GIÁO HỘI HỌC
(QUYỂN 2)
QUA CÁC TÁC GIẢ
PETER NEUNER
dẫn nhập, tuyển chọn và giới thiệu
trong bộ TEXTE ZUR DOGMATIK
Styria Verlag
Graz Wien Köln
VĂN KIỆN CỦA HUẤN QUYỀN GIÁO HỘI
Adrien VI (1522-1523)
105. Chẳng có một ai làm điều thiện dẫu một người cũng không
Latinh: DRTA.JR 3, No. 74 (390-399)
Giáo hoàng Adien VI trong bản hiệu triệu gởi Quốc hội Đức họp tại Nuremberg đã yêu cầu hành động nhanh gọn và thẳng tay trừng trị Luther, nhưng đồng thời giáo hoàng công nhận hàng giáo phẩm cũng có lỗi trong tình hình biến động của Giáo hội.
- Luther và đồng đảng của y kết án các công đồng của các thánh nghị phụ, thiêu huy Giáo luật thánh thiêng và đảo lộn mọi sự theo ý riêng, thậm chí còn khuấy động khắp thế giới, cho nên ta không thể nghi ngờ rằng bọn chúng là kẻ thù của nền an ninh công cộng và là những kẻ khuấy động hết các ngươi yêu chuộng hoà bình, và phải bị tiêu diệt cho đến tận rễ.
Ngoài ra đức cha cũng phải nói rằng chúng tôi thành tâm nhìn nhận rằng lý do khiến Thiên Chúa cho phép Giáo hội của Người bị bách hại như vậy nằm trong tội loi loài người, đặc biệt là của các linh mục và các đấng bề trên trong Giáo hội… Chúng tôi biết là nơi Toà thánh đã diễn ra từ mấy năm nay nhiều lạm dụng ghê gớm trong các việc thiêng liêng và nhiều vi phạm đến các giới răn của Thiên Chúa, đúng ra là mọi sự đã bị đảo điên. Vì vậy không có gì phải ngạc nhiên khi căn bệnh từ đầu lan truyền sang các chi thể, nghĩa là từ giáo hoàng xuống các các người lãnh đạo Giáo hội cấp dưới. Chung ta hết thảy, chúng ta nghĩa là từ hàng giáo phẩm cho đến các linh mục, chúng ta đã đi trệch đường, lang thang mỗi người một ngả (Is 53, 6), đã từ lâu chẳng có một ai làm điều thiện (Tv 14, 3). Vì thế chúng ta hết thảy đều phải tỏ lòng tôn kính Thiên Chúa và tự hạ mình trước Thánh Nhan; mỗi người chúng ta phải nhìn nhận việc mình làm và tự mình xét xử trước khi Thiên Chúa nổi giận, xét xử mình bằng roi vọt (1 Cr 11, 31). Còn về phần chung tôi, đức cha có thể hứa rằng chúng tôi sẽ hết sức cố gắng trước hết là cải tạo giáo triều hầu như là nguồn gốc của mọi tệ đoan, sao cho giáo triều, trước kia là nguyên nhân khiến mọi kẻ thuộc quyền hư hỏng, thì nay cũng áp dụng cho chính mình (chương trình) chữa trị và cải tổ. Càng trông thấy thế giới hết lòng ước muốn một cuộc cải tổ cỡ đó, chúng tôi càng cảm thấy đó là bổn phận của chúng tôi… Chúng tôi đã nhận lấy phẩm vị tối cao, không phải là để thoả lòng tham quyền cố vị hay là để vinh thân phì gia, mà là để vâng phục Thánh ý Thiên Chúa là cải tổ Hôn thê của Người là Giáo hội Công giáo đã biến hình biến dạng, cứu giúp những kẻ bị áp bức, đỡ nâng và biểu dương những người học cao đức rộng lâu nay sống trong bóng tối, không được ai chú ý đến – tóm lại : để làm mọi việc mà một vị giáo hoàng tốt lành, một đấng kế vị nghiêm minh của thánh Phêro phải làm. Dĩ nhiên là không ai được phép ngạc nhiên nếu chúng tôi không loại bỏ được ngay tức khắc hết mọi sai lầm và lạm dụng. Căn bệnh với thời gian đã ăn sâu đến nỗi, muốn chữa trị, người ta chỉ có thể tiến hành một cách hết sức thận trọng, và phải áp dụng không những một mà là nhiều phương tiện khác nhau. Trước hết người ta phải đối đầu với các tệ đoan trầm trọng và nguy hiểm nhất, kẻo vì nhiệt tâm cải cách mọi sự ngay mot lúc mà chúng ta chỉ khiến cho mọi sự đâm ra rối loạn.
Bản tuyên tín Augsbourg
106. Toàn bộ tranh luận chỉ nhằm một vài lạm dụng
Latinh và Đức: BSLK 44-137
Trước Quốc hội họp tại Augsbourg, Melanchthon nhân danh tín đồ theo đức tin mới đã đưa ra một bản tuyên tín mà ý hướng là đề cao những điểm nhất trí với Giáo hội cũ. Tất cả các tuyên ngôn về Giáo hội chúng tôi viện dẫn dưới đây đều nằm trong phần đầu: theo Melanchthon kết luận thì ở đây có sự nhất trí với Giáo hội Rôma. Cho tới giai đoạn phát triển này Giáo hội học chưa được coi như có tính chất tranh luận. Theo Melanchthon thì toàn bộ tranh luận chỉ xoay quanh một vài lạm dụng, “tota dissensio est de paucis quibusdam abusibus”. Diễn tiến cuộc họp Quốc hội tại Augsbourg và việc các tín đồ Giáo hội cũ bác bỏ bản tuyên tín (confutatio) đã khiến cho Melanchthon tin rằng còn có khác biệt về đức tin, cho nên ông đã loại bỏ công thức trên khỏi bản tuyên tín Augsbourg bằng tiếng đức.
(Về thừa tác vụ rao giảng)
- Để chúng ta có được đức tin đó, Thiên Chúa đã lập ra thừa tác vụ rao giảng Phúc Âm và ban phát các bí tích. Người dùng các bí tích làm phương tiện để thông ban Thánh Thần, Đấng gây nên đức tin bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào Thiên Chúa muốn, nơi những kẻ lắng nghe Phúc Âm dạy ta rằng không phải vì công trạng của chúng ta mà là vì công đức của Đức Kitô mà Thiên Chúa công chính hoá những ai tin rằng mình nhờ Đức Kitô mà được Thiên Chúa yêu thương đón nhận. Gl 3 : hầu chúng ta nhờ đức tin mà lãnh nhận Thần Khí Thiên Chúa hứa.
Bọn theo phái tái tẩy và những kẻ khác bị kết án: họ cảm nghĩ rằng Thánh Thần đến với người ta nhờ sự chuẩn bị và những việc làm của người ta, chứ không cần Lời Chúa đến từ bên ngoài.
(VII. Về Giáo hội)
- Cũng có lời dạy rằng muôn đời phải có và phải tồn tại một Giáo hội duy nhất thánh thiện. Giáo hội là tập thể mọi kẻ tin, là nơi Phúc Âm được rao giảng một cách thuần khiết và các bí tích được ban phát một cách nghiêm chỉnh đúng theo Phúc Âm.
Vì điều kiện đủ để các Giáo hội của Đức Kitô thật sự hiệp nhất là mối đồng tình đồng ý về giáo lý Phúc Âm và về việc ban phát các bí tích đúng theo Lời Chúa. Sự hiệp nhất thật sự giữa các Giáo hội không đòi hỏi các truyền thống loài người, hay các nghi thức hoặc nghi lễ do người ta đặt ra, phải giống nhau ở khắp mọi nơi, như có lời của Phaolô nói với cộng đoàn Ephêxô : Chỉ có một niềm tin, một phép Rửa. Chỉ một có Thiên Chúa, Cha của mọi người.
(VIII Giáo hội là gì ?)
Mặc dù Giáo hội của Đức Kitô thật sự là đoàn thể các tín hữu và các thánh, nhưng vì trên đời này lẫn lộn với người đạo đức có nhiều kitô hữu giả hình và bọn đạo đức giả, thậm chí cả những người tội lỗi công khai, cho nên các bí tích vẫn có hiệu lực, mặc dù linh mục ban phát bí tích không phải là người đạo đức, như Đức Kitô đã chỉ cho thấy: “Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dạy vv.”
Vì thế phái Đônatô và những kẻ khác bị kết án : họ nói không được phép sử dụng thừa tác vụ của bọn xấu trong Giáo hội và cảm nghĩ rằng thừa tác vụ của bọn xấu là vô ích và vô hiệu quả.
(Về phẩm trật giáo sĩ)
Về việc điều hành Giáo hội có lời dạy rằng không ai trong Giáo hội được phép giảng dạy hay rao giảng công khai hay ban phát các bí tích nếu không được gọi theo đúng nghi thức.
(XV. Về các nghi lễ trong Giáo hội)
Về các nghi lễ trong Giáo hội có lời dạy rằng phải tuân giữ các nghi thức mà người ta có thể tuân giữ mà không phạm tội, nghĩa là các nghi thức có lợi cho sự hoà thuận và trật tự tốt đẹp trong Giáo hội như một số lễ, đại lễ và tương tự. Tuy nhiên có lời dạy không được làm lương tâm người ta phải áy náy, như thể những điều đó cần thiết cho phần phúc. Về điểm này có lời dạy rằng các truyền thống do loài người lập ra để đền tạ Thiên Chúa, để được công ơn và để đền bù tội lỗi, đi ngược lại Phúc Âm và giáo lý đức tin. Vì thế các lời khấn dòng và các truyền thống khác về ăn uống, về ngày tháng, được lập ra để được công ơn và để đền tội, đều là vô ích và đi ngược lại Phúc Âm.
Biện hộ bản tuyên tín Augsbourg (1530)
107. Giáo hoàng – một Thần minh tại thế?
Latinh và Đức: BSLK 239 t.
Trong bài biện hộ bản tuyên tín Augsbourg, Melanchthon bảo vệ các tuyên ngôn trong bản tuyên tín chống lại bản Confutatio (bài bác nghị). Trong khi các tuyên ngôn về Giáo hội trong bản tuyên tín được trình bầy rất ngắn gọn (xc. CA VII, VIII), giờ đây vì là đối tượng tranh cãi, chúng càng dài thêm ra. Đặc biệt vị trí của giáo hoàng ngày càng trở thành trọng tâm của cuộc tranh luận.
- Nhưng đối phương đã mong muốn có một định nghĩa mới theo tinh thần Rôma về các Giáo hội, theo đó chúng ta phải nói rằng Giáo hội là thể chế quân chủ tối cao, là thực tại cao quý vĩ đại và quyền thế nhất thế giới trong đó giáo hoàng, trong tư cách là đầu các Giáo hội, tuyệt đối nắm toàn quyền trong mọi sự mọi việc, bất kể là cao sang hay hèn hạ, ngoài đời cũng như trong đạo, như mình muốn và mình nghĩ, và quyền hành đó (giáo hoàng sử dụng hay lạm dụng tùy ý) không ai được phép tranh cãi, bàn luận hay phản đối. Trong các Giáo hội đó, giáo hoàng có quyền làm ra những tín điều, lập ra đủ kiểu phụng tự, hoàn toàn theo ý mình mà hủy bỏ, đảo ngược và cắt nghĩa ngược lại với quy luật Thiên Chúa, với chính bộ giáo lệnh (Dekretal) của mình, với quyền uy của hoàng đế,… Vì thế giáo hoàng là một thần minh tại thế, là uy quyền tối cao, là chúa tể duy nhất trên thế giới nắm toàn quyền trên mọi vương quốc, trên mọi nước mọi dân, trên mọi giá trị đạo cũng như đời, nghĩa là nắm hết mọi sự trong tay, nắm cả hai thanh gươm đạo đời. Định nghĩa đó, với các Giáo hội nghiêm chỉnh thì không phù hợp nhưng lại rất phù hợp với bản chất của giáo hoàng Rôma, không chỉ thấy có trong những bộ sách của các nhà giáo luật, mà ngôn sứ Daniel cũng mô tả tên Phản Kitô theo kiểu đó.
Pháp lệnh về quyền tối thượng (3/11/1534)
108. Quốc vương là thủ lãnh tối cao duy nhất của Giáo hội Anh quốc
Anh: G.R. Evans J.R. Wright (éd.), The Anglican Tradition, London-Minneapolis 1991, 136 t.
Pháp lệnh Quốc hội Anh ngày 3/11/1534 dành cho vua Henri VIII danh hiệu “thủ lãnh tối cao duy nhất dưới thế này của Giáo hội Anh quốc, gọi là Ecclesia Anglicana” và qua đó thiết lập Giáo hội Anh giáo. Năm 1559 Nữ hoàng Elisabeth I đổi danh hiệu thành “Thủ hiến tối cao duy nhất” (the only supreme governor). Ai không chịu tuyên thề trung thành đều bị nghiêm trị: nổi tiếng nhất là J. Fisher và thánh More. Cho đến 1793 không ai được làm công chức nếu từ chối tuyên thề. Khoản luật này bị bãi bỏ năm 1867.
Mặc dầu hoàng thượng theo luật định là, và phải là, thủ lãnh tối cao của Giáo hội Anh quốc và mặc dù người đã được hàng giáo sĩ của vương quốc công nhận tính cách đó trong cac đại hội của Giáo hội, nhưng để xác nhận và tăng cường quyền hạn của đức vua, để củng cố đức tin Kitô giáo trong Vương quốc Anh và để loại bỏ và triệt tiêu mọi thứ sai lầm, lạc thuyết và các việc nhục nhã và lạm dụng khác cho đến nay vốn là thông lệ tại nơi đây, nay chúng tôi lấy thẩm quyền của Quốc hội mà quyết định rằng Đức Chúa và đức vua tối cao của chúng ta, các vị thừa tự và kế vị người làm quốc vương. Vương quốc này, phải trị vì, phải được coi và được nhìn nhận như vị thủ lãnh tối cao duy nhất của Giáo hội Anh quốc, gọi là Anglicana Ecclesia. Cùng với vương miện Anh quốc, các ngài phải sở hữu và thụ hưởng tước hiệu cùng mọi vinh dự, phẩm vị, toàn quyền, đặc quyền, đặc miễn và đặc lợi gắn liền với phẩm vị của một thủ lãnh tối cao của Giáo hội đó.
