GIÁO HỘI HỌC

(QUYỂN 2)

QUA CÁC TÁC GIẢ

PETER NEUNER

dẫn nhập, tuyển chọn và giới thiệu

trong bộ TEXTE ZUR DOGMATIK

Styria Verlag
Graz Wien Köln

THẦN HỌC THỜI CẢI CÁCH

Sylvestre Prieras (1456-1523) Trao đổi về các kết luận của Martin Luther (In Martini Lutheri conclusiones dialogus (1518)

144. Huấn thị của giáo hoàng là quy tắc bất khả ngộ của đức tin

Latinh: Mirbt / Aland No. 787

Nhiệm vụ của Sylvestre Prieras là thẩm cứu hồ sơ truy tố Luther trước toà Rôma. Trong phần dẫn nhập văn kiện trình bày cuộc tranh luận về ân xá, ông phác hoạ quan niệm của mình về Giáo hội, đặc biệt về tính bất khả ngộ của giáo hoàng. Chính nhờ ông mà trong thời Cải cách, ngoài đề tài chính là sự công chính hoá, người ta cũng tranh luận về vấn đề Giáo hội, thể chế và quyền năng giáo hoàng.

  1. Anh Martin thân mến Ý của tôi là tra cứu chính xác giáo thuyết của anh, cho nên tôi phải lấy làm nền tảng những quy tắc và những nguyên tắc căn bản sau đây :

Nguyên tắc thứ nhất : Giáo hội phổ quát (Gesamtkirche) theo yếu tính là sự tụ họp mọi kẻ tin vào Đức Kitô để phụng sự Thiên Chúa… Xét cho cùng, Giáo hội phổ quát, theo quyền năng và quyền lực, là Giáo hội Rôma, đầu của tất cả các Giáo hội và là đức giáo hoàng. Giáo hội Rôma, xét theo phương thức đại diện, là hồng y đoàn, xét theo quyền năng và quyền lực, là đức giáo hoàng, đầu của Giáo hội, tất nhiên là theo một cách khác với Đức Kitô.

Nguyên tắc căn bản thứ hai : như Giáo hội phổ quát không thể sai lầm khi quyết định về đức tin và luân lý, thì một công đồng chân chính cũng không thể sai lầm khi công đồng làm hết sức mình để nhận biết chân lý; tôi hiểu điểm này bao hàm cả giáo hoàng, ít nhất là trong kết quả cuối cùng…

Giáo hội Rôma cũng không thể sai lầm, đức giáo hoàng cũng không, khi trong tư cách là giáo hoàng người lấy một quyết định, nghĩa là khi người lấy thẩm quyền mà công bố quyết định đó, và làm hết sức mình để nhận biết chân lý.

Nguyên tắc thứ ba: ai không gắn bó với giáo huấn của Giáo hội Rôma và của đức giáo hoàng như gắn bó với quy tắc đức tin bất khả ngộ là nguồn suối giá trị và hiệu lực cho cả Kinh Thánh, kẻ đó là một người lạc đạo.

Nguyên tắc thứ tư : liên quan đến đức tin và luân lý, Giáo hội Rôma có thể quyết định bằng cả lời nói lẫn hành động. Trong việc này lời nói và hành động không có gì khác nhau, có điều là lời nói rõ ràng hơn hành động. Theo nghĩa đó thói quen cũng đạt được hiệu lực pháp luật, bởi ý muốn của một nguyên thủ tỏ lộ trong những việc làm mà người cho phép hay thậm chí khuyến khích. Do đó, nếu kẻ nào có những ý nghĩ sai lầm về chân lý Kinh Thánh là một người lạc đạo, thì kẻ nào có những ý nghĩ sai lầm về giáo huấn và hành động của Giáo hội cũng là một người lạc đạo, trong mức độ những điều đó liên quan đến đức tin và luân lý.

Kết luận : Về các ơn đại xá ai nói rằng Giáo hội Rôma không có quyền làm những điều trong thực tế Giáo hội đang làm, kẻ đó là một người lạc đạo.

Giáo hoàng Lêô X Exsurge Domine (15/6/1520)

145. Trọng sắc đe doạ cấm chế nhằm Luther

Latinh: Mirbt/ Aland No. 789 (Bd. I, 504-513).

Trọng sắc ban hành ngày 3/1/1521 Luther không được ai quan tâm, nhưng Trọng sắc Exsurge Domine trong nguyên văn Latinh và bản dịch đức ngữ được ấn hành ngay tức khắc và phổ biến rộng rãi. Tài liệu thu tập và liệt kê các sai lầm gán cho Luther.

  1. Lêô, Giám mục, tôi tớ các tôi tớ của Thiên Chúa, để đời đời ghi nhớ sự việc. Lạy Chúa, xin chỗi dậy và xin Ngài bênh vực chính nghĩa. Xin nhớ đến những lời thóa mạ ngày ngày xuất ra từ miệng bọn dồ dại. Xin lắng tai nghe lời chúng con khẩn cầu; có những con cáo nổi dậy với dã tâm tàn phá vườn nho (…); khi ngài định lên với Cha ngài, ngài đã trao việc chăm nom, điều khiển và quản lý (vườn nho đó) cho Phêrô, là Đầu và là vị Đại diện của ngài, và cho các đấng kế vị Phêrô… Vườn nho đó giờ đây một con heo rừng muốn tàn phá và một thú dữ cực kỳ hung bạo đang ăn tươi nuốt sống.
  2. Việc có vẻ nên làm là Giáo hội, trong một Công đồng chung, ra lệnh phải trao Thánh thể dưới hai hình thức cho giáo dân; và người xứ Bôhêmia, vốn rước lễ dưới cả hai hình thức, không phải là kẻ rối đạo mà là người ly khai.
  3. Kho tàng Giáo hội từ đó đức giáo hoàng phân phát các ơn đại xá, không phải là công lao của Đức Kitô và các thánh.
  4. Chắc chắn là việc đưa ra các tín điều, ngay cả các quy luật cho cách ăn lối ở đạo đức hay các việc thiện, không thuộc quyền hạn của Giáo hội hay của đức giáo hoàng.
  5. Ngay cả khi đức giáo hoàng cùng với đại bộ phận của Giáo hội có nghĩ thế này hay thế kia và không sai lầm, thì việc có ý nghĩ ngược lại cũng không phải là phạm tội hay lạc đạo – nhất trong một sự thể không thiết yếu cho Ơn cứu độ – cho đến khi một tổng công đồng vứt bỏ điều này và công nhận điều kia.
  6. Không có điều gì cản trở chúng tôi trên con đường vô hiệu hoá thẩm quyền của các công đồng, tự do bác bỏ các việc các công đồng thực hiện, phê phán các sắc lệnh công đồng và tuyên nhận một cách chắc chắn mọi điều có vẻ là đúng với chân lý, không cần biết điều đó có được một công đồng phê chuẩn hay bác bỏ.
  7. Một vài điểm do Jan Hus chủ trương và đã bị kết án tại Công đồng Constance, hoàn toàn phù hợp với Kitô giáo, với chân lý và với Phúc Âm; Giáo hội phổ quát không bao giờ có quyền kết án các điểm đó.

Chúng tôi kết án, không chấp nhận và bác bỏ các điều hay các sai lầm kể trên….

Hieronymus Aleander (1480-1542) Sắc chỉ Worms (8. 26/5/1521)

146. Các lạc thuyết của tất cả bọn rối đạo tích tụ trong một ao tù hôi hám

DRTA.JR 2, No. 92 (640-659)

Tại quốc hội nhóm họp tại Worms, hoàng đế Karl V trao cho khâm mạng giáo hoàng Aleander trọng trách dự thảo một nghị quyết nhằm kể tội Luther. Aleander trình dự thảo của ông lên hoàng đế ngày 8/5/1521; phải đợi đến ngày 26/5/ 1521, sau khi bế mạc khoá họp Quốc hội, hoàng đế mới ký sắc chỉ. Trong nhiều thế kỷ, bản văn này làm khung cảnh cho lối hiểu Luther của người công giáo.

