
“Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy.
Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân”. (Mt 28,18-19)
Bài Ðọc I: Cv 1, 12-14
“Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện”.
Bài trích sách Tông đồ Công vụ.
(Sau khi Chúa Giêsu lên trời), các Tông đồ xuống khỏi núi gọi là Núi Ô-liu mà trở về Giêrusalem, núi này ở gần Giêrusalem, bằng quãng đường (được đi trong) ngày Sabbat.
Và khi đã trở vào thành, các ông lên lầu gác, nơi Phêrô và Gioan, Anrê và Philipphê, Giacôbê con ông Alphê và Simon Giêlôtê, và Giuđa con ông Giacôbê, trú ngụ.
Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, và Bà Maria mẹ Chúa Giêsu, với các anh em Người.
Ðáp Ca: Tv 26, 1.4.7-8a
Ðáp: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh.
Xướng: Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?
Xướng: Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.
Xướng: Lạy Chúa, xin nghe tiếng tôi kêu cầu, xin thương xót và nhậm lời tôi. Về Chúa, lòng tôi tự nhắc lời: “Hãy tìm ra mắt Ta”.
Bài Ðọc II: 1Pr 4, 13-16
“Nếu anh em bị xỉ nhục vì danh Ðức Kitô, thì phúc cho anh em”.
Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.
Anh em thân mến, được thông phần vào các sự thống khổ của Chúa Kitô, anh em hãy vui mừng, để khi vinh quang của Người được tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỉ.
Nếu anh em bị xỉ nhục vì Danh Chúa Kitô, thì phúc cho anh em, vì danh dự, vinh quang và sức mạnh của Thiên Chúa, là chính Thánh Thần Người sẽ ngự trên anh em.
Ước rằng không ai trong anh em phải khổ vì sát nhân, trộm cướp, gian phi hay là tham lam của kẻ khác; nếu chỉ vì là kitô hữu thì đừng hổ thẹn, hãy ca ngợi Thiên Chúa vì danh hiệu đó.
Alleluia: Ga 14, 18
Alleluia, alleluia. – Chúa phán: “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng”. – Alleluia.
Tin Mừng: Ga 17, 1-11a
“Lạy Cha, xin hãy làm vinh hiển Con Cha”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan
Khi ấy, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời và nói: “Lạy Cha, giờ đã đến, xin hãy làm vinh hiển Con Cha, để Con Cha làm vinh hiển Cha.
Vì Cha đã ban cho Con quyền trên mọi huyết nhục, để con cũng ban sự sống đời đời cho mọi kẻ Cha đã giao phó cho Con.
Sự sống đời đời chính là chúng nhận biết Cha, là Thiên Chúa duy nhất chân thật, và Ðấng Cha đã sai, là Giêsu Kitô.
Con đã làm vinh hiển Cha dưới đất, Con đã chu toàn công việc mà Cha đã giao phó cho Con.
Giờ đây, lạy Cha, xin hãy làm cho Con được vinh hiển nơi Cha, với sự vinh hiển mà con đã có nơi Cha, trước khi có thế gian.
Con đã tỏ danh Cha cho mọi kẻ Cha đã đưa khỏi thế gian mà ban cho Con.
Chúng thuộc về Cha, và Cha đã ban chúng cho Con, và chúng đã tuân giữ lời Cha.
Bây giờ chúng biết rằng những gì Cha ban cho Con, đều bởi Cha mà ra.
Vì những lời Cha ban cho Con thì Con đã ban cho chúng và chúng đã lãnh nhận, và biết đích thực rằng Con bởi Cha mà ra, và chúng tin rằng Cha đã sai Con.
Con cầu xin cho chúng, Con không cầu xin cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho Con, bởi vì chúng là của Cha.
Và mọi sự của Con là của Cha, và mọi sự của Cha cũng là của Con, và Con đã được vinh hiển nơi chúng.
