GIÁO HỘI HỌC

(QUYỂN 2)

QUA CÁC TÁC GIẢ

PETER NEUNER

dẫn nhập, tuyển chọn và giới thiệu

trong bộ TEXTE ZUR DOGMATIK

Styria Verlag
Graz Wien Köln

LỜI TỰA (Quyển II)

Giáo hội học quyển hạ giới thiệu những bản văn Giáo hội học từ thời Cải cách đến ngày nay. Bởi lẽ Giáo hội học chỉ trở thành đối tượng của một khảo luận tín lý riêng biệt trong các tranh luận thời Cải cách, chúng tôi thấy nên gom góp tất cả các bản văn xuất hiện vào thời đó, ngay cả các huấn thị của giáo quyền, để giới thiệu trong quyển hạ, chứ không đưa tất cả các huấn thị của Giáo hội vào quyển thượng trong chương dành cho “Bản văn chính thức của Giáo hội trong chức năng huấn giáo”. Thật ra chúng gặp nhiều khó khăn trong việc sắp xếp các bản văn. Như đã thấy trong quyển thượng giờ đây chúng tôi cũng nghĩ là khó mà có thể coi tất cả các lời tuyên bố của các giáo hoàng như những tài liệu thuộc huấn quyền, ngay cả khi chúng được công bố với tính cách đó. Quả vậy, vào thời Cải cách đã có nhiều bản văn được công bố như có tính bó buộc cao mà ngày nay không còn ai coi là bó buộc nữa, mặc dù xét như tài liệu lịch sử chúng rất đáng chú ý và đã ảnh hưởng sâu đậm lịch sử Kitô giáo. Để giải quyết phần nào khó khăn đó, chúng tôi đã gom góp trong chương đầu các bản văn xuất phát từ giáo quyền. Đó là những tuyên bố mà ngày nay mọi người đều công nhận là bó buộc, tất nhiên ở đây ta phải áp dụng quy tắc đánh giá mức độ bó buộc của từng bản văn. Mặt khác chương mục này cũng bao hàm những bản văn xuất phát từ các Giáo hội khác, những Giáo hội không công giáo, những bản văn đó nói lên quan niệm chính thức của mỗi Giáo hội về Giáo hội học, cho dù chúng không có tính cách huấn thị của giáo quyền. Tất nhiên là ở đây chúng tôi không có ý định đánh giá vai trò của chúng trong sinh hoạt của từng Giáo hội.

Giáo hội học thời Hiện đại trong mỗi Giáo hội phát triển theo đường hướng khác nhau và biệt lập. Vì lẽ đó chúng tôi đã có lý mà giới thiệu các bản văn Công giáo và Tin lành trong hai chương khác nhau. Chúng tôi cũng đã không đặt vấn đề giáo quyền, một vấn đề quan trọng trong Giáo hội học Công giáo, vào trọng tâm của tranh luận. Vấn đề này sẽ được đề cập trong chương “bí tích truyền chức” của quyển hạ bộ sách dành cho các bí tích.

Thần học đã một lần nữa nở rộ sau cuộc Thế chiến I, nghĩa là sau cuộc tranh luận chung quanh chủ nghĩa hiện đại (modernisme) bên Công giáo và chung quanh thần học tự do bên Tin lành, Giáo hội học đã phát triển bất chấp ranh giới giữa các Giáo hội, các Giáo hội đã bắt tay nhau và trao đổi ý kiến với nhau. Vì thế ta nên trình bầy chung các bản văn chứ không phân biệt theo từng Giáo hội nữa.