Nghi thức truyền chức trong bộ Common Prayer Book
109. Nghi thức truyền chức trong Giáo hội Anh giáo
Anh và Đức: Corpus Confessionum, Die Bekenntnisse der Christenheit, hg. v. D. Cajus Fabricius, Bd. 17, 1: Die Kirche von England, Berlin-Leipzig 1937.
Bộ “Ordinal” xuất hiện năm 1550 được đưa vào bộ Common Prayer Book công bố năm 1552 và được coi là một bộ phận trong các bản tuyên tín chính thức của Giáo hội Anh giáo. Chức phẩm theo hệ kế thừa của Giáo hội Luther là một trong những yếu tố căn bản của Anh giáo. Năm 1970 Tổng hội nghị Giáo hội Anh quốc đã chính thức tuyên bố rằng nghi thức Ordinal và thần học về chức thánh hàm chứa trong đó không đi ngược với Lời Chúa.
Hình mẫu và nghi thức phong ban, tấn phong và thánh hiến giám mục, linh mục và phó tế theo phẩm trật của Giáo hội Anh quốc.
Lời mở đầu Ai đọc kỹ Kinh Thánh và các Giáo phụ đều biết rõ rằng từ thời các Tông đồ đã có trong Giáo hội của Đức Kitô những phẩm trật sau đây trong hàng giáo sĩ : giám mục, linh mục và phó tế. Từ trước đến nay các chức vụ đó luôn được người ta coi trọng đến nỗi không ai được phép cả gan đòi giữ một trong những chức vụ trên, mà trước đó không được gọi, được xem xét, được thử thách và được công nhận như một người có các đức tính cần thiết cho nhiệm vụ; đồng thời người đó cũng phải được giáo quyền hợp pháp xác nhận và phong chức một cách công khai trong một buổi cầu nguyện với nghi thức đặt tay. Và để cho các phẩm trật đó có thể tiếp tục tồn tại lâu dài trong Giáo hội Anh quốc, được sử dụng một cách kính cẩn và được coi trọng, không ai được coi hoặc được công nhận là giám mục, liên mục, hay phó tế hợp pháp trong Giáo hội Anh quốc, hoặc Nghi thức truyền chức trong bộ Common Prayer Book 109. Nghi thức truyền chức trong Giáo hội Anh giáo Anh và Đức: Corpus Confessionum, Die Bekenntnisse der Christenheit, hg. v. D. Cajus Fabricius, Bd. 17, 1: Die Kirche von England, Berlin-Leipzig 1937.
Bộ “Ordinal” xuất hiện năm 1550 được đưa vào bộ Common Prayer Book công bố năm 1552 và được coi là một bộ phận trong các bản tuyên tín chính thức của Giáo hội Anh giáo. Chức phẩm theo hệ kế thừa của Giáo hội Luther là một trong những yếu tố căn bản của Anh giáo. Năm 1970 Tổng hội nghị Giáo hội Anh quốc đã chính thức tuyên bố rằng nghi thức Ordinal và thần học về chức thánh hàm chứa trong đó không đi ngược với Lời Chúa.
Hình mẫu và nghi thức phong ban, tấn phong và thánh hiến giám mục, linh mục và phó tế theo phẩm trật của Giáo hội Anh quốc.
Lời mở đầu Ai đọc kỹ Kinh Thánh và các Giáo phụ đều biết rõ rằng từ thời các Tông đồ đã có trong Giáo hội của Đức Kitô những phẩm trật sau đây trong hàng giáo sĩ : giám mục, linh mục và phó tế. Từ trước đến nay các chức vụ đó luôn được người ta coi trọng đến nỗi không ai được phép cả gan đòi giữ một trong những chức vụ trên, mà trước đó không được gọi, được xem xét, được thử thách và được công nhận như một người có các đức tính cần thiết cho nhiệm vụ; đồng thời người đó cũng phải được giáo quyền hợp pháp xác nhận và phong chức một cách công khai trong một buổi cầu nguyện với nghi thức đặt tay. Và để cho các phẩm trật đó có thể tiếp tục tồn tại lâu dài trong Giáo hội Anh quốc, được sử dụng một cách kính cẩn và được coi trọng, không ai được coi hoặc được công nhận là giám mục, linh mục, hay phó tế hợp pháp trong Giáo hội Anh quốc, hoặc được năng quyền giữ một trong những chức vụ nói trên, nếu trước đó không được gọi, được xem xét, được thử thách và được phong chức đúng theo nghi thức ghi chép dưới đây, hoặc trước đó đã được thánh hiến hay thụ phong giám mục.
Còn giám mục thì nếu vì quen biết riêng tư hay do những chứng tá đầy đủ mà biết một ai đó là một người ăn ở đạo đức tinh tuyền, và nếu, sau khi tra xét cặn kẽ, giám mục phát hiện rằng người đó thông thạo tiếng Latinh và có trình độ khá đủ về Kinh Thánh, thì vào những lúc do giáo luật ấn định, hay trong trường hợp khẩn trương vào một ngày Chúa nhật hoặc một đại lễ khác, giám mục, trước mặt cộng đoàn, có thể nhận người đó vào chức phó tế, đúng theo hình mẫu và nghi thức ghi chép dưới đây.¹
Bản dự thảo tổ chức Giáo hội (Genève, 1561)
110. Cộng đoàn Kitô giáo cải cách
Pháp: Documents illustrative of the Continental Reformation, edited by Rev. B. J. Kidd, D.D. At the Clarendon Press, Oxford, 1910, t. 590-596.
Bản Dự thảo tổ chức Giáo hội (Genève 1561) dựa vào bản Ordonnances năm 1541 do Calvin soạn thảo và được Hội đồng Thành phố Genève phê chuẩn. Bản Ordonnances năm 1541 được bổ túc nhiều điểm trước khi trở thành Bản Ordonnances năm 1561 mà đặc điểm là nhấn mạnh ý niệm cộng đoàn Giáo hội. Bản năm 1561 ảnh hưởng sâu đậm các Giáo hội Cải cách tại Âu Châu và Mỹ Châu. Ta có thể coi Bản dự thảo này có tầm ảnh hưởng lớn hơn cuốn Institutio của Calvin.
- Có bốn phẩm trật thừa tác vụ mà Chúa chúng ta đã thiết lập để cai quan Giáo hội của Người.
Thứ nhất, các mục sư, rồi đến các thầy dạy (về Kinh Thánh), sau đó là các kỳ lão, thứ tư là các phó tế.
- Vì thế nếu chúng ta muốn bảo toàn Giáo hội nguyên lành trong trật tự mỹ mãn, chúng ta phải tuân thủ hình thức cai trị dưới đây :
(Các mục sư) 4. Về các mục sư mà Kinh Thánh thỉnh thoảng cũng gọi là giám quản, kỳ lão và thừa tác viên (ministres), nhiệm vụ của họ là công bố Lời Chúa để huấn giáo, cảnh báo, khuyên răn và khiển trách công khai cũng như riêng từng người, là ban phát các bí tích và cùng với các kỳ lão (và các thành viên hội đồng) thi hành việc sửa sai theo tinh thần huynh đệ.
- Thế nhưng, để cho cảnh lộn xộn không xẩy ra trong Giáo hội, không ai được phép len lỏi vào chức vụ đó mà không được gọi; về điểm này phải xét đến ba điều là việc tra xét – mà đây là điều cốt yếu; sau đó là (xem) ai được quyền phong chức cho các thừa tác viên; thứ ba, lễ nhậm chức nên giữ nghi thức nào.
- Về việc này, theo nhận xét của chúng tôi thì tốt nhất là nên theo quy cách của Giáo hội cổ xưa, bởi lẽ Giáo hội cổ xưa đã đem những điều Kinh Thánh dạy ra mà thực hành, nghĩa là các thừa tác viên thoạt tiên bầu chọn một kẻ mà người ta có ý định gọi vào chức vụ, sau khi đã thông báo cho Hội đồng biết. Nếu người ta thấy kẻ đó là xứng đáng, thì Hội đồng phải đón tiếp và xác nhận. Đồng thời người ta phải cấp cho kẻ đó một chứng chỉ và cuối cùng phải giới thiệu kẻ đó với dân chúng trong một buổi rao giảng Lời Chúa, để kẻ đó được cộng đoàn các tín hữu nhất tề chấp nhận.
- Để ngăn cản mọi nếp sống gây gương mù gương xấu, phải có một một hình thức sửa trị đối với các thừa tác viên, mà bất kỳ ai cũng phải tuân phục; đó cũng sẽ là phương tiện để thừa tác vụ vẫn tiếp tục được người ta kính trọng và để tránh cho Lời Chúa khỏi bị ô nhục hay khinh thường vì tai tiếng các thừa tác viên. Bởi như người ta sẽ sửa trị ai đã vi phạm, thì người ta cũng phải chế ngự các lời vu cáo và tố gian những kẻ vô tội.
- Để duy trì việc sửa trị đó, cứ ba tháng một lần các thừa tác viên phải kỹ lưỡng xét xem có điều gì đáng khiển trách nhau, và sửa sai thế nào cho phải.
(Về các thầy dạy) 43. Nhiệm vụ đặc biệt của các thầy dạy là dạy dỗ cho các tín hữu biết giáo lý lành thánh, hầu cho Phúc Âm thuần khiết không bị bóp méo bởi người ta thiếu hiểu biết hay chạy theo các ý kiến sai lầm. Thế nhưng, cứ như sự việc diễn ra ngày nay, chúng tôi dùng danh hiệu này để nhằm chỉ bất cứ sự trợ giúp hay sự huấn luyện nào nhằm bảo toàn giáo lý lành thánh của Thiên Chúa và tránh cho Giáo hội khỏi cảnh hoang tàn vì thiếu mục sư và thừa tác viên. Vì thế, để dùng một từ dễ hiểu hơn, chúng tôi gọi cấp bậc đó là các thầy dậy.
- Cấp bậc gần gũi nhất với chức thừa tác viên và gắn liền chặt chẽ nhất với việc cai quản Giáo hội là chức giảng viên thần học. Ta nên có giảng viên về Cựu Ước lẫn Tân Ước.
(Kỳ lão) Nhiệm vụ của họ là canh chừng nếp sống của từng người, là lấy tình thương mà khuyên răn những kẻ họ thấy đang sa ngã hay sống lộn xộn, và khi cần thiết, họ phải báo cáo với đoàn thể được ủy nhiệm thi hành việc sửa sai theo tinh thần huynh đệ, và họ phải làm việc đó cùng với những kẻ khác.
(Các phó tế) 56. Trong Giáo hội cổ xưa vẫn luôn luôn có hai hạng phó tế : nhiệm vụ của một hạng phó tế là tiếp nhận, phân phối và quản lý tài sản dành cho người nghèo, gồm tiền người ta bố thí hàng ngày, đất đai nhà cửa, huê lợi và bổng lộc; nhiệm vụ của hạng phó tế kia là săn sóc băng bó các bệnh nhân và phát chẩn cho người nghèo. Tập quán này ngày nay chúng ta vẫn còn giữ…
Công đồng Tridentinô (1545-1563) Huấn thị và các khoản luật về bí tích truyền chức (khóa hội 23, ngày 15/7/1563) 111. Về bí tích truyền chức Latinh: Dz 961-965.
Công đồng Tridentinô đã ấn định mục tiêu là trình bầy giáo lý về Giáo hội để đáp lại các nan vấn do phía Cải cách nêu lên. Nhưng công đồng nhận ra là khó mà hoàn thành mục tiêu này vì còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Cuối cùng công đồng phải bỏ ý định nguyên thủy mà chỉ xác định một vài điểm liên quan đến chức vụ linh mục mà công đồng cho là bị phía Cải cách đặt thành vấn đề. Các thế hệ tiếp nhận công đồng Tridentinô coi các bản xác định đó như là quan niệm công giáo tổng quát về chức phẩm (và về Giáo hội), mà việc này nhiều khi dẫn đến hậu quả là cô lập và đề cao quá mức chức vụ linh mục. Hiện tượng này xuất hiện ngay trong bộ Catechismus Romanus được công bố tiếp theo công đồng Tridentinô: về các linh mục, bộ Catechismus Romanus (Giáo lý Rôma) phát biểu như sau: “Chức vụ của các ngài cao trọng đến độ người ta không thể nghĩ đến một chức nào cao trọng hơn, vì thế gọi các ngài không những là thiên thần mà còn là các thần minh (Goetter) cũng đúng thôi, vì đối với chúng ta các ngài đại diện cho sức mạnh và sự cao siêu của Thiên Chúa bất tử” (II, 7, 2)
- Ai nói rằng trong Giao ước Mới không có chức tư tế hữu hình có nguồn gốc từ bên ngoài (sacerdotium visibile et externum), hoặc không có bất cứ năng quyền nào thánh hiến và dâng tiến Mình và Máu thật của Chúa, tha thứ và cầm giữ tội lỗi, mà chỉ có chức năng và thừa tác vụ đơn thuần rao giảng Phúc Âm; hay (ai nói rằng) những kẻ không rao giảng tuyệt đối không phải là linh mục: người đó phải bị trục xuất.
- Ai nói rằng chức thánh hoặc lễ phong chức thánh không phải là một bí tích theo đúng nghĩa đặc biệt do Đức Kitô thiết lập, mà chỉ là một điều do người ta tưởng tượng, do những con người không hiểu biết gì về các việc Giáo hội nghĩ ra, hay đó chỉ là một nghi thức tuyển chọn thừa tác viên (phục vụ) Lời Chúa và (ban phát) các bí tích: người đó phải bị trục xuất.
- Ai nói rằng Thánh Thần không được thông ban nhờ lễ phong chức thánh, và vì thế giám mục có nói : ” Hãy nhận lấy Thánh Thần ” cũng là vô ích; hay (ai nói rằng) lễ phong chức thánh không đóng một ấn tích nào, hoặc người nào đã có lục là linh mục vẫn có thể trở về hàng giáo dân : người đó phải bị trục xuất.
- Ai nói rằng trong Giáo hội Công giáo không có hàng giáo phẩm được thiết lập do sự an bài của Thiên Chúa, gồm các giám mục, các linh mục và các thừa tác viên : người đó phải bị trục xuất.
Công đồng Tridentinô (1545-1563) Các Sắc lệnh cải tổ (khoá họp 23, 15/7/1563)
112. Thưa tác vụ linh mục cốt ở điểm nào?
Latinh và Đức: Des heiligen oekumenischen Concils von Trient Canonen und Decrete, hg. v. F.S. Petz, 2. Aufl. Passau 1888. Latinh và Pháp: Les Conciles Oecuméniques, Les Décrets, De Trente à Vatican II, Le Cerf, Paris 1994, t. 1522-1523.
