GIÁO HỘI HỌC

(QUYỂN 2)

QUA CÁC TÁC GIẢ

PETER NEUNER

dẫn nhập, tuyển chọn và giới thiệu

trong bộ TEXTE ZUR DOGMATIK

Styria Verlag
Graz Wien Köln

THẦN HỌC GIẢI PHÓNG

Tổng Đại hội giám mục châu Mỹ Latinh, Medellin

Giáo hội trong cuộc biến đổi của Châu Mỹ Latinh dưới ánh sáng Công đồng (1968)

219. Giáo hội người nghèo và các cộng đoàn cơ sở

Pháp: L’Eglise dans la transformation actuelle de l’Amerique Latine. Conclusions de Medellín, Conférence de l Episcopat latino-américain, Le Cerf, Paris 1992, t. 193-197; 204. Tháng 9 năm 1968 Hội đồng giám mục Châu Mỹ Latinh (Celam) tụ họp tại Medellin để tổ chức lại công tác mục vụ. Mục tiêu là chuyển sang thực hành của Giáo hội châu Mỹ Latinh các nghị quyết của Công đồng. Đại hội Medellin thường được coi là khởi điểm cho sự thành hình một Giáo hội học mới cho Châu Mỹ Latinh và thần học giải phóng.”

14, 1. Giám mục đoàn châu Mỹ La tinh không thể dửng dưng trước những bất công xã hội khủng khiếp hiện có tại châu Mỹ La tinh và đang cầm giữ đa số dân tộc chúng tôi trong cảnh nghèo khổ rất nhiều khi gần với cảnh cùng quẫn không còn gì là xứng với con người nữa.

  1. Vì thế chúng tôi ước muốn Giáo hội châu Mỹ La tinh loan báo Phúc Âm cho giới nghèo và tỏ ra liên đới với giới nghèo. Giáo hội phải làm chứng cho giá trị các phúc lộc của Vương quốc Thiên Chúa và khiêm tốn phục vụ mọi người trong các dân tộc của chúng tôi. Các chủ chăn và các thành viên khác của Dân Chúa phải làm thế nào cho đời sống và lời nói của mình, thái độ và hành động của mình ăn khớp với nhau, đúng như Phúc Âm và các nhu cầu của con người châu Mỹ La tinh đòi hỏi.
  2. Lệnh truyền đặc biệt của Chúa : “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo” phải dẫn chúng ta đến việc phân bổ các nhiệm vụ và nhân sự trong hoạt động tông đồ, sao cho ưu tiên thật sự dành cho tầng lớp xã hội nghèo khổ túng quẫn nhất và cho bất cứ ai là nạn nhân của nạn kỳ thị. Vì thế chúng ta phải khuyến khích và tăng tốc độ những chương trình đã khởi sự, những nghiên cứu đã bắt đầu. Đoàn giám mục chúng tôi ao ước ngày càng gần gũi hơn với người nghèo trong sự đơn sơ và trong tinh thần huynh đệ, chúng tôi muốn tạo điều kiện cho họ có thể dễ dàng đến với chúng tôi.
  3. Chúng tôi phải nâng cao ý thức về bổn phận liên đới với kẻ nghèo như một đòi hỏi kiên quyết của đức bác ái. Liên đới với người nghèo có nghĩa là coi các khó khăn và các đấu tranh của họ như khó khăn và đấu tranh của chúng tôi và biết lên tiếng bênh vực họ. Những điều chúng tôi nói ở đây phải trở thành cụ thể trong việc tố cáo bất công và đàn áp, trong cuộc đấu tranh của người kitô hữu nhằm xoá bỏ hoàn cảnh không ai chịu nổi mà người nghèo vẫn thường phải chịu, trong sự sẵn sàng đối thoại với những nhóm người có trách nhiệm về tình trạng đó nhằm cho họ nắm rõ bổn phận của họ.

Cộng đoàn Kitô giáo cơ sở

15, 1. Đời sống hiệp thông là ơn gọi của người kitô hữu; họ phải tìm thấy đời sống đó trong “cộng đoàn cơ sở” của mình, nghĩa là trong một cộng đoàn, ở một địa phương hay trong một giới, phản ảnh thực tế một nhóm thuần nhất, kích cỡ cho phép các người trong nhóm quan hệ thân thương với nhau như anh em chị em. Cố gắng mục vụ của Giáo hội phải nhằm biến các cộng đoàn đó thành “gia đình của Thiên Chúa” bằng cách Giao hội hiện diện trong các cộng đoàn đó như chất men, nhờ một nòng cốt, dù là nhỏ bé, kết tụ thành cộng đoàn đức tin, cộng đoàn hy vọng và bác ái. Cộng đoàn Kitô giáo cơ sở là hạt nhân Giáo hội uyên nguyên và căn bản; hạt nhân đó phải nhận phần trách nhiệm của mình, trong lãnh vực của mình, về sức sống phong phú của đức tin và việc phổ biến đức tin, cũng như về phụng tự vốn là lối diễn tả đức tin. Cộng đoàn cơ sở đúng là tế bào trọng yếu cấu tạo Giáo hội, là nguồn suối cho công trình Phúc Âm hoá, và hiện nay, là yếu tố chính yếu trong cuộc thăng tiến và phát triển của con người.

Tổng Đại hội hàng giám mục châu Mỹ Latinh, lần thứ III tại Puebla

Công cuộc Phúc Âm hoá Châu Mỹ Latinh trong hiện tại và tương lai

220. Ưu tiên phục vụ người nghèo : đó là lựa chọn của Giáo hội.

Đại hội Puebla lấy lại kết luận của Medellin và khai triển tiếp. Đề tài trọng yếu là ưu tiên chọn bênh vực người nghèo và giới trẻ.