Con không còn ở thế gian nữa, nhưng chúng vẫn còn ở thế gian, phần Con, Con về cùng Cha”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
B/ TGM Giuse Nguyễn Năng
Suy niệm: Trước khi Ðức Giêsu Thăng Thiên, Ngài đã trao cho các môn đệ và mỗi người Kitô hữu chúng ta sứ mệnh truyền giáo. Ngài hứa sẽ luôn ở với chúng ta mãi mãi. Lời hứa của Chúa được thực hiện qua bí tích Thánh Thể, qua Lời Chúa và Thánh Thần của Ngài. Ðó là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng đời sống đức tin và sứ vụ của chúng ta. Sống kết hợp với Ðức Giêsu và thực thi lời Ngài, là chúng ta đang rao giảng Ngài cho anh em.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, khi về trời, Chúa đã không có bỏ chúng con, nhưng Chúa hằng yêu thương nuôi dưỡng và ở lại với chúng con qua bí tích Thánh Thể. Chúa cũng luôn hướng dẫn dìu dắt chúng con qua Lời Chúa. Xin cho chúng con biết siêng năng đón nhận Lời Chúa và Thánh Thể để nhờ đó, cuộc sống của chúng con luôn có Chúa đồng hành. Ðể cùng với Chúa, chúng con ra đi với anh em chúng con. Amen.
Ghi nhớ : “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy”.
C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên
VINH QUANG THIÊN CHÚA
Trong lời cầu nguyện với Chúa Cha sau bữa tiệc ly (x. Ga, chương 17), Chúa Giêsu đã ca tụng và tôn vinh Chúa Cha. Người cũng xin Chúa Cha tôn vinh Người, vì Người đã đến trần gian để thực hiện ý của Chúa Cha. Vì trung thành với Thánh ý Chúa Cha, mà Người đã vui lòng chấp nhận thập giá và chết trên thập giá. Cũng trong lời cầu nguyện này, Chúa Giêsu xin Chúa Cha tôn vinh những ai trung tín theo Người để làm môn đệ của Người. Hành trình đức tin của người Kitô hữu chính là hành trình tôn vinh Thiên Chúa. Đó cũng là hành trình đạt tới vinh quang mà Thiên Chúa ban cho những ai yêu mến và trung tín với Người.
Nguyện cho Chúa được tôn vinh. Đó là điều ước nguyện đầu tiên trong kinh nguyện duy nhất mà Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ, tức là kinh “Lạy Cha”. Nếu chúng ta ước mong để Chúa được tôn vinh, điều đó không có nghĩa là Thiên Chúa bị lệ thuộc và chỉ được tôn vinh do con người. Không phải vậy, bản chất Thiên Chúa là vinh quang thánh thiện. Sự thánh thiện và vinh quang đã có từ ngàn đời. Vì Thiên Chúa là Đấng tự hữu, là Đấng vô thủy vô chung. Nếu chúng ta cầu nguyện để “xin cho Danh Cha được cả sáng”, là chúng ta mong ước cho nhân loại nhận ra vinh quang mà Thiên Chúa vốn có. Bởi lẽ con mắt và lý trí loài người bị che phủ, nên họ không nhận ra vinh quang của Ngài. Việc nhận ra vinh quang Thiên Chúa sẽ đem lại hạnh phúc và ơn cứu rỗi cho con người.
Con người có thể tôn vinh Thiên Chúa bằng cách nào?
Như Chúa Giêsu đã tôn vinh Thiên Chúa qua việc tuân hành Thánh ý của Chúa Cha, người tín hữu có thể tôn vinh Chúa Cha qua việc thực thi ý Chúa. Đó cũng là điều chúng ta cầu nguyện trong kinh Lạy Cha: “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Thực hiện ý Chúa đôi khi đi ngược lại với quan điểm và lối suy nghĩ của con người, vì “như trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng của Ta cũng vượt xa tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu”. Thiên Chúa thấu suốt tư tưởng thầm kín của con người, trong khi con người chỉ nhìn thấy những gì bề ngoài. Những suy tư tính toán và định hướng của con người, có thể là tốt trong một thời điểm nào đó, nhưng lại không có giá trị vững bền. Thực thi ý Chúa trước hết là cầu xin Ngài soi sáng để biết đâu là điều Chúa muốn nơi cuộc đời mình, trong hiện tại cũng như trong tương lai, đồng thời xin Ngài ban sức mạnh để chúng ta có thể thực hiện được những gì Ngài muốn. Thực thi ý Chúa đôi khi đòi hỏi phải hy sinh và kiên trì. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu là gương mẫu cho chúng ta: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cất chén này xa con, nhưng xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha”. Như một vận động viên chấp nhận khổ luyện, chắc chắn sẽ thành tài, những ai chuyên tâm thực thi ý Chúa sẽ được Ngài ban thưởng. Chuyên tâm thực thi ý Chúa, chính là những nỗ lực để tôn vinh Ngài.