Munich, tháng 2 năm 1995 – Peter Neuner

DẪN NHẬP (Quyển II)

Giáo hội trong các Giáo hội Kitô giáo

Thời Hiện đại được đánh dấu bởi sự nổi bật của chủ thể, một chủ thể tự do tự hào về lý trí của mình. Với sự kiện đó, người ta đề cập đến vấn đề Giáo hội theo viễn tượng mới. Người tín hữu cá nhân không còn được hội nhập vào cộng đoàn đức tin một cách đương nhiên nữa, và Giáo hội vào cuối thời Trung cổ thường xuất hiện với một bộ mặt không được hấp dẫn cho lắm. Khắp nơi, từ trên xuống dưới, người ta đòi hỏi cải cách: Khởi điểm của cải cách là câu hỏi: “làm sao chính cá nhân tôi đón nhận được một Thiên Chúa giầu lòng thương xót?”, một câu hỏi xoay quanh vấn đề công chính hoá. Cá nhân người tín hữu đứng trước mặt Thiên Chúa của mình mà cảm thấy Giáo hội chẳng giúp đỡ được gì cho mình được công chính hoá. Vấn đề hiện sinh cụ thể này không phải là không có hậu quả đối với Giáo hội học, đặc biệt trong vấn đề quyền trói buộc tháo cởi cuả giáo hoàng, quyền giáo huấn của Giáo hội, tương quan giữa giáo hoàng và công đồng, giữa Kinh Thánh và truyền thống. Quan trọng đối với Giáo hội học là người ta nhấn mạnh chức tư tế phổ quát của dân Chúa, việc coi phẩm vị giám mục như đồng nhất với sứ vụ chủ chăn, vấn đề Thánh lễ xét như hy lễ (Sacrificium). Từ “Giáo hội” không được Luther ưa chuộng, ông thích nói đến cộng đoàn hay tập thể kitô hữu hơn, hay đến một thế giới Kitô giáo thánh thiện. Thực thể này không do ý muốn hay tổ chức con người, không cốt ở cơ cấu chức quyền hay mô hình tổ chức, mà chỉ cốt ở Lời Chúa khi người ta tiếp nhận trong đức tin. Vì thế Giáo hội đích thật là Giáo hội tiềm ẩn, “các thánh là những kẻ không ai biết đến tên tuổi”. Giáo hội không chỉ có giáo hoàng đứng đầu và cũng không giới hạn vào một cơ cấu tổ chức, mà trái lại, Giáo hội “hiện diện khắp thế giới, vì thế thế giới Kitô giáo thì tản mác về mặt thể xác, nhưng được tụ tập một cách thiêng liêng trong một Phúc Âm duy nhất” (M. Luther). Khi người ta hướng tới một khái niệm Giáo hội thiên về ý nghĩa thiêng liêng thì các cơ cấu và chức phận trong Giáo hội mất đi một phần lớn ý nghĩa; những chuyện đó mất đi tầm quan trọng và không còn được coi là trọng tâm của Giáo hội học nữa, nhưng không phải vì thế mà người ta có thể coi những chuyện đó là vô thưởng vô phạt, quan niệm sao cũng được, hay coi đó là những vấn đề tầm phào. Hẳn là Giáo hội chỉ thành hình nhờ việc công bố Lời Chúa và nhờ bí tích thông ban lúc chỉ định chức vụ, nghĩa là không phải nhờ chức phẩm, nhưng mặt khác chức phẩm liên quan chặt chẽ với Lời Chúa và bí tích đến độ vì mục tiêu phục vụ đó, chức phẩm là một yếu tố không thể từ bỏ được, và là một thành tố của Giáo hội.