  1. Nếu chúng ta đến gần để đi cùng đường với người nghèo và phục vụ người nghèo, chúng ta làm điều Đức Kitô dạy chúng ta khi Người trở thành người anh của chúng ta, nghèo khó như chúng ta. Vì thế phục vụ người nghèo là thành tố ưu việt, dù không phải là thành tố độc nhất, trong cuộc sống làm môn đệ Đức Kitô của chúng ta. Cách phục vụ tốt nhất anh em chúng ta là cho họ biết Phúc Âm sao cho họ có khả năng tự thể hiện mình như con cái Thiên Chúa, sao cho họ được giải phóng khỏi nỗi bất công và được thăng tiến trong mọi phương diện.
  2. Việc dấn thân bênh vực người nghèo, kẻ bị áp bức và sự xuat hiện các cộng đoàn cơ sở đã giúp Giáo hội khám phá khả năng Phúc Âm hoá của người nghèo, bởi lẽ họ không ngừng đặt Giáo hội trước nhiều vấn đề, không ngừng kêu gọi Giáo hội trở lại, bởi lẽ nhiều người nghèo thực hiện trong đời sống các giá trị Phúc Âm là những điều cốt ở tình liên đới, việc phục vụ, sự đơn sơ và thái độ sẵn sàng đón nhận hồng ân Thiên Chúa ban tặng.
  3. Để sống và rao giảng đòi hỏi sống nghèo theo tinh thần Đức Kitô, Giáo hội phải xem xét kiểm soát các cơ cấu Giáo hội và nếp sống các thành viên, đặc biệt là các người giữ trách nhiệm mục vụ, theo hướng một cuộc trở lại đầy hiệu quả.
  4. Cuộc trở lại đó bao hàm đòi hỏi Giáo hội phải giữ một nếp sống giản dị và hoàn toàn tin tưởng Chúa, bởi trong việc Phúc Âm hoá, Giáo hội dựa vào Thiên Chúa, vào sức mạnh và ân sủng của Người hơn là vào “của cải dồi dào” và thế lực trần thế. Như vậy Giáo hội sẽ đưa ra hình ảnh nghèo khó trung thực, sẽ luôn luôn rộng mở và sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa và các anh em, và trong Giáo hội người nghèo sẽ có khả năng thực sự tham gia và sẽ được công nhận trong giá trị của họ.
  5. Khi chúng ta dấn thân gắn bó với người nghèo, chúng ta lên án cái nghèo tột độ như đi ngược lại tinh thần Phúc Âm, cái nghèo mà biết bao đám người phải chịu trên Lục địa của chúng ta.
  6. Vì vậy chúng ta nỗ lực tìm hiểu và tố cáo các cơ cấu trong guồng máy phát sinh ra cái nghèo đó.
  7. Chúng tôi ghi nhận mối đoàn kết liên đới của các Giáo hội khắp các nơi trên thế giới, và chúng tôi gắn liền nỗ lực của chúng tôi với nỗ lực của các người thiện chí hầu triệt tận rễ cái nghèo và xây dựng một thế giới công bằng hơn, huynh đệ hơn.
  8. Chúng tôi ủng hộ các cố gắng của anh em công nhân và nông dân khi họ muốn được đoi xử như những người tự do và trách nhiệm. Họ được mời gọi tham gia vào những quyết định liên quan đến đời sống và tương lai của họ, và chúng tôi khuyến khích họ tự thể hiện chính mình cho đến cùng.

Hiệp hội đại kết các thần học gia thế giới thứ Ba (EATWOT)

Tuyên ngôn đúc kết Đại hội Sao Paulo 1980

221. Khắp nơi trên thế giới, người ta tìm kiếm cơ cấu Giáo hội có sức giải phóng

Herausgefordert durch die Armen. Dokumente der Oekumenischen Vereinigung von Dritte-Welt-Theologen 1976-1986, Freiburg-Basel-Wien 1990, 85-106. Lời kêu gọi từ châu Mỹ Latinh cổ võ cho một nền thần học riêng cho mỗi hoàn cảnh đã làm nổ tung các ranh giới: hưởng ứng đặc biệt thuận lợi là trong thế giới thứ ba và trong phong trào đại kết. Đại hội của Hiệp hội đại kết các thần học gia thế giới thứ Ba (EATWOT) đã nhiệt tình chấp nhận các nguyên tắc của thần học giải phóng.