Ơn gọi của người Kitô hữu là nên thánh. Chúa Giêsu đã nhắc lại giáo huấn của Cựu ước: “Các người hãy nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành”. Cuộc đời người Kitô hữu cũng chính là hành trình nên thánh. Thời gian sống trên trần gian là quà tặng Chúa ban cho chúng ta, và để chúng ta sử dụng có ý nghĩa, đem lại hạnh phúc cho bản thân và giúp đem niềm vui cho tha nhân bạn bè. Khi người Kitô hữu sống thánh thiện, là họ phản ánh vinh quang của Thiên Chúa. Bởi lẽ sự thánh thiện nơi chúng ta chính là một phần nhỏ của sự thánh thiện xuất phát từ Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguồn mạch của sự thánh thiện. Sự thánh thiện nơi con người đều xuất phát từ Thiên Chúa. Như thế, mặc dù còn sống nơi trần gian, nhưng khi cố gắng sống thánh thiện là chúng ta đã nếm trước hạnh phúc Thiên đàng. Thánh Irenê, một Giáo phụ lừng danh người Hy Lạp ở đầu lịch sử Giáo Hội đã khẳng định: “Vinh quang Thiên Chúa là con người sống vui”. Khi con người sống hạnh phúc thì họ phản ánh vinh quang và sự thánh thiện của Thiên Chúa. Hạnh phúc trọn vẹn cũng là một tên gọi khác của sự thánh thiện. Khi cố gắng nên thánh, là chúng ta tôn vinh Thiên Chúa.
Con người sống trên trần gian không như những ngôi sao cô đơn, nhưng hòa hợp với tha nhân để làm nên bản hòa tấu tuyệt vời của cuộc sống. Sự khác biệt về sở thích, ngành nghề, quan điểm, tài năng… tạo nên sự phong phú đa dạng, như những nốt nhạc trầm bổng của một bản hợp xướng cuộc đời. Tình liên đới, lòng bác ái sẻ chia mà con người dành cho tha nhân sẽ làm tăng thêm vẻ đẹp của cuộc sống. Trong thời gian đại dịch viêm phổi Vũ Hán (COVID-19) vừa qua, tình liên đới được thể hiện một cách tuyệt vời. Nhiều cá nhân cũng như tập thể đã thể hiện truyền thống tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, quảng đại giúp đỡ những người túng thiếu nghèo đói trong lúc đại dịch. Nhiều người không nhân danh một tổ chức hoặc tôn giáo nào, mà chỉ làm việc thiện theo sự mách bảo của trái tim. Đối với những tín hữu Công giáo, việc bác ái trở nên có ý nghĩa hơn, nếu nó được thực hiện vì Chúa. Chúa Giêsu đã đồng hóa với người tù đày, nghèo đói, cô đơn bất hạnh và bị bỏ rơi bên lề cuộc đời. Người khẳng định: khi chúng ta giúp đỡ những người như thế, là chúng ta giúp đỡ chính Chúa (x. Mt 25, 31-46). Những nghĩa cử bác ái được thực hiện “với danh nghĩa là môn đệ của Thày Giêsu”, đồng thời cũng diễn tả vinh quang Thiên Chúa giữa đời, và làm bừng lên giữa cuộc đời còn nhiều tăm tối những ngôi sao hy vọng, những ngọn nến của lòng nhân ái yêu thương. Khi thực hiện bác ái đối với tha nhân là chúng ta tôn vinh Thiên Chúa.
