
“Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy.
Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân”. (Mt 28,18-19)
Bài Ðọc I: Cv 1, 1-11
“Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện”.
Bài trích sách Tông đồ Công vụ.
Hỡi Thêôphilê, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những điều Đức Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, cho đến ngày Người lên trời, sau khi căn dặn các Tông đồ, những kẻ Người đã tuyển chọn dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng; Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa. Và trong một bữa ăn, Người đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa. Người nói: “Như các con đã nghe chính miệng Thầy rằng: Gioan đã làm phép rửa bằng nước, phần các con, ít ngày nữa, các con sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”.
Vậy các kẻ có mặt hỏi Người rằng: “Lạy Thầy, có phải đã đến lúc Thầy khôi phục Nước Israel chăng ?” Người bảo họ rằng: “Đâu phải việc các con hiểu biết thời gian hay kỳ hạn mà Cha đã ấn định do quyền bính Ngài. Nhưng các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”. Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông.
Đang khi các ông còn ngước mắt lên trời nhìn theo Người đang xa đi, thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời ? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời”.
Đáp Ca: Tv 46, 2-3. 6-7. 8-9
Đáp: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang (c. 6).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: Hết thảy chư dân, hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa tiếng reo vui! Vì Chúa là Đấng Tối cao, khả uý, Người là Đại Đế trên khắp trần gian.
Xướng: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang. Hãy ca mừng, ca mừng Thiên Chúa; hãy ca mừng, ca mừng Vua ta!
Xướng: Vì Thiên Chúa là Vua khắp cõi trần gian, hãy xướng ca vịnh mừng Người. Thiên Chúa thống trị trên các nước, Thiên Chúa ngự trên ngai thánh của Người.
Bài Ðọc II: Ep 1, 17-23
“Người đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời”.
Trích thư của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, xin Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Cha vinh hiển, ban cho anh em thần trí khôn ngoan và mạc khải, để nhận biết Người; xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh, và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta, là những kẻ tin, chiếu theo hành động của sức mạnh quyền năng Người, công việc mà Chúa đã thực hiện trong Đức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời, vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần, và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này lẫn đời sau. Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài, và là sự sung mãn của Đấng chu toàn mọi sự trong mọi người.
Alleluia: Mt 28, 19 và 20
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 28, 16-20
“Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu
Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước. Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi. Chúa Giêsu tiến lại nói với các ông rằng: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
RA ĐI LOAN BÁO TIN MỪNG
Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ… (Mt 28,19)
Suy niệm: Tin Mừng Phục sinh không chỉ để chiêm ngắm, suy phục, mà còn phải được các môn đệ đi loan báo, làm cho người đón nhận Tin Mừng đó trở thành môn đệ của Chúa Giêsu qua phép Rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, cùng với việc tuân giữ những điều Chúa truyền dạy. Tiến trình làm chứng, loan báo Tin Mừng Phục sinh đã và đang được các thế hệ Kitô hữu thực thi dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa. Có thời đại gặt hái được những thành quả tốt đẹp; có lúc như khựng lại; nhưng vẫn luôn là ưu tư hàng đầu của cả Hội Thánh. Hội Thánh vẫn lạc quan tin tưởng vào lời Chúa hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”
Mời Bạn: Qua bí tích Thánh tẩy và Thêm sức, người Kitô hữu được giao cho sứ mạng làm chứng tá cho Tin Mừng Nước Trời trong bậc sống của mình. Họ được kêu gọi lên đường đi ra vùng ngoại biên loan báo Chúa Phục Sinh, làm cho người muôn dân trở thành môn đệ Ngài. Bạn đã ý thức bổn phận đó và chuẩn bị hành trang gì cho chuyến đi này chưa? Nếu chưa, hôm nay chính là lúc bạn phải bắt đầu từ đâu ngay sứ mạng đó.
Sống Lời Chúa: Hành trang này không thể thiếu khát vọng đem ơn cứu độ cho người anh em, cũng như nhiệt tình tông đồ mà bạn cần phải hun đúc. Đồng thời bạn cần lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần, vì bạn không thể thành công tự sức mình được.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo trợ nâng đỡ, khích lệ chúng con. Xin soi sáng và hướng dẫn chúng con trên con đường loan báo Tin Mừng Phục sinh của Chúa Kitô mỗi ngày. Amen.