  1. Một cộng đoàn trung thành với tinh than Kitô giáo là vì cộng đoàn đó làm việc Phúc Âm hoá; đó là nhiệm vu, là lý do tồn tại của cộng đoàn. Phúc Âm hoá là một công trình đa dạng với nhiều cấp độ. Một cộng đoàn Kitô giáo được mời gọi loan báo Phúc Âm trong mọi sự, bằng lời nói và hành động.
  2. Phúc Âm hoá là loan báo Thiên Chúa thật, Thiên Chúa đã được mặc khải nơi Đức Kitô, là Thiên Chúa đã ký kết giao ước với các nạn nhân của áp bức và bảo vệ quyền lợi cua họ, là Thiên Chúa đang giải phóng dân Người khỏi bất công và áp bức.
  3. Công cuộc giải phóng người nghèo là một con đường đầy khổ đau, con đường thương khó của Đức Kitô, nhưng cũng đậm đà đấu ấn mầu nhiệm Phục sinh. Cuộc giải phóng người nghèo là một lịch sử rộng lớn trùm lên toàn bộ lịch sử nhân loại và đem lại cho nó ý nghĩa chân chính. Phúc Âm công bố lịch sử giải phóng toàn diện như đang diễn ra trong các biến cố thời sự. Phúc Âm chỉ cho chúng ta thấy, ở đây và ngay lúc này, trong quần chúng nghèo khổ châu Mỹ La tinh và trong đám người bị đẩy ra ngoài lề xã hội, Thiên Chúa đang giải phóng dân Người thế nào.
  4. Tại châu Mỹ La tinh công cuoc Phúc Âm hoá do người nghèo đảm nhận được một kinh nghiệm cụ thể làm ưu điểm : đó là các cộng đoàn Kitô giáo cơ sở. Có Giáo hội hiện diện cụ thể trong các cộng đoàn đó, những cộng đoàn, nhờ ơn thiên triệu, không ngừng phát sinh từ đức tin của những con người “không được mời tới dự tiệc” (Lc 14, 15-24). Đó là nơi đời sống dấn thân vì đức tin có cơ hội tôi luyện. Đó là nơi ăn mừng niềm hy vọng của kẻ nghèo, nơi san sẻ tấm bánh, bánh mà biết bao người thiếu đói, bánh mà trong đó sự sống của Đấng Phục sinh hiện diện và được công nhận. Đó là những nơi đặc ưu để người ta đọc Kinh Thánh, để người ta tiếp thu và biến sứ điệp Kinh Thánh thành của riêng mình bằng chính lời lẽ và phương tiện diễn tả của mình. Các cộng đoàn đó cống hiến cho người ta những giây phút gặp gỡ nhau trong tình huynh đệ, những lúc Thiên Chúa được nhìn nhận là Cha. Chiều kích cứu độ gắn liền với sứ mệnh Phúc Âm, với mệnh lệnh phải đi kết nạp môn đệ và phải lập ra một cộng đoàn môn đệ, một Giáo hội người nghèo.
  5. Mục đích của Phúc Âm hoá không phải là lập ra những nhóm nhỏ những phần tử ưu tú có quyền ăn trên ngồi trước trong Giáo hội. Công cuộc Phúc Âm hoá hướng về đàn chiên không chủ chăn, theo lời Đức Giêsu (Mt 9, 53), nghĩa là đám quần chúng bị bỏ rơi, bị tước hết những gì là của mình. Chính vì thế các cộng đoàn Kitô giáo được canh tân trong động lực khiến người ta đi tìm những kẻ bị bóc lột thậm tệ nhất trong đám người nghèo. Công cuộc Phúc Âm hoá quần chúng diễn ra trong viễn tượng lựa chọn ưu tiên phục vụ người nghèo (option préférentielle pour les pauvres).
  6. Như vậy công cuộc Phúc Âm hoá đóng góp một phần đáng kể để biến quần chúng thành một dân. Mặt khác đám đông người ta không phải là những con người lẻ tẻ. Người nghèo bị chà đạp là bị chung với nhau, mà bị chà đạp trong cái đoàn kết họ lại và giúp họ ý thức căn tính của họ: trong văn hoá, ngôn ngữ, chủng tộc, quốc tịch và lịch sử của họ; đối với phụ nữ điều này còn đúng hơn gấp đôi. Phúc Âm hoa là một hoạt động cụ thể nhằm những con người cụ thể, tại đây, ngay bây giờ. Vì thế Phúc Âm hoá khởi công giải phóng người nghèo bằng cách giải phóng văn hoá, ngôn ngữ, chủng tộc và giới tính của họ. Các cộng đoàn Kitô giáo của dân là hoa quả đầu mùa của toàn dân, đối tượng phục vụ của các cộng đoàn. Trong các cộng đoàn đó, người nghèo khám phá dễ dàng hơn căn tính, giá trị và nhiệm vụ Phúc Âm hoá của họ trong lòng lịch sử công việc giải phóng người nghèo. Tính phổ quát của công cuộc loan báo Phúc Âm xuyên suốt quá trình lịch sử đó và trở thành hữu hiệu trong việc dấn thân của cộng đoàn Kitô giáo.

Gustavo Gutiérrez (sh. 1928)

Thần học giải phóng (1972)

222. Giáo hội đứng trước các quan hệ thống trị hạ giá nhân phẩm

G. Gutiérrez, Teología de la liberación, Salamanca 1972. Pháp: Théologie de la libération, Editions Lumen Vitae, Paris 1974, t. 266-269. Thần học giải phóng là một dự phóng thần học tổng quát. Sứ điệp của Đức Kitô được thần học giải phóng diễn tả trong khung cảnh các vấn đề xuất hiện trong cảnh nghèo khổ và áp bức. Thần học giải phóng đề nghị một giải đáp theo tinh thần Kitô giáo cho hoàn cảnh con người bị áp bức bóc lột. Thần học giải phóng không chỉ là một đạo đức học xã hội mà còn là dự phóng minh giải bao quát, với nhiệm vụ là trình bầy toàn bộ sứ điệp Tin Mừng. Khởi điểm của thần học giải phóng xuất hiện tại Châu Mỹ Latinh là phơi bầy các tương quan quyền lực bất chính đang thịnh trị tại đó và đấu tranh phá huỷ hệ thống bóc lột con người.