Công đồng Tridentinô đã ban hành nhiều sắc lệnh cải tổ, đặc biệt liên quan đến việc tổ chức lại thực hành mục vụ, quy định nếp sống của linh mục và giám mục từ những điều kiện mục vụ. Các sắc lệnh này bao hàm một hình ảnh về thừa tác vụ linh mục cởi mở hơn các văn bản tín lý. Đặc biệt linh mục không còn bị trình bầy giới hạn như con người của các bí tích nữa.
Những người đã sống đạo đức và trung thành trong các thừa tác vụ đã trao phó trước sẽ được nhận vào phẩm trật linh mục; họ phải được chứng nhận là người tốt lành; không những họ phải là những người đã phục vụ trong chức phó tế ít nhất là một năm – trừ phi giám mục thấy nên làm cách khác vì lợi ích và nhu cầu của Giáo hội – mà họ còn phải chứng tỏ, sau khi đã được khảo sát nghiêm chỉnh, là mình đủ khả năng dạy dỗ cho dân những điều mọi người cần biết để được cứu độ, và ban phát các bí tích; họ phải tỏ ra xuất sắc trong nếp sống đạo đức và cách ăn ở khiết tịnh sao cho người ta có thể mong đợi họ làm gương sáng cho người ta làm việc thiện và khuyên bảo người ta sống tốt lành. Giám mục sẽ lo sao cho họ phải cử hành thánh lễ ít nhất những ngày Chúa nhật và Đại lễ, và những lúc nào cần để cho họ chu toàn thoả đáng nhiệm vụ, nếu họ có trách nhiệm chăm sóc các linh hồn.
Công đồng Tridentinô (1545-1563) Các Sắc lệnh cải tổ (khoá họp 24, 11/11/1563)
113. Rao giảng là nhiệm vụ đầu tiên của giám mục
Latinh và Pháp: Les Conciles Oecuméniques, Les Décrets, De Trente à Vatican II, Le Cerf, Paris 1994, t. 1550-1551.
IV. Lúc nào, ai chu toàn nhiệm vụ rao giảng. Phải đến Giáo sứ để nghe giảng về Lời Chúa. Không ai được rao giảng bất chấp lệnh cấm của giám mục.
Nguyện vọng của Công đồng là thấy nhiệm vụ rao giảng, vốn là nhiệm vụ chính của các giám mục, được chu toàn một cách thường xuyên nhất vì Ơn cứu độ các tín hữu, cho nên Công đồng thích nghi với thông lệ hiện thời các khoản luật ban bố về việc này dưới thời Đức Phaolô III, đời đời thương nhớ; Công đồng truyền cho các giám mục phải cắt nghĩa Kinh Thánh và Luật của Thiên Chúa, hoặc là đích thân giám mục làm việc đó trong nhà thờ của mình, hoặc là, nếu có cản trở chính đáng, nhờ những vị các ngài đã cắt đặt giữ việc rao giảng. Trong các nhà thờ khác, việc này phải do các linh mục chính xứ đảm nhận, hoặc là, nếu có cản trở chính đáng, do các vị khác mà giám mục sẽ chỉ định, chi phí thuộc phần những ai có bổn phận hay có thông lệ thanh toán; và cứ như vậy trong thành phố và bất cứ khu vực nào trong địa phận các ngài thấy là nên, ít nhất mỗi ngày Chủ nhật và các Đại lễ, rồi trong Mùa Chay và Mùa Vọng mỗi ngày hay ít nhất ba ngày một tuần nếu thấy là phải làm như vậy, còn những mùa khác thì bất cứ lúc nào các ngài xét là thuận lợi. Giám mục phải chuyên cần nhắc nhở dân là mỗi người buộc phải đến giáo xứ, là nơi thuận tiện cho việc rao giảng, để lắng nghe Lời Chúa.
Bản tuyên tín của công đồng Tridentinô
114. Tuyên tín về đức giáo hoàng Dz 999-1000.
Năm 1877, Bản Professio fidei của công đồng Tridentinô được bổ túc vài đoạn về công đồng Vatican I. Những đoạn đó được trình bầy ở đây trong dấu [ ]. Bản Tuyên tín của công đồng Tridentinô dưới hình thức bổ túc đó được dùng cho đến sau công đồng Vatican II, làm công thức tuyên thệ trước khi thụ phong hay nhậm chức
- Tôi công nhận Giáo Hội thánh thiện, công giáo và tông truyền tại Rôma là Mẹ và là Thầy dạy tất cả các Giáo hội và tôi khấn hứa và tuyên thể thành thật vâng phục Đức Giám mục Rôma, đấng kế vị thánh Phêrô và đại diện Đức Giêsu Kitô. Tôi cũng không có một chút hoài nghi mà đón nhận và tuyên nhận tất cả các điều khác do các khoản luật thiêng thánh và các đại công đồng, nhất là Công đồng cực thánh Tridentinô [và Công đồng Vaticanô , truyền lại, định nghĩa và công bố [chủ yếu về quyền tối thượng của giám mục Rôma và huấn quyền bất khả ngộ của Giám mục Rôma]; đồng thời tôi cũng lên án, vứt bỏ và kết án trục xuất hết những gì đi ngược lại những điều trên, cùng bất cứ lạc thuyết nào bị Giáo hội lên án, vứt bỏ và kết án trục xuất.
Catechismus Romanus (1566) Giáo lý sau khi công đồng Tridentinô bế mạc
115. Tôi tin một Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo
Latinh: Catechismus ex decreto Concilii Tridentini ad parochos Pii V jussu ed., Rome 1855. Pháp: Catéchisme du Concile de Trente, In lại do les éditions Dominique Martin Morin, số 136 (septembre- octobre 1969) la revue Itinéraires, t. 94; 99-100; 106.
Theo ý định của công đồng bộ Catechismus Romanus nhằm mục đích trình bầy, đặc biệt là cho các cha sở, các quyết định của công đồng. Carôlô Bôrômê, tổng giám mục Milan có công lớn trong việc soạn thảo bộ giáo lý này. Nhưng thật ra bộ Catechismus Romanus đã không gây ảnh hưởng sâu đậm như người ta mong đợi. Nhiều bộ giáo lý khác có lẽ thành công hơn.
Tôi tin Giáo hội Công giáo, thánh thiện, tôi tin các thánh thông công.
- Muốn hiểu ngay các chủ chăn phải quan tâm biết bao đến việc giảng giải đúng đắn cho các tín hữu điều 9 của bản tuyên tín, chỉ cần cân nhắc hai điều sau đây là đủ. Điều thứ nhất là, theo nhận xét của thánh Augustin, các ngôn sứ đã nói đến Giáo hội một cách rõ ràng và dài dòng hơn là về Đức Kitô, khi các ngài thấy trước rằng về Giáo hội sẽ có sai lam, cố ý hay vô tình, nhiều hơn là về Mầu nhiệm Nhập thể gấp bội… Điều thứ hai là khi người ta đã chắc chắn nắm vững được chân lý về Giáo hội, thì người ta sẽ dễ dàng thoát khỏi nguy cơ khủng khiếp là lạc đạo. Bởi không phải bất cứ ai, khi sai lạc trong đức tin, đều là rối đạo; mà phải gọi như vậy kẻ nào bất chấp thẩm quyền của Giáo hội cứ ngoan cố bảo vệ những ý kiến xấu xa. Vậy nếu chừng nào người kitô hữu tiếp tục tin những gì phải tin hàm chứa trong điều 9 này, thì không thể nào người đó mắc bệnh dịch khủng khiếp là lạc đạo; do đó các chủ chăn phải hết lòng hết sức dạy dỗ các tín hữu về mầu nhiệm này, gìn giữ họ trước những mưu ma chước quỷ của Địch và giúp họ bền đỗ trong đức tin.
- Các đặc điểm của Giáo hội chân thật. Tính duy nhất. Giờ đây ta phải cho các tín hữu biết các đặc tính và đặc điểm của Giáo hội. Không có gì có thể giúp họ cảm nhận sâu xa hơn hồng ân lớn lao Thiên Chúa đã dành cho họ khi cho họ ra đời và sinh trưởng trong Giáo hội. Đặc điểm đầu tiên bản tuyên tín Nicée dành cho Giáo hội là tính duy nhất. “Bồ câu của Ta” là duy nhất, đó là lời của vị Hôn phu trong Diễm ca, “Chỉ một mình Nàng là đẹp”. Thế nhưng khi ta nói rằng đám người đông như vậy, tản mác khắp nơi như vậy, là duy nhất, là một, thì đó là tại vì, theo lời vị Tông đồ viết cho tín hữu Ephèse, chỉ có mot Đức Chúa, một đức tin, một phép Rửa. Quả vậy, Giáo hội chỉ có một Đầu duy nhất, một Đấng duy nhất lãnh đạo vô hình là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng mà Chúa Cha vĩnh cửu lập làm Đầu của toàn thể Giáo hội là thân thể Người; và người kế vị hợp pháp thánh Phêrô trên toà Rôma là Đầu hữu hình duy nhất của Giáo hội.
- Chân lý về Giáo hội là một tín điều Cuối cùng các chủ chăn phải quan tâm dạy cho các tín hữu hiểu tại sao niềm tin của chúng ta về Giáo hội thuộc vào các điều phải tin. Lý trí và giác quan cũng đủ để thấy rõ là dưới thế này có một Giáo hội, nghĩa là một xã hội gồm những người tận tụy và tận hiến cho Đức Giêsu Kitô. Để tin chắc về điểm này, có vẻ như đức tin là không cần thiết. Người Do Thái và người Thổ Nhĩ Kỳ cũng biết là có Giáo hội. Nhưng đối với các mầu nhiệm mà Giáo hội hàm chứa – các mầu nhiệm chúng ta vừa bàn đến va các mầu nhiệm sẽ bàn trong bí tích chức thánh – tâm trí con người cần được đức tin soi sáng để hiểu được chúng, chứ một mình lý trí chẳng làm gì được. Như vậy, tín điều này về Giáo hội cũng vượt quá không kém trí lực và trí năng tự nhiên của chúng ta. Vậy là chúng ta có lý mà nói rằng không phải là trí thông minh mà là ánh sáng đức tin giúp ta nhận biết nguồn gốc, các hồng ân và phẩm giá của Giáo hội.
Ba mươi chín Điều (1571)
116. Bản Tuyên tín của cộng đoàn Giáo hội
Anh giáo Latinh, Anh và Đức: Corpus Confessionum, Die Bekenntnisse der Christenheit, hg. v. D. Cajus Fabricius, Bd. 17, 1, Berlin-Leipzig 1937.
Bản Ba mươi chín điều là bản văn căn bản tuyên xưng đức tin của Giáo hội Anh giáo. Năm 1553 Cranmer đã trình bầy đức tin của Giáo hội Anh giáo trong 42 điều nhằm chống lại Giáo hội Công giáo Rôma, đồng thời cũng chống phái Tái tẩy và giáo thuyết Tiền định của Calvin. Các điều trong bản tuyên tín này lấy bản tuyên tín Augsbourg (1530) làm điểm tựa. Dưới thời Elisabeth I bản văn được soạn thảo lại và năm 1571 có hiệu lực pháp luật. Ngày nay có nhiều lối minh giải khác nhau về tính bó buộc pháp lý của bản văn này.
XIX. Về Giáo hội Giáo hội hữu hình của Đức Kitô là một đoàn thể các tín hữu trong đó Lời Chúa được truyền dạy một cách thuần khiết và các bí tích, trong mọi việc nhất thiết liên quan, được phân phát đúng theo lệnh truyền của Đức Kitô. Các Giáo hội Jérusalem, Alexandria và Antiochia đã sai lầm thế nào thì Giáo hội Rôma cũng sai lầm như vậy, nghĩa là sai lầm không những trong hành động và các nghi thức lễ nghi mà cả trong lãnh vực đức tin.
XX. Về quyền năng của Giáo hội Giáo hội có quyền ấn định các nghi thức và có thẩm quyền trong những điểm tranh chấp về đức tin. Nhưng Giáo hội không được phép ban bố điều gì đi ngược lại Lời Chúa đã thành văn, và cũng không được quyền cắt nghĩa một đoạn Kinh Thánh thế nào mà đoạn đó đi ngược lại với một đoạn khác. Do đó, mặc dầu Giáo hội là chứng nhân và là người bảo vệ các Sách thánh, Giáo hội vẫn không có quyền quyết định điều gì ngược lại với các Sách thánh, cũng không có quyền bất chấp các Sách đó mà áp đạt một điều gì như một tín điều cần thiết cho Ơn cứu độ.
XXI. Về thẩm quyền các đại công đồng Đại Công đồng không thể nhóm họp mà không có lệnh hay theo ý của các quốc trưởng. Và một khi đã nhóm họp, Đại Công đồng vẫn có thể sai lầm, vì gồm những người mà không phải ai ai cũng được Thần Khí và Lời Chúa hướng dẫn, và đa có lần Đại Công đồng đã sai lầm, ngay cả trong những điều liên quan đến Thiên Chúa. Vì thế những điều được quyết định là cần thiết cho Ơn cứu độ chẳng có hiệu lực và giá trị nào nếu người ta không thể chỉ cho thấy là chúng phát xuất từ Kinh Thánh.
XXIII. Về việc gọi lên lãnh nhận thừa tác vụ trong cộng đoàn Không ai có quyền tự dành cho chính mình chức vụ rao giảng công khai trong cộng đoàn hay phân phát các bí tích nếu trước đó không được gọi và được sai phái giữ các phận sự đó một cách hợp lệ. Chúng ta phải coi là được gọi và được sai phái một cách hợp lệ những kẻ đã được tuyển thêm và được chấp nhận bởi những người trong cộng đoàn đã được trao quyền gọi các thừa tác viên và sai phái họ đến vườn nho của Chúa.
XXIV. Trong cộng đoàn người ta phải dùng một ngôn ngữ phổ thông trong dân chúng. Việc dùng một ngôn ngữ dân không hiểu để cử hành những lễ cầu nguyện công cộng trong Giáo hội hay để phân phát các bí tích rõ ràng là ngược lại với Lời Chúa và tập quán của Giáo hội cổ kính nhất.