B/ TGM Giuse Nguyễn Năng
Suy niệm: Trước khi Ðức Giêsu Thăng Thiên, Ngài đã trao cho các môn đệ và mỗi người Kitô hữu chúng ta sứ mệnh truyền giáo. Ngài hứa sẽ luôn ở với chúng ta mãi mãi. Lời hứa của Chúa được thực hiện qua bí tích Thánh Thể, qua Lời Chúa và Thánh Thần của Ngài. Ðó là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng đời sống đức tin và sứ vụ của chúng ta. Sống kết hợp với Ðức Giêsu và thực thi lời Ngài, là chúng ta đang rao giảng Ngài cho anh em.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, khi về trời, Chúa đã không có bỏ chúng con, nhưng Chúa hằng yêu thương nuôi dưỡng và ở lại với chúng con qua bí tích Thánh Thể. Chúa cũng luôn hướng dẫn dìu dắt chúng con qua Lời Chúa. Xin cho chúng con biết siêng năng đón nhận Lời Chúa và Thánh Thể để nhờ đó, cuộc sống của chúng con luôn có Chúa đồng hành. Ðể cùng với Chúa, chúng con ra đi với anh em chúng con. Amen.
Ghi nhớ: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy”.
C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên
HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI
Người Kitô hữu “sống ở thế gian mà không thuộc về thế gian”. Họ có bổn phận gắn kết và cộng tác xây dựng cuộc sống trần gian, nhưng họ lại không thuộc về thế gian, cũng như Chúa Giêsu không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14). Cuộc sống trần gian chỉ là cõi tạm, vì quê hương đích thực của người tín hữu là Quê Trời. Dù được mời gọi gắn bó với cuộc sống trần thế, cùng nhau xây dựng trần gian như “phác thảo đời sau”, nhưng người tín hữu không được quên bổn phận quan trọng là phải luôn hướng về Quê Trời. Lễ Thăng Thiên là dịp để chúng ta suy tư điều ấy.
Chúa Giêsu về trời, vì Người từ trời mà đến. Người là Đấng Thiên sai, được Chúa Cha sai đến trần gian để thiết lập vương quốc hòa bình và yêu thương. Trong ba năm loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu luôn cố gắng thực hành Thánh ý Chúa Cha, dù gặp nhiều chống đối và gian nan thử thách. Cuộc khổ hình thập giá và nhất là sự phục sinh vinh hiển, chính là chiến thắng của yêu thương trên hận thù, của Thiên Chúa trên thế gian và của ánh sáng trên bóng tối. Hôm nay, chúng ta mừng Chúa về trời, trong tiếng reo hò của các thiên thần. Chúa về trời như một cuộc khải hoàn vinh thắng, như một vị vua hồi loan sau trận chiến huy hoàng. Thánh Phaolô đã trình bày sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu như sự biểu dương mà Chúa Cha dành cho người Con Chí Ái. Quả thực, Chúa Cha đã tôn vinh Đức Giêsu và đặt người bên hữu. Đây là cách diễn tả sự ngang hàng giữa Chúa Cha và Chúa Con, và vinh dự mà Chúa Cha ban cho Chúa Con (Bài đọc II).
Nếu Chúa Giêsu đã về trời, thì Người lại không lìa xa chúng ta. Người đã hứa: “Này đây Thày ở cùng các con cho đến tận thế” (Mt 28,20). Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh lời hứa của Chúa Giêsu. Nhờ có Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội mà cộng đoàn Kitô hữu ban đầu từ một nhóm nhỏ những người dân chài chất phác đơn sơ đã trở thành một cộng đoàn đông đảo hiện diện trên toàn thế giới. Chúa Thánh Thần được Chúa Cha sai đến trần gian để tiếp nối công việc của Chúa Giêsu, nhất là liên kết mọi nền văn hóa, mọi chủng tộc và mọi ngôn ngữ thành cộng đoàn duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội để củng cố Đức tin và niềm hy vọng của chúng ta vào đời sau. Chính trong niềm xác tín ấy mà Giáo Hội hôm nay tuyên xưng và cầu nguyện với Chúa Cha: “Người lên trời, không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước” (Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên).
Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, mà là một dân đang lữ hành, tức là đang tiến bước. Đích điểm mà Giáo Hội đang tiến tới, đó chính là Quê Trời, nơi Chúa Giêsu đã về để hưởng vinh quang với Chúa Cha. Người tín hữu là thành phần của Giáo Hội, đang tiến bước cùng với anh chị em mình. Trong cuộc lữ hành này, còn nhiều thử thách gian nan. Có những người gục ngã vì thất vọng hoặc vì chông gai trên đường. Cũng như bất kỳ người lữ hành nào, người Kitô hữu phải kiên trì, cố gắng trung tín để đến đích mình mong đợi. Trong cuộc lữ hành về Quê Trời, chúng ta không đơn lẻ, nhưng có Chúa đồng hành với chúng ta. “Thầy không bỏ các con mồ côi. Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng” (Ga 14,13). Cùng với Chúa Giêsu, chúng ta còn có Chúa Thánh Thần đồng hành trên mỗi bước đường của cuộc sống. Chúa Thánh Thần soi sáng để chúng ta làm chứng cho Đức Giêsu: “Khi nào Thần Khí Sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn”.
Vì luôn hướng về Quê Trời như đích điểm và lý tưởng của mình, người Kitô cần có cái nhìn siêu nhiên trong đời sống hằng ngày, nhất là trong những thực hành Đức tin. Tác giả Luca làm chúng ta ngỡ ngàng, khi ghi lại câu hỏi của một vài môn đệ: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israen không?” Chúng ta ngỡ ngàng, vì những môn đệ này là những người đã chứng kiến cuộc khổ nạn của Chúa, và đã được gặp Người từ cõi chết sống lại. Vậy mà lúc này, đầu óc các ông còn đầy những tư tưởng trần gian và những tham vọng thế tục. Họ vẫn mang hình ảnh một Đấng Thiên sai trần gian, với hy vọng lúc đó họ cũng được hưởng lợi lộc do việc Thầy mình khôi phục một quyền bính trần tục. Trong thực tế hôm nay, đây đó vẫn còn những tín hữu mang một quan niệm thuần túy trần gian về giáo huấn của Chúa và về ân sủng của Người. Đó là một đức tin vụ lợi, thích chạy theo những điều ngoạn mục và giật gân. Đến một lúc nào đó, khi không đạt được những điều họ kỳ vọng, cái mà họ gọi là “đức tin” nơi họ sẽ sụp đổ và thay vào đó là sự bất mãn tiêu cực.
“Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời. Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời”. Lời của vị sứ thần muốn nhắn nhủ các môn đệ và nhắn nhủ chúng ta: hãy cố gắng thực thi những gì Chúa đã dạy, trong khi chờ đợi Người đến trong vinh quang. Hãy trở về với cuộc sống trần thế, với tâm trạng đổi mới, với niềm hân hoan phấn khởi, vì Chúa đang hiện diện giữa chúng ta. Hơn nữa, hãy thực hiện điều Chúa đã truyền trước khi về trời: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Đây chính là bổn phận của chúng ta. Khi thực hiện những điều này, chúng ta chứng tỏ chúng ta đang hướng về Quê Trời.
Lễ Chúa Giêsu lên trời không phải là kết thúc, nhưng là khởi đầu một chặng đường mới, chặng đường của chứng nhân. Mỗi chúng ta hãy lên đường, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, mạnh mẽ can đảm làm chứng cho Chúa, như Người đang mời gọi chúng ta.
D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Lễ Thăng Thiên tưởng niệm một biến cố hữu hình có các Tông Đồ là những nhân chứng: “cuộc lên trời của Đức Giêsu”, và một biến cố vô hình không có nhân chứng: “việc tôn vinh Chúa Con trở về cùng Chúa Cha”.