Ngày nay tại Châu Mỹ La tinh, ý nghĩa của Giáo hội cốt ở việc bầy tỏ lập trường dứt khoát trước cảnh bất công xã hội hiện thời và đối với công cuộc cách mạng nhằm chấm dứt các tệ nạn và thiết lập một trật tự con người hơn. Bước đầu phải làm là ghi nhận rằng Giáo hoi trong thực tế đã có một thái độ nhất định rồi: Giáo hội đã cấu kết với hệ thống xã hội hiện hành. Nhiều nơi Giáo hội góp phần vào việc tạo nên một “trật tự theo tinh thần Kitô giáo”, còn lấy chiêu bài thần thieng để đánh bóng cho tình cảnh con người bị tước quyền làm người, là nạn nhân của thứ bạo động thô bạo nhất, bạo động của kẻ mạnh thế đàn áp người thấp cổ bé miệng. Giáo hội cơ chế nhận sự che chở của giai cấp xã hoi đặc quyền đặc lợi, giai cấp bảo vệ cho xã hội tư bản hiện hành tại Châu Mỹ La tinh, sự kiện này biến Giáo hội thành một bộ phận trong hệ thống xã hội, biến sứ điệp Đức Kitô thành một yếu tố của ý thức hệ đang thắng thế. Lập trường gọi là “không làm chính trị” (con chiến mã mới nhất của giới bảo thủ) chỉ là một mưu mẹo nhằm giữ y nguyên tình trạng. Sứ mạng của Giáo hội không thể nào được định nghĩa một cách trừu tượng được. Toạ độ lịch sử và xã hội của Giáo hội, nghĩa là vị trí cụ thể của Giáo hội trong không gian và thời gian (hic et nunc), không những đòi hỏi phải thích nghi phương pháp mục vụ của Giáo hội, mà còn phải trở thành đối tượng cho suy tư thần học.

Tầm quan trọng của Giáo hội trong xã hội hết sức là lớn lao (với những sắc thái khác nhau tùy theo từng nước). Tuy không muốn đánh giá quá cao, chúng tôi vẫn phải công nhận rằng có nhiều biến cố, xẩy ra mới đây thôi, đã chứng minh sự thể này. Ảnh hưởng của Giáo hội đã góp phần để cán cân nghiêng về phía trật tự hiện hành. Nhưng đó chưa phải là mô tả hết thực tế. Bởi tình thế đang chuyển mình. Thay đổi còn cham chạp, còn non yếu nhưng đã kéo vào cuộc ngày càng nhiều nhóm thiểu số hoạt động tích cực trong cộng đoàn Kitô giáo của Châu Mỹ La tinh…

Từ những điều kiện lịch sử và xã hội đó, Giáo hội Châu Mỹ La tinh phải làm ngôn sứ mà lên tiếng tố cáo bất cứ tình trạng nào làm cho con người bị tước đoạt nhân phẩm, bất cứ tình trạng nào đi ngược lại tình huynh đệ, sự công bình và tự do. Đồng thời Giáo hội phải không ngừng chỉ trích mọi phương thức thần thiêng hoá các cơ cấu chính trị đàn áp, việc mà có thể trước kia Giáo hội đã góp phần vào. Cáo trạng phải là công khai như vị trí công khai của Giáo hội trong xã hội Châu Mỹ La tinh. Mà hầu như chỉ có Giáo hội, và trong một vài trường hợp thật sự chỉ có một mình Giáo hội, mới có thể lên tiếng tố cáo trong một nước đang bị các thế lực đàn áp. Trong vai trò phê bình đầy tính sáng tạo đó, trong việc đối chứng đức tin của mình với thời sự lịch sử, một việc mà gốc rễ ăn tới niềm hy vọng vào một tương lai do Thiên Chúa hứa, Giáo hội phải đi đến tận căn nguyên của hiện trạng, chứ không được dừng lại trong việc báo động và xử lý một vài hậu quả. Quả vậy, một trong những nguy cơ thâm hiểm nhất đối với một Giáo hội “được đổi mới” tại Châu Mỹ La tinh là chịu thích nghi với một xã hội đã có cố gắng cải tổ đó, nhưng lại không chịu lấy chính mình làm vấn đề. Nguy cơ là Giáo hội một lần nữa lại chịu giữ một chức năng trong hệ thống, một hệ thống tuy cố gắng đổi mới và xoá bỏ các bất công chướng tai gai mắt nhất nhưng vẫn không chịu thật sự thay đổi tận căn nguyên. Do đó cáo trạng của Giáo hội tại Châu Mỹ La tinh phải là một cuộc đặt lại tận gốc vấn đề về trật tự hiện hành. Do đó Giáo hội phải tự kiểm thảo chính mình xét như bộ phận của hệ thống hiện hữu. Nhìn theo viễn tượng đó là ta có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn của những vấn đề Giáo hội nội bộ để đặt chúng trong bối cảnh thực, nghĩa là trong xã hội theo nghĩa bao quát, trên con đường dấn thân vào một thế giới đang xôi xục ngọn lửa cách mạng.

Leonardo Boff (sh. 1982)

223. Một lối mới để sống kinh nghiệm Giáo hội

L. Boff và các tác giả khác, Kirchliche Basisgemeinden, Mettingen 1982, 37-46. Thần học giải phóng chủ yếu đã khơi dậy trong Giáo hội học một hướng đi mới. Kinh nghiệm đọc và suy gẫm Kinh Thánh, những điều Công đồng Vatican nói về Giáo hội địa phương và về tính chất dụng cụ của Giáo hội đã giúp thần học giải phóng nhìn thấy Giáo hội chủ yếu trong các cộng đoàn cơ sở. Giáo hội tự thể hiện trong giới nghèo, mà người nghèo lại nhờ Giáo hội mà nắm lại quyền làm chủ thể lịch sử của chính mình. L. Boff gọi sự phát triển các cộng đoàn cơ sở bằng thuật ngữ “Ecclesiogenesis” (sự sinh thành Giáo hội)

