“Con trẻ lớn lên, đầy khôn ngoan”.

Bài Đọc I: St 15,1-6 ; 21,1-3

Một kẻ do chính ngươi sinh ra, mới thừa kế ngươi.

Bài trích sách Sáng thế

Hồi đó, có lời Đức Chúa phán với ông Ápram trong một thị kiến rằng: “Hỡi Ápram, đừng sợ, Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi ; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.” Ông Ápram thưa: “Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái, và người thừa tự gia đình con là Êliede, một người Đamát.” Ông Ápram còn nói: “Chúa coi, Chúa không ban cho con một dòng dõi; và một gia nhân của con sẽ thừa kế con.” Và đây có lời Đức Chúa phán với ông rằng: “Kẻ đó sẽ không thừa kế ngươi, nhưng một kẻ do chính ngươi sinh ra mới thừa kế ngươi.” Rồi Người đưa ông ra ngoài và phán: “Hãy ngước mắt lên trời, và thử đếm các vì sao, xem có đếm nổi không.” Người lại phán: “Dòng dõi ngươi sẽ như thế đó!” Ông tin Đức Chúa, và vì thế, Đức Chúa kể ông là người công chính.

Đức Chúa viếng thăm bà Xara như Người đã phán, và Người đã làm cho bà như Người đã hứa. Bà Xara có thai và sinh cho ông Ápraham một con trai khi ông đã già, vào thời kỳ Thiên Chúa đã hứa. Và ông Ápraham đã đặt tên cho đứa con mà bà Xara sinh ra cho ông, ông đặt tên là Ixaác.

Ðáp Ca: Tv 127, 1-2. 3. 4-5

Ðáp: Chính Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, giao ước đã lập ra, muôn đời Người nhớ mãi.

Xướng: Hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người, vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân. Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa, và suy gẫm mọi kỳ công của Người.

Xướng: Hãy tự hào vì danh thánh Chúa, tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ. Hãy tìm Chúa và sức mạnh của Người, chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan.

Xướng: Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện, những dấu lạ và những quyết định Người phán ra, hỡi anh em, dòng dõi Ápraham tôi tớ Chúa, con cháu Gia-cóp được Người tuyển chọn!

Xướng: Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi, nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ! Đó là điều đã giao ước cùng Ápraham, đã đoan thề cùng Ixaác.

Bài Đọc II: Hr 11,8.11-12.17-19

Đức tin của ông Ápraham, của bà Xara và của ông Ixaác.

Bài trích thư gửi tín hữu Hípri.

Thưa anh em, nhờ đức tin, ông Ápraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp. Ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, cả bà Xara vốn hiếm muộn, cũng đã có thể thụ thai và sinh con nối dòng vào lúc tuổi đã cao, vì bà tin rằng Đấng đã hứa là Đấng trung tín. Bởi vậy, do một người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được.

Nhờ đức tin, khi bị thử thách, ông Ápraham đã hiến tế Ixaác ; dù đã nhận được lời hứa, ông vẫn hiến tế người con một. Về người con này, Thiên Chúa đã phán bảo: Chính do Ixaác mà sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi. Quả thật, ông Ápraham nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy. Rốt cuộc, ông đã nhận lại người con ấy như là một biểu tượng.

Alleluia: Cl 3, 15a. 16a

Alleluia, alleluia – Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. – Alleluia.

Tin Mừng: Lc 2, 22-40 (bài dài)

“Con trẻ lớn lên, đầy khôn ngoan”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thánh thuộc về Chúa”. Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có nói trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu con.

Và đây ở Giêrusalem có một người tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng: Ông sẽ không chết trước khi thấy Ðấng Kitô của Chúa. Ðược Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:

“Lạy Chúa, bây giờ, Chúa để cho tôi tớ Chúa đi bình an theo như lời Chúa, vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa”.

Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Ma-ri-a mẹ Người rằng: “Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ!”

Lúc ấy, cũng có bà tiên tri Anna, con ông Pơnuên, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm. Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi bốn tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.

Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.

Hoặc đọc bài vắn này: Lc 2, 22. 39-40

“Con trẻ lớn lên, đầy khôn ngoan”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa. Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và Con Trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.