XXXIV. Về các truyền thống Giáo hội Các truyền thống và các lễ nghi không phải bất cứ hoàn cảnh nào cũng bắt buộc phải đồng nhất hay thậm chí phải hoàn toàn đồng đều. Bởi những điều đó lúc nào cũng đã đa tạp đa dạng và có thể đổi thay tùy theo các địa phương, thời đại và phong tục khác nhau, miễn là không được ban bố điều gì ngược lại Lời Chúa.
Quốc vương Frédéric Guillaume III (trị vì 1797-1840) (Agende und Union)
117. Thành lập Liên Hiệp [các Giáo hội]
Phổ W. Elliger, Die Evangelische Kirche der Union, 1967, 203 t.
Dưới ảnh hưởng của Schleiermacher là người thâm tín rằng về mặt tín lý không có vách tường nào ngăn cách hai cộng đoàn Giáo hội, Quốc vương Phổ Frédéric Guillaume III đã thực hiện việc thống nhất Giáo hội Luther và Giáo hội Calvin. Trước sự phản đối của nhiều giới muốn giữ nguyên niềm tin của Giáo hội mình là thành viên, chính phủ Phổ đưa ra một lời minh giải chính thức về việc thống nhất đó, nhằm phá tan mọi bối rối lương tâm.
- Tuy nhiên để giúp cho những ai vì lương tâm xao xuyến mà đâm ra lo ngại, có thể đánh giá chính xác sự việc đang bàn cãi, chúng ta nên công bố toàn bộ các nguyên lý chính yếu mà ta đã trong nhiều dịp truyền lệnh cho khanh¹ phải theo đó mà hướng dẫn việc ban hành bộ Agende² và xúc tiến việc Thống nhất (các Giáo hội). Liên hiệp (các Giáo hội) không nhằm mục đích và không có nghĩa là phải bỏ bản tuyên tín thịnh hành cho đến nay, và thẩm quyền vốn gắn liền với các bản tuyên tín của hai tôn phái Tin lành cũng không vì có Liên hiệp mà bị phế bỏ. Việc gia nhập Hiệp hội chỉ nói lên tinh thần tiết chế ôn hoà nhờ đó tín lý của Tôn phái bạn dù có khác biệt trong một vài chi tiết cũng không trở thành lý do để từ chối không chịu tỏ niềm hiệp thông Giáo hội với Tôn phái đó. Gia nhập Liên hiệp là một chuyện thuộc quyền tự do quyết định, do đó sai lầm là ý kiến
1 Von Altenstein, bộ trưởng bộ Tôn giáo, Giáo dục và Y tế 2 Sách phụng vụ chính thức do nhà nước phê chuẩn và ban hành.
cho rằng việc gia nhập Liên hiệp nhất thiết gắn liền với việc ban hành bộ Agende đổi mới, hay là hậu quả gián tiếp. Việc ban hành bộ Agende là do các sắc lệnh của Ta, còn việc gia nhập Liên hiệp, như trên đây cho thấy, xuất phát từ quyết định tự nguyện của mỗi người. Bộ Agende chỉ liên quan đến Liên hiệp trong mức độ nghi thức phụng tự đã quy định trong bộ Agende đó và các công thức được chấp thuận cho các động tác phụng vụ, vì chúng thích hợp với Kinh Thánh, cung có thể được đưa ra áp dụng trong những cộng đoàn gồm tín hữu thuộc cả hai Tôn phái, nhằm mục đích chung là khuyến khích lòng kính sợ Thiên Chúa và lối sống đạo theo tinh thần Kitô giáo. Bộ Agende tuyệt nhiên
- không nhằm thay thế các bản tuyên tín trong Giáo hội Tin lành, hay trở thành phần đính kèm các bản tuyên tín với cùng một tính chất tuyên tín không kém, nhưng chỉ có mục đích duy nhất là ấn định một nghi thức phù hợp với tinh thần các bản tuyên tín, vốn dựa vào thẩm quyền của các bộ Agende thành hình từ những năm đầu tiên của thời Cải cách, cho các nghi lễ công cộng và cho các động tác phụng vụ dành cho hàng giáo sĩ, và đẩy xa những sự tùy tiện và xáo trộn có thể gây tổn hại. Do đó ta phải nghiêm khắc và mạnh mẽ bác bỏ các nguyện vọng của những kẻ vì ác cảm với Liên hiệp mà chống lại bộ Agende. Ngay cả trong các Giáo hội chưa thống nhất người ta cũng bắt buộc phải sử dụng bộ Agende-địa phương với những sửa đổi được chấp nhận cho từng tỉnh, nhưng nhất quyết là người ta không được cho phép những kẻ thù của Liên hiệp họp thành một Hội đoàn tôn giáo chống lại những người bạn của Liên hiệp, vì đó là một việc cực kỳ ngược lại tinh thần Kitô giáo.
Công đồng Vatican I Dự thảo Tông hiến về Giáo hội Đức Kitô (1869)
118. Lần đầu tiên một công đồng bàn về Giáo hội học
Latinh: Mansi 51, 539-553; Coll. Lac. VII, 567-578
Y định nguyên thủy của công đồng Vatican I là đưa ra một lời giải thích về quan niệm Giáo hội. Đây có thể được coi như là lần đầu tiên một công đồng bàn về Giáo hội học. Nhưng cuối cùng, trong các bản dự thảo, công đồng chỉ giữ lại những đoạn liên quan đến quyền giáo trưởng và tính bất khả ngộ của giáo hoàng. Vì thế Dự thảo Tông hiến về Giáo hội Đức Kitô không phải là một sắc lệnh Công đồng, nhưng không phải vì thế mà kém phần quan trọng vì ta có thể coi đó là lập trường của đa số các nghị phụ tham dự công đồng.
Chương 2 : Kitô giáo là một tôn giáo chỉ có thể được thực hành trong và nhờ Giáo hội do Đức Kitô sáng lập Giáo hội mà Người đã đổ máu đào để tậu lấy cho mình, là vị hôn thê duy nhất được tuyển chọn từ trước muôn đời để Người yêu thương; Giáo hội đó, chính Đức Giêsu, Đấng khai مở và kiện toàn đức tin của chúng ta, đã thiết lập và bài trí. Giới lệnh của Người là Giáo hội phải là một dân thánh thiện, làm đẹp lòng Thiên Chúa, nhiệt thành làm việc thiện, một dân tụ tập từ khắp thế giới thọ tạo, không ngừng được các Tông đồ và các đấng kế vị dạy dỗ và dẫn dắt mãi mãi cho đến khi kết thúc thời gian đời này. Quả vậy, ý nghĩa của quy luật Phúc Âm không phải là bất cứ cá nhân riêng lẻ nào, không cần gắn bó với cộng đoàn, cũng là kẻ tôn thờ trung thực, cũng tôn thờ Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật; nhưng Đấng Cứu Độ chúng ta muốn gắn liền tôn giáo của Người với cộng đoàn do Người sáng lập sao cho cả hai luôn mãi nối kết với nhau, như thể tháp vào nhau, khiến cho không thể có tôn giáo của Đức Kitô ngoài cộng đoàn đó.
Chương 4: Giáo hội là một xã hội hữu hình Thánh ý Thiên Chúa là cộng đoàn thiêng liêng và siêu nhiên đó xuất đầu lộ diện ra bên ngoài, nghĩa là, có tính hưu hình theo nghĩa chung. Do đó ta có Huấn quyền hữu hình, trình bầy một cách công khai những điều bên trong phải tin và phải tuyên xưng ngoài (miệng). Do đó ta có thừa tác vụ tư tế hữu hình với nhiệm vụ chính thức là quản lý và phân phát các nhiệm tích hữu hình của Thiên Chúa mà hiệu quả là thánh hoá con người bên trong và tạo ra lòng tôn kính là bổn phận của con người đối với Thiên Chúa. Do đó ta có chức vụ mục tử hữu hình mà nhiệm vu là tổ chức mối hiệp nhất giữa các thành viên với nhau, điều khiển và dẫn dắt cuộc sống công khai của các tín hữu trong Giáo hội. Cuối cùng, do đó ta có toàn bộ thân thể hữu hình của Giáo hội mà thành viên không toan là những kẻ ngay lành và được tiền định, nhưng gồm cả những kẻ tội lỗi, những kẻ nhờ tuyên xưng đức tin và sự hiệp thông được nối kết với thân thể Giáo hội. Vậy là dưới thế này Giáo hội của Đức Kitô tuyệt nhiên không phải là vô hình và tiềm ẩn, mà Giáo hội được trưng ra trước mắt mọi người như một thành phố cao chót vót, rạng ngời trên ngọn núi với ánh sáng của Mặt Trời Công chính, toả ra khắp thế giới ánh sáng xuất phát từ Chân lý của Người.
Chương 7: Ngoài Giáo hội không ai được Ơn cứu độ. Hơn nữa, sau đây là một điều phải tin : ngoài Giáo hội không ai được Ơn cứu độ. Dĩ nhiên, không phải là hết những ai sống mà tuyệt đối không có cách nào biết về Đức Kitô và Giáo hội của Người đều bị kết án đời đời vì sự không hay không biết đó. Vì trước mắt Chúa, Đấng muốn mọi người được cứu độ và đạt tới chỗ nhận biết chân lý, họ không có tội. Người cũng ban ân sủng của Người cho hết những ai cố gắng theo sức lực của mình để được công chính hoá và được sống đời đời. Nhưng ân sủng đó không dành cho kẻ nào tự mình tách rời khỏi mối hiệp nhất đức tin hay khỏi cộng đoàn Giáo hội và như vậy đoạn tuyệt với sự sống đó.
Chương 10 : Năng quyền trong Giáo hội Tuy nhiên Giáo hội không phải là một cộng đoàn trong đó ai ai cũng cùng một vị trí như nhau, người tín hữu nào cũng có quyền như nhau. Giáo hội là một xã hội gồm những người không đồng đều như nhau, mà đó không phải chỉ là tại vì trong các tín hữu có kẻ thuộc hàng giáo sĩ, có kẻ là giáo dân, mà trước hết là tại vì trong Giáo hội có một năng quyền Thiên Chúa ban cho người này mà không ban cho người kia, để thánh hoá, dạy dỗ và điều khiển.
Vincent Gasser (1809-1979): Tường trình nhân danh Phái đoàn Đức tin (1/7/1870)
119. Lời minh giải chính thức về tính bất khả ngộ của giáo hoàng.
Mansi 52, 1204-1230; Coll. Lac. VII, 388-420.
Vincent Gasser, giám mục Brixen, lên tiếng trong tư cách là đại diện các nghị phụ tại công đồng Vatican I để khẳng định rằng tín điều về tính bất khả ngộ không đặt giáo hoàng biệt lập hay đối lập với Giáo hội. Trái lại tính bất khả ngộ của Giáo hội phải được đặt trong tính bất khả ngộ của Giáo hội, khiến cho giáo hoàng, trước khi lấy quyền bất khả ngộ để quyết định điều gì, cần có sự đồng tình của Giáo hội (Consensus ecclesiae). Công thức gây tranh luận “ex sese, non autem ex consensu ecclesiae” theo ông chỉ có thể hiểu như công đồng bác bỏ thuyết Pháp giáo (Gallicanisme).
- Tính bất khả ngộ của giám mục Roma phải được hiểu là thuộc riêng cá nhân giáo hoàng, nghĩa là đặc quyền đó không chỉ gắn liền với Tông toà Rôma (như một số người theo Giáo hội Pháp quốc chủ trương = Gallicanisme), mà với cá nhân của mỗi giáo hoàng khi người hành động trong những trường hợp nhất định. Nhưng tuyệt nhiên không phải vì thế mà ta tách giáo hoàng ra khỏi mối liên hệ nối kết người với Giáo hội một cách hoàn hảo và có trật tự. Bởi giáo hoàng chỉ thật sư bất khả ngộ khi, trong chức năng là thầy dạy của mọi kitô hữu, nghĩa là trong tư cách đại diện cho toàn thể Giáo hội, người quyết định và định nghĩa những điều mọi người phải tin hay phải vứt bỏ. Người không thể tách rơi toàn thể Giáo hội như nền móng không thể tách rời ngôi nhà được xây trên đó. Vậy là chúng tôi tuyệt nhiên không tách giáo hoàng, khi người định nghĩa với quyền bất khả ngộ, ra khỏi mọi sự cộng tác và hợp tác của Giáo hội, it nhất theo nghĩa là chúng tôi không loại bỏ sự cộng tác và hợp tác đó của Giáo hội. Đó là điều hiển nhiên nếu căn cứ vào mục đích mà Thiên Chúa muốn đạt tới khi Người khứng ban đặc quyền đó… Chúng tôi không loại bỏ sự hợp tác đó của Giáo hội, vì giám mục Rôma không được ban cho quyền bất khả ngộ dưới hình thức của một ơn linh hứng hay ơn mặc khải, mà đúng ra là dưới hình thức một ơn trợ giúp. Do đó giáo hoàng, ngay trong lúc thi hành chức vụ của người và tương ứng với tính nghiêm trọng của hoàn cảnh, phải áp dụng mọi phương tiện thích đáng để kiểm chứng một cách nghiêm chỉnh và diễn tả sự thật trong những công thức hết sức chính xác; các phương tiện đó là các công đồng, nhưng cũng là lời cố vấn của các giám mục, hồng y, thần học gia, v.v..
Và rốt cuộc chúng tôi tuyệt nhiên không tách giáo hoàng ra khỏi sự đồng tình của Giáo hội, miễn là sự đồng tình đó bất kể là đi trước hay theo sau – không được đặt như là một điều kiện tiên quyết. Chúng tôi không thể tách giáo hoàng ra khỏi sự đồng tình của Giáo hội, bởi người không bao giờ có thể thiếu sự đồng tình đó. Bởi nếu chúng ta tin rằng giáo hoàng là bất khả ngộ nhờ ơn Thiên Chúa trợ giúp, thì qua đó chúng ta cũng tin rằng sự đồng tình của Giáo hội đối với các điều người định nghĩa sẽ không thiếu; bởi vì không thể xẩy ra việc giám mục đoàn tách rời vị thủ lãnh của mình, và bởi vì Giáo hội xét chung không thể trở nên bất trung.
Công đồng Vatican I (1869-1870) Dei Filius (24/4/1870)
120. Giáo hội xét như nguyên do để người ta hiểu đức tin là chính đáng.
Latinh và Đức: DH 3000-3045. Pháp: La Foi Catholique, t. 49-50.
