hai vị tiền nhiệm của ông là vị ngôn sứ nặc danh khác thời lưu đày được gọi biệt danh là I-sai-a đệ nhị (Is 40-55) và ngôn sứ I-sai-a đệ nhất, vị ngôn sứ thời tiền lưu đày (Is 1-39).

Vào Chúa Nhật I Mùa Vọng, chúng ta đã đọc lời khẩn nguyện của vị ngôn sứ thời hậu lưu đày này. Bài thánh thi được trích dẫn hôm nay, xét về niên biểu, có trước lời khẩn nguyện. Trong bài thánh thi này, vị ngôn sứ biện minh sứ mạng của mình: ông đã được Thần Khí Chúa xức dầu tấn phong. Đây là cuộc xức dầu tấn phong thiêng liêng bởi vì không có nghi thức xức dầu tấn phong cho các ngôn sứ. Chính Thiên Chúa đã chọn các ngôn sứ của Ngài và ủy quyền cho họ nói thay cho Ngài.

B. Sứ điệp

Vị ngôn sứ có sứ mạng là loan báo “Tin Mừng” (ông lấy lại diễn ngữ của vị tiền nhiệm của mình là I-sai-a đệ nhị được trích trong Bài Đọc I của Chúa Nhật II Mùa Vọng). Tin Mừng này có thể được tóm lược như sau: “Phúc thay những người nghèo khổ!”, âm vang một trong những mối phúc thật của Đức Giê-su.

Những người hồi hương thật sự vỡ mộng trước thực trạng muôn vàn khó khăn trong công cuộc tái thiết quê hương. Họ là những người nghèo hèn với tấm lòng tan nát. Vị ngôn sứ gọi họ là những “người bị giam giữ” cho dù hiện nay họ đã được phóng thích. Qua những từ ngữ đó, ông muốn nhấn mạnh nỗi cùng cực khốn khổ của họ mà hình ảnh sau đó được giải thích rõ hơn: “công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa”, nghĩa là năm mà những người nô lệ được phóng thích, mọi nợ nần được tha bổng, đất đai được phân phối lại. “Năm hồng ân” được cử hành cứ năm mươi năm một lần. Năm Hồng Ân này thật ra khai triển “năm sa-bát”, năm được cử hành cứ bảy năm một lần (Năm Hồng Ân là năm thứ 50 của 7 x 7 = 49). Năm hồng ân biểu tượng một lý tưởng về sự công bình xã hội.

Đây là diện mạo của những “người nghèo Đức Chúa”, những người mà Kinh Thánh gọi là “anawin”. Chữ “anawin” không thể dịch được, nó bao hàm sự nghèo khổ vật chất, đức khiêm hạ và niềm tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Đặc ngữ này mang một nét nghĩa căn bản là “còng lưng xuống”, còng lưng xuống dưới gánh nặng của sự nghèo khó, của sự nhục nhã, nhưng cũng “sấp mình xuống” vì thái độ tôn giáo của họ, niềm tin tưởng phó thác hoàn toàn vào lượng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Đây là một khái niệm căn bản của Cựu Ước cũng như Tân Ước. Chính những kẻ bé mọn này mà Đức Giê-su dành trọn niềm ưu ái cho họ. Một trăm năm sau đó, một vị ngôn sứ khác, Xô-phô-ni-a, đã tiên báo cuộc thăng tiến của những người nghèo này:

“Ngày ấy, ngươi sẽ không còn phải hổ thẹn

vì mọi hành vi ngang trái chống lại Ta.

Bấy giờ, Ta sẽ đuổi cho khuất mắt ngươi

những kẻ kiêu căng đắc thắng,

và ngươi sẽ không nghêng ngang

trên núi thánh của Ta nữa.

Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ;

chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa.

Số dân Ít-ra-en còn sót lại

sẽ không làm chuyện tàn ác bất công,

cũng không ăn gian nói dối

và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt.

Nhưng chúng sẽ được chăn dắt và nghỉ ngơi

mà không còn bị ai làm cho khiếp sợ nữa” (Xp 3: 11-13).

2. Đoạn trích thứ hai (61: 10-11)

Được Thiên Chúa an ủi như vậy, cộng đoàn xướng lên những lời chúc tụng: “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Thiên Chúa, vâng nhờ Người, tôi hớn hở biết bao”. Những lời hoan ca này được diễn tả qua hai hình ảnh. Hình ảnh thứ nhất là “trang phục”: Giê-ru-sa-lem được mặc hồng ân cứu độ, được khoắc áo choàng công chính như chàng rể chỉnh tề khăn đóng, tựa nàng dâu lộng lẫy điểm trang. Hình ảnh thứ hai là “khu vườn”: Giê-ru-sa-lem được sánh ví với khu vườn được Thiên Chúa chăm sóc tận tình để “trở hoa công chính và vinh quang trước mặt muôn dân”.