  1. Y (Luther) phỉ báng vị Thượng tế của đạo Kitô chúng ta, đấng kế vị thánh Phêrô và thật sự đại diện cho Đức Kitô nơi trần thế, với những lời lẽ vu khống tục tằn; y tìm đủ mọi cách để tấn công và phỉ báng người như chưa từng nghe trước đây có ai dám làm. Đọc các thi sĩ ngoại đạo, y kết luận rằng không có tự do ý chí, nghĩa là mọi sự đều đã an bài một cách tất định. Theo các bài y viết thì cử hành thánh lễ chỉ có lợi cho người cử hành mà thôi. Không những vậy y còn bóp méo việc ăn chay cầu nguyện như đã được Hội thánh quy định và được tuân giữ cho đến nay. Thậm chí y còn đặc biệt khinh thường uy tín của các thánh phụ đã được Giáo hội phong thánh hẳn hoi. Y tự đặt mình hoàn toàn trên đức vâng phục và mọi thẩm quyền.
  2. Những điều y viết hầu hết toàn là những lời cổ võ và phục vụ cho nổi loạn, ly khai, chiến tranh, giết người, cướp bóc, hoả hoạn và hủy hoại tận gốc đức tin Kitô giáo. Rồi y cũng chủ trương một nếp sống tự do, tình nguyện, thoát ra khỏi mọi quy luật : tự do như giống vật…

Y còn trơ trẽn lên tiếng công khai chống lại các thánh công đồng, còn cố ý phỉ báng và xúc phạm các công đồng, đặc biệt là công đồng Constance bị miệng lưỡi bẩn thỉu của y đả kích kịch liệt khắp nơi khắp chốn; y gọi công đồng đó – một cách xúc phạm và hạ nhục Giáo hội và dân tộc Đức – là một hội đường quỷ dữ (Synagoge des Teufels) và đối với những vị đã tham gia công đồng và đã quyết định phải cho Jan Hus lên giàn hoả thiêu vì hoạt động rối đạo – đích danh là vị tiền nhiệm của ta là hoàng đế Sigismond cùng các quốc vương trong Thánh Đế Chế và toàn thể Đại hội công đồng, y đặt cho những biệt hiệu là Phản Kitô, tông đồ của quỷ dữ, sát nhân và Pharisêu, và y nói rằng các điều bị lên án tại công đồng vì tội rối đạo của tên Hus, đều hợp với tinh thần Kitô giáo và Phúc Âm, lại còn quả quyết rằng một mình y có thể chứng minh điều đó.

Các điều khoản do công đồng đó chấp thuận và quyết định, y không chịu công nhận hiệu lực; yêu sách của y khiến y đâm ra điên khùng đến độ y rêu rao là nếu tên Hus nói trên mà rối đạo một, thì y còn rối đạo mười. Chẳng phải liệt kê hết tất cả tội ác khác của Luther, ta chỉ cần tuyên bố vắn tắt : Một mình tên đó, không phải là người mà là Địch thủ độc hại đội lốt người với bộ áo dòng, đã tích tụ trong một ao tù hôi thối các lạc thuyết của mọi bè rối đã bị lên án kịch liệt, những lạc thuyết lâu nay vẫn tiềm tàng ẩn nấp.

Martin Luther (1483-1546) Gởi hàng quý tộc Đức quốc về việc cải thiện quy chế của người kitô hữu (1520)

147. Xuất phát từ phép Rửa là linh mục, giám mục và giáo hoàng

WA 6, 381-469 Pháp: Martin Luther, Oeuvres, tome II, Labor et Fides, Genève 1966, t. 84… 92.

Trong Giáo hội học của Luther người ta có nhiều cách đối lập một Luther thời trẻ quấy động Giáo hội và một Luther bảo thủ khi đến tuổi già đã phải quan tâm đến việc thiết lập và biện minh cho các cơ cấu Giáo hội. Khi Luther trong thời trẻ đề cao chức tư tế phổ quát, chủ ý của ông là làm sống lại giáo lý cổ truyền về chức linh mục, chứ không phải là vứt bỏ các chức phẩm trong Giáo hội. Luther không ưa dùng chữ “Giáo hội” theo ông quá gắn liền với nghĩa ngôi nhà thờ vật chất. Thay vào đó ông dùng diễn ngữ “công đoàn kitô hữu” hay “tập thể kitô hữu”.

  1. Bọn theo Rôma đã rất khéo léo xây ba bức tường chung quanh mình; nhờ vậy chúng đã cầm cự cho đến ngày nay không ai tu chỉnh được chúng khiến cho toàn thể đạo Kitô (Christenheit) rơi vào tình trạng suy đồi khủng khiếp.

Thứ nhất: khi người ta dùng thế quyền mà áp đảo chúng, chúng liền khẳng định và quả quyết rằng thế quyền chẳng có hiệu lực đối với chúng, ngược lại, thần quyền cao hơn thế quyền. Thứ hai : khi người ta lấy Kinh Thánh mà chê trách chúng, chúng liền đưa ra nguyên tắc ngược lại là không ai, ngoài giáo hoàng, có quyền minh giải Kinh Thánh. Thứ ba: có đe doạ chúng với một công đồng thì chúng bịa đặt ra là không ai, ngoài giáo hoàng, có quyền triệu tập công đồng. Vậy là chúng đã ngấm ngầm ăn cắp của chúng ta ba cây roi, khiến không còn ai trừng trị được chúng, và chúng đã ẩn nấp đằng sau ba bức tường kiên cố đó để tung ra những mưu ma chước quỷ như hiện nay chúng ta được chứng kiến.

  1. Trước tiên chúng ta muốn tấn công bức tường thứ nhất. Người ta đã bịa đặt ra rằng giáo hoàng, giám mục, linh mục và các người sống trong tu viện được gọi là hàng giáo sĩ, còn vua quan, thợ thuyền và nông dân là hàng giáo dân ngoài đời, một chuyện bịa đặt tinh vi, chỉ có vẻ đạo đức bề ngoài. Nhưng chớ có ai nao núng trước lối phân biệt đó, mà lý do là hết thảy các kitô hữu đều thật sự thuộc hàng giáo sĩ, giữa họ với nhau không có khác biệt nào ngoài khác biệt vì chức năng, như Phaolô cho thấy khi bảo rằng (1 Cr 12) tất cả chúng ta đều là một thân thể duy nhất mà mỗi một chi thể đều có phận sự riêng để phục vụ các chi thể khác. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta có cùng một phép Rửa, cùng một Phúc Âm, cùng một đức tin và chúng ta là kitô hữu đồng đều như nhau; chỉ có phép Rửa, Phúc Âm và đức tin mới làm nên hàng giáo sĩ và đoàn dân của Đức Kitô…
  2. Vì thế, khi phong chức cho ai, giám mục chẳng làm điều gì khác ngoài việc đại diện và thay thế toàn thể đại hội tuyển chọn một người trong đám những kẻ có quyền ngang nhau, và truyền cho người ấy thi hành quyền đó thay cho các kẻ khác; như thể có mười người anh em đều là con vua, có quyền thừa kế ngang nhau, đã chọn một người trong số họ để thay họ quản lý di sản: hết thảy vẫn là vua, quyền hành vẫn ngang nhau, nhưng việc cai trị thì trao cho một người duy nhất. Để nói cho rõ hơn: một nhóm nhỏ giáo dân ngoan đạo bị bắt và bị đầy đến một nơi hoang vắng; ở cùng với họ không có ai là linh mục do một giám mục phong chức; nếu họ chọn một người trong số họ (bất kể người đó đã lập gia đình hay không) và trao cho người đó nhiệm vụ làm phép Rửa, cử hành thánh lễ, giải tội và rao giảng, thì người đó thật sự là linh mục, không khác gì đã được đủ cả giám mục, giáo hoàng phong chức… Người kitô hữu thuở trước đã làm như thế đó, họ chọn trong đám đông giám mục và linh mục của họ, rồi những vị này được các giám mục khác thừa nhận mà không cần phô trương bầy vẽ như ngày nay người ta thường làm. Các thánh Augustin, Ambroise, Cyprien đã lên chức giám mục như thế đó.