Trong Tông hiến tín lý về đức tin của Công đồng Vatican I, Giáo hội được trình bầy như chứng cớ bất khả phi bác để cho hiểu là Giáo hội được Thiên Chúa trao sứ mệnh và do đó Giáo hội là đầu mối của đức tin.
Để ta có thể chu toàn mỹ mãn bổn phận đón nhận đức tin chân chính và sống bền vững trong đức tin đó, Thiên Chúa đã nhờ Con Một của Người mà thiết lập Giáo hội và đã trang bị cho Giáo hội những dấu ấn hiển nhiên (chứng minh) Giáo hội là do Người thiết lập, hầu mọi người có thể công nhận Giáo hội là người bảo toàn và là thầy dạy về Lời mặc khải.
Quả thật, Giáo hội Công giáo là điểm quy chiếu duy nhất cho tất cả các dấu hiệu do Thiên Chúa bài trí nhiều vô kể và kỳ diệu như vậy, để cho ai nấy đều thấy rõ đức tin Kitô giáo là đáng tin. Thậm chí, vì sự phát triển kỳ diệu, vì tính chất thánh thiện tột bậc, vì sự dồi dào phong phú trong mọi điều thiện, vì mối hiệp nhất công giáo và sức bền bỉ không ai thắng nổi, tự thân Giáo hội đã là nguyên do mãnh liệt và trường tồn để người ta có thể tin vào Thiên Chúa, và là một chứng cứ bất khả phi bác về sứ mạng Thiên Chúa trao cho Giáo hội.
Công đồng Vatican I (1869-1870) Pastor Aeternus (18/7/1870)
121. Quyền tối thượng và tính bất khả ngộ của giáo hoàng
Latinh: DH 3050-3075 Pháp: La Foi Catholique, 261-266.
Ý định đầu tiên của Công đồng Vatican I là trình bầy Giáo hội học một cách bao quát, nhưng cuối cùng Công đồng chỉ định nghĩa được quyền giáo trưởng phổ quát và tính bất khả ngộ của giáo hoàng. Điểm sau cùng này được các nghị phụ chú tâm bàn cãi. Trong định nghĩa các nghị phụ đã ấn định rất kỹ ranh giới và phạm vi của tính bất khả ngộ, nhưng lại không làm như vậy đối với quyền giáo trưởng phổ quát của giáo hoàng. Do đó vấn đề sau Công đồng là phản ứng chống lại khuynh hướng biệt lập giáo hoàng với Giáo hội. Muốn minh giải đúng đắn các tài liệu này ta phải hiểu rằng chúng là những câu trả lời trực tiếp các vấn nạn do thuyết Pháp giáo nêu lên (xc. S. 156). Nếu quên bối cảnh đó ta có thể minh giải quá mức quyền hạn giáo hoàng mà làm như vậy là nhất thiết khơi gợi phê bình chỉ trích đơn phương.
Chương 1 : Việc thiết lập quyền tối thượng tông truyền nơi thánh Phêrô. Vậy sau đây là giáo huấn và lời tuyên bố của chúng tôi : theo chứng từ Phúc Âm, ưu vị thẩm quyền (primauté de juridiction) trên toàn thể Giáo hội đã được Chúa chúng ta là Đức Kitô hứa hẹn và trao ban cho thánh Phêrô, một cách trực tiếp không qua trung gian nào…
Vì thế, ai nói rằng thánh Phêrô Tông đồ đã không được Chúa chúng ta là Đức Kitô lập làm thủ lãnh các Tông đồ và làm đầu hữu hình của toàn thể Giáo hội chiến đấu; hoặc (nói rằng) vị Tông đồ đó chỉ nhận được từ Chúa chúng ta là Đức Kitô, một cách trực tiếp, không qua trung gian nào, một ưu vị thẩm quyền danh dự mà thôi, chứ không phải một ưu vị thẩm quyền đích thật theo nghĩa đặc biệt, thì người đó phải bị trục xuất.
Chương 2 : Ưu vị thẩm quyền của thánh Phêrô trường tồn nơi các giám mục Rôma. Điều gì Chúa chúng ta là Đức Kitô, thủ lãnh các mục tử và Mục tử tối cao của đoàn chiên, đã thiết lập vì Ơn cứu độ vĩnh cửu và phần phúc trường tồn của Giáo hội, thì theo lệnh truyền của Người, điều đó cũng nhất thiết phải tồn tại luôn mãi trong Giáo hội vốn được lập trên tảng đá và sẽ vững bền tồn tại cho đến tận thế…
Vậy ai nói rằng không phải do Đức Kitô hay do thần luật mà thánh Phêrô có những đấng kế vị trong quyền tối thượng trên Giáo hội phổ quát, (hoặc nói rằng) giám mục Rôma không kế vị thánh Phêrô trong quyền tối thượng đó, thì người đó phải bị trục xuất.
Chương 3 : Nội dung và bản tính quyền tối thượng của giám mục Rôma Dựa vào các chứng từ hiển nhiên của Kinh Thánh và chiếu theo các sắc lệnh đã được các vị tiền nhiệm của chúng tôi, các giám mục Rôma, và các đại công đồng định nghĩa một cách minh nhiên, chúng tôi xác nhận lại định nghĩa của đại công đồng Florence buộc các tín hữu phải tin rằng ” Toà thánh và vị Giám mục Rôma sở hữu quyền tối thượng trên toàn cõi đất; rằng vị Giám mục Rôma đó là đấng kế vị thánh Phêrô, thủ lãnh các Tông đồ và đại diện Đức Kitô…”
Vì vậy sau đây là giáo huấn và lời tuyên bố của chúng tôi : Giáo hội Rôma, theo sự bài trí của Chúa, sở hữu ưu vị thẩm quyền tòng vụ (primauté de pouvoir ordinaire) trên tất cả các Giáo hội khác, và quyền cai quản của Giám mục Rôma đó, vốn thật sự là một quyền thuộc giám mục, không cần trung gian nào cả. Đối với Giáo hội Rôma, các mục tử và giáo dân thuộc bất cứ nghi thức và phẩm trật nào, xét như cá nhân cũng như tập thể, buộc phải giữ bổn phận tòng phục theo phẩm trật và vâng phục, không những trong lãnh vực đức tin và luân thường đạo lý, mà cả trong lãnh vực kỷ luật và quyền cai quản của Giáo hội lan rộng khắp mặt đất. Như vậy, nhờ giữ mối hiệp nhất với giám mục Rôma trong hiệp thông và trong việc tuyên xưng cùng một đức tin, Giáo hội là một đoàn chiên duy nhất dưới quyền một mục tử duy nhất. Đó là giáo huấn về chân lý công giáo, không ai có thể rời bỏ mà không nguy hại đến đức tin và Ơn cứu độ của mình.
Vậy ai nói rằng giám mục Rôma chỉ có nhiệm vụ giám sát hay chỉ đạo, chứ không có năng quyền viên mãn và tối thượng cai quản toàn thể Giáo hội, không những trong lãnh vực đức tin và luân thường đạo lý, mà cả trong lãnh vực kỷ luật và quyền cai quản của Giáo hội lan rộng khắp mặt đất, hoặc (nói rằng) người chỉ có một phần quan trọng hơn chứ không có quyền tối thượng đó một cách viên mãn hoặc (nói rằng) thẩm quyền của người trên các Giáo hội nói chung cũng như nói riêng, trên các mục tử và các tín hữu nói chung cũng như nói riêng, không phải là thẩm quyền của đấng bản quyền có tính chất trực tiếp, thì người đó phải bị trục xuất.
Chương 4 : Huấn quyền bất khả ngộ của giám mục Rôma Quyền tối thượng tông truyền mà giám mục Rôma, trong tư cách là đấng kế vị Phêrô, thủ lãnh các Tông đồ, sở hữu trên Giáo hội phổ quát, bao gồm cả huấn quyền tối thượng… Quả là Thánh Thần đã không được hứa ban cho các đấng kế vị Phêrô để các ngài được linh hứng mà công bố một giáo thuyết mới, nhưng là để các ngài được Thánh thần trợ giúp mà kính cẩn gìn giữ và trung thành trình bầy Mặc khải các Tong đồ truyền lại, nghĩa là kho tàng đức tin. Giám mục Rôma, khi lên tiếng ex cathedra, nghĩa là khi chu toàn nhiệm vụ của mình là chăn dắt và dạy dỗ tất cả các kitô hữu, khi người lấy thẩm quyền tông truyền tối thượng cua mình mà quyết định rằng một giáo thuyết về đức tin và luân thường đạo lý phải được toàn thể Giáo hội tuân theo, thì nhờ ơn trợ giúp Thiên Chúa hứa ban cho người nơi bản thân thánh Phêrô, người được hưởng tính bất kha ngộ mà Đấng Cứu Thế đã muốn trang bị cho Giáo hội của Người, khi Giáo hội phải định nghĩa giáo lý về đức tin và luân thường đạo lý. Vì thế các định nghĩa của giám mục Rôma tự thân đã là bất khả cải hoán chứ không phải dựa vào sự ưng thuận của Giáo hội.
Nếu có ai – nhưng mong Thiên Chúa khiến là không – cả gan dám phản đối quyết định này của chúng tôi, thì người đó phải bị trục xuất.
Chương trình hội nghị Công giáo (Cổ) tại Munich (1871)
122. Một bản tuyên tín trung thành với Giáo hội Cổ
Sau khi Công đồng Vatican I kết thúc một số người bị vạ tuyệt thông vì lên tiếng chỉ trích các tín điều về quyền giáo trưởng phổ quát và tính bất khả ngộ của giáo hoàng; ngoài ra cũng có trường hợp giáo quyền cấm một số đối tượng, không cho cử hành hôn phối trong nhà thờ hoặc chôn cất theo nghi thức công giáo. Tháng 9 năm 1871 những người công giáo phản đối Vatican I triệu tập một đại hội Công giáo tại Munich với dự định thành lập Giáo hội Cổ Công giáo. Chương trình Đại hội Munich có phác hoạ các chủ đề của Giáo hội Cổ Công giáo, cho nên có thể coi tài liệu này như một bản tuyên tín.
Chúng tôi tuyên bố rằng các biện pháp mà Giáo hội đã công bố để phạt vạ chúng tôi vì chúng tôi trung thành với đức tin là phi đối tượng và vô căn cứ và trong lương tâm, chúng tôi không vì các biện pháp đó mà cảm thấy bị xáo trộn và cản trở trong việc sống niềm hiệp thông Giáo hội…
II Chúng tôi gắn bó vững vàng với hiến chế cổ kính của Giáo hội. Chúng tôi bác bỏ mọi mưu toan nhằm tước bỏ quyền của các giám mục là chính mình trực tiếp điều khiển các Giáo hội địa phương. Chúng tôi bác bỏ giáo lý hàm chứa trong các sắc lệnh của Công đồng Vatican theo đó đức giáo hoàng là người duy nhất được Thiên Chúa chọn để giữ hết mọi thẩm quyền trong Giáo hội và hết mọi năng quyền, và coi giáo lý đó là nghịch lại với khoản luật của Công đồng Tridentinô về sự hiện hữu của một hàng giáo phẩm do Thiên Chúa thiết lập gồm giám mục linh mục và phó tế. Chúng tôi tuyên xưng chấp nhận quyền giáo chủ (Primat) của giám mục Rôma như đã được công nhận trên cơ sở Kinh Thánh bởi các Giáo phụ và các công đồng trong Giáo hội Kitô giáo thời xưa khi chưa bị phân chia…
III Chúng tôi chủ trương phải dựa vào khoa học thần học và giáo luật để thực hiện một cuộc cải cách trong Giáo hội theo tinh thần Giáo hội cổ xưa nhằm xoá bỏ các khuyết điểm và lạm dụng hiện thời và nhất là đáp ứng các nguyện vọng chính đáng của đoàn dân công giáo là được tham dự vào các việc của Giáo hội như hiến chế Giáo hội quy định; về điểm này tuy phải giữ nguyên vẹn sự thống nhất của Giáo hội, ta phải đặc biệt chú trọng đến các quan niệm và các nhu cầu của từng quốc gia.
Hàng giám mục Đức Tuyên bố chung (1875)
123. Một lời minh giải trung thành về Công đồng Vatican I
DH 3112-3117
Sau Công đồng Vatican I thủ tướng Đức nêu lên vấn đề xem các nghị quyết Công đồng có hạ phẩm vị các giám mục thành những khâm sai và viên chức của giáo hoàng tuyệt đối nắm hết quyền hành hay không. Sau khi giáo hoàng khẳng định quyền quốc trưởng giáo quốc Vatican, liệu các giám mục có trở thành quan chức của một quân vương ngoại quốc với quyền hành tuyệt đối không? Vì thế cần xét lại lòng trung thành của các giám mục đức đối với thể chế quốc gia. Trong bản tuyên ngôn chung các giám mục đức bác bỏ quan điểm đó. Giáo hoàng Piô IX cũng khẳng định là lời minh giải trong bản tuyên ngôn chung “truyền đạt giáo lý công giáo trung thực” (DH 3117; NR 459). Đây cũng là một cách bác bỏ lối minh giải tối đa Công đồng Vatican I, bất kể do ai chủ trương.
- Theo giáo thuyết đó, đức giáo hoàng là giám mục Rôma, chứ không phải là giám mục một giáo phận hay một thành phố nào khác; người không phải là giám mục Breslau hay giám mục Cologne vv. Nhưng trong tư cách là giám mục Rôma, người đồng thời là giáo hoàng, nghĩa là vị Chủ chăn và Thủ lãnh của toàn thể Giáo hội, Thủ lãnh của hết thảy các giám mục và hết thảy các tín hữu, và quyền năng giáo hoàng của người phải được tôn trọng tuân theo mọi nơi mọi lúc, chứ không chỉ trong những trường hợp đặc biệt và ngoại lệ mà thôi. Trong vị trí đó, đức giáo hoàng phải liệu sao cho mỗi giám mục chu toàn hết các bổn phận gắn liền với nhiệm vụ của mình; nơi đâu giám mục gặp trở ngại, hay vì nhu cầu đòi hỏi, đức giáo hoàng, không phải trong tư cách là giám mục của giáo phận mà là trong tư cách là giáo hoàng, có quyền và có bổn phận ban bố những biện pháp cần thiết cho việc cai quản giáo phận đó…
- Các nghị quyết của Công đồng Vatican tuyệt nhiên không cho phép khẳng định rằng đức giáo hoàng nhờ các nghị quyết đó đã trở thành một chủ tể tuyệt đối, và nhờ tính cách bất khả ngộ, đã trở thành một vị quân chủ hoàn toàn tuyệt đối, hơn hẳn các quân chủ tuyệt đối khác trên đời này,… Đức giáo hoàng không thể sửa đổi hiến chế do Đấng sáng lập ban cho Giáo hội, cũng như nhà lập pháp trần thế không thể sửa đoi hiến pháp của nhà nước. Hiến chế Giáo hội trong mọi điều cốt yếu dựa vào sự bài trí của Thiên Chúa và nằm ngoài tầm chuyên chế của con người.