Cuộc sống được so sánh như một cuộc lữ hành. Bước vào đời, ta là thân lữ khách. Hành trình cuộc đời có những êm ả, nhưng cũng không thiếu bão giông. “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Những khó khăn ta gặp phải như những thử thách giúp ta được tôi luyện và trưởng thành. Giữa những mâu thuẫn xung đột, đôi khi trở nên rất nghiêm trọng, người Kitô hữu được mời gọi trở nên những nhà kiến tạo hòa bình, xây dựng một xã hội nhân ái. Chúa Giêsu được gọi là “Hoàng tử hòa bình”. Người đến thế gian để xóa bỏ bức tường ngăn cách giữa các dân tộc, nhất là xóa bỏ khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người do tội lỗi gây nên. Vì mang danh Kitô hữu, chúng ta cũng có sứ mạng xây dựng hòa bình nơi trần thế. Những cố gắng hòa giải, giảm thiểu và xóa bỏ xung đột giữa những cá nhân cũng như những tập thể, đều nhằm diễn tả vinh quang Thiên Chúa, làm cho Vương Quốc yêu thương của Người sớm được thể hiện nơi cuộc sống của chúng ta. Khi cố gắng hòa giải và kiến tạo hòa bình, là chúng ta tôn vinh Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Đấng vô hình, nhưng Ngài đã trở nên hữu hình nơi Đức Giêsu Kitô và hôm nay Ngài vẫn đang hiện diện nơi trần thế. Kitô hữu là người được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Qua cách sống và thiện chí của người tín hữu, Thiên Chúa đang thực thi lòng thương xót của Ngài. Chúng ta hãy cùng tôn vinh Thiên Chúa bằng chính cuộc đời của chúng ta, để Ngài đuợc nhận biết và được yêu mến. “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thày ở điểm này: là anh em thương yêu nhau” (Ga 13,35). Khi nỗ lực và cố gắng làm cho Chúa được nhận biết, chính là việc làm nhằm tôn vinh Thiên Chúa.
D/ Lm. Inhaxio Hồ Thông
Lễ Thăng Thiên tưởng niệm một biến cố hữu hình có các Tông Đồ là những nhân chứng: “cuộc lên trời của Đức Giê-su”, và một biến cố vô hình không có nhân chứng: “việc tôn vinh Chúa Con trở về cùng Chúa Cha”.
Cv 1: 1-11
Sách Tông Đồ Công Vụ tường thuật biến cố lên trời hữu hình: sau khi đã ban cho các môn đệ của Ngài những huấn lệnh sau cùng, Đức Giê-su biến mất vào trong đám mây trước mắt các ông.
Ep 1: 17-23
Trong thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô ca ngợi biến cố lên trời vô hình: Chúa Cha tôn vinh Chúa Con khi đặt Con của Người trên muôn loài muôn vật và thiết lập Ngài làm đầu Giáo Hội. Biến cố này thiết lập niềm hy vọng lớn lao cho người Ki-tô hữu là được dự phần vào vinh quang nầy, bởi vì Giáo Hội là “thân thể” của Đức Ki-tô.
Mt 28: 16-20
Trong Tin Mừng của mình, thánh Mát-thêu tường thuật một cuộc gặp gỡ duy nhất của Đức Ki-tô Phục Sinh với các Tông Đồ của Ngài trên núi Ga-li-lê, ở đó Đức Giê-su mặc khải cho họ biết rằng Ngài đã đón nhận mọi quyền năng trên trời dưới đất và sai họ ra đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân.
BÀI ĐỌC I (Cv 1: 1-11)
Sách Tông Đồ Công Vụ mà Chúa Nhật hôm nay trích phần đầu được trình bày như phần tiếp theo của sách Tin Mừng Lu-ca: cùng một tác giả: nhắc lại “quyển thứ nhất” (Cv 1: 1), tức là sách Tin Mừng thứ ba, và cùng một người nhận: ông Thê-ô-phi-lô (Lc 1: 1; Cv 1: 1),
Thánh Lu-ca hoàn tất sách Tin Mừng của mình ở nơi biến cố Thăng Thiên: “Người rời bỏ các ông và được đem lên trời…” trong khi Lời Tựa của sách Công Vụ Tông Đồ nêu lên hai lần cùng một sự kiện: “Cho đến ngày Người được rước lên trời” (1: 2) và “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn trông thấy Người nữa” (1: 9).
Như vậy, bằng cách trình bày văn chương, ở cuối sách Tin Mừng và đầu sách Công Vụ, biến cố Thăng Thiên xuất hiện chính xác như vừa hoàn tất vừa khởi đầu: hoàn tất sự hiện diện hữu hình của Đức Ki-tô ở giữa con người, và khởi đầu sự hiện diện vô hình của Ngài: hoàn tất sứ mạng tại thế của Đức Giê-su và khởi đầu sứ mạng của các Tông Đồ.
1.Hai biến cố Thăng Thiên:
Chúng ta có thể phân biệt một cách nào đó hai biến cố Thăng Thiên:
-Biến cố Thăng Thiên thứ nhất không có nhân chứng là cuộc trở về cùng Cha Ngài ngay sau biến cố Phục Sinh. Đó là cuộc hội ngộ Ba Ngôi, biến cố thần linh tuyệt mức. Đó cũng là sự tôn vinh của Chúa Con, sự tôn vinh mà Đức Giê-su cầu xin trong lời nguyện của Ngài, trước khi Ngài bước vào con đường Thương Khó và Tử Nạn: “Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha: xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian.” (Ga 17: 5).