    1. Cơ chế và đoàn sủng Cộng đoàn Giáo hội cơ sở không những là một phương tiện Phúc Âm hoá rộng rãi các tầng lớp xã hội, mà còn là phương thức mới mẻ để sống Giáo hội, để thể hiện một cách sinh động cụ thể mầu nhiệm cứu độ. Giáo hội không chỉ hiện hữu nhờ thành phần cơ chế, nghĩa là Kinh Thánh, hàng giáo phẩm, cơ cấu bí tích, hệ thống giáo luật, quy tắc phụng vụ, giáo lý chính thống và giới điều đạo đức. Những điều này đều có tính chất bó buộc và có giá trị vô hạn trong thời gian. Nhưng bên cạnh đó, Giáo hội cũng xuất hiện như một biến cố, như Giáo hội trong biến thiên. Giáo hội nhen nhúm, sinh ra đời, hình dáng không ngừng đổi mơi, khi có những người họp nhau lại để lắng nghe Lời Chúa mà đón nhận trong đức tin, và cùng nhau lên đường theo chân Đức Kitô. Chính đó là điều xẩy ra trong các cộng đoàn Giáo hội cơ sở. Thường thì các nhóm gặp nhau một cách giản dị dưới một gốc đại thụ được dùng làm nơi tụ họp. Hàng tuần họ đọc Kinh Thánh tại đó, hiểu Lời Chúa thế nào thì chia sẻ cho nhau nghe, cầu nguyện, bàn bạc về những vấn đề gặp trong cuộc sống và quyết định những hoạt động chung. Đúng là nơi đây thành hình Giáo hội của Đức Kitô và của Thánh Thần.

2 Sứ mạng chung của hết thảy những ai đã nhận lãnh phép Rửa Các yếu tố chính trong cách sống Giáo hội đó là hiệp thông và huynh đệ. Mọi người đều thật sự ngang hàng với nhau, đều là anh em, chị em của nhau. Ai cũng có phần, ai cũng được nhận nhiệm vụ. Đó là khởi điểm. Sau này xuất hiện dần dần mô hình cơ chế để tiện việc điều hành và phối hợp. Trước sau họ vẫn ngang hàng như nhau, nhưng không còn làm cùng một việc nữa. Vậy là ta có những người chuyên việc bài trí phối hợp, thường là giới nữ: họ có trách nhiệm tổ chức cộng đoàn, lo cho đời sống bí tích của nhóm và trong các buổi lễ phụng vụ họ nhận phần điều khiển…

42 Cộng đoàn Giáo hội cơ sở mở ra khả năng là các chức vụ trong Giáo hội được phân phối rộng rãi và cân xứng hơn. Giáo dân tái khám phá phần trách nhiệm của họ. Họ cũng kế tiếp các Tông đồ theo nghĩa họ thừa hưởng giáo huấn các Tông đồ. Họ cũng chung phần trách nhiệm cho sự thống nhất đức tin và sự hiệp nhất cộng đoàn. Các giám mục không phải vì thế mà mất mát đieu gì trong chức năng không thay thế được của các ngài. Ta phải chú ý đến điểm này là tính tông đồ không phải là tính cách dành riêng cho một vài thành viên trong Giáo hội (giáo hoàng và các giám mục), mà là của chung Giáo hội. Bên trong Giáo hội ai tin là đều được dự vào tính chất đó theo những phương thức khác nhau. Trong các cộng đoàn Giáo hội cơ sở giáo dân tái khám phá tinh thần tông đồ và thừa sai, và những cộng đoàn thành lập cộng đoàn khác và nâng đỡ sự tăng trưởng không phải là hiếm.

  1. Đoàn sủng và phục vụ Mô hình cộng đoàn của đời sống đức tin làm nổi bật nhiều chức vụ dành cho giáo dân. Một cách giản dị, dân chúng gọi những việc ấy là dịch vụ và qua đó lấy lại lối đánh giá các đoàn sủng của Phaolô. Tất cả các dịch vụ đó được coi là hồng ân Thánh Thần ban tặng. Người thì thăm viếng an ủi bệnh nhân, kẻ thì có nhiệm vụ gom góp và chuyển báo tin tức, người thì dạy đọc dạy viết, kẻ thì làm công tác ý thức hoá về nhân quyền và luật lao động. Một vài người chuẩn bị trẻ em nhận lãnh bí tích, hay lo giải quyết các vấn đề gia đình. Người giữ trách nhiệm điều hành tôn trọng các đoàn sủng, khuyến khích và làm việc phối hợp. Mọi sự tăng trưởng nhằm lợi ích cộng đoàn. Giáo hội ở đây còn hơn là một tổ chức, Giáo hội là một cơ thể sống động không ngừng đổi mới, vì được cơ sở nuoi dưỡng và đem lại sức sống mới.

Leonardo Boff

Và Giáo hội đã trở thành dân (1986)

224. Chức vụ mới trong Giáo hội xuất phát từ dân Chúa

Đức: L. Boff, Und die Kirche ist Volk geworden. Ekklesiogenesis, Duesseldorf 1987.

  1. Cộng đoàn Kitô giáo nào, dù là địa phương hay phổ quát, cũng có cơ cấu căn bản với bốn trục lớn hay lãnh vực hoạt động. Thoạt tiên là trục loan báo Phúc Âm, rao giảng Tin Mừng. Trục này thể hiện trong mọi hành động liên quan đến Phúc Âm và lấy Phúc Âm làm tiêu chuẩn: rao giảng Lời Chúa, suy tư thần học, soạn thảo các văn bản và đề nghị các biểu tượng phục vụ công cuộc rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu. Thứ hai là trục Lễ hội. Cộng đoàn cử hành sự hiện diện của Đấng Phục sinh và của Thần Khí Người, tán tụng các kỳ công của Thiên Chúa trong lịch sử loài người, đặc biệt trong các cuộc đấu tranh của người nghèo dành lại công lý. Thứ ba ta thấy xuất hiện trục hoạt động trong thế giới. Trục này nhằm sự đóng góp của người kitô hữu trong việc xây dựng xã hội con người, khiến cho xã hội con người ngày càng chứa đựng những giá trị của Vương quốc Thiên Chúa, nói rõ là vấn đề tôn trọng quyền lợi của nhân vị con người, việc chăm sóc “những người anh em hèn kém nhất” của Đức Giêsu và dấn thân tranh đấu cho công bình xã hội. Cuối cùng ta có trục phối hợp phục vụ mối thống nhất: ta cần những cấp với nhiệm là nhân danh
  2. Đức Giêsu và nhân danh Phúc Âm kkởi động mọi trục khác và liên kết chúng thành một mối – vì lợi ích của công đoàn và để phục vụ sứ mạng của công đoàn trong thế giới. Nhiệm vụ này dành cho đức giáo hoàng, các giám mục, các linh mục quản xứ, những người phối hợp tổ chức các cộng đoàn và những người điều khiển các nhóm suy tư.