3. Ý nghĩa của việc nối kết hai đoạn trích này

Khi đặt hai đoạn trích đầu và cuối bài thánh thi này bên cạnh nhau, Phụng Vụ mời gọi chúng ta gẫm suy về mối liên hệ sâu xa giữa “ơn cứu độ” mà Đấng Mê-si-a hứa ban và “vẻ đẹp lộng lẫy” của Giê-ru-sa-lem được nhân cách hóa nơi dân Thiên Chúa. Sách Khải Huyền lấy lại hình ảnh Giê-ru-sa-lem thiên quốc như Tân Nương được điểm trang lộng lẫy nhờ máu Con Chiên.

Một viễn cảnh như thế không thể là viễn cảnh của vị ngôn sứ thuộc thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên. Tuy nhiên, cách thức tiếp cận lịch sử như vậy có thể hiểu được nhờ những đau khổ của nhóm nhỏ trung thành còn sót lại, những “người nghèo hèn” này mà nỗi khốn khổ của họ lôi kéo lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Và chính qua họ mà lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa trải dài cho đến tận cùng thế giới.

BÀI ĐỌC II (1Tx 5: 16-24)

Thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Thê-xa lô-ni-ca là bản văn cổ xưa nhất của văn chương Ki-tô giáo. Bức thư này được viết vào mùa đông năm 50-51. Thánh Phao-lô đã thiết lập giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca vào mùa hè năm 50, nhưng ngài đã phải vội vả trốn chạy khỏi thành phố vì người Do thái phẩn nộ tìm cách giết ngài: lời rao giảng của thánh nhân khiến nhiều người Ít-ra-en lẫn lương dân ăn năn trở lại. Vì thế, thánh nhân thật sự bận lòng đến cộng đoàn non trẻ bị hăm dọa này. Sau này, cộng tác viên của ngài là ông Ti-mô-thê quay trở lại Thê-xa-lô-ni-ca và thuật lại cho thánh nhân những tin tốt lành: dù bị người Do thái đe dọa và quấy nhiễu, cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca non trẻ này vẫn kiên vững trong niềm tin của mình. Thế nên, thánh Phao-lô viết bức thư này gởi đến họ với cung giọng nồng nàn chan chứa niềm hân hoan và cảm tạ. Đoạn trích thư hôm nay được định vị vào cuối thư bao gồm những lời khuyên bảo và khích lệ.

1. Vui mừng, cầu nguyện và tạ ơn

Thánh nhân khuyên ba điều quan trọng: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh”.

Trước hết, “Anh em hãy vui mừng luôn mãi”. Thánh Phao-lô thường nhấn mạnh niềm vui Ki-tô giáo. Niềm vui là hoa quả của Thần Khí, Đấng hằng ở với người Ki-tô hữu ngay cả trong gian nan thử thách. Chính thánh nhân luôn “chứa chan niềm an ủi và tràn ngập nỗi vui mừng trong mọi cơn gian nan khốn khó” (2Cr 7: 4). Niềm vui này phát xuất từ niềm xác tín là được dự phần vào vương quốc Thiên Chúa ngay từ cõi thế này.

Tiếp đó, “Hãy cầu nguyện không ngừng”. Thánh nhân hầu như luôn luôn khuyên cầu nguyện “không ngừng”“mọi lúc”“đêm cũng như ngày”. Chung chung, thánh nhân cầu nguyện với Chúa Cha, qua Chúa Ki-tô, nhờ Chúa Thánh Thần. Hiếm khi thánh nhân cầu nguyện trực tiếp với Chúa Ki-tô. Thánh nhân nói, chính nhờ Thần Khí mà chúng ta mới có thể thân thương với Thiên Chúa là “Cha”.

Sau cùng, “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh”. Tạ ơn là một cấu tố của lời cầu nguyện, xoay quanh lời chúc tụng. Truyền thống Do thái dành một chỗ đặc biệt cho tâm tình cảm tạ tri ân. Bài ca “Chúc Tụng” (Benedictus) là bài ca cảm tạ tri ân: “Chúc tụng Thiên Chúa…”. Thánh Phao-lô hầu như luôn luôn bắt đầu bức thư của mình với lời chúc tụng Thiên Chúa.