SUY NIỆM

A/ 5 Phút Lời Chúa

LÀ MỘT THÁNH GIA HÔM NAY

Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là Thành Nadarét. (Lc 2,39)

Suy niệm: “Tình yêu thương khởi đầu từ gia đình, vấn đề không phải ta làm bao nhiêu việc, mà là ta đặt bao nhiêu tình yêu trong mỗi việc làm của mình” (Mẹ Têrêxa Calcutta). Trong Thánh gia ngày ấy, mọi công việc đời thường đều thấm đẫm tình thương. Vì yêu thương thánh Giuse âm thầm lìa bỏ Đức Maria cách kín đáo; rồi sau này đưa Hài nhi trốn sang Ai Cập, thận trọng trở về Nadarét, ân cần hướng dẫn trẻ Giêsu thông thạo nghề mộc cũng vì tình thương. Với Đức Maria cũng vậy, nhận lời Thiên sứ truyền tin làm Mẹ Đấng Cứu thế, đi thăm viếng Bà Êlisabét, sinh con ở BêLem, dâng con trong Đền thờ, đón nhận lời tiên tri của ông Simêon và bà Anna, nhọc nhằn tìm con, chu đáo dưỡng dục con theo đường lối Chúa, tất cả đều từ động lực yêu thương. Với Đức Giêsu cũng vậy thôi. Đến trần gian này vì yêu thương, rồi tình yêu Thiên Chúa và con người ấy như sợi chỉ đỏ xuyên suốt đời Ngài, từ khi chào đời cho đến ngày về trời, và nay tiếp tục hiện diện mọi ngày với ta cũng vì lòng mến.

Mời Bạn: Nhà nào siêng năng đọc, cầu nguyện với Lời Chúa, nhà ấy được cung cấp năng lượng ân sủng; và nhờ đó, có thể biến đổi môi trường chung quanh bằng đời sống bác ái để loan báo Tin Mừng. Thánh gia ngày xưa cũng vậy, đời sống bình thường, nhưng trở thành phi thường, nhờ nguồn năng lượng yêu mến.

Sống Lời Chúa: Gia đình tôi nhìn ngắm Thánh gia, để biến đổi gia đình mình thành một thánh gia hiện đại. 

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse, là mẫu gương đời sống gia đình. Xin cho gia đình chúng con luôn nhìn ngắm và noi gương Ba Đấng.

B/ TGM Giuse Nguyễn Năng

Suy niệm: Với lòng thành tín của người cha nuôi, Thánh Giuse đã chẳng quản ngại trời đông giá rét, đêm tối đường xa. Người vội vã đem Hài Nhi và mẹ người trốn sang Ai Cập.

Hình ảnh người cha hiền, người chồng trung tín luôn yêu thương bảo vệ gia đình của Thánh Giuse phản ánh tính tuyệt vời của Thiên Chúa, của Ðức Giêsu đối với Giáo Hội, đối với nhân loại.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, qua bài Tin mừng hôm nay, mẫu gương của Thánh Giuse dạy cho chúng con: Tất cả vì hạnh phúc gia đình, và tuân hành ý Chúa. Xin cho các bậc gia trưởng, các vị hiền mẫu và những người con luôn chu toàn vai trò của mình. Gia đình hạnh phúc, Thiên Chúa được vinh danh, xã hội luôn an bình. Amen.

Ghi nhớ“Con trẻ lớn lên, đầy khôn ngoan”.

C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên

NƠI TRÚ ẨN BÌNH YÊN

Một tác giả đã viết: “Người ta có nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để về, đó là gia đình”. Quả vậy, con người lớn lên tung cánh vào đời, giống như chim phượng hoàng cất cánh bay xa. Bầu trời phía trước không còn biên giới như thời xưa nữa. Với khả năng tri thức và với ý chí kiên cường, ngày nay một người sinh ra và lớn lên tại Việt Nam có thể thành đạt và vẻ vang ở bất cứ chân trời nào. Tuy vậy, dù có bay cao bay xa, những phương trời ấy chỉ là nơi phát triển sự nghiệp. Con người vẫn cần có một nơi để về, đó là gia đình thân thương. Vai trò của gia đình không có gì thay thế được. Bởi lẽ gia đình là nơi trú ẩn bình yên giữa những bon chen và phong ba bão táp cuộc đời.