-Biến cố Thăng Thiên thứ hai là cuộc lên trời hữu hình của Đức Giê-su trước mắt các Tông Đồ. Biến cố liên quan chủ yếu đến chúng ta, đó là bản tính nhân loại, cùng với Đức Ki-tô, sẽ được dự phần vào vinh quang Thiên Chúa. Vì thế, cuộc Thăng Thiên thứ hai nầy loan báo cuộc Thăng Thiên của chúng ta.
2.Lý do của biến cố Thăng Thiên hữu hình:
Tại sao Đức Giê-su chọn cách thức ra đi xem ra ngoạn mục nầy, dù nhanh và kín đáo? Trong cuộc gặp gỡ sau cùng với các môn đệ, cách đơn giản nhất Đức Giê-su có thể loan báo cho họ rằng Ngài sẽ không tỏ mình ra nữa, đoạn từ biệt họ rồi biến mất như Ngài đã làm trong suốt bốn mươi ngày sau biến cố Phục Sinh.
Chúng ta có thể gặp thấy câu trả lời: biến cố Thăng Thiên hữu hình là cách thức Đức Giê-su giới thiệu cuộc sống tiền hữu và nhập thể của Ngài trong suốt cuộc sống công khai của Ngài. Ngài đã lên trời một cách hữu hình như vậy khi xưng mình dưới danh hiệu “Con Người”, nhân vật huyền nhiệm mà ngôn sứ Đa-ni-en đã thoáng thấy trong một thị kiến “đến trên mây trời” (Đn 7: 13). Với ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su khẳng định: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3: 13). Trong bài diễn từ về “Bánh Hằng Sống”, Chúa Giê-su đã tuyên bố đến sáu lần Ngài là “bánh từ trời xuống”, và cuối cùng Ngài kết thúc bài diễn từ bằng những lời như sau: “Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao?” (Ga 6: 62). Qua những lời trên, Đức Giê-su không thể nào loan báo cách rõ ràng hơn biến cố lên trời tương lai của Ngài.
3.Những lần hiện ra hữu hình của Đấng Phục Sinh:
“Trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa”: Nếu con số bốn mươi ngày không chính xác thì cũng chẳng quan trọng gì, biết bao ý nghĩa được chất chứa ở nơi con số này: nó hình thành nên một sự đối xứng với bốn mươi ngày Đức Giê-su đã trải qua trong hoang địa, giữa phép rửa của Ngài bởi thánh Gioan Tẩy Giả và khởi đầu cuộc đời công khai của Ngài, để chuẩn bị thi hành sứ mạng của Ngài. Bốn mươi ngày cũng là khoảng thời gian giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên, Đấng Phục Sinh chuẩn bị cho các môn đệ Ngài thi hành sứ mạng.
Chúng ta có thể thắc mắc Đấng Phục Sinh đã sống như thế nào trong suốt bốn mươi ngày. Kinh Thánh cung cấp cho chúng ta một cách nào đó cách sống nầy. Quả thật, khi đọc đoạn văn Công Vụ nầy làm thế nào không nghĩ đến sách Tô-bi-a (12: 15-21). Sau khi đã hoàn thành sứ mạng trần thế của mình, thiên sứ Ra-pha-en mặc khải cho hai cha con ông Tô-bi-a căn tính đích thật của mình: “Tôi đây là Ra-pha-en, một trong bảy thiên sứ luôn luôn hầu cận và vào chầu trước nhan vinh hiển của Thiên Chúa… Bình an cho các ngươi!… Phần tôi, tôi đã ở với các ngươi… do ý muốn của Thiên Chúa… Các ngươi đã thấy tôi ăn, nhưng thật ra tôi không ăn gì cả, đó chỉ là một thị kiến mà các ngươi thấy… Nầy tôi lên cùng Đấng đã sai tôi”. Và thiên sứ lên trời. Hai cha con đứng dậy, nhưng không thể thấy thiên sứ nữa…
4.Tất yếu phải có Chúa Thánh Thần:
Trước khi từ biệt các Tông Đồ, Đức Giê-su dặn dò các ông những lời sau hết và loan báo cho họ trong ít ngày nữa họ sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần: “Ông Gioan đã làm phép rửa bằng nước còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”.