Mà ngày nay thế quyền cũng đã nhận phép Rửa như chúng ta, cũng có cùng một đức tin, cùng một Phúc Âm, cho nên chúng ta phải để cho họ là linh mục giám mục và phải coi chức vụ của họ như một chức vụ hợp pháp và có lợi cho cộng đoàn kitô hữu. Bởi tất cả những gì xuất phát từ phép Rửa đều có thể tự hào là đã được tấn phong linh mục, giám mục và giáo hoàng, cho dù là bất cứ ai cũng được giữ những chức vụ đó là một chuyện không nên làm. Bởi hết thảy chúng ta đều là linh mục, cho nên không ai được phép tự đưa mình lên hàng đầu và toan làm những việc mà hết thảy chúng ta đều có quyền làm, nếu không được chúng ta chấp thuận và tuyển chọn. Những gì thuộc về cộng đoàn thì không ai có thể lấy làm của riêng mình, nếu không được cộng đoàn chấp thuận và ủy nhiệm…

Từ những điều trên đây ta có thể nói rằng giữa giáo dân, linh mục, vua quan, giám mục, giữa hàng giáo sĩ, như chúng nói, và người ngoài đời thật sự trong căn bản, không có khác biệt nào, ngoài khác biệt về chức năng hay công việc, chứ không phải về đấng bậc, bởi vì ai ai cũng thuộc hàng giáo sĩ; ai ai cũng thật sự là linh mục, giám mục, giáo hoàng nhưng không phải ai ai cũng làm cùng một công việc như nhau, cũng như giữa các linh mục với nhau không phải ai ai cũng được trao phó cùng một nhiệm vụ.

  1. Bức tường thứ hai còn kém kiên cố và kém vững chắc hơn nữa; nghĩa là chúng muốn một mình chúng làm thầy dạy Kinh Thánh cho người ta, mặc dù suốt đời chúng chẳng học được một chữ trong Kinh Thánh. Chúng đòi cho mình độc quyền, ăn nói ba hoa trơ trẽn để cho chúng ta tưởng rằng giáo hoàng, bất kể tốt hay xấu, không thể sai lầm trong lãnh vực đức tin, nhưng điểm này thì đến một chữ chúng cũng không thể chứng minh. Do đó mà giáo luật hàm chứa biết bao là quy định rối đạo đi ngược lại tinh thần Đức Kitô, thậm chí ngược lại thiên nhiên, nhưng giờ đây ta không cần đề cập tới. Bởi một khi chúng nghĩ rằng Thánh Thần sẽ không bỏ rơi chúng, dù chúng có vô học và độc ác đến đâu đi nữa, chúng cả gan đến độ dám biến cả sở thích riêng tư nhất của chúng thành những khoản luật. Nếu cứ như thế, thì Kinh Thánh đâu còn cần thiết, đâu còn ích lợi ? Ta cứ việc đốt hết Kinh Thánh đi, chỉ cần bọn vô học đang làm vua làm chúa tại Rôma là đủ, chúng sở hữu Thánh Thần mà chỉ có các tâm hồn trong sạch mới có thể có. Nếu chính tôi không được đọc thì không bao giờ tôi có thể tin là tên quỷ tại Rôma có thể dùng những phương tiện thô thiển như vậy để kết nạp đồ đảng…

Nếu một ngày kia có thể xẩy ra trường hợp giáo hoàng và bọn thuộc hạ là những người xấu, không ăn ở như những kitô hữu chân chính và không được Thiên Chúa dạy dỗ cho nên không có trí hiểu biết ngay ngắn, nếu ngược lại một người thấp kém lại được sự hiểu biết ngay ngắn, thì tại sao ta không được theo người đó ? Giáo hoàng đã chẳng nhiều lúc sai lầm sao ? Ai còn muốn cứu giúp đạo Kitô nữa khi giáo hoàng sai lầm, nếu người ta không được tín nhiệm một ai khác ngoài giáo hoàng, dù người đó có Kinh Thánh (chứng giám) cho mình…

  1. Bức tường thứ ba tự nó sụp đổ nếu hai bức tường trước sụp, bởi nếu giáo hoàng hành động ngược lại Kinh Thánh, chúng ta có bổn phận đứng về phía Kinh Thánh, phê phán giáo hoàng và buộc giáo hoàng quy phục…

Chúng cũng không có luận cứ nào trích từ Kinh Thánh chứng minh rằng việc triệu tập hay chuẩn nhận công đồng thuộc quyền một mình giáo hoàng, mà đó chỉ là những quy luật riêng của chúng chỉ có hiệu lực trong mức độ những quy định đó không tác hại đến đạo Kitô và Luật Thiên Chúa. Mà khi giáo hoàng đáng bị khiển trách, những thứ luật lệ đó mất hết hiệu lực ngay, bởi lẽ không dùng công đồng để khiển trách giáo hoàng là một điều có hại cho đạo Kitô.

Đó, như ta đọc trong Cv 15, 6, không phải thánh Phêrô đã triệu tập Công đồng các Tông đồ, mà là tất cả các Tông đồ và các kỳ lão. Mà nếu chỉ có thánh Phêrô mới được quyền triệu tập thì đó không còn là một Công đồng Kitô giáo nữa mà đã là một công hội rối đạo (ketzerisches Conciliabulum). Ngay cả Công đồng nổi tiếng nhất họp tại Nicée thì cũng không phải là do giám mục Rôma triệu tập hay chuẩn nhận, mà là hoàng đế Constantin, và sau đó có nhiều hoàng đế khác đã hành động tương tự, mà đó toàn là những Công đồng có tính chất Kitô cao độ nhất trong các công đồng. Nếu một mình giáo hoàng nắm quyền đó thì tất cả các công đồng bắt buộc đã là rối đạo. Và khi tôi xét đến các công đồng do giáo hoàng triệu tập, tôi cũng chẳng thấy các công đồng đó đạt được kết quả nào đặc biệt quan trọng.

  1. Vì thế, khi tình hình bắt buộc và giáo hoàng gây gương mù gương xấu cho đạo Kitô, người đầu tiên, trong tư cách là chi thể trung tín của toàn bộ thân thể, thấy mình có đủ khả năng, thì phải liệu sao cho một công đồng chân chính, tự do, có thể họp được.

Martin Luther Về cảnh tù đầy tại Babylone của Giáo hội (1520)

148. Phục vụ Lời Chúa là yếu tố làm nên linh mục và giám mục

WA 6, 497-573 Pháp: Martin Luther, Oeuvres, tome II, Labor et Fides, Genève 1966, t. 245…251.

  1. Giáo hội là từ Lời hứa của Chúa mà sinh ra, nhờ đức tin, Giáo hội được Lời Chúa nuôi dưỡng và giữ gìn, nghĩa là Giáo hội là do các lời hứa của Chúa thiết lập chứ không phải các lời hứa của Chúa là nhờ Giáo hội. Bởi so với Giáo hội Lời Chúa cao trọng khôn ví. (Vì là tạo vật của Thiên Chúa) Giáo hội không có quyền bài trí, quyết định hay thiết lập điều gì liên quan đến Lời Chúa mà chính (Lời Chúa) phải là (nguyên tắc) bài trí, quyết định và thiết lập đối với Giáo hội…
  2. Từ những điều nói trên đây ta có thể nói rằng ai không rao giảng Lời Chúa, mặc dù được Giáo hội gọi làm nhiệm vụ đó, thì chẳng là linh mục chút nào. Và “bí tích” chức thánh chẳng qua chỉ là một tập tục nhằm tuyển chọn giảng viên trong Giáo hội.

Nhiệm vụ của linh mục là rao giảng. Nếu linh mục không rao giảng thì người đó chỉ là linh mục theo kiểu một con người trong tấm ảnh là con người. Phải chăng điều làm nên giám mục là phong chức linh mục cho những kẻ ba hoa vô tích sự đó ? hay hiến thánh nhà thờ và chuông nhà thờ ? hay ban phép Thêm sức cho trẻ em ? Không đời nào. Những việc đó bất cứ phó tế hay giáo dân nào cũng làm được. Phục vụ Lời Chúa mới là điều làm nên linh mục và giám mục…

  1. Ai muốn sống như một kitô hữu phải chắc chắn và thâm tín rằng chúng ta hết thảy là linh mục đồng đều như nhau, nghĩa là chúng ta có quyền đồng đều về Lời Chúa và các bí tích; thế nhưng không ai được phép sử dụng quyền đó nếu không được cộng đoàn chấp thuận hay được cấp trên kêu gọi (vì cho đến khi được gọi, không ai có thể đòi lấy làm của riêng mình những gì thuộc về cộng đoàn). Như vậy bí tích chức thánh – nếu có thật sự là gì – chẳng qua chỉ có thể là một hình thức để gọi ai đó đến phục vụ Giáo hội.

Martin Luther Về các công đồng và các Giáo hội (1539)

149. Các đặc điểm của Giáo hội chân chính

WA 50, 488-653.