Trong một Giáo hội vốn gắn liền với đoàn dân và đậm đà dấu ấn đoàn dân, những năm gần đây đã chứng kiến sự xuất hiện ồ ạt của những thừa tác giáo dân trong cả bốn trục nói trên. Vẻ phong phú trong các lối diễn tả càng tỏ ra đáng kể ở những nơi các thừa tác vụ cổ điển, gắn liền với bí tích chức thánh, suy thoái. Vậy là đủ thứ thừa tác viên phục vụ (ministros) Lời Chúa nhen nhúm thành hình, những giảng viên xuất thân từ dân và phục vụ dân, xuyên dọc khắp các nẻo đường mà công bố các chân lý đức tin bằng câu thơ tiếng hát; vậy là ra đời cả một thứ văn chương dân dã, những chuyện kể bằng hình ảnh, những vở kịch và một nghệ thuật tôn giáo theo đúng nghĩa; chúng tôi có những người mà nhiệm vụ là chuẩn bị hội hè lễ lạy, kẻ khác thì chuyên việc chủ toạ các buổi lễ một cách long trọng trang nghiêm, kẻ khác nữa lại làm việc sáng tác nhạc, soạn thảo ca khúc; người thì chuẩn bị trẻ em lãnh nhận bí tích, kẻ thì giúp các cặp nam nữ tiến tới hôn nhân; kẻ khác nữa đảm nhận các công việc trong tổ chức Caritas của cộng đoàn: thăm viếng bệnh nhân, chăm sóc người già, tổ chức giúp đỡ những kẻ thiếu công ăn việc làm; có lớp nhằm xoá bỏ nạn mù chữ, có những buổi tìm hiểu luật lao động và luật đất đai; người thì điều khiển một nhóm có tên là “hành động, công lý và hoà bình”, kẻ thì đại diện cộng đoàn trong liên đoàn lao động; lại có nhóm người chuyên việc phoi hợp các hoạt động cho từng vùng gồm nhiều cộng đoàn, quy tụ các người có nhiệm vụ phối hợp trong mỗi địa phương; nhiều nơi còn có người đi từ cộng đoàn này sang cộng đoàn khác, rất cần thiết cho việc trao đổi tin tức, làm một thứ giao liên giữa các cộng đoàn.

Bản Báo Cáo Sheffield (1981)

225. Đóng góp của phong trào đại kết trong vấn đề phụ nữ

Anh: The Community of Women and Men in the Church. A Report of the World Council of Churches’ Conference, Sheffield 1981. Từ đại hội Nairobi họp năm 1975 vấn đề nam nữ bình quyền trong Giáo hội được đưa vào chương trình làm việc của phong trào đại kết. Trong nhiều Giáo hội đã tổ chức nhiều khoá nghiên cứu và thảo luận nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Công việc đó được tạm thời đúc kết trong cuộc họp quốc tế tại Sheffield. Bản báo cáo đề nghị một vài giải pháp cụ thể cho các Giáo hội thành viên và vạch ra đường hướng cho hoạt động tiếp theo.

Chúng tôi kiến nghị xin Ủy ban về Đức tin và Hiến chế Giáo hội a) thâu nhận, theo mức độ Ủy ban thấy là nên làm, bản tường trình tham khảo Sheffield cùng các tư liệu khác đã được bàn soạn trong khung cảnh công trình nghiên cưu chung này, vào chương trình nghiên cứu hiện hành của Ủy ban – đặc biệt là bản “Mối Hiệp nhất Giáo hội và việc canh tân cộng đoàn con người”; b) xem xét trong khoá làm việc sắp tới của Ủy ban những vấn đề sau đây đã được đặt ra tại Sheffield :

  1. Ý nghĩa của việc đại diện Đức Kitô trong thừa tác vụ có thụ phong theo viễn tượng đặc biệt là phụ nữ cũng được thụ phong.
  2. Chiều kích phục vụ (diakonische Dimension) của mọi thừa tác vụ, và đặc biệt quan niệm của Ủy ban về chức phó tế (Diakonat) và chức năng mà cả nam lẫn nữ thi hành trong chức vụ đó.
  3. Các khả thể và các hậu quả gắn liền với sự kiện là các Giáo hội vốn sống trong hiệp thông với nhau lại chọn những quan điểm khác nhau trong vấn đề phong chức cho phụ nữ;
  4. Các thể thức khác biệt của việc truyền lại các thừa tác vụ, chẳng hạn như trong vấn dề phong chức, chúc phúc, việc cắt đặt các thừa tác vụ (Dienstauftrag) và tấn phong;
  5. Tương quan giữa các nhân quyền căn bản và quan niệm Kitô giáo về ơn gọi đến với thừa tác vụ có thụ phong; c) điều tra nghiên cứu kỹ lưỡng các vấn đề sau đây trong quan hệ với “Truyền thống” trong khung cảnh cuộc nghiên cứu “Trên con đường tiến tới một lời chung tuyên xưng đức tin các Tông đồ”
  6. Giá trị của Truyền thống trong quá trình phát triển của một cộng đoàn gồm cả nam lẫn nữ trong Giáo hội;
  7. Những ví dụ lấy từ Kinh Thánh và Truyền thống thuận lợi cho sự cộng tác giữa nam và nữ trong Giáo hội;
  8. Đóng góp của những truyền thống văn hoá khác nhau trong sự thành hình cộng đoàn trong Giáo hội…;
  9. Những vấn đề chẳng hạn như : Hệ thống phụ quyền có phải là một yếu tố văn hoá hay phải chăng đó là một bộ phận của Mặc khải và do đó có giá trị của một quy tắc ? Tiếng kêu “Abba” của Đức Giêsu với Đấng là “Cha” trong tín lý Ba Ngôi, nơi các Giáo phụ và trong các cơ cấu Giáo hội lấy tính chất “Cha” làm cơ sở, là liên tục hay bất liên tục với nhau ? Ai quyết định kinh nghiệm nào có tính chất cấu thành đối với Truyền thống ?
  10. Những hiểu biết thần học về Thiên Chúa Ba Ngôi đối chiếu với ngôn ngữ vốn phân biệt nam nữ một cách sâu đậm và với ngôn ngữ hình ảnh nói về Thiên Chúa…