Cv 1: 1-11
Sách Tông Đồ Công Vụ tường thuật biến cố lên trời hữu hình: sau khi đã ban cho các môn đệ của Ngài những huấn lệnh sau cùng, Đức Giê-su biến mất vào trong đám mây trước mắt các ông.
Ep 1: 17-23
Trong thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô ca ngợi biến cố lên trời vô hình: Chúa Cha tôn vinh Chúa Con khi đặt Con của Người trên muôn loài muôn vật và thiết lập Ngài làm đầu Giáo Hội. Biến cố này thiết lập niềm hy vọng lớn lao cho người Ki-tô hữu là được dự phần vào vinh quang nầy, bởi vì Giáo Hội là “thân thể” của Đức Ki-tô.
Mt 28: 16-20
Trong Tin Mừng của mình, thánh Mát-thêu tường thuật một cuộc gặp gỡ duy nhất của Đức Ki-tô Phục Sinh với các Tông Đồ của Ngài trên núi Ga-li-lê, ở đó Đức Giê-su mặc khải cho họ biết rằng Ngài đã đón nhận mọi quyền năng trên trời dưới đất và sai họ ra đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân.
BÀI ĐỌC I (Cv 1: 1-11)
Sách Tông Đồ Công Vụ mà Chúa Nhật hôm nay trích phần đầu được trình bày như phần tiếp theo của sách Tin Mừng Lu-ca: cùng một tác giả: nhắc lại “quyển thứ nhất” (Cv 1: 1), tức là sách Tin Mừng thứ ba, và cùng một người nhận: ông Thê-ô-phi-lô (Lc 1: 1; Cv 1: 1),
Thánh Lu-ca hoàn tất sách Tin Mừng của mình ở nơi biến cố Thăng Thiên: “Người rời bỏ các ông và được đem lên trời…” trong khi Lời Tựa của sách Công Vụ Tông Đồ nêu lên hai lần cùng một sự kiện: “Cho đến ngày Người được rước lên trời” (1: 2) và “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn trông thấy Người nữa” (1: 9).
Như vậy, bằng cách trình bày văn chương, ở cuối sách Tin Mừng và đầu sách Công Vụ, biến cố Thăng Thiên xuất hiện chính xác như vừa hoàn tất vừa khởi đầu: hoàn tất sự hiện diện hữu hình của Đức Ki-tô ở giữa con người, và khởi đầu sự hiện diện vô hình của Ngài: hoàn tất sứ mạng tại thế của Đức Giê-su và khởi đầu sứ mạng của các Tông Đồ.
1.Hai biến cố Thăng Thiên:
Chúng ta có thể phân biệt một cách nào đó hai biến cố Thăng Thiên:
-Biến cố Thăng Thiên thứ nhất không có nhân chứng là cuộc trở về cùng Cha Ngài ngay sau biến cố Phục Sinh. Đó là cuộc hội ngộ Ba Ngôi, biến cố thần linh tuyệt mức. Đó cũng là sự tôn vinh của Chúa Con, sự tôn vinh mà Đức Giê-su cầu xin trong lời nguyện của Ngài, trước khi Ngài bước vào con đường Thương Khó và Tử Nạn: “Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha: xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian.” (Ga 17: 5).
-Biến cố Thăng Thiên thứ hai là cuộc lên trời hữu hình của Đức Giê-su trước mắt các Tông Đồ. Biến cố liên quan chủ yếu đến chúng ta, đó là bản tính nhân loại, cùng với Đức Ki-tô, sẽ được dự phần vào vinh quang Thiên Chúa. Vì thế, cuộc Thăng Thiên thứ hai nầy loan báo cuộc Thăng Thiên của chúng ta.
2.Lý do của biến cố Thăng Thiên hữu hình:
Tại sao Đức Giê-su chọn cách thức ra đi xem ra ngoạn mục nầy, dù nhanh và kín đáo? Trong cuộc gặp gỡ sau cùng với các môn đệ, cách đơn giản nhất Đức Giê-su có thể loan báo cho họ rằng Ngài sẽ không tỏ mình ra nữa, đoạn từ biệt họ rồi biến mất như Ngài đã làm trong suốt bốn mươi ngày sau biến cố Phục Sinh.