  1. Như chúng kêu ca về các nghị phụ và các công đồng và không biết nghị phụ và công đồng là gì mà chỉ lấy nghĩa đen của từng chữ để áp đảo chúng ta, chúng cũng kêu ca về Giáo hội. Nhưng chúng hãy nói Giáo hội là gì, là ai, ở đâu đi. Phải chi chúng đặt những câu hỏi như vậy và để tâm suy xét, thì chúng đã phục vụ Giáo hội và Thiên Chúa biết đến chừng nào. Chúng thích được người ta coi chúng là Giáo hội, với những chức vị giáo hoàng, hồng y, giám mục và vẫn được nấp dưới các tước hiệu huy hoàng đó mà làm đồ đệ tên quỷ chỉ có quyền tác yêu tác quái và lừa đảo mà thôi. Hỡi ơi! Cứ để đó mọi thứ sách vở, mọi sự phân biệt tinh vi, bây giờ chúng ta chỉ muốn dừng lại đức tin hồn nhiên của thiếu nhi mà nói: “Tôi tin một Giáo hội Kitô giáo duy nhất, thánh thiện, tin các thánh thông công”. Kinh tuyên tín cho ta thấy rõ Giáo hội là gì, nghĩa là Giáo hội là mối hiệp thông giữa các thánh, là sự tụ họp, là đoàn thể những người theo Đức Kitô và sống thánh thiện, một đám đông những kẻ theo Đức Kitô và sống thánh thiện, hay là một Giáo hội…
  2. Giáo hoàng đâu phải là đoàn dân, lại càng chẳng phải là dân thánh, dân của Đức Kitô. Giám mục, linh mục quản xứ và đan sĩ cũng chẳng phải là dân thánh, dân của Đức Kitô, bởi chúng không tin Đức Kitô, cũng chẳng sống thánh thiện, mà chúng là dân xấu xa đê tiện thuộc về tên quỷ. Ai không tin Đức Kitô một cách ngay ngắn thì chẳng có Thần Khí của Đức Kitô, cũng chẳng phải là kitô hữu. Ai không có Thánh Thần chống lại tội lỗi, kẻ đó không sống thánh thiện, vì thế những kẻ đó không thể là dân thánh thuộc về Đức Kitô, nghĩa là không thể là sancta et catholica ecclesia.
  3. Thứ nhất : người ta có thể được nhận ra dân thánh thuộc về Đức Kitô ở chỗ dân đó có Lời thánh thiêng của Thiên Chúa, dù là ở mức độ khác nhau, như Phaolô khẳng định (1 Cr 3, 12 tt). Kẻ thì có được Lời Chúa tinh tuyền, kẻ thì cũng có đó, nhưng không hoàn toàn tinh tuyền. Kẻ có Lời Chúa tinh tuyền là những ai dùng vàng, bạc, đá quý mà xây trên nền, còn kẻ không có Lời Chúa tinh tuyền là những ai dùng cỏ, rơm mà xây trên nền, nhưng nhờ lửa họ vẫn được phần phúc. Về điểm này thì trên đây đã nói quá đủ rồi. Đây là điều cốt yếu, là nguồn suối chính của sức thánh hoá nhờ đó mà dân thuộc về Đức Kitô được gọi là thánh. Bởi Lời Chúa là thánh thiện và thánh hoá mọi sự Lời chạm đến, thậm chí Lời Chúa chính là sự thánh thiêng của Thiên Chúa…
  4. Khi tai anh nghe hay mắt anh thấy Lời đó là nội dung được rao giảng, là đối tượng của đức tin, là lời được tuyên xưng và là nguyên lý cho hành động, thì xin anh đừng nghi ngờ gì nữa, chắc chắn nơi đó phải có một ecclesia sancta catholica chân chính, một dân thánh thiện của Đức Kitô, dù có rất ít người…
  5. Thứ hai: người ta nhận ra dân của Thiên Chúa hay dân thánh thiện của Đức Kitô nhờ bí tích phép Rửa, nơi đâu về bí tích này người ta giữ giáo lý, đức tin và thực hành ngay thẳng theo lệnh truyền của Đức Kitô. Bởi phép Rửa cũng là một dấu hiệu công khai và là một phương tiện cứu độ quý báu nhờ đó dân Chúa được thánh hóa. Phép Rửa quả là việc tắm nước thánh thiêng để được tái sinh nhờ Thánh Thần, chúng ta được tắm gội và được Thánh Thần rửa sạch tội lỗi và sự chết, như tắm trong bửu huyết vô tội của Chiên Thiên Chúa. Nơi đâu anh thấy dấu hiệu đó thì hãy biết rằng ở đó bắt buộc phải có Giáo hội hay dân thánh của Đức Kitô…

Thứ ba: người ta nhận ra dân Thiên Chúa hay dân thánh của Đức Kitô nhờ bí tích bàn thánh, nơi đâu bí tích này được ban phát và lãnh nhận trong đức tin. Bởi đó cũng là một dấu hiệu công khai và là một phương tiện cứu độ quý báu Đức Kitô để lại để thánh hoá dân của Người. Với bí tích này dân Chúa tự rèn luyện chính mình và công khai nhìn nhận rằng mình gồm các kitô hữu, như dân Chúa cũng làm như vậy với Lời Chúa và phép Rửa…

Thứ tư: người ta nhận ra dân Chúa hay các kitô hữu thánh thiện của Đức Kitô nhờ các chìa khoá mà họ sử dụng công khai như Đức Kitô đã quy định Mt 18, 18: ai là kitô hữu mà phạm tội thì phải chịu sửa phạt. Mà nếu không cải thiện, thì phải chịu trói buộc và trục xuất. Nếu có cải thiện thì phải được tha bổng. Đó là (quyền) chìa khoá…

Vậy nơi đâu anh thấy tha lỗi phạt tội, công khai hay kín đáo, thì hãy biết là có dân Thiên Chúa ở đó…

  1. Thứ năm: người ta nhận ra Giáo hội từ bên ngoài ở chỗ Giáo hội phong chức hay gọi những thừa tác viên của Giáo hội, hay ở chỗ Giáo hội có những chức vụ mà Giáo hội phải cắt đặt. Bởi người ta phải có giám mục, quản xứ hay giảng viên làm việc ban phát, phân bố và cử hành bốn việc hay bốn phương tiện cứu độ kể trên, vì Giáo hội và nhân danh Giáo hội, hơn thế nữa vì đó là do Đức Kitô thiết lập, như Phaolô nơi Ep 4, 11 khẳng định: “Người đã ban ơn cho người này làm tông đồ, người kia làm ngôn sứ… ” Người đã đặt một vài kẻ làm tông đồ, làm ngôn sứ, làm người rao giảng Phúc Âm, làm thầy dạy, làm người cai quản vv. Bởi đám đông xét như tổng thể không thể làm việc đó, mà phải trao hay để người ta trao nhiệm vụ đó cho một người. Nếu không, sự thể sẽ phải ra sao, nếu bất cứ ai cũng muốn ăn nói hay ban phát các bí tích, không ai chịu nhìn nhượng ai ? Việc đó phải trao cho một người duy nhất, và người ta phải để cho một mình người đó rao giảng, làm phép Rửa, Giải tội và ban phát bí tích Bàn thánh, các kẻ khác thì phải thấy (an bài như vậy) là mỹ mãn và phải đồng ý chấp thuận.
  2. Thứ sáu: từ ngoài nhìn vào, người ta nhận ra dân thánh của Đức Kitô ở chỗ người ta công khai ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa. Đúng vậy, nơi đâu mắt anh thấy, tai anh nghe người ta cầu nguyện và dạy cầu nguyện kinh Lạy Cha chúng tôi, người ta hát Thánh vịnh và các Thánh ca do Thần Khí linh hứng, theo đúng Lời Chúa và đúng đức tin chân chính, nơi đâu người ta công khai ghi khắc kinh tin kính, Mười điều răn và giáo lý, thì hãy biết rằng ở đó có dân thánh của Thiên Chúa, có dân thuộc về Đức Kitô…
  3. Thứ bảy: từ ngoài nhìn vào, người ta nhận ra dân thánh của Đức Kitô nhờ phương tiện cứu độ là Thánh giá : dân đó phải chịu đủ mọi tai ương bách hại, phải chống đỡ tên quỷ, thế giới và xác thịt tấn công và tác hại đủ điều (như lời nguyện trong kinh Lạy Cha), trong thì buồn sầu, chán nản và kinh hãi, ngoài thì nghèo khổ, người đời khinh ghét, bệnh tật và yếu đuối, để được giống như Đầu là Đức Kitô.