- Chức vụ giáo hoàng là do Thiên Chúa thiết lập thì chức vụ giám mục cũng vậy. Hàng Giám mục cũng có quyền hạn và bổn phận chiếu theo cơ chế do chính Thiên Chúa an bài và giáo hoàng không được và không thể thay đổi. Vậy là hoàn toàn hiểu sai các nghị quyết của Công đồng Vatican những ai tưởng rằng các nghị quyết của Công đồng Vatican đã khiến cho thẩm quyền giám mục tan loãng trong thẩm quyền giáo hoàng “, rằng giáo hoàng” trong nguyên tắc thay thế mỗi một giám mục “, rằng giám mục giờ đây chỉ là ” những khí cụ trong tay giáo hoàng, là công chức của giáo hoàng không một chút trách nhiệm đặc biệt nào “… về lời khẳng định (cuối cùng) này, chúng tôi chỉ có thể quyết liệt bác bỏ; Giáo hội Công giáo không phải là nơi chấp nhận nguyên tắc phi đạo đức đầy tính chuyên chế theo đó lệnh truyền của cấp trên hoàn toàn miễn thứ trách nhiệm của từng người.
Giáo hoàng Lêô XIII (1878-1903) Thông điệp “Satis cognitum” (29/6/1896)
124. Giáo hội từ societas perfecta đến Corpus Mysticum – từ xã hội toàn thiện đến nhiệm thể Đức Kitô
Latinh: ASS 28 (1895/96) 708-739
Nhân cuộc tranh luận với Cộng đoàn Giáo hội Anh giáo chủ trương một mô hình hiệp nhất liên kết các Giáo hội, giáo hoàng Lêô XIII phác hoạ bản chất Giáo hội như là Nhiệm thể Đức Kitô, như sự kết hiệp giữa thiên tính và nhân tính, vừa hữu hình vừa vô hình. Bức thông điệp đánh dấu bước tiến từ biểu tượng cổ truyền Giáo hội như societas perfecta sang thần học về Giáo hội như Corpus Mysticum.
Chính vì Giáo hội là một thân thể mà mắt người ta có thể trông thấy Giáo hội; những vì Giáo hội là Thân thể Đức Kitô cho nên Giáo hội là một Thân thể sống động, có thể tự mình sinh hoạt và tăng trưởng, bởi vì Đức Giêsu Kitô gìn giữ và bảo toàn thân thể đó bằng sức mạnh của Người, y như cây nho nuôi dưỡng các cành nho của mình và khiến chúng sinh hoa kết quả. Nguyên lý sự sống nơi các sinh vật tuy vô hình và hoàn toàn âm thầm những vẫn tỏ hiện trong vận động và sinh hoạt của các chi thể thì nơi Giáo hội cũng vậy, nguyên lý của sức sống siêu nhiên cũng xuất hiện rõ ràng trong các công trình Giáo hội hoàn tất.
Chính vì thế, sai lạc một cách nguy hiểm là những ai tự ý tưởng tượng ra một Giáo hội tiềm ẩn và hoàn toàn vô hình; cũng như những ai muốn thấy trong Giáo hội một cơ chế con người với mọt thứ kỷ luật bề ngoài và một nền phụng từ bề ngoài, những không được Thiên Chúa thông ban ân sủng, không có được bất cứ dấu hiệu nào mỗi ngày nói lên một cách công khai rằng Giáo hội tiếp nhận sức sống của mình từ Thiên Chúa.
Quả là Giáo hội không thể có chiều kích này mà lại thiếu chiều kích kia; điều đó cũng mâu thuẫn như bảo rằng con người chỉ là linh hồn hay chỉ là thân xác. Sự kết hiệp và lệ thuộc vào nhau của hai thanh phần đó là thiết yếu cho yếu tính Giáo hội, như đối với bản tính con người sự kết hiệp nội tại giữa hồn và xác… Nhiệm thể của Người là Giáo hội chân chính chỉ vì lý do duy nhất là thành phần hữu hình của Giáo hội tiếp nhận sức mạnh và sự sống từ các ân sủng siêu nhiên và các đặc ân khác vốn là nguồn gốc phát sinh yếu tính đặc biệt và bản tính của Giáo hội.
Bởi vì Giáo hội đã được thiết kế như vậy do Thánh ý và sự bài trí của Thiên Chúa, Giáo hội lúc nào cũng phải giữ tính chất đó trong mọi thời đại; bằng không Giáo hội chẳng phải là được thiết lập cho mọi thời, và mục tiêu mà Giáo hội đeo đuổi, đã bị giới hạn trong không gian và thơi gian; cả hai lập trường nói trên đều nghịch với chân lý. Sự liên kết giữa thành phần hữu hình và vô hình phải tồn tại bao lâu Giáo hội có bổn phận hiện hữu, bởi điều đó thuộc yếu tính của Giáo hội và được Thiên Chúa ban cho Giáo hội.
Sắc lệnh của Thánh bộ đức tin Lamentabili (3/7/1907)
125. Kết án “chủ nghĩa Hiện đại”
Latinh và Đức: DH 3401-3466 La tinh và Pháp: Lettre encyclique de notre très Saint Père le Pape Pie X sur les Doctrines Modernistes, Paris 1907, t. IV. XI-XII.
Ngoài thông điệp Pascendi (xc. S. 126) Sắc lệnh Lamentabili là tài liệu quan trọng nhất xuất phát từ Rôma chống lại chủ nghĩa Hiện đại. Các mệnh đề nêu lên trong danh sách bị kết án vì bất khả dung hoà với đức tin công giáo.
- Khi phải định nghĩa các chân lý (đức tin) Giáo hội thụ huấn và Giáo hội giáo huấn hợp tác với nhau sao cho Giáo hội giáo huấn chỉ còn việc chuẩn nhận ý kiến chung của Giáo hội thụ huấn.
- Khi lên án sai lầm, Giáo hội không thể đòi hỏi nơi các tín hữu sự ưng thuận nội tâm khi họ phải chấp nhận các điều Giáo hội đã phán quyết.
- Việc thiết lập Giáo hội như một xã hội phải tồn tại dài dẵng suốt bao thế kỷ trên mặt đất là ngoài ý định của Đức Kitô; trái lại trong ý nghĩ của Đức Kitô, Nước Trời và Tận thế sẽ phải đến trong cùng một lúc.
- Cơ chế Giáo hội không phải là bất di bất dịch, mà xã hội Kitô giáo, như xã hội con người, lúc nào cũng phải chịu quy luật biến hoá.
- Simon Phêrô không bao giờ dù chỉ ngờ rằng Đức Kitô đã trao cho mình quyền tối thượng trong Giáo hội.
- Giáo hội Rôma đã trở thành Đầu của tất cả các Giáo hội, không phải do Thiên Chúa quan phòng bài trí mà do những điều kiện đơn thuần chính trị.
Giáo hoàng Piô X (1903-1914) Thông điệp “Pascendi dominici gregis” (1907)
126. “Điên dại như vậy mà chúng còn muốn canh tân Giáo hội”
La tinh và Pháp: Lettre encyclique de notre très Saint Père le Pape Pie X sur les Doctrines Modernistes, Paris 1907, t. 32-34; 58-61.
Thông điệp “Pascendi dominici gregis” là văn bản chính thức quan trọng nhất của Huấn quyền chống lại chủ nghĩa Hiện đại. Phần đầu của Thông điệp dành cho việc trình bầy một cách hệ thống quan niệm của chủ nghĩa Hiện đại. Phần hai đưa ra các biện pháp phải ban hành nhằm nhổ tận rễ thứ “kết tinh mọi lạc thuyết” đó. Thông điệp Pascendi là căn cứ cho lời tuyên thệ chống chủ nghĩa Hiện đại ban hành năm 1910, cho đến năm 1967 có tính bắt buộc đối với chức sắc cao cấp trước khi thụ phong.
- Ta còn phải nói nhiều hơn về những điều trường phái Hiện đại tưởng tượng liên quan đến Giáo hội. Trước hết Giáo hội phát sinh từ hai nhu cầu : từ nhu cầu của bất cứ tín hữu nào, nhất là của những ai đã trải qua một kinh nghiệm uyên nguyên độc đáo, là phải truyền cho kẻ khác những điều mình tin; sau đó, khi niềm tin đó đã thành của chung hay đã trở nên tập thể, từ nhu cầu tự tổ chức thành xã hội để bảo toàn, phát triển và phổ biến các giá trị chung. Vậy thì Giáo hội là gì ?
Giáo hội là do ý thức tập thể sinh ra, nói cách khác, Giáo hội phát sinh từ việc các ý thức cá nhân liên kết lại với nhau, mà các ý thức này, nhờ sinh lực trường sinh, lệ thuộc vào người đầu tiên đã tin, đối với người cong giáo thì Đấng đó dĩ nhiên là Đức Kitô.
Hơn nữa, xã hội nào cũng cần sự điều khiển của một thẩm quyền mà nhiệm vụ là hướng dẫn các thành viên tới mục đích chung, và thận trọng bảo toàn các thành tố cốt yếu : trong một xã hội tôn giáo đó là giáo lý và phụng tự. Do đó trong Giáo hội Công giáo thẩm quyền nhằm ba lãnh vực : kỷ luật, tín lý và phụng tự. Ta phải hiểu bản chất của thẩm quyền đó từ nguồn gốc của nó, và từ bản chất đó mới tìm hiểu được các quyền lợi và bổn phận kèm theo. Thời trước có một sai lầm phổ biến là tưởng rằng thẩm quyền là từ ngoài Giáo hội nhập vào, nghĩa là trực tiếp từ Thiên Chúa; vì thế người ta có lý mà coi Giáo hội là chuyên chế độc đoán (autocratica). Nhưng ngày nay những điều đó đã lỗi thời. Như Giáo hội phát sinh từ ý thức tập thể, thì thẩm quyền cũng phát sinh từ Giáo hội như từ một nguồn sinh lực.
Vậy thẩm quyền cũng như Giáo hội đều phát sinh từ ý thức tôn giáo, và vì thế cũng tùy thuộc ý thức tôn giáo. Thoát khỏi sự lệ thuộc đó, thẩm quyền biến thành bạo quyền. Hiện nay chúng ta đang sống trong một thời mà ý thức tự do đa đạt tới tột đỉnh. Trong lãnh vực dân chính, ý thức công chúng đã kéo theo thể chế nhân dân. Nhưng người ta không có hai ý thức, cũng không có hai đời sống. Nếu không muốn châm ngòi và khuyến khích nội chiến trong thâm tâm người ta thì giáo quyền phải chấp nhận các mô thể dân chủ, bằng không sẽ phải tiêu tùng. Bởi có điên mới tưởng rằng ý thức tự do, như ta thấy phát triển vào lúc này, lại có thể lùi bước. Càng dùng áp lực mà go bó kìm hãm, sự bùng nổ lại càng dữ dội, kéo theo Giáo hội và tôn giáo trong cảnh hoang tàn. – Trên đây là ý kiến của nhóm chủ trương Hiện đại; do đó quan tâm chính của họ là tìm kiếm một con đường dung hoà uy quyền của Giáo hội và quyền tự do của các tín hữu…
- Chúng ta còn phải nói thêm đôi điều về nhóm Hiện đại trong chủ trương cải cách của họ. Những điều trình bầy trên đây cũng đủ để cho thấy những con người đó ngứa ngáy đổi mới đến đâu. Họ không tha một thứ gì trong những điều thuộc người công giáo. – Họ muốn đổi mới triết lý nhất là trong các chủng viện: trong lịch sử triết học phải xếp xó triết lý kinh viện giữa các hệ thống triết học lỗi thời khác, và phải truyền dạy cho giới trẻ triết lý Hiện đại là triết lý duy nhất đúng đắn và thích hợp với thời đại. Để đổi mới thần học họ muốn thần học mà ta gọi là thuần lý phải lấy triết lý Hiện đai làm nền tảng; còn thần học thực chứng (théologie positive) thì phải lấy lịch sử tín điều làm nền tảng. Ngay cả lịch sử cũng phải được soạn thảo và giảng dạy theo phương pháp và quy tắc của họ. – Các tín điều và sự tiến triển của tín điều phải hợp với khoa học và lịch sử. – Trong các bộ giáo lý chỉ được đưa vào những tín điều đã được đổi mới và thích hợp với tầm hiểu của dân chúng. – Về phụng tự thì phải giảm bớt các nghi thức tôn giáo bề ngoài, hay phải ngăn chặn không cho chúng tăng thêm. Thật ra thì có kẻ vì yêu thích hệ diễn tả theo biểu tượng đã tỏ ra nhân nhượng hơn trong lãnh vực này. – Phải cải tổ guồng máy cai trị Giáo hội trong mọi phạm vi, nhất là trong phạm vi kỷ luật và tín lý. Guồng máy đó, cả trong lẫn ngoài, phải thích ứng, như họ nói, với ý thức Hiện đại, mà ý thức này thì thiên về dân chủ; vậy một mặt phải dành một phần trong việc cai trị cho giáo sĩ cấp dưới, thậm chí cho cả giáo dân, mặt khác phải giải toả giáo quyền đã tập trung quá đáng nơi trung ương.- Phải cải tổ các thánh bộ, nhất là thánh bộ gọi là Sanctum Officium và Index – Thái độ của giáo quyền phải thay đổi trong lãnh vực chính trị và xã hội. Tuy đứng ngoài các tổ chức chính trị và xã hội, giáo quyền vẫn phải thích ứng với chúng để gây ảnh hưởng về mặt tinh thần.