Vào lúc đó, các ông hỏi Ngài một câu hỏi không thể nào tin được: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?”. Câu hỏi này cho thấy giấc mộng chính trị xưa kia của họ: khôi phục nền độc lập Ít-ra-en, vẫn còn nung nấu trong lòng các ông. Đức Giê-su không quở trách họ. Ngài mượn một hình ảnh khác: vương quốc mà Ngài sắp giao phó cho họ sẽ vượt quá không gian Giu-đê nhỏ bé, nó sẽ mang tầm mức thế giới (Cv 1: 7-8). Nhưng vào lúc nầy, vì chưa nhận được ân ban Thánh Thần, họ chưa thể nào hiểu được.
5.Đức Giê-su biến mất trong mây trời:
Không cốt là một đám mây nào đó, nhưng là dấu chỉ cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa như thường xảy ra trong Cựu Ước. Hơn nữa, thánh Lu-ca là tác giả Tin Mừng về biến cố Truyền Tin, trong đó đám mây, dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, đã phủ bóng trên Đức Ma-ri-a vào lúc Mẹ thụ thai đồng trinh, ở đây cũng đám mây bao phủ Đức Giê-su vào lúc Ngài từ giả cõi thế. Một thiên sứ hiện diện khi Đức Trinh Nữ nói tiếng “Xin Vâng”, ở đây cũng có các thiên sứ hiện diện vào lúc Đức Giê-su trở về với Cha Ngài.
6.Chiêm niệm và hành động:
Sức mạnh đến từ trên cao sẽ thúc đẩy các môn đệ dấn thân vào một cuộc mạo hiểm truyền giáo lớn lao “tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”. Chúng ta đừng ngạc nhiên khi thánh Lu-ca trích dẫn Giê-ru-sa-lem trước tiên vì Tin Mừng Lu-ca đặt Giê-ru-sa-lem làm trung tâm điểm của ơn Cứu Độ.
Chính là lúc phải hành động chứ không là những lưu luyến vô bổ như lời nhắc nhở của thiên sứ: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời?… Đức Giê-su cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời”. Họ phải bắt tay vào công việc lớn lao mà Giáo Hội không ngừng theo đuổi. Thật lý tưởng, mỗi người Ki-tô hữu vừa nuôi dưỡng tấm lòng của mình hướng về quê trời vừa biết liên kết giữa hoạt động và chiêm niệm.
BÀI ĐỌC II (Ep 1: 17-23)
Việc chọn đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Ê-phê-xô này là có chủ ý nhằm để tưởng niệm biến cố Thăng Thiên của Đức Ki-tô. Mặc dầu không nêu đích danh biến cố Thăng Thiên, nhưng thánh Phao-lô mặc cho biến cố nầy một chiều kích thần học: Đức Giêsu về cùng Chúa Cha đón nhận vinh quang và uy quyền, đồng thời kêu mời mọi tín hữu hãy dự phần vào cùng một cuộc sống vinh quang nầy.
Thánh Phao-lô viết từ Rô-ma trong cảnh giam cầm vào những năm 61-63. Trong những thư viết trong tù này, thánh nhân cho chúng ta những suy niệm cao vời của mình về mầu nhiệm cứu độ và mầu nhiệm Giáo Hội, “thân thể Đức Kitô”.
Trong đoạn trích thư này, chúng ta có thể phân biệt hai phần: phần thứ nhất là lời cầu nguyện và phần thứ hai là những mối liên hệ của Đức Ki-tô vinh hiển với Giáo Hội.
1.Lời cầu nguyện:
Trong những thư sau cùng của thánh Phao-lô, lời cầu nguyện càng lúc càng trở nên quan trọng. Tất cả những thư mà thánh nhân viết trong cảnh bị giam cầm đều theo thể văn cầu nguyện. Thánh nhân nhắc đi nhắc lại: “Anh em hãy cầu nguyện không ngừng. Anh em hãy cầu nguyện trong mọi lúc”. Chính ngài cũng đưa ra họ một mẫu gương. Lời cầu nguyện của thánh nhân luôn luôn ngỏ lời với Chúa Cha. Trong bản văn nầy, Chúa Cha đón nhận tước hiệu “Chúa Cha vinh hiển”. Cách diễn tả nầy có thể là tước hiệu phụng vụ, do từ một viễn cảnh được nêu lên: viễn cảnh vinh quang mà Chúa Cha cho Chúa Con Phục Sinh được dự phần vào, và theo sau Chúa Con, là mọi tín hữu.