Huldreich Zwingli (1484-1531) Giải thích và biện minh cho diễn từ kết luận (14/7/ 1523) (về điều 8)

150. Giáo hội như Dân Chúa và như cộng đoàn địa phương

Năm 1523 thành phố Zurich đã hoàn tất việc Cải cách. Cơ hội trực tiếp là cuộc tranh luận với phía công giáo về 67 luận đề (bản kết luận) do Zwingli trình bầy và được coi như nằm trong chương trình Cải tổ Kitô giáo. Ngay trong năm đó xuất hiện bản văn “Giải thích và biện minh cho diễn từ kết luận” là công trình giáo lý quan trọng và bao quát nhất của Zwingli. Đoạn giải thích điều 8 về Giáo hội nhằm hai mục tiêu: một mặt Giáo hội được hiểu như cộng đoàn vô hình gồm tất cả các kẻ tin, mặt khác như Giáo hội địa phương, Giáo hội-giáo xứ. Đáng chú ý là sau này, khi người ta quan niệm Giáo hội-giáo xứ (độc lập), người ta thường viện dẫn Zwingli.

  1. Tôi phát hiện rằng trong Cựu Ước điều ta gọi là Giáo hội thường được gọi là kahal hay mahal trong tiếng Híp-ri, là ecclesia trong tiếng Hy Lạp, là concio trong tiếng la tinh. Bên Đức thì Kirche hay Kilche (theo lối phát âm Thụy sĩ) có nghĩa là ngôi nhà người ta thường dùng để công bố Lời Chúa cho đoàn thể, làm phép Rửa, cử hành bữa Tiệc chiều vv., mà chữ Kirche tiếng đức không (thật sự) tương ứng với các từ ngữ kể trên; bởi kahal, ecclesia, concio không nhằm chỉ một đền thờ, mà nhăm chỉ một cuộc hội họp, một cộng đoàn hay đoàn thể dân chúng. Vì thế
  2. thỉnh thoảng chữ “dân” trong Kinh Thánh được dùng thay cho chữ “cộng đoàn”.

Trong Kinh Thánh cộng đoàn hay đoàn thể được gọi như thế có hai ý nghĩa hoàn toàn giống nhau :

Trước hết (chữ này) được dùng để nhằm chỉ toàn thể cộng đoàn các kẻ được xây dựng trên nền tảng là Đức Giesu Kitô trong một đức tin duy nhất. Ai ở trong Giáo hội hay cộng đoàn là không thể bị kết án; bởi bất cứ ai tin vào Đức Kitô là được sự sống đời đời (Ga 6).

273. Thứ hai: chữ Giáo hội được dùng để nhằm chỉ các đoàn thể đặc biệt mà ta gọi là xứ đạo hay cộng đoàn giáo xứ. Bình thường đó là những đám người hay những cộng đoàn đủ đông để có thể dễ dàng tụ họp một cách thuận lợi, để cùng nhau lắng nghe và dạy dỗ Lời Chúa; cho đến ngày nay nhiều nơi trong nước ta vẫn gọi đó là giáo xứ (Parochien) theo nguyên ngữ Hy Lạp parecia (paroikia) với nghĩa là ngôi nhà trong xóm hay trong vùng lân cận. Đó là nơi tụ họp cho một khu vực kích cỡ thích hợp với mục đích nói trên. Về cộng đoàn hay Giáo hội có lời của Đức Kitô nơi Mt 19 (16t): “… mọi công việc được giải quyết căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân, nếu nó không chịu nghe, thì hãy đi thưa với Giáo hội” nghĩa là thưa với cộng đoàn chứ không phải là với Giáo hội phổ quát.

Jean Calvin (1509-1559)

Institutio Christianae Religionis (1536-1559)

151. Chỉ một mình Thiên Chúa biết Giáo hội của Người

Hình ảnh về Giáo hội của Calvin có tính chất thiêng liêng rõ ràng: thuộc về Giáo hội là những ai được Thiên Chúa tuyển chọn và kêu gọi, tất cả những ai đã kiên vững trong đức tin và trong tương lai sẽ kiên vững cho đến cùng. Vì thế Giáo hội là một cộng đoàn vô hình và chỉ một mình Thiên Chúa biết ai thuộc về Giáo hội. Nhưng Calvin cũng biết đến Giáo hội hữu hình với hai đặc điểm là Lời Chúa và bí tích. Trong Giáo hội đó cơ chế pháp lý giữ một vai trò quan trọng, vì là điều kiện để cho Lời Chúa được rao giảng, bí tích được ban phát theo đúng tinh thần Đức Kitô, nghĩa là để cộng đoàn phục vụ Thiên Chúa được xứng danh là Giáo hội. Bộ Institutio Christianae Religionis được soạn thảo năm 1536, được xuất bản nhiều lần trước năm 1559, là một trong những công trình quan trọng về Giáo hội học thế kỷ 16.

7. Theo tôi thì những điều đã nói trên đây cũng khá đủ để giúp ta đánh giá Giáo hội hữu hình là Giáo hội chúng ta có thể biết. Chúng ta đã khẳng định rằng Kinh Thánh nói đến Giáo hội theo hai cách. Thỉnh thoảng Kinh Thánh dùng danh từ đó để nhằm chỉ Giáo hội trong bản chất đích thật, nghĩa là một Giáo hội chỉ bao hàm những ai nhận được hồng ân làm con cái Thiên Chúa và được Thánh Thần thánh hoá để trở thành chi thể chân chính của Đức Giêsu Kitô. Những lúc đó Kinh Thánh không những nói đến các thánh đang sống dưới đất này mà cả những người được tuyển chọn từ khi tạo thiên lập địa.

Nhưng Kinh Thánh nhiều khi cũng dùng danh từ Giáo hội để nhằm chỉ vô số những người tuy sống rải rác khắp nơi trên thế giới nhưng cùng nhau tuyên khấn thờ kính Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô; họ có phép Rửa làm chứng cho đức tin của mình, khi tham dự bữa Tiệc thánh họ khẳng định họ có sự hiệp nhất trong giáo lý và đức ái, họ thuận thụ Lời Chúa mà nhiệm vụ rao giảng là điều họ muốn tuân giữ theo lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô. Trong Giáo hội này có nhiều kẻ đạo đức giả trà trộn với người ngay lành, có những kẻ chẳng có gì là Kitô ngoài danh xưng và vẻ bề ngoài: người thì lòng đầy tham vọng, kẻ thì tham lam, kẻ khác chuyên gièm pha vu khống, kẻ khác nữa sống buông tuồng hư hỏng; chúng được tạm thời dung nhận, vì người ta không thể kết tội chúng về mặt pháp lý hoặc vì kỷ luật nhiều lúc được không nghiêm minh đúng mức. Vậy như chúng ta cần phải tin Giáo hội mà chúng ta không trông thấy được và chỉ một mình Thiên Chúa biết, thì chúng ta cũng được lệnh phải coi trọng và gìn giữ mối hiệp thông với Giáo hội hữu hình đó.

8. Vì thế, Chúa đã dùng một số dấu hiệu và biểu tượng mà đánh dấu Giáo hội đó cho chúng ta, vì nhận biết Giáo hội là một việc có lợi cho chúng ta. Đúng là chỉ có Chúa mới có đặc quyền nhận biết những kẻ thuộc về Người, như tôi đã viện dẫn một lời của thánh Phaolô (2 Tm 2, 19). Mà quả vậy, để cho những người táo bạo không dám bén mảng tới chỗ đó, Người đã xếp đặt mọi sự ổn thoả, hàng ngày Người cảnh cáo chúng ta, cho chúng ta hiểu bằng kinh nghiệm các phán quyết bí nhiệm của Người vượt quá biết bao giác quan chúng ta. Một mặt, những kẻ có vẻ như hoàn toàn hư hỏng, những kẻ người ta coi là tuyệt vọng, được đưa về đường ngay nẻo chính; mặt khác, những người có vẻ như vững vàng lại vấp ngã. Vì thế, theo sự tiền định bí mật và dấu kín của Thiên Chúa, có nhiều chiên lành bên ngoài Giáo hội và nhiều sói dữ bên trong, như thánh Augustin khẳng định. Bởi Người biết và đã đánh dấu những kẻ chẳng biết Thiên Chúa Chẳng hiểu chính mình. Còn những ai bề ngoài mang dấu ấn của Người thì chỉ có con mắt của Người mới thấy ai là thánh thiện không giả hình, ai sẽ bền đỗ đến cùng, mà đó mới là điều cốt yếu trong Ơn cứu độ của chúng ta.