Nếu gia đình là nơi trú ẩn bình yên, thì chúng ta phải xót xa mà nhận định rằng, chốn trú ẩn ấy đang bị biến dạng, thậm chí trở thành nơi xung đột. Thực trạng gia đình ở Việt Nam cũng như trên thế giới cho thấy, nhiều bạn trẻ không thích gắn bó với nhau lâu dài. Họ chỉ muốn sống tạm, để có thể chia tay bất kỳ lúc nào. Những người đã kết hôn thì lại dễ dàng chia tay, và tỷ lệ ly hôn khá cao, theo kết quả thống kê của các nhà chuyên môn. Trong xã hội mà bạn trẻ quan niệm khá tự do và buông thả về tình yêu, tình dục, thì những chuẩn mực luân lý của truyền thống văn hóa Việt Nam cũng như của các tôn giáo thường bị coi nhẹ. Đó là chưa kể hiện tượng hôn nhân đồng tính, và thói quen sống thử và sống bầy đàn.

Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo nói về gia đình như sau: “Gia đình Ki-tô giáo là sự hiệp thông giữa các nhân vị, là dấu vết và hình ảnh của sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần. Hoạt động sinh sản và giáo dục của gia đình là phản ánh công trình tạo dựng của Chúa Cha” (Số 2205). Điều khẳng định trên đây cho thấy tính chất linh thánh của gia đình, theo lăng kính Ki-tô giáo. Một người nam và một người nữ kết hôn với nhau, không chỉ theo đòi hỏi của bản năng và chỉ để thỏa mãn tính dục, nhưng còn phản ánh tình yêu của chính Thiên Chúa, là nguồn mạch của tình yêu. Vì tính linh thánh này, mà hôn nhân Ki-tô giáo có giá trị bền vững, và “điều mà Thiên Chúa đã liên kết thì con người không được phân ly” (Mc 10,9).

Hôm nay, Giáo hội giới thiệu với chúng ta một gia đình gương mẫu, đó là gia đình Chúa Giê-su, Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se. Các Ki-tô hữu tuyên dương gia đình này là Thánh Gia, vì các thành viên của gia đình này đều là thánh. Đừng nghĩ rằng thánh gia thì đời sống gia đình trơn tru nhẹ nhàng. Bài Tin Mừng thánh Lu-ca nói với chúng ta về lời tiên báo của ông Si-mê-ôn với Đức Trinh nữ Ma-ri-a. Đức Mẹ được diễm phúc cưu mang Ngôi Lời nhập thể, nhưng Mẹ cũng phải trải qua muôn vàn đau khổ, được diễn tả như “một lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn”. Giữa những đau khổ bộn bề ấy, Mẹ vẫn trung kiên và phó thác nơi Chúa Quan phòng. Mẹ tin rằng, nếu Chúa đã khởi sự những điều tốt đẹp nơi Mẹ, thì Ngài ắt sẽ hoàn tất vào thời điểm Ngài muốn và theo cách Ngài muốn. Thánh Giu-se, người thợ mộc thành Na-gia-rét, cũng chung một niềm tín thác ấy. Sau này, khi phải thức dậy trong đêm để đưa Đức Giê-su và Mẹ Người trốn sang Ai-cập, rồi trong hành trình gian nan trở về Na-gia-rét, thánh Giuse vẫn âm thầm vâng phục, không một lời phàn nàn trách móc. Giu-se và Ma-ri-a là người cha, người mẹ gương mẫu cho mọi gia đình.

Khi tôn vinh Thánh Gia Na-gia-rét, chúng ta học được những bí quyết để gìn giữ gia đình bền vững và hạnh phúc. Những bí quyết đó là đức tin và tình yêu.