Chúng ta có thể gặp thấy câu trả lời: biến cố Thăng Thiên hữu hình là cách thức Đức Giê-su giới thiệu cuộc sống tiền hữu và nhập thể của Ngài trong suốt cuộc sống công khai của Ngài. Ngài đã lên trời một cách hữu hình như vậy khi xưng mình dưới danh hiệu “Con Người”, nhân vật huyền nhiệm mà ngôn sứ Đa-ni-en đã thoáng thấy trong một thị kiến “đến trên mây trời” (Đn 7: 13). Với ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su khẳng định: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3: 13). Trong bài diễn từ về “Bánh Hằng Sống”, Chúa Giê-su đã tuyên bố đến sáu lần Ngài là “bánh từ trời xuống”, và cuối cùng Ngài kết thúc bài diễn từ bằng những lời như sau: “Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?” (Ga 6: 62). Qua những lời trên, Đức Giê-su không thể nào loan báo cách rõ ràng hơn biến cố lên trời tương lai của Ngài.
3.Những lần hiện ra hữu hình của Đấng Phục Sinh:
“Trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa”: Nếu con số bốn mươi ngày không chính xác thì cũng chẳng quan trọng gì, biết bao ý nghĩa được chất chứa ở nơi con số này: nó hình thành nên một sự đối xứng với bốn mươi ngày Đức Giê-su đã trải qua trong hoang địa, giữa phép rửa của Ngài bởi thánh Gioan Tẩy Giả và khởi đầu cuộc đời công khai của Ngài, để chuẩn bị thi hành sứ mạng của Ngài. Bốn mươi ngày cũng là khoảng thời gian giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên, Đấng Phục Sinh chuẩn bị cho các môn đệ Ngài thi hành sứ mạng.
Chúng ta có thể thắc mắc Đấng Phục Sinh đã sống như thế nào trong suốt bốn mươi ngày. Kinh Thánh cung cấp cho chúng ta một cách nào đó cách sống nầy. Quả thật, khi đọc đoạn văn Công Vụ nầy làm thế nào không nghĩ đến sách Tô-bi-a (12: 15-21). Sau khi đã hoàn thành sứ mạng trần thế của mình, thiên sứ Ra-pha-en mặc khải cho hai cha con ông Tô-bi-a căn tính đích thật của mình: “Tôi đây là Ra-pha-en, một trong bảy thiên sứ luôn luôn hầu cận và vào chầu trước nhan vinh hiển của Thiên Chúa… Bình an cho các ngươi!… Phần tôi, tôi đã ở với các ngươi… do ý muốn của Thiên Chúa… Các ngươi đã thấy tôi ăn, nhưng thật ra tôi không ăn gì cả, đó chỉ là một thị kiến mà các ngươi thấy… Nầy tôi lên cùng Đấng đã sai tôi”. Và thiên sứ lên trời. Hai cha con đứng dậy, nhưng không thể thấy thiên sứ nữa…
4.Tất yếu phải có Chúa Thánh Thần:
Trước khi từ biệt các Tông Đồ, Đức Giê-su dặn dò các ông những lời sau hết và loan báo cho họ trong ít ngày nữa họ sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần: “Ông Gioan đã làm phép rửa bằng nước còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”.
Vào lúc đó, các ông hỏi Ngài một câu hỏi không thể nào tin được: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?”. Câu hỏi này cho thấy giấc mộng chính trị xưa kia của họ: khôi phục nền độc lập Ít-ra-en, vẫn còn nung nấu trong lòng các ông. Đức Giê-su không quở trách họ. Ngài mượn một hình ảnh khác: vương quốc mà Ngài sắp giao phó cho họ sẽ vượt quá không gian Giu-đê nhỏ bé, nó sẽ mang tầm mức thế giới (Cv 1: 7-8). Nhưng vào lúc nầy, vì chưa nhận được ân ban Thánh Thần, họ chưa thể nào hiểu được.