Tuy nhiên vì Thiên Chúa thấy là việc chúng ta biết ai là kẻ chúng ta phải coi là con cái Người là một điều có lợi, cho nên về điểm này Người đã thích ứng với khả năng của chúng ta. Vì đây không phải là chỗ cần đến xác tín đức tin, Người đã thay vào đó một phán quyết thuộc đức ái, theo đó chúng ta phải công nhận là thành viên của Giáo hội tất cả những ai cùng với chúng ta tuyên nhận cùng một Thiên Chúa, cùng một Đức Kitô, bằng cách tuyên xưng đức tin, ăn ở gương mẫu trong cuộc sống và tham dự các bí tích.

Thế là theo mức độ chúng ta cần biết thân thể của Giáo hội để gia nhập Giáo hội, Người đã đánh dấu Giáo hội bằng những biểu hiệu qua đó Giáo hội xuất hiện tỏ tường, mắt trông thấy được. Đó là nguyên nhân để chúng ta có Giáo hội hữu hình. Bởi nơi đâu chúng ta thấy Lời Chúa được rao giảng một cách thuần khiết và được người ta đón nghe, các bí tích được ban phát đúng như Đức Kitô đã truyền dạy, ta không được phép nghi ngờ là có Giáo hội hiện diện nơi đó (Ep 2, 20), vì lời Người đã hứa với chúng ta không thể lừa dối: nơi đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Thầy, Thầy sẽ hiện diện giữa họ (Mt 18, 20). Nhưng để hiểu hết nội dung của vấn đề này, ta phải tiến hành từng bước như sau:

Giáo hội phổ quát là quần chúng đông đảo từ muôn dân muôn nước, dù là khác biệt và xa cách đến đâu vẫn chấp thuận chân lý Thiên Chúa và giáo lý xuất phát từ Lời Người và được liên kết trong cùng một tôn giáo. Dưới Giáo hội phổ quát đó là các Giáo hội được phân phối cho từng thành phố làng mạc, sao cho mỗi Giáo hội (địa phương) cũng có danh xưng và thẩm quyền Giáo hội. Những cá nhân mà vì danh thơm tiếng tốt người ta xếp vào các Giáo hội này, mặc dù thật sự họ đứng ngoài Giáo hội, cũng vẫn thuộc về Giáo hội theo một cách nào đó, cho đến khi có phán quyết công khai loại trừ họ ra…

Johannes Gropper (1503-1559) & Martin Bucer (1491-1551)

152. Nỗ lực cuối cùng nhằm thống nhất các Giáo hội Latinh

Nhà giáo luật và thần học gia Johannes Gropper và nhà Cải cách Martin Bucer (quê quán tại Strasbourg) là đồng tác giả một tài liệu độc lập với bản “Confessio Augustana”: tài liệu được soạn thảo tại Worms năm 1540. Bộ sách được gọi là “Sách Regensburg”, một phần lớn dựa vào Cẩm nang do Gropper soạn thảo năm 1538, được coi là cơ sở thương thuyết cho cuộc đối thoại tôn giáo khai mạc tại Regensburg ngày 27/4/1541. Với sự đóng góp của các thần học gia công giáo, cuốn sách Worms trở thành cuốn sách Regensburg. Đề tài đề cập trong đó là khái niệm Giáo hội, huấn quyền của Giáo hội, hàng giáo phẩm, các đặc hiệu của Giáo hội. Sau những thoả thuận bước đầu về bốn chương đầu tiên (về nguyên trạng, tội nguyên tổ, công chính hoá) cuộc đối thoại đã thất bại trong vấn đề huấn quyền, bí tích và thẩm quyền huấn giáo của các công đồng. Chương 6 sách Regensburg bàn về quy chế thành viên Giáo hội: Giáo hội gồm cộng đoàn hữu hình và cộng đoàn vô hình. “Ecclesia invisibilis” bao gồm các người công chính, hết những ai đang cố gắng và những kẻ tội lỗi, lạc đạo và ngoại đạo mà chỉ một mình Thiên Chúa biết họ sẽ trở lại trong tương lai. Giáo hội hữu hình đón tiếp người lành kẻ dữ, thành viên còn sống hay đã qua đời: không thuộc cộng đoàn Giáo hội hữu hình những người bị vạ tuyệt thông, kẻ lạc đạo, ly khai và ngoại đạo.

55. Về Giáo hội, các đặc điểm và thẩm quyền của Giáo hội (Chương 6)

Theo Giáo lý Công giáo chân chính và tông truyền thì Giáo hội là một đoàn thể hay một hội đoàn (coetus; congregatio) quy tụ những con người của mọi nơi chốn, của mọi thời đại, được gọi đến hiệp thông trong lời tuyên xưng một đức tin duy nhất, trong giáo lý và các bí tích. Trong đoàn thể đó, chỉ những ai kết hiệp với nhau, dưới quyền một thủ lãnh duy nhất là Đức Kitô và với sự trợ giúp của Thánh Thần, trong mối thống nhất của đức tin chân chính và sống động, một đức tin có đức ái thôi thúc hoạt động, chỉ những ai được Thần Khí cho hưởng cùng một thông hiệp bí tích, mới làm thành Giáo hội, vốn được Phaolô gọi là Đền thánh, là Nhà của Thiên Chúa, là Thân thể Đức Kitô (1 Cr 6, 19; Ep 2, 21; Ep 4, 12; 1 Tm 3, 15), và được Gioan gọi là Thành thánh Jérusalem từ trời mà xuống, với những viên đá sống động làm vật liệu xây cất (Kh 21, 10). Giáo hội chính là Dân thánh của Thiên Chúa được rửa sạch khỏi mọi điều bất chính, để làm Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện (Tt 2, 14). Giáo hội được Kinh Thánh dùng ngôn ngữ hình ảnh mà mô tả như thửa vườn rào kín, như nguồn suối đóng kín (versiegelte Quelle), như giếng nước đem lại sự sống, như vườn cây hoa trái ngon ngọt tuyệt trần. Đó là Giáo hội của những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn, mắt chúng ta không thấy được, mà chỉ một mình Thiên Chúa biết, như có lời chép trong Kinh Thánh: Chúa biết những kẻ thuộc về Người (2 Tm 2, 19). Nhưng giờ đây Giáo hội đó bao gồm cả những ai không đánh mất niềm tin tưởng và lòng bác ái (Dt 3, 6), mặc dù không phải là ai ai trong những người đó cũng được tham dự đầy đủ như nhau vào cùng một Thần Khí (Rm 12, 4tt. 14, 15; Ep 4, 4 tt). Cũng được tính như thuộc về Giáo hội những kẻ mà, dù không phải là ngay bây giờ, nhưng do tiền định, Thiên Chúa biết là họ sẽ trở lại, mặc dù đối với chúng ta họ vẫn có vẻ ở ngoài, theo lời dạy của thánh Augustin trong cuốn “De baptismo contra Donatistas” quyển 5, chương 27.

Nhưng trong cộng đoàn đó – nếu xét tính cách thành viên bề ngoài – cũng có cả kẻ gian ác là những người dành cho án chết đời đời, chừng nào họ liên kết với các thành viên đang còn sống, nếu không phải là trong Thần Khí thì cũng là một cách cụ thể, nghĩa là nhờ các dấu hiệu bề ngoài của đức tin và các bí tích hữu hình của đời sống đạo đức, như thể cỏ dại (trà trộn) với lúa tốt (Mt 3, 12 và Mt 13, 29t.). Họ giữ vẻ đạo đức bề ngoài, nhưng chối bỏ sức mạnh của tôn giáo (2 Tm 3, 5). Cho đến khi bị phân loại hay bị cắt bỏ khỏi thân thể, họ được Tông đồ (Phaolô) coi như ở trong Giáo hội (1 Cr 5, 13: Hãy trừ khử sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh em, vv.)

56. Chừng nào người ta còn sống ở đời này, có nhiều kẻ gian ác giả hình trà trộn vào đoàn thể cùng tuyên xưng một đức tin duy nhất với cùng những dấu hiệu (bề ngoài) đó. Đoàn thể Giáo hội như thể một ngôi nhà rộng lớn trong đó không chỉ có những đồ vật bằng vàng bằng bạc mà còn có những đồ vật bằng gỗ bằng sành; thứ thì dùng vào việc cao quý, thứ thì dùng vào việc thấp hèn (2 Tm 2, 20). Giáo hội là vô hình xét về thành phần được Thần Khí Thiên Chúa ban sức sống và được dành trước (tiền định) cho đời sống vĩnh cửu; nhưng Giáo hội cũng là hữu hình xét theo đức tin tuyên xưng thành lời, và xét như cộng đoàn lan rộng khắp thế giới, khởi sự từ Jérusalem và từ đó được các Tông đồ phổ biến tới muôn dân (Lc 24, 47; Cv 1, 8; Rm 10, 18).