Trong luân lý họ theo nguyên tắc của trường phái Mỹ, nghĩa là phải trọng các đức tính chủ động hơn các đức tính thụ động, trong lối đánh giá cũng như trong thực hành. – Đối với giáo sĩ thì họ yêu cầu giáo sĩ trở về với những giá trị cổ kính là khiêm nhường và nghèo khó; trong tư duy và hành động giáo sĩ phải theo các nguyên tắc của trường phái Hiện đại. – Thậm chí còn có kẻ, đúng là học trò dễ bảo của người Tin lành, ao ước bãi bỏ chế độ độc thân của hàng giáo sĩ. Vậy còn điều gì nguyên lành trong Giáo hội mà họ không đòi cải tổ đúng theo nguyên tắc của họ ? Giờ đây, khi xét chung toàn bộ hệ thống, không ai sẽ ngạc nhiên nếu chúng tôi định nghĩa đó là điểm hội tụ của mọi lạc thuyết. Nếu có ai tự đề ra cho mình nhiệm vụ thâu tập hết mọi sai lầm đã xẩy ra liên quan đến đức tin và đúc kết lại thành một mối, thì người đó không thể làm hơn những điều phái Hiện đại đã làm.
Bản tuyên ngôn thần học của Thượng hội đồng tuyên xưng đầu tiên của Giáo hội Tin lành Đức nhóm họp tại Barmen (1934)
127. Bản tuyên tín của toàn thể Giáo hội Cải cách chống lại chủ nghĩa quốc xã
K. Kupisch (éd.), Quellen zur Geschichte des deutschen Protestantismus 1871-1945, Goettingen 1960, Muenchen- Hamburg 1965. Đáp lại phe “kitô hữu Đức” với chủ trương tổng hợp triết lý quốc xã và sứ điệp Kitô giáo, Giáo hội Tin lành Đức đã soạn thảo tại “Thượng hội đồng tuyên xưng đầu tiên của Giáo hội Tin lành Đức” nhóm họp tại Barmen bản Tuyên ngôn thần học (1934): trong tài liệu này các kitô hữu tin lành thuộc nhiều tôn phái khác nhau đồng thanh bác bỏ lập trường của phe “Kitô hữu Đức”. Họ khẳng định đức tin Kitô giáo chỉ có Lời Chúa làm căn bản và không cho phép công nhận là do Thiên Chúa mặc khải các thực thể khác như biến cố lịch sử hay các dữ kiện như thuyết thống, chủng tộc, quốc gia. Bản tuyên ngôn thần học này là tài liệu quan trọng nhất bầy tỏ lập trường của một Giáo hội Kitô giáo chống chủ nghĩa quốc xã: trong tính cách đó ta có thể coi đó như một bản tuyên tín. Nhưng mặt khác người ta tự hỏi xem bản tuyên ngôn thần học có quá vội vã loại bỏ khỏi lãnh vực thần học ý nghĩa của các thực thể lịch sử.
Chúng tôi, thành viên của Giáo hội Luther, Giáo hội Cải cách và Giáo hội thống nhất, ngày hôm nay chúng tôi có quyền và có bổn phận đưa ra một lời tuyên bố chung về vấn đề này. Chính vì chúng tôi trung thành và muốn luôn mãi trung thành với đức tin tuyên xưng trong từng mỗi Giáo hội của chúng tôi, chúng tôi không có quyền im lặng, bởi lẽ chúng tôi tin rang trong một thời mà người người đều chung cảnh khốn quẫn và bách hại, một tiếng nói chung đã được đặt sẵn trên miệng chúng tôi. Chúng tôi phó thác việc đó cho Thiên Chúa, bất chấp điều đó có thể ảnh hưởng thế nào trên tương quan giữa các Giáo hội tuyên tín (Eglises confessantes) với nhau. Trước các sai lầm của các người “Kitô hữu Đức” và của các cấp hiện thời lãnh đạo Giáo hội Đế chế, (trước các sai lầm) đang tàn phá các Giáo hoi và đang phá tung sự hiệp nhất của Giáo hội Tin lành Đức, chúng tôi tuyên xưng các chân lý Phúc Âm sau đây :
- … Đức Giêsu Kitô, theo các chứng từ Kinh Thánh trình bầy cho chúng ta, là Lời duy nhất của Thiên Chúa ma chúng ta phải lắng nghe, phải tín nhiệm trong cuộc sống cũng như trong cái chết và phải tuân phục. Chúng tôi vứt bỏ quan niệm sai lầm theo đó Giáo hội, ngoài và bên cạnh Lời Chúa duy nhất đó, còn có thể và bắt buộc phải công nhận những biến cố và thế lực khác, những hình tượng và chân lý khác làm nguồn suối, do Thiên Chúa mặc khải, cho lời rao giảng của mình.
- … Như Đức Giêsu Kitô là Lời Thiên Chúa ban ơn thứ tha tội lỗi chúng ta thì, một cách nghiêm chỉnh không kém, Người cũng là Lời của Thiên Chúa đòi hỏi trên toàn bộ cuộc sống chúng ta; nhờ Người chúng ta được kinh nghiệm niềm vui được giải phóng khỏi mọi ràng buộc vô đạo của đời này để phục vụ, trong tự do và tâm tình cảm tạ, muôn loài Người đã dựng nên. Chúng tôi vứt bỏ quan niệm sai lầm theo đó có những lãnh vực trong đời sống chúng ta không thuộc riêng Đức Giêsu Kitô mà thuộc các thủ lãnh khác, những lãnh vực trong đó chúng ta không cần được Người công chính hoá và thánh hoá.
- … Giáo hội Kitô giáo là công đoàn huynh đệ trong đó Đức Giêsu Kitô hiện thời đang hoạt động trong Lời và Bí tích nhờ Thánh Thần. Giáo hội có bổn phận, với đức tin và với lòng vâng phục của mình, với sứ điệp của mình và sự tổ chức trong lòng thế giới tội lỗi như là Giáo hội của những tội nhân được ân xá, làm chứng rằng Giáo hội là sở hữu của riêng Người, rằng Giáo hội chỉ sống và chỉ ao ước sống nhờ sự an ủi và dạy bảo của Người trong khi mong đợi Người xuất hiện. Chúng tôi vứt bỏ quan niệm sai lầm theo đó Giáo hội được phép bỏ mặc điều cốt yếu trong sứ điep và tổ chức của mình thay đổi tùy theo ý riêng mình hay theo các xác tín ý thức hệ và chính trị đang thịnh hành từng thời.
- … Các chức vụ khác biệt trong Giáo hội không phải là cơ sở để kẻ này thống trị kẻ khác, mà là để thi hành nhiệm vụ được toàn thể cộng đoàn trao phó và truyền lệnh. Chúng tôi vứt bỏ quan niệm sai lầm theo đó Giáo hội có thể và được phép xa rời nhiệm vụ đó mà tự chọn, hoặc để cho người ta chọn cho mình, những thủ lãnh đặc biệt với toàn quyền thống trị.
Giáo hoàng Piô XII (1939-1958) Thông điệp “Mystici corporis” (1943)
128. Một bản văn huấn quyền về bản chất Giáo hội
Latinh: AAS 35 (1943) 193-248. La tinh và Pháp: Actes de SS. Pie XII, tome V. (Années 1942-1943), Bonne Presse, Paris 1953. Trước Công đồng Vatican II, Thông điệp “Mystici corporis” là tài liệu quan trọng nhất bầy tỏ quan điểm của Huấn quyền về Giáo hội. Ở đây ta chỉ nêu lên vài khía cạnh của thông điệp: Giáo hội Công giáo được đồng nhất hoá với thân thể huyền nhiệm của Đức Kitô (chứ không phải là thân mình hiện thực như trong Giáo hội Cổ); thông điệp vạch ra những điều kiện đòi hỏi nơi những người muốn thật sự làm thành viên của Giáo hội (chứ không chỉ là thành viên trong ao ước “in voto”); cả chiều kích cơ chế chức phẩm lẫn chiều kích đặc sủng của Giáo hội cũng được thông điệp đề cập tới. Do đó dù còn đượm não trạng pháp lý, thông điệp cũng hàm chứa những yếu tố cho phép tìm lại Giáo hội như một thực thể có Thần Khí đỡ nâng. 102. Để định nghĩa và mô tả Giáo hội đích thực của Đức Kitô – Giáo hội Rôma, thánh thiện, công giáo và tông truyền không có lời nào cao quý, trang trọng, rốt cuộc thánh thiêng hơn diễn ngữ nhằm chỉ Giáo hội là “Nhiệm thể Đức Giêsu Kitô”. Danh hiệu này bắt nguồn, ta có thể nói là trổ hoa từ những điều thường được trình bầy trong Kinh Thánh và văn chương thánh phụ. Giáo hội là một Thân thể, đó là điều Kinh Thánh khẳng định nhiều lần. Vậy là sai lạc, xa cách chân lý của Thiên Chúa, những ai tưởng tượng Giáo hội như một thực thể không ai sờ đụng được, không ai trông thấy được, như một cái gì chỉ có tính chất “thiêng liêng” mà thôi, nhờ đó các cộng đoàn Kitô giáo, tuy chia rẽ về mặt đức tin, vẫn liên kết với nhau bằng một liên hệ vô hình. 104. Nhưng không phải vì thế mà người ta có thể nghĩ rằng cơ cấu trật tự hài hoà đó, cơ cấu, như người ta thường nói, “hữu cơ” của thân thể Giáo hội chỉ liên quan và giới hạn trong các cập bậc trong hàng giáo phẩm; hay, như 105. quan niệm đối nghịch chủ trương, chỉ gồm những kẻ được ơn đặc sủng (charismatiques), mặc dù Giáo hội sẽ không bao giờ thiếu những người tràn đầy những hồng ân kỳ diệu đó. Điều ta phải luôn luôn giữ vững là những ai trong than thể đó được ủy nhiệm năng quyền thánh thiêng làm những chỉ thể đặc ưu và cốt yếu của thân thể, bởi lẽ, theo lệnh truyền của Đấng Cứu Độ, chính nhờ họ mà các chức vụ của Đức Kitô là Thầy, là Vua, là Tư tế vẫn mãi mãi tồn tại. Tuy nhiên các Giáo phụ đã hoàn toàn có lý, hoàn toàn chính đáng về điểm sau đây: khi các ngài ca ngợi các thừa tác vụ, cấp bậc, cương vị, quy chế, phẩm trật, chức vụ trong cơ thể (Giáo hội), các ngài khong chỉ nhằm những ai đã lãnh nhận các chức thánh mà là hết những người đã sống theo các lời khuyên Phúc Âm, bất kể họ hoạt động giữa người đời hay sống âm thầm trong yên lặng, hoặc cố gắng dung hoà cả hai lý tưởng theo quy định của từng tu hội; cả những người vẫn sống ngoài đời mà nhiệt tâm tận hiến làm việc bác ái nâng đỡ tha nhân cả hồn lẫn xác; và cuối cùng, cả những ai sống cuộc sống vợ chồng theo đức khiết tịnh. Thậm chí ta còn phải ghi nhận rằng, đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay, các bậc cha mẹ trong gia đình, các người làm cha mẹ đỡ đầu trong phép Rửa, và các người cộng tác với hàng giáo phẩm với danh nghĩa là giáo dân để nới rộng vương quyền của Đấng Cứu Độ là Thiên Chúa chúng ta, tất cả các người đó đều 106. giữ một vị trí danh dự, tuy thường là khiêm tốn, trong xã hội Kitô giáo; cả những người đó cũng có thể, với sự linh hứng và trợ giúp cua Thiên Chúa, đạt tới tột đỉnh của sự thánh thiện là điều theo lời hứa của Đức Giêsu Kitô sẽ không bao giờ thiếu trong Giáo hội… 108. Nhưng thật ra chỉ được xếp vào số các chi thể của Giáo hội những ai đã lãnh nhận phép Rửa tái sinh, tuyên xưng đức tin chân chính và không tự tách ra khỏi toàn bộ thân thể để chính mình chịu thiệt thòi, hay không bị cấp thẩm quyền hợp pháp trong Giáo hội trục xuất vì những vi phạm cực nặng. ” Thật thế, ” như vị Tông đồ tuyên bố, ” tất cả chúng ta, dầu là 109. Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể “. Vậy, như trong cộng đoàn các tín hữu theo đung nghĩa chỉ có một thân thể, một Thần Khí và một phép Rửa, thì cũng chỉ có thể có một đức tin duy nhất mà thôi (xc. Ep 4, 5); kẻ nào từ chối nghe lời Giáo hội thì phải theo lệnh của Chúa mà coi người đó như dân ngoại và người thu thuế (xc. Mt 18, 17). Và những ai vì đức tin hay vì hệ thống cai quan mà chia rẽ với nhau, thì không thể sống trong cùng một thân thể như vậy, nhờ cùng một Thần Khí Thiên Chúa. 120. Bởi vì Đức Kitô giữ một vị trí cao siêu như vậy, điều chính đáng và đúng với công trạng của Người là chỉ có Người là Đấng duy nhất dẫn dắt và cai quản Giáo hội, mà cũng chính vì thế ta phải coi Người giống như Đầu… 122. Tuy nhiên ta không được nghĩ rằng việc Người cai quản (Giáo hội) diễn ra theo phương thức vô hình hay bất thường. Trái lại, Đấng cứu độ là Thiên Chúa chúng ta cai quản nhiệm thể của Người theo phương thức hữu hình và bình thường qua đấng đại diện Người nơi trần thế… 124. Vậy sai lạc một cách nguy hiểm là những ai tưởng mình có thể gắn bó với Đức Kitô là Đầu của Giáo hội mà không trung thành tuân theo vị Đại diện của Người nơi trần thế. Bởi khi bỏ qua cái đầu hữu hình dưới thế này, khi phá vỡ các tương quan hiệp nhất hữu hình, họ bôi đen và bóp méo Nhiệm thể của Đấng Cứu Thế khiến cho những ai kiếm tìm bến cứu độ vĩnh cửu không thể tìm thấy và nhận ra Nhiệm thể đó.