5.Đức Giê-su biến mất trong mây trời:
Không cốt là một đám mây nào đó, nhưng là dấu chỉ cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa như thường xảy ra trong Cựu Ước. Hơn nữa, thánh Lu-ca là tác giả Tin Mừng về biến cố Truyền Tin, trong đó đám mây, dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, đã phủ bóng trên Đức Ma-ri-a vào lúc Mẹ thụ thai đồng trinh, ở đây cũng đám mây bao phủ Đức Giê-su vào lúc Ngài từ giả cõi thế. Một thiên sứ hiện diện khi Đức Trinh Nữ nói tiếng “Xin Vâng”, ở đây cũng có các thiên sứ hiện diện vào lúc Đức Giê-su trở về với Cha Ngài.
6.Chiêm niệm và hành động:
Sức mạnh đến từ trên cao sẽ thúc đẩy các môn đệ dấn thân vào một cuộc mạo hiểm truyền giáo lớn lao “tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”. Chúng ta đừng ngạc nhiên khi thánh Lu-ca trích dẫn Giê-ru-sa-lem trước tiên vì Tin Mừng Lu-ca đặt Giê-ru-sa-lem làm trung tâm điểm của ơn Cứu Độ.
Chính là lúc phải hành động chứ không là những lưu luyến vô bổ như lời nhắc nhở của thiên sứ: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời?… Đức Giê-su cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời”. Họ phải bắt tay vào công việc lớn lao mà Giáo Hội không ngừng theo đuổi. Thật lý tưởng, mỗi người Ki-tô hữu vừa nuôi dưỡng tấm lòng của mình hướng về quê trời vừa biết liên kết giữa hoạt động và chiêm niệm.
BÀI ĐỌC II (Ep 1: 17-23)
Việc chọn đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Ê-phê-xô này là có chủ ý nhằm để tưởng niệm biến cố Thăng Thiên của Đức Ki-tô. Mặc dầu không nêu đích danh biến cố Thăng Thiên, nhưng thánh Phao-lô mặc cho biến cố nầy một chiều kích thần học: Đức Giêsu về cùng Chúa Cha đón nhận vinh quang và uy quyền, đồng thời kêu mời mọi tín hữu hãy dự phần vào cùng một cuộc sống vinh quang nầy.
Thánh Phao-lô viết từ Rô-ma trong cảnh giam cầm vào những năm 61-63. Trong những thư viết trong tù này, thánh nhân cho chúng ta những suy niệm cao vời của mình về mầu nhiệm cứu độ và mầu nhiệm Giáo Hội, “thân thể Đức Kitô”.
Trong đoạn trích thư này, chúng ta có thể phân biệt hai phần: phần thứ nhất là lời cầu nguyện và phần thứ hai là những mối liên hệ của Đức Ki-tô vinh hiển với Giáo Hội.
1.Lời cầu nguyện:
Trong những thư sau cùng của thánh Phao-lô, lời cầu nguyện càng lúc càng trở nên quan trọng. Tất cả những thư mà thánh nhân viết trong cảnh bị giam cầm đều theo thể văn cầu nguyện. Thánh nhân nhắc đi nhắc lại: “Anh em hãy cầu nguyện không ngừng. Anh em hãy cầu nguyện trong mọi lúc”. Chính ngài cũng đưa ra họ một mẫu gương. Lời cầu nguyện của thánh nhân luôn luôn ngỏ lời với Chúa Cha. Trong bản văn nầy, Chúa Cha đón nhận tước hiệu “Chúa Cha vinh hiển”. Cách diễn tả nầy có thể là tước hiệu phụng vụ, do từ một viễn cảnh được nêu lên: viễn cảnh vinh quang mà Chúa Cha cho Chúa Con Phục Sinh được dự phần vào, và theo sau Chúa Con, là mọi tín hữu.
Thánh Phao-lô cầu xin Chúa Cha ban cho các tín hữu Thần Khí khôn ngoan để họ càng ngày càng hiểu biết Thiên Chúa. “Hiểu biết Thiên Chúa” được hiểu theo Kinh Thánh là được sống với Ngài trong đức tin và đức mến, chứ không là một sự hiểu biết trừu tượng.