Trong mọi giây phút của cuộc đời, thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a luôn vững tin vào Thiên Chúa. Nếu Mẹ Ma-ri-a đã trả lời sứ thần Ga-bri-en trong ngày Truyền tin: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38), thì thánh Giu-se lại âm thầm vâng phục sứ thần, vui vẻ đón người bạn đã đính hôn về nhà mình (x. Mt 1,24). Cả hai vị thánh đều tin vào quyền năng của Chúa. Các Ngài giống như những dụng cụ trong tay người thợ, sẵn sàng tùy ý điều khiển của người thợ, và chắc chắn người thợ tài ba ấy sẽ làm nên những tác phẩm tuyệt vời. Đức tin có sức mạnh phi thường. Nó giúp ta vượt qua muôn vàn thử thách. Tác giả thư gửi tín hữu Híp-ri (Bài đọc II) đã nêu lên những nhân chứng đức tin điển hình trong Cựu ước để khích lệ chúng ta trong hành trình theo Đức Giê-su.

Gia đình ở Na-gia-rét là gia đình của tình yêu. Chắc chắn, khi làm việc cũng như khi nghỉ ngơi, Giu-se và Ma-ri-a cùng yêu nhau với tình yêu chân thành và sự trân trọng thẳm sâu. Cả hai cùng yêu mến Chúa Giê-su với một tình yêu khôn tả. Khi Chúa Giê-su ở lại trong Đền thờ nhân dịp đi lễ, hai ông bà đã vất vả ngược xuôi, và chỉ vui mừng an tâm khi thấy lại Chúa Giê-su (x. Lc 2,41-50).  

Gia đình bền vững chính là một điều kiện cần thiết để xây dựng xã hội phát triển văn minh. Để gia đình thực sự là nơi trú ẩn bình yên, mọi thành viên của gia đình cần được liên kết với nhau bằng mối giây tình yêu, và đặt nền tảng trên đức tin vào Thiên Chúa. Chúng ta cầu nguyện cho các gia đình được bền vững, hạnh phúc và bình an, hầu trở nên một “Giáo hội tại gia”, có khả năng làm lan tỏa tình yêu và sức sống cho mọi người.

Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và tình yêu không bao giờ kết thúc”“Gia đình chính là nơi con tìm về, khi mệt nhoài trên đường đầy rẫy chông gai” (Sưu tầm).

D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Lễ Thánh Gia nhắc chúng ta nhớ đến những năm tháng Đức Giê-su sống thầm lặng trong suốt thời thơ ấu và trưởng thành dưới mái ấm gia đình Na-da-rét, mẫu gương của mọi gia đình.

Hc 3: 2-6, 12-14

Hiền nhân Si-rác khuyên con cái phải có lòng thảo kính đối với cha mẹ, nhất là khi các ngài già yếu.

Cl 3: 12-21

Thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Cô-lô-xê thực hành những đức tính như “thương xót, nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ và nhẫn nại”, đặc biệt là “yêu thương” đó là mối dây tuyệt hảo liên kết mọi thành viên nên một trong đời sống gia đình và cộng đoàn.

Lc 2: 22-40

Tin Mừng Lu-ca trước hết tường thuật lễ thanh tẩy Đức Ma-ri-a và lễ thánh hiến Hài Nhi Giê-su ở Đền Thánh, tiếp đó gợi lên một cách ngắn gọn thời thơ ấu của Đức Giê-su ở dưới mái ấm gia đình Na-da-rét.

BÀI ĐỌC I (Hc 3: 2-6, 12-14)

Ông Si-rắc là một hiền nhân Do thái vào đầu thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên. Ông mở trường dạy học và ghi lại vốn kinh nghiệm và những gẫm suy thế sự của mình. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Híp-ri, sau đó được cháu nội của ông dịch sang Hy ngữ vào năm 130 trước Công Nguyên.

Tác phẩm của ông là sách dạy đạo đức về cách ăn nếp ở thực tiễn. Ông viết tác phẩm này vì muốn trung thành với niềm tin của cha ông mình, đồng thời không muốn dân mình bị ảnh hưởng do văn hóa ngoại giáo chung quanh, đặc biệt do sức quyến rũ của sự khôn ngoan Hy lạp. Sách ông bàn đến nhiều đề tài rất đa dạng. Sách được điểm xuyến bằng những câu châm ngôn dễ nhớ và được Do thái giáo mến chuộng. Giáo Hội cũng xem sách này như Sách Thánh của mình.