2. Ân ban Thần Khí

Đây là lời khuyên thứ hai. Các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca coi nhẹ những ân ban Thần Khí. Họ nghi ngại những người được ơn ban Thần Khí. Có lẽ họ là những người Hy lạp phương bắc, ít sôi nổi như những người Cô-rin-tô… Quả thật, thánh Phao-lô viết từ Cô-rin-tô ở đó những ân ban Thần Khí nhiều vô kể. Thánh nhân khuyên các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca: “Anh em chớ dập tắt Thần Khí”. Cứ để mỗi người nói lên những ân ban mà mình nhận được, ngay cả ơn ngôn sứ. Điều quan trọng là phải biết “cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ lấy; còn tất cả những gì xấu thì lánh cho xa”.

3. Ơn thánh hóa

Đây là đề tài rất tâm đắc với thánh Phao-lô. Sau này, thánh nhân sẽ khai triển sâu xa hơn: chúng ta được thánh hóa nhờ tác động của Thiên Chúa chứ không do nổ lực cá nhân của mình.

Việc kể con người được phân chia thành ba phần: thần trí, tâm hồn và thân xác, không gặp thấy bất cứ nơi nào khác trong các thư của thánh Phao-lô. Đây không là cách diễn tả con người được phân chia thành ba phần. Người Hy lạp cũng như người Do thái đều không quan niệm con người theo cách phân chia như thế. Ở đây, thánh Phao-lô chỉ muốn nói đến toàn diện con người. Theo thói quen của mình, thánh nhân khai triển chữ “toàn diện” đi trước và tô đậm chữ “thần trí” theo sau. Chữ “thần trí” này mang lấy ý nghĩa Ki-tô giáo: chính thần trí con người rộng mở trước tác động của Thần Khí.

TIN MỪNG (Ga 1: 6-8, 19-28)

Tin Mừng hôm nay được trích từ hai đoạn văn khác nhau, một được trích từ Tựa Ngôn của Tin Mừng Gioan (1: 1-18) giới thiệu “chức năng chứng nhân” của Gioan Tẩy giả (1: 6-8) và một khác được trích từ Phần Mở Đầu của Tin Mừng Gioan (1: 19-2: 12) trình bày “lời chứng” của Gioan Tẩy giả (1: 19-28).

1. Chức năng chứng nhân của Gioan Tẩy giả (1: 6-8)

Tựa Ngôn là một bài thánh thi về “Ngôi Lời” bị ngắt nhịp hai lần để giới thiệu Gioan Tẩy giả là chứng nhân của Đức Ki-tô (1: 6-8 và 15). Lần ngắt nhịp thứ nhất được trích dẫn ở đây như phần mở đầu của đoạn Tin Mừng hôm nay.

Trong phần mở đầu này, tác giả Tin Mừng thứ tư không đề cập đến sứ điệp của Gioan Tẩy giả cũng như ‎ý nghĩa phép rửa của thánh nhân, nhưng tô đậm chức năng “chứng nhân” của thánh nhân. Đối với Tin Mừng Gioan, “chứng nhân” là chức năng quan trọng bậc nhất như tác giả nhấn mạnh trong thư thứ nhất của mình:

“Điều chúng tôi đã nghe,

điều chúng tôi đã thấy tận mắt,

điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng,

và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống…

Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe,

chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa…” (1Ga 1: 1-4).

2. Lời chứng của Gioan Tẩy giả (1: 19-28)

Sau khi giới thiệu chức năng chứng nhân của Gioan Tẩy giả, tác giả Tin Mừng Gioan trình bày lời chứng của Gioan Tẩy giả.

Gioan Tẩy giả phủ nhận tất cả những gì người ta nghĩ tưởng về ông để chỉ tập trung lời chứng của mình vào sự hiện diện của Đấng đến sau ông và hiện có mặt ở đây rồi. Ông không phải là Đấng Mê-si-a mà dân chúng đang mong đợi. Ông cũng không phải là Ê-li-a mà truyền thống truyền tụng theo đó vị ngôn sứ này được rước lên trời và sẽ trở lại trần thế để chuẩn bị cho Đấng Mê-si-a. Ông cũng không phải là ngôn sứ vĩ đại mà Đức Chúa hứa với ông Mô-sê trong sách Đệ Nhị Luật: “Từ giữa anh em, Ta sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như ngươi để giúp chúng…” (Đnl 18: 18).