“Xin Ngài soi lòng mở trí cho anh em để anh em thấy rõ đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh”. Trong lời nguyện này, hai cách diễn tả: “niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi” và “gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng các thánh”, chỉ cùng một thực tại tinh thần: dự phần vào cuộc sống vinh quang của Chúa Con Phục Sinh. Quả thật, trong Cựu Ước, cách nói: “chia sẻ gia nghiêp” gợi lên một sự kiện lịch sử: chia sẻ Đất Hứa, nghĩa là đất Ca-na-an, giữa mười hai chi tộc Ít-ra-en. Trong Tân Ước: “chia sẻ gia nghiệp” giữa những người được tuyển chọn, nghĩa là “đồng thừa tự” cuộc sống vinh quang với Đức Ki-tô.
2.Đức Kitô vinh hiển và Giáo Hội:
Lời nguyện xin cho được ơn soi sáng dâng trào thành lời tôn vinh Đức Ki-tô, Đấng được đặt làm Chủ Tể vũ trụ và Thủ Lãnh Giáo Hội.
“Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng”. Thánh Phao-lô ám chỉ đến những niềm tin rất phổ biến trong thế giới Do thái chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp, theo đó những sinh linh thiên giới: những quyền lực thần thiêng hay tinh tú, chia sẻ việc điều hành vũ trụ với nhau, cả trong trật tự vật lý lẫn trong trật tự tinh thần.
Ở nơi số lượng đông đảo Quyền Thần nầy, chắc chắn phải kể đến những quyền lực của Ác Thần (Tử Thần là một trong số đó) mà Đức Ki-tô đã chiến thắng. Trong đoạn văn này, thánh nhân không nêu đích danh, nhưng ở gần cuối thư: “Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là những quyền lực thần thiêng, với những bật thống trị tối tăm nầy, với những thần linh quái ác chốn trời cao” (Ep 6: 12).
“Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô”. Đây là câu trích dẫn trực tiếp từ Thánh Vịnh 8, nêu bật lên tư tưởng mà thánh Phao-lô muốn diễn tả. Qua những từ ngữ nầy, thánh vịnh gia gợi lên sự cao cả của con người được Thiên Chúa tạo dựng:
“Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,
cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,
đặt muôn loài muôn sự dưới chân.” (Tv 8: 6-7).
Như vậy thánh nhân muốn nói rằng Đức Ki-tô là “Con Người” tuyệt hảo.
“Thiên Chúa đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô”. Hình ảnh nầy là chủ đề trọng tâm của thư gởi tín hữu Ê-phê-xô. Nó là đỉnh cao của việc suy gẫm dài lâu về mầu nhiệm Đức Ki-tô. Đầu ở đâu thì toàn thân ở đó. Và đầu, không chỉ là yếu tố truyền lệnh, điều khiển, nhưng còn là một bộ phận sinh động, hiệp nhất, đảm bảo sự tăng trưởng của toàn thân. Khi nào hoàn thành sứ mạng của mình, Giáo Hội sẽ hoàn tất ở nơi chính Đức Ki-tô.
TIN MỪNG (Mt 28: 16-20)
Đoạn kết Tin Mừng Mát-thêu này không nêu lên biến cố Thăng Thiên hữu hình, nhưng một hoạt cảnh uy nghi và hùng vĩ: Đức Ki-tô Phục Sinh hiện ra cho mười một môn đệ, loan báo cho họ quyền tối thượng hoàn vũ của Ngài, ủy thác cho họ sứ mạng loan truyền giáo huấn của Ngài đến muôn dân muôn nước, và đảm bảo với họ Ngài sẽ ở với họ luôn mãi.
Thánh Mát-thêu không tường thuật bất kỳ cuộc xuất hiện nào của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài sau khi Ngài sống lại, ngoại trừ cuộc hiện ra nầy. Thánh ký tập trung lời chứng về cuộc sống của Đấng Phục Sinh và những dặn dò tối hậu của Ngài vào cuộc hội ngộ duy nhất này. Như vậy biến cố này mặc lấy một chiều kích đặc biệt. Nét tiêu biểu đáng chú ý của đoạn kết này là tập hợp toàn bộ sách Tin Mừng Mát-thêu.