Công đồng Tridentinô là nỗ lực đáp ứng các vấn nạn của phong trào Cải cách, nhưng công đồng đã không đủ khả năng đưa một Giáo hội học tự lập và bao quát; các biểu tượng thần học, ngay trong lãnh vực “những kẻ tin như xưa”, vẫn chưa được giải thích minh bạch và vẫn không được công đồng định nghĩa. Do đó công đồng Tridentinô cuối cùng đã chỉ làm một việc duy nhất là trước các yêu sách của phía cải cách xác định một vài khía cạnh của chức phẩm trong Giáo hội, nói cho rõ là việc truyền chức và chức linh mục, khác biệt giữa giáo dân và giáo sĩ, năng quyền dành cho linh mục trong việc rao giảng Lời Chúa và ban phát bí tích, vẫn để giáo phẩm chia thành ba phẩm trật. Điều gì không cần tranh luận, người ta cố ý bỏ ra ngoài, không đề cập đến, không phải vì người ta không muốn xác định rõ ràng, mà vì không ai thấy cần thiết phải nhờ công đồng định nghĩa. Trong lối tiếp thu công đồng Tridentinô vào thời hậu cải cách người ta quên đi viễn tượng trong đó các vấn đề được đặt ra tại công đồng và người ta đã suy diễn từ những phán quyết của công đồng Tridentinô một giáo lý công giáo được coi như bao quát.

Về phía Tin lành các nhà Cải cách thường được minh giải trong thời kế tiếp như những kẻ chủ trương chủ nghĩa cá nhân đề cao chủ thể tính theo nghĩa Hiện đại, coi Giáo hội như một cản lực đối với quyền tự do của người kitô hữu. Điều người ta quan tâm đến trong giới cải cách là những điểm khác biệt so với truyền thống công giáo; những gì họ còn chia sẻ với Giáo hội Công giáo được coi là phần tồn tại chưa bị vứt bỏ hoặc chưa được vượt thắng, mà vẫn cần nhổ sạch tận rễ.

Lập trường của hai phía trong cuộc tranh luận đánh dấu sâu đậm quá trình phát triển của Giáo hội học, trong những thế kỷ tiếp theo Cải cách, thành môn khoa riêng biệt trong hệ thống thần học. Giáo hội học trước đây dành trọng tâm cho các nhu cầu hộ giáo và đặc biệt chú tâm đến các điểm khác biệt giữa các Giáo hội. Giáo hội học, “Cái trước đây chỉ là một chương bút chiến về các điểm tranh luận”, thì giờ đây xuất hiện như một khảo luận, khảo luận “De Ecclesia” (Y. Congar). Trước đây ranh giới phân biệt mình với kẻ khác giúp khoanh tròn lập trường riêng của mình, cái khác biệt với các Giáo hội khác được đề cao thành những yếu tố làm nên “bản chất công giáo”, “đánh dấu đặc tính của Tin lành”. Nhân đó khuynh hướng hiểu Giáo hội như chỉ là một thực thể hữu hình với cơ chế vững bền thắng thế bên công giáo. Ý niệm Giáo hội như một mầu nhiệm, như một thực thể có Thần Khí hộ trợ ngày càng lu mờ và nhường chỗ cho khuynh hướng coi Giáo hội như đồng nhất với hàng giáo phẩm. Đáng chú ý là trong Tân kinh viện của thế kỷ 19 Giáo hội được quan niệm như pháo đài, như thành trì kiên cố, cần phải củng cố thêm tường lũy để tránh thất thủ trước sự tổng tấn công của quân thù, hiểu đây là Tinh thần thời đại. Giáo hội thời đó hiểu mình là một pháo đài bị bao vây tứ phía, dân cư trong đó trước hết phải quy tụ chung quanh giáo hoàng và uy quyền của người, hầu có thể chống cự trước các cuộc tấn công. Ngược lại thần học tin lành dồn sự quan tâm đặc biệt vào chủ thể tôn giáo và kinh nghiệm đức tin của chủ thể. Đức tin Kitô giáo ở đây chủ yếu xuất hiện như tương quan giữa cá nhân người tin và Thiên Chúa của mình. Giáo hội có thể, tùy trường hợp và trên phương diện giáo dục, can thiệp vào quá trình đức tin đó, nhưng chính Giáo hội không can dự vào tương quan đó, có thể nói là Giáo hội dừng lại tiền sảnh của đức tin. Thậm chí cũng có lúc Giáo hội xuất hiện như dấu chỉ tương quan cá nhân với Thiên Chúa hoặc như tồn dư do sứ điệp Đức Kitô để lại.