Thánh Phao-lô cầu xin Chúa Cha ban cho các tín hữu Thần Khí khôn ngoan để họ càng ngày càng hiểu biết Thiên Chúa. “Hiểu biết Thiên Chúa” được hiểu theo Kinh Thánh là được sống với Ngài trong đức tin và đức mến, chứ không là một sự hiểu biết trừu tượng.
“Xin Ngài soi lòng mở trí cho anh em để anh em thấy rõ đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh”. Trong lời nguyện này, hai cách diễn tả: “niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi” và “gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng các thánh”, chỉ cùng một thực tại tinh thần: dự phần vào cuộc sống vinh quang của Chúa Con Phục Sinh. Quả thật, trong Cựu Ước, cách nói: “chia sẻ gia nghiêp” gợi lên một sự kiện lịch sử: chia sẻ Đất Hứa, nghĩa là đất Ca-na-an, giữa mười hai chi tộc Ít-ra-en. Trong Tân Ước: “chia sẻ gia nghiệp” giữa những người được tuyển chọn, nghĩa là “đồng thừa tự” cuộc sống vinh quang với Đức Ki-tô.
2.Đức Kitô vinh hiển và Giáo Hội:
Lời nguyện xin cho được ơn soi sáng dâng trào thành lời tôn vinh Đức Ki-tô, Đấng được đặt làm Chủ Tể vũ trụ và Thủ Lãnh Giáo Hội.
“Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng”. Thánh Phao-lô ám chỉ đến những niềm tin rất phổ biến trong thế giới Do thái chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp, theo đó những sinh linh thiên giới: những quyền lực thần thiêng hay tinh tú, chia sẻ việc điều hành vũ trụ với nhau, cả trong trật tự vật lý lẫn trong trật tự tinh thần.
Ở nơi số lượng đông đảo Quyền Thần nầy, chắc chắn phải kể đến những quyền lực của Ác Thần (Tử Thần là một trong số đó) mà Đức Ki-tô đã chiến thắng. Trong đoạn văn này, thánh nhân không nêu đích danh, nhưng ở gần cuối thư: “Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là những quyền lực thần thiêng, với những bật thống trị tối tăm nầy, với những thần linh quái ác chốn trời cao” (Ep 6: 12).
“Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô”. Đây là câu trích dẫn trực tiếp từ Thánh Vịnh 8, nêu bật lên tư tưởng mà thánh Phao-lô muốn diễn tả. Qua những từ ngữ nầy, thánh vịnh gia gợi lên sự cao cả của con người được Thiên Chúa tạo dựng:
“Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,
cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,
đặt muôn loài muôn sự dưới chân.” (Tv 8: 6-7).
Như vậy thánh nhân muốn nói rằng Đức Ki-tô là “Con Người” tuyệt hảo.
“Thiên Chúa đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô”. Hình ảnh nầy là chủ đề trọng tâm của thư gởi tín hữu Ê-phê-xô. Nó là đỉnh cao của việc suy gẫm dài lâu về mầu nhiệm Đức Ki-tô. Đầu ở đâu thì toàn thân ở đó. Và đầu, không chỉ là yếu tố truyền lệnh, điều khiển, nhưng còn là một bộ phận sinh động, hiệp nhất, đảm bảo sự tăng trưởng của toàn thân. Khi nào hoàn thành sứ mạng của mình, Giáo Hội sẽ hoàn tất ở nơi chính Đức Ki-tô.
TIN MỪNG (Mt 28: 16-20)
Đoạn kết Tin Mừng Mát-thêu này không nêu lên biến cố Thăng Thiên hữu hình, nhưng một hoạt cảnh uy nghi và hùng vĩ: Đức Ki-tô Phục Sinh hiện ra cho mười một môn đệ, loan báo cho họ quyền tối thượng hoàn vũ của Ngài, ủy thác cho họ sứ mạng loan truyền giáo huấn của Ngài đến muôn dân muôn nước, và đảm bảo với họ Ngài sẽ ở với họ luôn mãi.