1.Ở Ga-li-lê:
Hoạt cảnh diễn ra ở Ga-li-lê. Đó là nơi Đức Giê-su đã hẹn gặp các môn đệ Ngài. Ba lần Ngài đã yêu cầu họ quy tụ với nhau ở nơi nầy. Lần thứ nhất sau khi Ngài báo trước Phê-rô chối Ngài và tất cả môn đệ sẽ vấp ngã vì Ngài: “Sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em”. (Mt 26: 32). Lần thứ hai vào buổi sáng Phục Sinh, thiên sứ đã nói với các người phụ nữ đến viếng mộ: “Hãy mau về nói với các môn đệ Người như thế nầy: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người” (Mt 28: 7). Lần thứ ba Đức Giê-su đích thân hiện ra với các người phụ nữ và lập lại sứ điệp nầy: “Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó” (Mt 28: 10). Thánh Mát thêu là thánh ký duy nhất nhắc lại ba lần cuộc hẹn gặp ở Ga-li-lê. Thánh Lu-ca định vị cuộc gặp gỡ sau cùng của Đức Giê-su với các môn đệ ở Giê-ru-sa-lem, trong khi thánh Mát-thêu, vốn không thích thành thánh Giê-ru-sa-lem vì nó đã phản bội sứ mạng của mình, dành riêng sứ điệp tối hậu của Đức Ki-tô cho các môn đệ tại Ga-li-lê.
Cuộc gặp gỡ được định vị trên một ngọn núi, núi nào chẳng quan trọng, vì núi chỉ là một biểu tượng. Không phải tại Tin Mừng Mát-thêu, trên một ngọn núi vang lên lời dạy của Đức Giê-su về các “Mối Phúc” sao?
2.Họ bái lạy Ngài:
“Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi”. Dường như chúng ta có ở đây một hoạt cảnh đối xứng với những hoạt cảnh mà thánh Mác-cô và thánh Lu-ca mô tả, ở đó những nghi ngờ như vậy cũng được gợi lên: “Ngài tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một… khiển trách các ông không tin và cứng lòng” (Mc 16: 14). Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn tay chân Thầy coi, chính Thầy đây mà!” (Lc 24: 36-38).
Đức Giê-su tiến gần họ để họ nhận ra Ngài rõ hơn. Sau khi cũng cố niềm tin của họ, Đức Giê-su ủy thác cho họ sứ điệp tối hậu của Ngài: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất”. Quyền tối thượng hoàn vũ nầy không phải đã được ngôn sứ Đa-ni-en loan báo trong thị kiến về “Con Người” sao? “Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cữu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7: 14).
3.Sai đi thi hành sứ mạng:
Đoạn, Đức Giê-su ủy thác cho các Tông Đồ sứ mạng vĩ đại: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành muôn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Rất nhạy bén trước chiều kích hoàn vũ của ơn Cứu Độ, thánh Mát-thêu hoàn tất tác phẩm của mình trên viễn cảnh bao la, theo đó muôn dân muôn nước trở thành muôn đệ của Đức Ki-tô.
Đồng thời “quyền giáo huấn Giáo Hội” được xác định: “Hãy dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Ngỏ hầu Giáo Huấn nầy được trung thành tuân giữ, Đức Giê-su hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Khi nói với các môn đệ: “Thầy ở cùng anh em…”, Đức Giê-su không dùng thì tương lai, vì thế đây không đơn giản là lời hứa nhưng một sự “khẳng định”. Cuộc ra đi của Ngài có nghĩa một sự hiện diện theo một hình thức mới. Trong Cựu Ước, Đức Chúa khẳng định với ông Mô-sê: “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3: 12), lời khẳng định này đã nâng đỡ dân Ít-ra-en suốt dòng lịch sử thăng trầm của mình. Như vậy, thánh Mát-thêu bắt đầu Tin Mừng của mình với nguồn gốc của Đức Giê-su: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1: 23) và cũng kết thúc toàn bộ Tin Mừng của mình với việc Đức Giê-su hoàn tất Kinh Thánh: Ngài là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”
E/ Những bài suy niệm khác