Sách cho thấy ông nhất mực gắn bó với Lề Luật. Theo ông, việc thực hành Lề Luật là nguồn mạch khôn ngoan. Trong chương 3, hiền nhân Si-rắc khai triển phận làm con là phải có lòng thảo kính đối với cha mẹ mình, một trong Mười Giới Răn: “Ngươi hãy thảo kính cha mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20: 12; Đnl 5: 16).

1. Thảo kính cha mẹ, đạo tự nhiên

Bổn phận thảo kính cha mẹ nhất là vào lúc các ngài già yếu thuộc về những truyền thống rất lâu đời của các nền văn minh, được các tôn giáo lẫn triết học ca ngợi. Chúng ta có thể sánh ví những lời khuyên bảo của hiền nhân Cựu Ước này với nhiều bản văn của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy lạp xưa. Ở Trung Quốc cũng như ở Ấn độ, bổn phận làm con đối với cha mẹ trở thành một thứ đạo hiếu đòi buộc hết mọi người. Ở Hy-lạp, xin được trích dẫn mẫu gương của hiền nhân Socrate khuyên các con của mình phải bày tỏ tấm lòng hiếu thảo với mẹ của chúng, vì tình sâu nghĩa nặng của cha mẹ đối với mình (Xénophon, Les Mémorables, II, 2). Ở Việt Nam chúng ta, không ai không thuộc câu ca dao này:

Công cha như núi Thái Sơn,

nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

2. Thảo kính cha mẹ, đạo Thiên Chúa

Giới răn thảo kính cha mẹ không chỉ thuộc đạo tự nhiên, nhưng cũng còn chương trình của Đấng Tạo Hóa đối với con người. Cuộc sống gia đình ở Ít-ra-en được ghi khắc trong chiều kích siêu nhiên: không chỉ lưu truyền nòi giống, mà còn truyền đạt từ thế hệ này đến thế hệ khác niềm tin của cha ông vào một Thiên Chúa duy nhất, Đấng đã tự mặc khải mình ra. Chính vị Thiên Chúa này “muốn con cái phải có lòng thảo kính cha và phục quyền mẹ”. Chính Ngài chúc phúc cho con cái nào giữ trọn đạo hiếu với cha mẹ của mình.

Kẻ kính cha sẽ được trường thọ”, đây là lời chúc phúc cổ truyền nhất. Cuộc sống trường thọ là phần thưởng dành cho con cái có tấm lòng đạo hiếu đối với cha mẹ được đánh giá cao nhất vào thời kỳ những niềm hy vọng ở bên kia nấm mồ chưa được biết đến (chỉ vào thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, viễn cảnh niềm tin vào cuộc sống mai sau mới xuất hiện).

Còn ngạc nhiên hơn nữa đối với lời hứa “Kẻ thờ cha thì được thứ tha tội lỗi”, cũng như “người kính mẹ khác nào kẻ tích trữ kho tàng”, nghĩa là lập công tích đức để được Thiên Chúa thứ tha tội lỗi của mình. Cách nói này tương tự với câu cuối của đoạn trích hôm nay: “Vì việc hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con”.

Trong Do thái giáo sau thời kỳ lưu đày Ba-by-lon, người ta rất nhạy bén trước tội lỗi và bận lòng thanh luyện nội tâm. Hiền nhân Si-rắc thuộc vào những thế hệ này: gẫm suy giáo huấn của các ngôn sứ. Đến phiên mình, ông ca tụng việc thực hành đức hạnh hơn việc tế tự thuần túy bên ngoài. Theo đường hướng này, ông khai triển rất xa và ở đây ông đánh giá việc thảo kính cha mẹ như hy tế xá tội. Tuy nhiên, chúng ta nhận ra một sự khác biệt ở đây: trong khi các ngôn sứ rất bận lòng đến ơn cứu độ của toàn thể dân chúng, thì các hiền nhân quan tâm nhiều hơn đến ơn cứu độ cá nhân.