Chắc chắn là cả hai Giáo hội đều có những trào lưu quan tâm đến việc gặp gỡ thế giới tinh thần Hiện đại một cách tích cực và cởi mở, những kẻ mong muốn khai triển những lợi thế của thế giới Hiện đại nhằm nói lên một cách mới mẻ sứ điệp Tin Mừng cho thời đại. Đặc biệt là về phía công giáo có trường phái thần học Tuebingen với vùng ảnh hưởng sâu rộng: thần học trường phái Tuebingen đã dựa vào ý niệm “tinh thần dân tộc” (Volksgeist) phổ biến trong giới Lãng mạn để quan niệm Giáo hội như một cơ thể nhờ đó sứ điệp Tông đồ được truyền đi từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một truyền thống sống động; từ nguồn gốc đó sứ điệp Tin Mừng liên tục tăng trưởng trong lịch sử và thời nào cũng được công bố một cách mới mẻ. Trong cơ thể sinh động đó tất cả các tín hữu làm thành một khối thống nhất, họ được Thần Khí sắp đặt thành một tổng thể sống động. Ngay cả giáo dân cũng có vị trí bất khả nhượng trong quan niệm về Giáo hội: không còn việc định nghĩa giáo dân từ quan điểm duy nhất là hàng giáo phẩm.

Nhưng thắng thế trong Giáo hội Công giáo Rôma vẫn là khuynh hướng nhấn mạnh và đề cao khía cạnh cơ chế và pháp lý của Giáo hội và sự tập trung quyền hành trong tay giáo hoàng và vị trí tuyệt ưu của giáo hoàng. Khuynh hướng này đạt tới đỉnh cao trong công đồng Vatican I (1870) với việc công bố tín điều về quyền giáo trưởng phổ quát (primauté universelle) và tính bất khả ngộ của giáo hoàng. Biến cố này có vẻ đánh dấu đích điểm của đường hướng phát triển đã chi phối lịch sử Giáo hội Tây phương trong hơn một thiên niên kỷ rưỡi. Giờ đây quyền lực có vẻ nằm gọn trong tay giáo hoàng; các giám mục, theo lối hiểu cực đoan nhất của thứ Giáo hội học đó, chỉ còn là khâm sứ giáo hoàng mà thôi, chỉ lệ thuộc đấng là giám mục phổ quát, gần như là giám mục duy nhất của hoàn cầu. Giáo hội thế giới xuất hiện như một giáo phận duy nhất, các địa phận là những giáo xứ của Giáo hội thành phố Rôma trải rộng ra khắp thế giới. Mô hình Giáo hội đơn diện hoá như vậy, mà thật ra mô hình đó không đúng với tinh thần công đồng Vatican I, đã gây phản ứng với sự xuất hiện Giáo hội Cổ Công giáo, và có vẻ như không có cách nào vượt qua hố ngăn cách Giáo hội Công giáo Rôma với các Giáo hội Kitô giáo khác. Các tranh luận trong nội bộ công giáo chung quanh chủ nghĩa Hiện đại là hậu quả của thứ hình ảnh trình bầy Giáo hội theo kiểu đó.