Mặc dù kẻ gian ác và kẻ tội lỗi không phải là những thành viên sống động của Giáo hội (chân chính) hay của Giáo hội những kẻ được tuyển chọn, Giáo hội vốn được gọi là thánh thiện và là mối hiệp thông giữa các thánh, Đức Kitô vẫn dạy rằng chúng ta không được tìm kiếm Giáo hội các thánh đó ở nơi nào khác ngoài đoàn thể lớn lao vốn được ban sẵn lời tuyên xưng đức tin chân chính, tôn giáo và các bí tích cùng hệ quản trị đúng đắn. Phàm ai sống mãi trong Giáo hội là được chung hưởng mọi phúc lộc của các người công chính đã có từ lúc tạo thiên lập địa mà không bị tội lỗi kẻ khác cản trở, bởi vì hiệp thông bí tích với kẻ gian ác không làm cho ai bị hoen ố, có chăng là khi người ta đồng tình với việc làm của chúng. Nhưng phàm ai tự tách ra khỏi Giáo hội là tự tách khỏi mối hiệp nhất với Đức Kitô và, vì trọng tội đó, không được sự sống đời đời, mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa còn trút mãi xuống kẻ đó.

Để không ai có thể nghi ngờ, Đức Kitô đã ban cho chúng ta những dấu hiệu chắc chắn nhất nhờ đó chúng ta có thể nhận ra ngôi nhà rộng lớn là Giáo hội Thiên Chúa: đó là Giáo lý lành thánh, là việc sử dụng nghiêm chỉnh các bí tích và mối liên hệ hiệp nhất và thuận hoà (Ep 4, 3; Rm 12). Hai dấu hiệu đầu loại khỏi Giáo hội dân ngoại cũng như những kẻ rối đạo (1 Cr 5, 12; 1 Ga 2, 19; 1 Tm 1, 19; 2 Tm 1; 2 Tm 2, 16 tt; 2 Tm 3, 13; Tt 3, 10); dấu hiệu thứ ba loại kẻ ly khai và những ai bị giáo luật phạt vạ tuyệt thông (1 Cr 1, 10; 1 Cr 5, 5; 1 Cr 11, 18tt). Thêm vào đó là dấu hiệu thứ tư: tính công giáo và phổ quát của Giáo hội, nghĩa là Giáo hội trải rộng khắp mọi nơi khắp mọi lúc và lan rộng cho đến tận cùng mặt đất.

73. Về mối liên hệ tình thương, vốn là dấu hiệu thứ ba của Giáo hội

(Chương 18) Dấu hiệu thứ ba nhờ đó có thể nhận ra Giáo hội là mối liên hệ tình thương và hoà thuận (Ep 4, 2t) vốn là điều cao trọng nhất trong mọi hồng ân (1 Cr 13, 13). Hầu cho mối liên hệ đó tồn tại vững vàng trong Giáo hội, ngay từ đầu Thiên Chúa dùng phép Rửa mà gọi chúng ta đến kết hiệp với nhiệm thể (Đức Kitô) và đã cho chúng ta được tràn đầy Thần Khí từ trời phái xuống, Thần Khí mà chúng ta đã lãnh nhận để chúng ta là chi thể của nhau.

Robert Bellarmin (1542-1621)

153. Thể chế quân chủ của Giáo hội

Hồng y Bellarmin là tác giả bộ “Disputationes de controversiis Christianae Fidei adversus hujus temporis haereticos”, một công trình cổ điển trong khoa hộ giáo. Tác phẩm nhằm mục đích bảo vệ giáo lý và thể chế của Giáo hội Công giáo trước các mối trách cứ từ phía Cải cách. Giáo hội xuất hiện như một xã hội có hiến chương hoàn hảo nhất, vì thế thể chế Giáo hội phải là quân chủ, phải được tổ chức theo pháp lý và có tính chất hữu hình, một cộng đoàn gồm những thành viên không bình đẳng như nhau. Quan niệm đượm mầu hộ giáo này đã chi phối sâu đậm Giáo hội học công giáo và mô hình Giáo hội xét như societas perfecta cho đến tận thế kỷ 19 và 20. Giáo hội học thời Hiện đại vẫn còn luẩn quẩn trong vòng tranh luận thần học đó.

479a. Còn lại luận thuyết cuối cùng, với lập luận rằng việc điều khiển Giáo hội chủ yếu phải có tính chất quân chủ. Thứ nhất ta có thể suy diễn từ những điều đã nói trên đây lý lẽ minh chứng cho điều này. Quả là nếu có ba hình mẫu cai trị, chính thể quân chủ, quý tộc và dân chủ, và nếu ta đã chứng minh là việc điều khiển Giáo hội không thể theo nguyên tắc dân chủ hay quý tộc, thì chẳng còn nguyên tắc nào khác cho Giáo hội ngoài nguyên tắc quân chủ. Thứ hai, nếu chính thể quân chủ là mô hình tốt đẹp và ưu việt nhất, như trên đây chúng tôi đã cho thấy, và nếu đúng là Giáo hội của Thiên Chúa do Chúa Kitô, Đấng toàn tri, sáng lập, được cai trị một cách tốt đẹp nhất, thì còn ai có thể phủ nhận là chính thể của Giáo hội phải theo nguyên tắc quân chủ?

Thế mà Calvin vẫn chống lại quan điểm này (Institutio, q. IV, 6, # 9). Ông lập luận: nếu chính thể quân chủ là hình mẫu cai trị tốt đẹp nhất thì ta cũng không thể kết luận rằng Giáo hội phải do một mình ai đó cai trị, bởi lẽ điều chắc chắn là chỉ có Đức Kitô mới là đức vua và vị quân vương của Giáo hội. Nhưng ta có thể bác bỏ dễ dàng lập luận đó: cho dù chỉ có Đức Kitô mới thật sự là đức vua và vị quân vương duy nhất của Giáo hội, mới là Đấng cai trị và dìu dắt Giáo hội một cách thiêng liêng và vô hình, thì Giáo hội, vốn hiện diện như một cơ thể hữu hình, vẫn cần một ai đó làm vị thẩm phán tối cao hữu hình để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong những vấn đề tôn giáo, và để liên kết các đấng bề trên thuộc quyền mình trong thừa tác vụ và trong mối thống nhất.

154. Giáo hội hữu hình như thể Cộng hoà thành phố Venise

Trong định nghĩa của Bellarmin về Giáo hội ông nhấn mạnh chiều kích hữu hình của Giáo hội khi phải tranh luận với phía Cải cách vốn thiên về Giáo hội vô hình. Tính chất hữu hình trong Giáo hội được bảo đảm bằng việc các thành viên quy phục giáo hoàng. Tiêu chuẩn này cho phép phân biệt rõ ràng ai thuộc, ai không thuộc Giáo hội.

317b. Giáo hội thì chỉ có một, chứ không có hai, và Giáo hội duy nhất, Giáo hội đích thật đó là một đoàn thể (coetus) con người liên kết với nhau nhờ tuyên xưng cùng một đức tin Kitô giáo, nhờ được cùng nhau hiệp thông trong các bí tích, dưới sự hướng dẫn của các chủ chăn chính tông, trước hết là vị đại diện duy nhất của Đức Kitô tại trần thế là đức giáo hoàng tại Rôma.

Từ định nghĩa trên đây ta có thể dễ dàng kết luận xem ai thuộc về Giáo hội, 318a. ai không thuộc về Giáo hội. Định nghĩa có ba phần: tuyên xưng đức tin chân chính, hiệp thông trong các bí tích và quy phục chủ chăn chính tông là đức giáo hoàng tại Rôma. Căn cứ vào điểm một thì bị loại ra hết những ai không có đức tin, nghĩa là những kẻ chưa bao giờ ở trong Giáo hội (như người Do Thái, người Thổ Nhĩ Kỳ và dân ngoại) và cả những kẻ đã ở trong Giáo hội và đã rời bỏ Giáo hội (bè rối đạo và những kẻ chối đạo). Căn cứ vào điểm hai thì bị loại ra những người dự tòng (catéchumènes) và những kẻ bị vạ tuyệt thông, vì người dự tòng thì không được quyền thông hiệp trong các bí tích và kẻ bị vạ tuyệt thông thì đã bị truất quyền đó. Căn cứ vào điểm ba thì bị loại những kẻ ly khai: họ có đức tin và các bí tích nhưng không quy phục vị chủ chăn chính tông và vì thế họ ở ngoài (Giáo hội) mà tuyên xưng đức tin và lãnh nhận các bí tích.