Cuối cùng chúng ta ghi nhận rằng hiền nhân Si-rắc cẩn trọng trích dẫn bổn phận đối với cha và bổn phận đối với mẹ gần như đối xứng với nhau. Điều này rất hiếm trong Cựu Ước ở đó người cha thường chiếm vai trò gần như độc tôn.

BÀI ĐỌC II (Cl 3: 12-21)

Như thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, thư gởi tín hữu Cô-lô-xê đã được thánh Phao-lô viết trong cảnh thánh nhân bị giam cầm ở Rô-ma vào khoảng những năm 61-63 sau Công Nguyên, vì thế nội dung của hai bức thư này rất gần nhau.

1. Hoàn cảnh

Thành phố Cô-lô-xê miền Tiểu Á đã khai sinh một cộng đoàn Ki-tô hữu. Cộng đoàn này được Epaphras, bạn đồng hành đồng thời cũng là môn đệ của thánh Phao-lô, thiết lập. Những sai lạc đạo lý, những biện luận về quyền năng của thiên thần, những thực hành khổ chế, những khuynh hướng Do thái giáo gây nguy hiểm cho đức tin của cộng đoàn non trẻ này. Thánh Phao-lô hiện đang bị giam cầm, nên không thể đến tận nơi được. Vì thế, thánh nhân gởi bức thư này cho các tín hữu Cô-lô-xê. Thánh nhân tập chú giáo huấn của mình vào Đức Ki-tô và quy chiếu cuộc sống Ki-tô hữu vào điều cốt lõi: sống hiệp nhất với Đức Ki-tô, noi gương Đức Ki-tô, thực hành các nhân đức, đặc biệt là đức ái.

2. Nội dung

Phụng vụ đề nghị cho chúng ta đoạn trích của thư này và mời gọi chúng ta đọc nó trong ý hướng của ngày lễ hôm nay: đời sống gia đình: “Anh em hãy có lòng thương xót, nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ và nhẫn nại. Hãy chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau”.

Đức ái Ki-tô giáo là nguồn mạch của sự hiệp nhất và bình an trong đời sống cộng đoàn, huống gì trong đời sống gia đình, ở đó tình yêu phải là mối dây liên kết tuyệt hảo. Theo thói quen của mình, thánh Phao-lô mời gọi tạ ơn và cầu nguyện, nhất là cầu nguyện chung: “Hãy đem hết lòng biết ơn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, những khúc thánh ca, do Chúa Thánh Thần linh hứng”, nghĩa là cầu nguyện tự phát.

Đoạn thư hoàn tất với vài lời khuyên bảo đặc thù về bổn phận giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái. Thánh nhân khai triển những điều này trong thư gởi tín hữu Ê-phê-xô 5, 21-32.

TIN MỪNG (Lc 2: 22-40)

Vào ngày lễ Thánh Gia, với đoạn Tin Mừng này, Giáo Hội tưởng niệm hai nghi thức được cử hành cùng một lúc trong Đền Thánh Giê-ru-sa-lem: lễ thanh tẩy Đức Ma-ri-a và lễ thánh hiến Đức Giê-su, con trai đầu lòng.

Chung quanh con trẻ sáu tuần lễ này, chúng ta thấy Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se không chỉ “tuân theo Luật Chúa truyền”, nhưng họ còn ngạc nhiên bỡ ngỡ trước lời sấm của cụ già Si-mê-on về Hài Nhi. Điều này cho thấy thánh Giu-se đã nhận con trẻ này như đứa con ruột thịt của mình. Như vậy, thánh Lu-ca, vốn đã nhấn mạnh đức đồng trinh của Đức Ma-ria, không ngần ngại nói: “cha mẹ của Đức Giê-su”.

 Luật Mô-sê đòi buộc người mẹ, sau bốn mươi ngày sinh con trai và sau tám mươi ngày sinh con gái, dâng hy lễ thanh tẩy: một con chiên một năm tuổi, nhưng nếu người nghèo, một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. Vì thế, của lễ của Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se là của lễ của một gia đình nghèo.