Chúng tôi đề nghị Tiểu ban “Phụ nữ trong Giáo hội và trong xã hội” a) gom góp các nghiên cứu riêng từng trường hợp về các kinh nghiệm, mà giáo dân – cả nam lẫn nữ – có được với việc phong chức và với các cơ cấu giáo phẩm của Giáo hội; các 연구 (nghiên cứu) được góp lại như vậy sẽ làm cơ sở cho những cuộc bàn cãi tiếp theo. b) Lập một mạng lưới liên lạc giữa các phụ nữ đang giữ một thừa tác vụ – một thừa tác vụ có hay không có thụ phong để phụ nữ khắp các nơi trên thế giới có thể trao đổi kinh nghiệm với nhau; ngoài ra xin tiếp thu một cách nghiêm chỉnh các lời cáo buộc của các phụ nữ trong một cuộc bàn cãi mà việc điều khiển phải do cả nam lẫn nữ đảm nhận chung.

Elisabeth Schuessler Fiorenza:

226. Ủng hộ Giáo hội nào giải phóng phụ nữ

E. Schuessler Fiorenza, In Memory of Her. A Feminist Theological Reconstruction of Christian Origins, 1983. Pháp: En mémoire d’ elle, Essai de reconstruction des origines chrétiennes selon la théologie féministe, Le Cerf, Paris 1986, t. 468-474. Các phong trào nữ quyền không ít thì nhiều đều chỉ trích các Giáo hội đang hoạt động trong thế giới: nhiều người muốn nới rộng quyền phụ nữ trong phạm vi các Giáo hội hiện hữu, kẻ khác lại coi các Giáo hội truyền thống như vô phương cải cách và tranh đấu cho một Giáo hội phụ nữ với cơ cấu mới. Lại còn có kẻ đánh giá sứ điệp Kitô giáo nói chung là thù nghịch đối với phụ nữ vì bị chế độ phụ quyền chi phối: họ tìm kiếm các kinh nghiệm và các biểu tượng ngoài Kitô giáo đề cao ảnh hưởng của nữ giới. E. Schuessler Fiorenza cho thấy trong Kitô giáo có những yếu tố cởi mở có thể khai triển cho hiện tại.

  1. Ekklesia là danh từ nhằm chỉ Giáo hội trong Tân Ước, một khái niệm chính trị, nghĩa là liên quan đến sinh hoạt của người công dân trong một Polis, hơn là một khái niệm tôn giáo. Ekklesia là đại hội các công dân tự do họp lại với nhau để tự quyết định về các vấn đề chính trị và tinh thần. Vì phụ nữ trong Giáo hội phụ quyền không được quyết định về các vấn đề tôn giáo thần học liên quan đến mình hay liên quan đến giới của mình – nghĩa là giới phụ nữ – cho nên một Ekklesia của phụ nữ vừa là thực tế hôm nay, vừa là hy vọng ngày mai. Chúng ta đã bắt đầu họp nhau lại thành Ekklesia-phụ nữ, thành dân Chúa, để khẳng định lực lượng tôn giáo của chúng ta, để tham gia từ đầu đến cuối quá trình quyết định của Giáo hội và để khuyến khích nhau trong tư cách là nữ kitô hữu.
  2. Một linh đạo Kitô giáo nữ quyền kêu gọi chúng ta triệu tập Ekklesia các phụ nữ lại, những người được phái đến trong quyền năng Thần Khí nóng hổi để nuôi dưỡng, chữa trị và giải phóng người mình, nghĩa là phụ nữ, “dân ta”. Thứ linh đạo đó lột mặt nạ tội phân biệt giới tính (sexismus) đã ăn sâu vào các cơ cấu xã hội, phá tan hậu quả của nó là tình trạng vong thân của chúng ta, giải phóng chúng ta khỏi tội phân biệt giới tính đó và thúc dục chúng ta trở thành những nữ tử, những nữ phát ngôn viên của Thiên Chúa. Thứ linh đạo đó vứt bỏ thói thần tượng hoá nam tính, nhận ra hình ảnh Thiên Chúa trong phong cách phụ nữ chúng ta sống đời người và nói lên điều đó khi nói về Thiên Chúa. Thứ linh đạo đó giúp ta thoát khỏi thái độ vị tha và tự hiến giả tạo đã ăn sâu vào tận tâm khảm, khi chúng ta chủ yeu chỉ lo cho thành tựu và công việc của nam giới, mà thành tựu và thiên chức của chúng ta và của chị em phụ nữ khác lại để thiệt thòi. Thứ linh đạo đó cho chúng ta đủ sức sống “vì nhau”, đủ sức cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong Ekklesia hiểu theo nghĩa đại hội phụ nữ. Ai trong chúng ta đã nghe tiếng gọi đó đều đáp lại bằng cách dấn thân đấu tranh giải phóng phụ nữ và các hạng người bị áp bức khác: chúng ta ý thức trách nhiệm của chúng ta về các phụ nữ và tương lai phụ nữ, và kiên quyết sống đoàn kết trong Ekklesia-phụ nữ.
  3. Mặt khác, Xuất hành là hình ảnh bắt buộc phụ nữ bỏ lại đằng sau hết những gì là quan trọng đối với họ: giao tiếp
  4. với giới nam, tổ ấm và hạnh phúc, con cái, sự đùm bọc thân thương, tôn giáo, bởi vì những thứ đó đã góp phần đàn áp và bóc lột họ trong gia đình và Giáo hội phụ quyền. Phụ nữ phải bỏ lại sau lưng “nồi thịt” sẵn có trong cảnh nô lệ hệ thống phụ quyền và trong các cơ chế phụ quyền, và phải sống trong một không gian thời gian mới. Hình ảnh Xuất hành kêu gọi người phụ nữ ra khỏi cảnh ấm cúng quen thuộc, đoạn tuyệt với cảnh làm tôi trong gia đình phụ quyền và từ bỏ các niềm xác tín gắn liền với tôn Giáo phụ quyền.