Thánh Mát-thêu không tường thuật bất kỳ cuộc xuất hiện nào của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài sau khi Ngài sống lại, ngoại trừ cuộc hiện ra nầy. Thánh ký tập trung lời chứng về cuộc sống của Đấng Phục Sinh và những dặn dò tối hậu của Ngài vào cuộc hội ngộ duy nhất này. Như vậy biến cố này mặc lấy một chiều kích đặc biệt. Nét tiêu biểu đáng chú ý của đoạn kết này là tập hợp toàn bộ sách Tin Mừng Mát-thêu.
1.Ở Ga-li-lê:
Hoạt cảnh diễn ra ở Ga-li-lê. Đó là nơi Đức Giê-su đã hẹn gặp các môn đệ Ngài. Ba lần Ngài đã yêu cầu họ quy tụ với nhau ở nơi nầy. Lần thứ nhất sau khi Ngài báo trước Phê-rô chối Ngài và tất cả môn đệ sẽ vấp ngã vì Ngài: “Sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em”. (Mt 26: 32). Lần thứ hai vào buổi sáng Phục Sinh, thiên sứ đã nói với các người phụ nữ đến viếng mộ: “Hãy mau về nói với các môn đệ Người như thế nầy: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người” (Mt 28: 7). Lần thứ ba Đức Giê-su đích thân hiện ra với các người phụ nữ và lập lại sứ điệp nầy: “Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó” (Mt 28: 10). Thánh Mát thêu là thánh ký duy nhất nhắc lại ba lần cuộc hẹn gặp ở Ga-li-lê. Thánh Lu-ca định vị cuộc gặp gỡ sau cùng của Đức Giê-su với các môn đệ ở Giê-ru-sa-lem, trong khi thánh Mát-thêu, vốn không thích thành thánh Giê-ru-sa-lem vì nó đã phản bội sứ mạng của mình, dành riêng sứ điệp tối hậu của Đức Ki-tô cho các môn đệ tại Ga-li-lê.
Cuộc gặp gỡ được định vị trên một ngọn núi, núi nào chẳng quan trọng, vì núi chỉ là một biểu tượng. Không phải tại Tin Mừng Mát-thêu, trên một ngọn núi vang lên lời dạy của Đức Giê-su về các “Mối Phúc” sao?
2.Họ bái lạy Ngài:
“Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi”. Dường như chúng ta có ở đây một hoạt cảnh đối xứng với những hoạt cảnh mà thánh Mác-cô và thánh Lu-ca mô tả, ở đó những nghi ngờ như vậy cũng được gợi lên: “Ngài tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một… khiển trách các ông không tin và cứng lòng” (Mc 16: 14). Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn tay chân Thầy coi, chính Thầy đây mà!” (Lc 24: 36-38).
Đức Giê-su tiến gần họ để họ nhận ra Ngài rõ hơn. Sau khi cũng cố niềm tin của họ, Đức Giê-su ủy thác cho họ sứ điệp tối hậu của Ngài: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất”. Quyền tối thượng hoàn vũ nầy không phải đã được ngôn sứ Đa-ni-en loan báo trong thị kiến về “Con Người” sao? “Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cữu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7: 14).
3.Sai đi thi hành sứ mạng:
Đoạn, Đức Giê-su ủy thác cho các Tông Đồ sứ mạng vĩ đại: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành muôn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Rất nhạy bén trước chiều kích hoàn vũ của ơn Cứu Độ, thánh Mát-thêu hoàn tất tác phẩm của mình trên viễn cảnh bao la, theo đó muôn dân muôn nước trở thành muôn đệ của Đức Ki-tô.
Đồng thời “quyền giáo huấn Giáo Hội” được xác định: “Hãy dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Ngỏ hầu Giáo Huấn nầy được trung thành tuân giữ, Đức Giê-su hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Khi nói với các môn đệ: “Thầy ở cùng anh em…”, Đức Giê-su không dùng thì tương lai, vì thế đây không đơn giản là lời hứa nhưng một sự “khẳng định”. Cuộc ra đi của Ngài có nghĩa một sự hiện diện theo một hình thức mới. Trong Cựu Ước, Đức Chúa khẳng định với ông Mô-sê: “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3: 12), lời khẳng định này đã nâng đỡ dân Ít-ra-en suốt dòng lịch sử thăng trầm của mình. Như vậy, thánh Mát-thêu bắt đầu Tin Mừng của mình với nguồn gốc của Đức Giê-su: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1: 23) và cũng kết thúc toàn bộ Tin Mừng của mình với việc Đức Giê-su hoàn tất Kinh Thánh: Ngài là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”
E/ Những bài suy niệm khác