Còn những người khác thì thuộc về Giáo hội mặc dù họ xấu xa, tội lỗi và vô đạo. Đây là điểm khác biệt giữa quan niệm của chúng ta và tất cả các quan niệm khác: các quan niệm khác đều đòi hỏi đức hạnh nội tâm làm điều kiện thiết yếu cho việc thuộc về Giáo hội, và do đó biến Giáo hội đích thật thành một Giáo hội vô hình. Còn chúng ta thì một mặt chúng ta tin rằng ta có thể tìm thấy trong Giáo hội hết mọi đức hạnh như đức tin, đức cậy và đức mến, mặt khác chúng ta tin rằng không một đức hạnh nào là thiết yếu để ai đó, bằng bất cứ phương thức nào, được ghi nhận là thành viên của Giáo hội đích thật đúng theo nghĩa của Kinh Thánh, mà cần thiết chỉ là việc ngoài miệng tuyên xưng đức tin và việc hiệp thông trong các bí tích, một điều giác quan có thể nắm bắt tỏ tường. Vì Giáo hội là một đoàn thể con người cũng hữu hình và tỏ tường như cộng đoàn dân chúng tại Rôma hay Vương quốc Pháp hoặc Cộng Hoà thành phố Venise.

John Winthrop (1588-1649)

155. Tuyên ngôn về ý niệm thanh giáo về Liên bang Anh

Lênh đênh giữa đại dương trên soái hạm Arbella, Thủ hiến John Winthrop đã khai triển ý niệm về Liên Bang như sẽ được triệt để áp dụng trong các cộng đoàn thanh giáo (puritain) tại New England (Tân Anh quốc). Từ đó Ý niệm này chi phối lịch sử Giáo hội tại châu Mỹ.

1. Về bản thân chúng ta, chúng ta là một xã hội tuyên nhận mình là những chi thể của Đức Kitô liên kết với nhau. Đó là lý do duy nhất – quả là trước kia chúng ta sống xa cách nhau hàng dặm và công việc của chúng ta cũng rất riêng rẽ – khiến chúng ta phải tự hiểu mình là những kẻ liên kết chặt chẽ với nhau nhờ liên hệ yêu thương đó và phải sống tình thương đó nếu chúng ta muốn lấy sự kết hiệp với Đức Kitô làm nguồn ủi an. Đó là điều người kitô hữu thời trước ai ai cũng biết, theo chứng tá của người Vaudois mà chính miệng một trong các địch thủ của họ thuật lại: Mutuo solent amare pene antequam norint (chưa quen biết mà họ đã yêu thương nhau rồi).

2. Về công trình tay chúng ta đang thực hiện, thì công việc tiến hành theo điều chúng ta thoả thuận với nhau là dưới sự chỉ dẫn đặc biệt của Thiên Chúa quan phòng và với sự chấp thuận ngoại lệ của các Giáo hội, chúng ta tìm ra một vùng đất chúng ta có thể sống chung, có thể chia sẻ ngọt bùi với nhau, và lập tại đó một chính thể thích đáng về mặt dân sự cũng như về mặt Giáo hội. Trong những trường hợp tương tự như trường hợp của chúng ta mối lo cho công việc chung phải gạt ra ngoài mọi quan điểm riêng tư…

3. Mục đích là được sống một đời sống tốt lành hơn bằng cách phục vụ Chúa tốt hơn, nghĩa là sống sao cho thân thể Đức Kitô, mà chúng ta là chi thể, được vui thoả và tăng trưởng: như vậy chúng ta và con cháu chúng ta sẽ mãi mãi được gìn giữ chở che hữu hiệu hơn trước cảnh đồi bại chung của thế giới gian ác này, hầu phục vụ Chúa và đạt được Ơn cứu độ dưới sức mạnh của các giới lệnh thánh thiện trong sáng của Người.

4. Điều mà đa số người ta trong các Giáo hội coi như chỉ là một chân lý phải tuyên xưng mà thôi, thì chúng ta có bổn phận phải diễn dịch ra trong thực hành cá nhân, một thực hành có khả năng biến đổi. Trong bổn phận phải yêu thương nhau đó, chúng ta phải sống tình huynh đệ không chút giả dối, chúng ta phải thành tâm yêu thương nhau một cách nhiệt tình, phải mang gánh nặng cho nhau, không chỉ quan tâm đến quyền lợi của riêng mình mà đến cả quyền lợi của anh em chúng ta. Và ta cũng không được phép nghĩ rằng Chúa sẽ dung thứ lỗi lầm nơi chúng ta như trước kia Người đã xử sự đối với những kẻ chúng ta đã từng chung sống…

Nếu Chúa khứng nhậm lời chúng ta và đưa chúng ta đến nơi chốn an toàn mà chúng ta đang hăm hở tiến tới, thì đó là Người đã phê chuẩn liên minh này và đã đóng dấu ấn trên hiến chế của chúng ta, rồi Người mong đợi chúng ta nghiêm chỉnh chu toàn các điều khoản đã ghi trong đó. Nhưng nếu chúng ta lơ là trong việc tuân thủ các điều khoản đó vốn là những mục tiêu chúng ta đã tự đề ra cho chúng ta, nếu chúng ta lươn lẹo với Thiên Chúa chúng ta, nếu chúng ta thiết tha với thế giới chúng ta đang sống, nếu chúng ta chiều theo các xu hướng xác thịt, nếu chúng ta mưu cầu quyền cao chức trọng cho chúng ta và con cháu chúng ta, thì chắc chắn Người sẽ trút cơn thịnh nộ xuống chúng ta và sẽ đòi dân đã phản bội lời thề như vậy phải bồi thường thoả đáng, và Người sẽ cho chúng ta biết giá phải trả cho việc tiêu hủy giao ước như thế. Con đường duy nhất để tránh nạn đắm tàu đó và cũng để tiên liệu cho con cháu chúng ta là tuân theo lời khuyên cáo của Michée: làm điều chính trực, yêu chuộng lòng nhân ái, và ăn ở khiêm tốn với Thiên Chúa chúng ta. Vì mục đích đó chúng ta, muôn người như một, phải liên minh với nhau trong công trình này; chúng ta phải chấp nhận nhau trong tình huynh đệ; chúng ta phải sẵn lòng lấy phần dư thừa của chúng ta để nâng đỡ kẻ khác trong cơn khốn cùng. Chúng ta phải đóng góp phần mình sao cho mọi người sống với nhau hết sức dịu dàng, tế nhị, kiên nhẫn và quảng đại. Chúng ta phải lấy cái vui của mỗi người làm nỗi vui chung, phải coi hoàn cảnh kẻ khác như là hoàn cảnh của chính mình, phải chia sẻ niềm vui nỗi buồn và cùng nhau đồng lao cộng khổ. Và chúng ta phải luôn luôn có trước mắt hiến chế của chúng ta và mối hiệp thông giữa chúng ta trong công trình, mối hiệp thông giữa chúng ta xét như chi thể của cùng một thân thể. Như vậy chúng ta sẽ giữ mối hiệp nhất tinh thần trong liên minh hoà bình, và Chúa sẽ là Thiên Chúa chúng ta và sẽ vui vẻ ở giữa chúng ta như giữa dân riêng của Người, và Người sẽ ban cho chúng ta ơn lành trên mọi đường nẻo chúng ta đi: như vậy chúng ta sẽ nhận thấy được Đức Khôn Ngoan, sức mạnh, lòng nhân từ và chân lý của Người rõ rệt hơn những điều ta biết trước kia. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng Thiên Chúa Israel ngự giữa chúng ta khiến cho mười người chúng ta có thể chống lại cả ngàn quân thù và Người sẽ biến chúng ta thành lời ngợi ca chúc tụng, khiến cho thế hệ mai sau sẽ phải thốt lên: “Xin Thiên Chúa hành động như Người đã hành động tại Tân Anh quốc”.

File chi tiết: 273.06_GIAO-HOI-HOC-QUA-CAC-TAC-GIA.pdf