Rosemary Radford Ruether

Hình ảnh người nữ – Hình ảnh Thiên Chúa

227. Giáo hội phụ nữ là Giáo hội Xuất hành

Anh: R. R. Ruether, Womanguides. Readings Toward a Feminist Theology, Boston 1985. Trên bình diện thần học, chủ nghĩa nữ quyền thường phê bình chỉ trích văn hóa hiện hữu và tôn giáo hiện hành. Theo lời chỉ trích đó thì các Giáo hội đã để cho các kinh nghiệm nam giới lấn át và làm biến dạng một khu vực sâu thẳm của kinh nghiệm con người vốn hàm chứa những biểu tượng uyên nguyên nhất. Để tìm lại chiều kích sâu thẳm đó, Giáo hội dành riêng cho phụ nữ phải tự giải thoát khỏi cảnh giam hãm tù đầy và thoát ly khỏi các Giáo hội hiện hữu. Giáo hội Phụ nữ trở thành Cộng đoàn xuất hành.

  1. Giáo hội phụ nữ chúng tôi kiên quyết chối bỏ thần tượng của hệ phụ quyền. Chúng tôi công khai thẳng thắn chối bỏ và chỉ trích. Thứ thần tượng đó, chúng tôi tố cáo nhân danh Thiên Chúa, nhân danh Giáo hội, nhân danh nhân loại, nhân danh trái đất này. Thiên Chúa chúng tôi, hay Nữ Chúa Thượng mà chúng tôi tôn thờ, nghĩa là cha hay mẹ chúng tôi, người bạn, người tình, người (nam nữ) đỡ nâng chúng tôi không sinh ra thứ thần tượng đó và không để cho thứ thần tượng đó đại diện. Đức Giêsu, người anh của chúng tôi không đến trái đất này với mục đích đưa ra thần tượng đó và cũng không để cho thứ thần tượng đó đại diện. Thần tượng đó không phục vụ sứ điệp và sứ mạng của Đức Giêsu (con bà Maria), người sẽ lật đổ bọn quyền thế và nâng cao kẻ thấp hèn, mà đúng ra đó là một sự phạm thượng. Giáo hội phụ nữ chúng tôi hét vang lên: kinh hoàng khiếp đảm.
  2. phạm thượng lừa đảo… Chúng tôi không sống trong cảnh lưu đầy, mà chúng tôi có Giáo hội cùng đi đường với chúng tôi. Giáo hội cùng với chúng tôi sống cuộc Xuất hành. Sheqina của Thiên Chúa (Thần Khí thiện hảo của Người), Đức Khôn Ngoan thiêng thánh, gương mặt hiền mẫu của Thiên Chúa, đã thoát khỏi các lý thuyết cao siêu do he phụ quyền dựng lên và đã nhập cuộc Xuất hành cùng với chúng tôi. Cùng với chúng tôi Người chạy trước các bàn thờ nghi ngút những hy lễ thân thể phụ nữ, trong khi chúng tôi bịt tai lại để xoá khỏi trí nhớ những tiếng kêu phi nhân đạo, những tiếng kêu mà thần tượng của hệ phụ quyền khiến phải vang lên. Giáo hội phụ nữ chúng tôi không bị bỏ rơi với cái đói cồn cào Lời Đức Khôn Ngoan, không bị bỏ rơi trong cảnh thiếu đói Bánh đem lại sự sống…

Ngay cả bí tích Tiệc thánh cũng ra đi cùng với chúng tôi. Nước phép Rửa chảy vọt giữa chị em chúng tôi, nước đem lại sự sống, và cây sự sống cũng tươi tốt giữa chị em chúng tôi, cành lá um tùm, hoa quả nặng trĩu. Chúng tôi nhổ lúa và nướng bánh, chúng tôi hái những trùm nho chín, làm thành rượu và truyền lại giữa chị em chúng tôi như thân mình và bánh của cuộc sống mới, cuộc sống của nhân loại mới, cuộc sống mà giá phải trả là các cuộc đấu tranh đẫm máu của các vị tử đạo của chúng tôi, là cuộc đấu tranh đẫm máu của Đức Giêsu, người anh chúng tôi, của Perpetua và Felicita cùng tất cả các chị em phụ nữ khác đã bị người ta thiêu đốt, đánh đập, bắt cóc, hà hiếp… Chúng tôi là Giáo hội phụ nữ, chúng tôi không sống trong cảnh lưu đầy, mà chúng tôi đã nhập cuộc Xuất hành.

File chi tiết: 273.06_GIAO-HOI-HOC-QUA-CAC-TAC-GIA.pdf