Sau khi đã phủ nhận tất cả những nhân vật nổi tiếng mà người ta nghĩ tưởng về mình, Gioan Tẩy giả công bố sứ điệp: “Có một Vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết”. Có thể ở đây ám chỉ đến niềm tin dân gian vào một đấng mê-si-a ẩn mình. Thật vậy, sách Tin Mừng thứ tư nhấn mạnh hơn các sách Tin Mừng khác lời loan báo về Đấng Mê-si-a hiện ở giữa họ rồi mà họ không nhận ra.

Tại sao lời chứng của Gioan Tẩy giả vừa phủ nhận về mình vừa khẳng định về Đức Ki-tô mặc lấy một tầm mức quan trọng đến như thế? Để có thể lĩnh hội được Tin Mừng Gioan, chúng ta cần phải giải mã những ẩn ý này. Tin Mừng Gioan vốn giàu có biểu tượng nên luôn luôn hàm chứa hai nghĩa: nghĩa trực tiếp và nghĩa ẩn dụ.

2. Nghĩa trực tiếp

Theo nghĩa trực tiếp, chúng ta có thể gặp thấy chìa khóa ở nơi việc dàn dựng Phần Mở Đầu cuộc đời công khai của Đức Giê-su thành một tuần lễ, được gọi “Tuần Lễ Khai Mạc” song đối với “Tuần Lễ Cuối Đời” của Đức Giê-su ở thành thánh Giê-ru-sa-lem. Tuần Lễ Khai Mạc được trình bày thành bảy ngày: ngày thứ hai, thứ ba và thứ tư được phân định với biểu thức thời gian “Hôm sau” (1: 29, 35, 43), riêng ba ngày sau cùng được bắt đầu với biểu thức “Ngày thứ ba” (2: 1).

Ngày thứ nhất: Gioan Tẩy giả làm chứng về chính mình và về Đức Ki-tô trước những chất vấn của các tư tế và các thầy Lê-vi được phái đến từ Giê-ru-sa-lem (1: 19-28).

Ngày thứ hai: Gioan Tẩy giả làm chứng Đức Giê-su là “Chiên Thiên Chúa” và là Đấng mà Thần Khí ngự xuống vào lúc Ngài chịu phép rửa (1: 29-34).

Ngày thứ ba: ông An-rê và người môn đệ nặc danh đi theo Đức Giê-su; đoạn ông An-rê rủ em mình là Phê-rô cùng nhập bọn với mình (1: 35-42).

Ngày thứ tư: Phi-líp-phê và Na-tha-na-en nhập đoàn với các môn đệ đầu tiên (1: 43-51).

Ngày thứ năm và thứ sáu: hành trình về miền Ga-li-lê.

-Ngày thứ bảy: tiệc cưới Ca-na, ở đó các môn đệ đã “chứng kiến vinh quang của Ngài” và đã “tin vào Ngài”.

Khi trình bày Phần Mở Đầu cuộc sống công khai của Đức Giê-su như thế, thánh ký thiết lập sự đối xứng với bảy ngày của Công Trình Sáng Tạo, qua đó thánh ký muốn nói rằng Đức Ki-tô giáng trần để thực hiện một cuộc tạo dựng mới, hay đúng hơn, một cuộc tái tạo.

3. Nghĩa ẩn dụ

Lời chứng của Gioan tẩy giả được trích dẫn trong Tin Mừng hôm nay được định vị vào ngày thứ nhất trong Tuần Lễ Khai Mạc. Trong công trình sáng tạo thế giới, ngày thứ nhất được đánh dấu bởi việc phân tách Ánh Sáng ra khỏi bóng tối.

Do đó, tất cả ‎ý nghĩa sâu xa của đoạn Tin Mừng này chính là Gioan Tẩy giả đến để làm chứng về ánh sáng. Trái lại, các tư tế và các thầy Lê-vi được cử đến và trở về Giê-ru-sa-lem mà không đón nhận phép rửa tỏ bày sự sám hối, vì thế, không rộng mở lòng mình ra để đón nhận ánh sáng. Tuy nhiên, họ đã được loan báo cho biết: “Có một Vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết” (động từ “biết” theo văn hóa Do thái không chỉ nói lên một sự hiểu biết thuần túy trên mặt trí tuệ nhưng đặc biệt còn cả trọn tấm lòng nữa). Như vậy, giáo quyền Do thái, ngay từ đầu, vẫn đắm mình trong bóng tối. Sự kiện này sẽ chi phối cách hành xử sau cùng của họ đối với Đức Ki-tô.

Việc đối lập của cặp tương phản giữa ánh sáng và bóng tối này hình thành nên một trong những đề tài chủ đạo của Tin Mừng Gioan. Việc đối lập này đã được minh chứng rồi ngay từ trong Tựa Ngôn.

E/ Những bài suy niệm khác