Lễ thánh hiến con trai đầu lòng là đòi buộc, nhưng không cần phải lặn lội xa xôi đem con lên Giê-ru-sa-lem để tiến dâng cho Chúa. Ở đây, thánh Lu-ca đề cao lòng đạo đức tuyệt vời của Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se.

Vào giây phút Đức Giê-su, được trao ban hoàn toàn vào tay của con người và được dâng tiến lên Cha Ngài, Thánh Thần linh hứng cho hai nhân vật khả kính: cụ già Si-mê-on và bà ngôn sứ An-na, mặc khải sứ mạng của Hài Nhi này.

1. Cụ già Si-mê-on

Cụ già Si-mê-on đang mong chờ “niềm an ủi của Ít-ra-en”, đây là tước hiệu chỉ Đấng Mê-si-a từ thời ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, tức là cuối thời lưu đày (Is 49: 13). Cụ nhận ra ở nơi Hài Nhi này Đấng Cứu Độ không chỉ của dân Ít-ra-en nhưng của muôn dân nữa. Mặc Khải này làm cho Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se ngạc nhiên và bỡ ngỡ. Bài thánh thi của cụ già Si-mê-on tiên báo về sứ mạng của Đức Giê-su đối xứng với bài thánh thi của ông Da-ca-ri-a tiên báo sứ mạng của Gioan Tẩy giả. Thánh Lu-ca thiết lập một sự đối xứng giữa cuộc đời thơ ấu của hai con trẻ này.

Ông Si-mê-on chúc phúc cha hai ông bà”, nhưng chỉ hướng về một mình Đức Ma-ria và nói với chỉ một mình Mẹ, bởi vì thánh Giu-se qua đời sớm nên không thể làm chứng về cuộc đời công khai của Đức Giê-su. Cụ già Si-mê-on báo trước cho Đức Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi, số phận bi thương đang chờ đợi Mẹ: Mẹ sẽ đau khổ vì dân Ít-ra-en bị chia rẽ về Con của Mẹ: tin vào Ngài hay từ chối Ngài. Chúng ta có thể đọc thấy trong lời tiên báo này viễn cảnh núi Sọ. Mạch văn không đòi buộc điều này nhưng cũng không tuyệt đối loại bỏ.

2. Bà ngôn sứ An-na

Còn Bà ngôn sứ An-na cảm tạ Thiên Chúa và lớn tiếng thông báo cho những ai mong chờ ngày Thiên Chúa giải phóng Giê-ru-sa-lem qua con trẻ này.

Đây là sự ghi nhận mang đậm nét của thánh ký Lu-ca. Đối với thánh Lu-ca, Giê-ru-sa-lem là trung tâm Mặc Khải. Dung mạo của hai ông bà cao tuổi này đại diện rất rõ nét nỗi mong chờ dài lâu của dân Ít-ra-en. Thế nên, đây là hai người tôi tớ vĩ đại của Thiên Chúa đến chứng thực rằng việc dân Ít-ra-en chuẩn bị chờ đón Đấng Mê-si-a đã đến hồi kết thúc. Họ được sánh ví như thời Cựu Ước đã đến hồi hoàn tất để nhường chỗ cho thời Tân Ước, kỷ nguyên Mê-si-a. Trong số bốn tác giả Tin Mừng, thánh Lu-ca là thánh ký nhấn mạnh nhiều nhất những giai đoạn cứu độ.

3. Lời kết

Thánh Lu-ca kết thúc đoạn Tin Mừng hôm nay với đời sống ẩn dật của Đức Giê-su trong mái ấm gia đình Na-da-rét. Thánh ký ghi nhận rất ngắn gọn cuộc đời thơ ấu của Đức Giê-su: “Còn Hài Nhi, ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh”. Lời nhận xét này được đặt đối xứng với lời nhận xét khác liên quan đến cuộc đời thơ ấu của Gioan Tẩy giả: “Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh” (Lc1: 80). Tuy nhiên, thánh ký còn nói thêm về Chúa Giê-su: “Đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Chúa”. Như vậy, Đức Giê-su thì vĩ đại hơn Gioan Tẩy giả ngay từ thời thơ ấu.

E/ Những bài suy niệm khác