Các khuynh hướng trong Giáo hội học thế kỷ 20

Sau Thế chiến I xuất hiện phong trào sâu rộng trở về những biểu tượng Giáo hội học căn bản đã không được khai triển xứng đáng vì người ta quy mọi thực thể Giáo hội về thể chế giáo hoàng. Romano Guardini nói đến Giáo hội thức dậy trong các tâm hồn, nghĩa là nơi cá nhân người tín hữu và ví quá trình đó với một biến cố Ngũ Tuần mới, Gertrud v. Le Fort sáng tác các “bản tụng ca Giáo hội”, và phía Tin lành thì có Otto Dibellius công bố cuốn “Thế kỷ của Giáo hội”. Tại rất nhiều nơi người ta tái phát hiện những khía cạnh của Giáo hội học thời Giáo hội sơ khai, ví dụ, ý niệm về Giáo hội như cộng đoàn, như Koinonia. Ý niệm này cho phép coi các Giáo hội Đông phương như những Giáo hội theo đúng danh nghĩa, và hiểu các giám mục như những đại diện của các Giáo hội chứ không chỉ là khâm sai của giáo hoàng. Ý niệm về Giáo hội như bí tích gốc, hay bí tích căn bản giúp giải phóng cái nhìn khỏi khung cảnh cơ chế pháp lý và khôi phục quan niệm Giáo hội như một thực thể do Thánh Thần tác tạo, một thực thể tiếp nhận sức sống của mình trong quá trình phụng vụ và được hiện hữu nhờ Lời Chúa và việc cử hành bí tích Thánh thể. Ý niệm Đại kết vốn xuất hiện bên ngoài giới công giáo, nhưng với thời gian ngày càng năng động phát triển trong Giáo hội Công giáo, là yếu tố khiến phải xét lại tham vọng của mỗi Giáo hội muốn riêng mình là Giáo hội đích thật của Đức Kitô, riêng mình thực hiện các thành tố của Kitô giáo. Từ đó các Giáo hội mới có thể học hỏi lẫn nhau, trao đổi với nhau những truyền thống phong phú. Các Giáo hội bắt đầu từ bỏ não trạng độc diễn, mà trái lại, chấp nhận hiểu mình từ Trung tâm chung. Do đó trong tất cả các Giáo hội ta thấy hoạt động hữu hiệu nhiều yếu tố trước kia bị coi là xa lạ và bị loại bỏ. Về phía Tin lành người ta đánh giá lại một số thực thể như Giáo hội, phẩm chức, bí tích.

Công đồng Vatican II, “một công đồng của Giáo hội về Giáo hội”, là cơ hội để tổng hợp các khởi điểm mới mẻ đó. Tại công đồng ý muốn cải tổ Giáo hội một cách căn bản đã lộ rõ, cho dù nhiều biện pháp, nhiều công thức vẫn còn lưng chừng, chưa triệt để. Những năm tiếp theo công đồng Giáo hội Công giáo ngày càng thêm các mối căng thẳng. Nguyên do một phần là vì nhiều bản văn của công đồng dựa vào những quan niệm khác biệt, thậm chí bất khả dung hoà, về Giáo hội mà không có cố gắng nối kết chúng lại. Thêm vào đó là tiếp theo công đồng, các Giáo hội địa phương trong các nước gọi là thế giới thứ ba đã đạt tới sự nhận thức chính mình. Các Giáo hội đó khuyến khích các thần học gia riêng và không cần lập lại công việc của các thần học gia Tây phương. Đáng chú ý đặc biệt là thần học giải phóng bắt nguồn từ tình cảnh nghèo khổ và áp bức. Theo thần học giải phóng thì Giáo hội tự thể hiện một cách ưu tiên trong các cộng đoàn cơ bản, nơi cá nhân có thể sống và diễn tả đức tin của mình, không còn chỉ là đối tượng của quan tâm mục vụ mà trở thành chủ thể sinh hoạt Giáo hội. Mô hình Giáo hội này ngày càng hấp dẫn ngay cả đối với các Giáo hội Âu Châu. Trong khi các Giáo hội Âu Châu trong những năm sau công đồng bị khủng hoảng nặng nề và mất đi khá nhiều uy tín, người ta có thể nói đến hiện tượng Giáo hội sinh thành (Ekklesiogenesis) trong các Giáo hội trẻ.

File chi tiết: 273.06_GIAO-HOI-HOC-QUA-CAC-TAC-GIA.pdf