Giáo hoàng Piô XII (1939-1958) Thông điệp “Humani generis” (1950)
129. Chỉ có Huấn quyền Giáo hội mới bảo toàn, bảo vệ và giải thích đức tin
Latinh: DH 3875-3899 Pháp: FC, t. 276-277. Tuy nhiên, đối với thần học gia trong lãnh vực đức tin và luân thường đạo lý, Huấn quyền của Giáo hội phải là quy tắc trực tiếp và phổ quát để nhận ra Chân lý bởi lẽ Đức Kitô Chúa chúng ta đã trao cho huấn quyền đó toàn bộ kho tàng đức tin, Kinh Thánh và Truyền thống để (Giáo hội) gìn giữ, bảo vệ và minh giải… Quả vậy, cùng với các nguồn suối thánh thiêng nói trên, Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội quyền huấn giáo linh động, để soi tỏ và khai triển những gì trong nội dung kho tàng đức tin mới chỉ là mập mờ, có thể nói, mới chỉ là mặc nhiên². Kho tàng đức tin đó, Đấng Cứu Độ chúng ta đã không trao phó cho các tín hữu xét như cá nhân, cũng không trao phó cho các thần học gia, mà duy nhất cho Huấn quyền cua Giáo hội. Mà nếu Giáo hội thi hành huấn quyền của mình, như Giáo hội thường làm trong quá trình là theo con đường thông thường hay bất thường, thì điều hiển nhiên là phương pháp lấy cái tối tăm để cắt nghĩa cái sáng sua là hoàn hoàn sai lầm, mà đúng ra là phải theo trình tự ngược lại. Chính vì thế mà đức Piô IX, vị tiền nhiệm đời đời thương nhớ của chúng tôi, khi truyền dạy rằng vai trò cao quý của thần học là cho thấy giáo lý do Giao hội định nghĩa đã hàm chứa trong các nguồn suối đức tin, đã có những lý do không phải là không quan trọng để nói thêm những lời sau đây : “trong chính ý nghĩa do Giáo hội đã định nghĩa”
Hội đồng đại kết các Giáo hội Tổng Đại hội lần thứ III tại New-Delhi 1961
130. Chứng tá giáo dân và thừa tác vụ của hàng chức phẩm
W.A. Visser’t Hooft (éd.), Neu-Delhi 1961. Dokumentarbericht ueber die Dritte Vollversammlung des Oekumenischen Rates der Kirchen, Stuttgart 1962. Đề tài giáo dân trong Giáo hội không chỉ đặt ra trong các Giáo hội trong tương quan với quan niệm đầy đủ về chức phẩm, mà thật ra là một vấn đề tổng quát của Kitô giáo. Do đó Hội đồng đại kết các Giáo hội trong Tổng Đại hội lần thứ II tại Evanston đã lập ra một Văn phòng giáo dân riêng biệt. Kết quả hoạt động của Văn phòng này lộ rõ trong bản tường trình của Phân bộ “Chứng tá” của Hội đồng đại kết các Giáo hội trong Tổng Đại hội lần thứ III tại New-Delhi (1961) 96. Để thực sự đạt được mục tiêu, chứng tá của giáo dân phải xuất phát từ một lối hiểu triệt để Phúc Âm hầu được diễn tả một cách rõ ràng và mạnh mẽ trong một ngôn ngữ người nghe dễ hiểu và nhận ra ngay tức khác tầm quan trọng cho các mối quan hệ cá nhân và xã hội của họ. Chỉ giáo dân mới có thể ăn nói với bạn bè đồng nghiệp sao cho điều kiện chung của họ là gắn bó với công ăn việc làm nổi bật lên rõ ràng; chỉ giáo dân mới có thể minh chứng rằng Tin Mừng Đức Kitô có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trong chính hoàn cảnh hiện tại, chứ không chỉ trong một lãnh vực “Giáo hội ” xa xôi hay trong thế giơi bên kia. Người giáo dân mà nhận ra trách nhiệm của mình là làm chứng cho Đức Kitô trong cuộc sống hằng ngày, sẽ nhiệt liệt hoan nghênh khi được đào tạo tương xứng nhằm giúp mình hiểu và bảo vệ chân lý Kitô giáo… Người có chức mục sư có thể giúp nhiều trong việc chuẩn bị công cuộc rao giảng thừa sai theo kiểu đó. Mục sư không những có thể đóng góp giúp người ta hiểu biết Kinh Thánh, tín lý Kitô giáo và các vấn đề tương tự, mà còn có thể bàn luận với giáo dân và lắng nghe họ khi họ nói về hoàn cảnh trong đó họ phải làm chứng nhân. Bằng cách đó, giáo dân và mục sư có thể cùng nhau hiểu sâu hơn ý nghĩa của Phúc Âm đối với cuộc sống trong thế giới ngoài đời hiện nay… Điều tối khẩn là toàn thể các thành viên cộng đoàn hiểu lại một cách mới mẻ ý nghĩa của một số từ ngữ. Họ phải học biết rằng “giáo dân” đúng ra là Dân (Laos), nghĩa là toàn thể Dân Chúa trong thế giới này, dĩ nhiên bao gồm cả những người đã được phong chức. Họ phải học tiếp rằng “chức vụ” nhằm chỉ mọi thứ dịch vụ qua đó người kitô hữu nhân danh Đức Kitô ra tay giúp đỡ người đồng đạo hay đồng loại, khi thi thố khả năng và tài năng đặc biệt của mình.
Giáo hoàng Gioan XXIII (1958-1963) Gaudet Mater Ecclesia (1962)
131. Lời kêu gọi cập nhật hoá (Aggiornamento)
Ý, Latinh và Đức: L/ Kaufmann / N. Klein, Johannes XXIII. Prophetie im Vermaechtnis, Fribourg / Brig 1990, 116-150. Trong diễn từ khai mạc Công đồng Vatican II giáo hoàng Gioan XXIII đề ra cho Công đồng nhiệm vụ chính yếu là cập nhật hoá Giáo hội. Vấn đề không phải là lên án mà là tìm hiểu các dấu chỉ thời đại và trình bầy sứ điệp Kitô giáo sao cho con người ngày nay hiểu được. 6. Chúng tôi vững tâm tin tưởng rằng Giáo hội, với sự linh hứng của Công đồng này, sẽ được thêm phần phong phú thiêng liêng và sau khi tiếp nhận được sức lực mới mẻ, sẽ can đảm nhìn về phía tương lai. Đó là niềm chúng tôi xác tín vững vàng : nhờ một cuộc cập nhật hoá (aggiornamento) thích đáng và sự tổ chức khôn ngoan việc cộng tác với nhau, Giáo hội sẽ thành công trong việc làm cho cá nhân người ta, các gia đình, các dân tộc chú trọng hơn đến những thực tại thiên quốc… 8. Trong khi thi hành hàng ngày nhiệm vụ chủ chăn, 我們 cảm thấy bị tổn thương khi nhiều lúc phải nghe những lời trách cứ của những người tuy đầy nhiệt tình nhưng tài phân biệt và sự tế nhị thì chẳng được bao nhiêu. Trong thời gian vừa qua cho đến ngày nay, họ chỉ ghi nhận những điều bất lợi và những thất bại. Họ bảo thời đại chúng ta so với quá khứ chỉ phát triển theo hướng xấu đi. Họ làm như thể họ không rút được bài học nào từ lịch sử vốn là thầy dạy trong cuộc sống, và như thể, trong các đại Công đồng đã qua, nghĩa và tinh thần cua Kitô giáo, kinh nghiệm đức tin và việc thi hành đúng đắn quyền tự do tôn giáo đáng lẽ đã có thể thắng thế trong mọi lãnh vực. Chúng tôi bắt buộc phải phản đối các ngôn sứ bất hạnh đó chỉ tiên báo những tai ương, như thể thế giới sắp sụp đổ đến nơi. 9. Trong tình cảnh hiện tại chúng ta được Thiên Chúa quan phòng dẫn dắt để từng bước đổi mới trật tự các tương quan giữa người và người… Đại Công đồng thứ 21 này có thể tích cực sư dụng các kinh nghiệm phong phú quan trọng trong lãnh vực giáo luật, phụng vụ, mục vụ và quản trị; Công đồng có ý định truyền tiếp giáo lý đức tin uyên nguyên thuần khiết, không bớt xén, không giảm thiểu, không bóp méo, một giáo lý sau quá trình hai mươi thế kỷ đã trở thành di sản chung của nhân loại mà việc này không phải là đã không gặp khó khăn, không phải là đã đã không gây ra tranh luận; một di sản mà không phải ai ai cũng san lòng chấp nhận, nhưng đó vẫn là một kho tàng phong phú rộng mở cho mọi người thiện chí. Nhiệm vụ của chúng tôi không chỉ là bảo toàn kho tàng quý báu đó, như thể chúng tôi chỉ quan tâm đến những thời xa xưa. Nhưng ý định của chúng tôi là dồn hết sự nhiệt thành, không chút sợ hãi, cho nhiệm vụ mà thời đại chúng ta đòi hỏi. Vì thế chúng tôi đi tiếp con đường mà Giáo hội đã đi trong suốt hai mươi thế kỷ… Lấy lòng thương xót làm phương tiện cứu độ 16. Vào lúc Công đồng Vatican II khởi sự, hơn bao giờ hết, người ta thấy rõ rằng “chân lý Đức Chúa muôn đời tồn tại “. Thậm chí ta chứng kiến cảnh các ý kiến đối nghịch nhau của loài người cứ theo thời đại đắp đổi mà nối đuôi nhau, và các sai lầm mới vừa xuất hiện đã biến mất như hơi sương sớm mai. Giáo hội lúc nào cũng đối nghịch với các sai lầm đó; nhiều lúc Giáo hội còn kết án hết sức gắt gao. Nhưng ngày nay, vị Hôn thê của Đức Kitô muốn dùng lòng thương xót làm phương tiện cứu độ hơn là sự nghiêm khắc. Giáo hội thâm tín rằng Giáo hội mà chứng minh Giáo của mình là chính xác thì thích hợp với đòi hỏi của thời nay hơn là nếu Giáo hoi công bố một lời kết án.
Công đồng Vatican II Tông hiến về Phụng vụ (4/12/1963)
132. Phụng vụ là lễ hội của Dân Chúa Tông hiến “Sacrosanctum concilium”
Pháp: Les Actes du Concile Vatican II, Textes intégraux, Le Cerf, Paris 1965, t. 142. 147. Công đồng Vatican II (1962-1965) theo K. Rahner là một “công đồng của Giáo hội về Giáo hội”. Hầu hết các sắc lệnh của công đồng đều liên quan đến Giáo hội, đến lối Giáo hội tự hiểu chính mình và lối sinh hoạt của Giáo hội trong thế giới thời nay. Tại công đồng có những phát biểu từ nhiều truyền thống và nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau được lần lượt đưa ra một cách rời rạc. Vì thế chọn điều gì cũng có nghĩa là đã quyết định rồi, do đó không khỏi không có vấn đề. Ta cũng không thể nào dù chỉ nói qua hết mọi đề tài Giáo hội học được công đồng đề cập đến. Ta chỉ cần nhấn mạnh một vài đoạn quan trọng trong Tông hiến về Giáo hội Lumen Gentium. 26. Động tác phụng vụ không có tính chất cá nhân riêng tư mà là do Giáo hội vốn là “bí tích hiệp nhất” cử hành, nghĩa là do dân thánh được tụ tập và tổ chức dưới quyền các giám muc. Vì thế các động tác phụng vụ liên hệ đến toàn bộ nhiệm thể Giáo hội, biểu lộ nhiệm thể, và ảnh hưởng trên nhiệm thể; chúng quan hệ đến từng chi thể của nhiệm thể đó theo những cách khác nhau, tùy theo phẩm trật, chức vụ và mức độ tham gia tích cực. 37. Trong những lãnh vực không liên quan đến đức tin và lợi ích chung của cộng đoàn, Giáo hội, ngay cả trong phụng vụ, cũng không muốn áp đặt những công thức đồng nhất cứng nhắc : trái lại Giáo hội trau dồi và khuyến khích đức tính và tài năng của các dân tộc khác biệt; những gì trong phong tục các dân tộc không gắn liền một cách bất khả phân ly với mê tín và sai lầm, thì Giáo hội ưu ái đánh giá, và nếu có thể, cố gắng gìn giữ nguyên vẹn; thậm chí có lúc Giáo hội chấp nhận đưa các yếu tố đó vào trong phụng vụ, miễn là chúng hoà nhập được với các nguyên tắc của một tinh thần phụng vụ chân chính và trung thực.
Công đồng Vatican II Hiến chế tín lý về Giáo hội (21/11/1964)
133. Giáo hội xét như Mầu nhiệm và như Dân Chúa Hiến chế tín lý Lumen gentium
Pháp: Les Actes du Concile Vatican II, Textes intégraux, Le Cerf, Paris 1965, t. 13-61.
- Đức Kitô là Ánh sáng muôn dân. Vì thế Công đồng thánh thiêng này, do Thánh Thần triệu tập, nhiệt thành ao ước lấy ánh của Đức Kitô phản chiếu trên gương mặt Giáo hội mà soi tỏ mọi người, bằng cách loan báo Phúc Âm cho mọi loài thọ tạo (xc. Mc 16, 15). Quả vậy, trong Đức Kitô, Giáo hội hầu như là bí tích, nghĩa là dấu hiệu và khí cụ để kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và để thống nhất toàn thể nhân loại…
- … Những kẻ tin vào Đức Kitô, ( Chúa Cha) đã quyet định triệu tập họ trong Hội thánh vốn đã được phác họa trước, từ buổi khai thiên lập địa, được chuẩn bị một cách kỳ diệu trong lịch sử dân Israel và trong giao ước cũ, được thiết lập vào những thời sau hết, được biểu lộ nhờ Thánh Thần (Chúa Cha) đổ xuống, và sẽ được vinh hiển thập toàn khi thời gian kết thúc. Lúc đó, như ta có thể đọc trong sách của các Giáo phụ, mọi người công chính từ Adam, “từ Abel người công chính cho đến kẻ cuối cùng trong những người được tuyển chọn” sẽ được tập họp với Chúa Cha trong Giáo hội phổ quát.
- Mầu nhiệm Giáo Hội thánh thiện tự biểu lộ trong cách Giáo hội được thiết lập. Quả vậy, Chúa Giêsu đã khai trương Giáo hội của Người khi Người loan báo Tin Mừng, nghĩa là Vương quốc, lâu nay vốn là điều Thiên Chúa hứa hẹn trong Kinh Thánh, đã đến : “Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” (Mc 1, 15; xc. Mt 4, 17)… Như vậy, với những đặc ân do Đấng sáng lập trang bị cho Giáo hội, khi trung thành tuân giữ giới lệnh của Người về đức ái, đức khiêm nhường và sự từ bỏ chính mình, Giáo hội nhận được sứ mạng loan báo và thiết lập trong mọi dân nước Vương quốc của Đức Kitô và của Thiên Chúa; nơi trần thế Giáo hội làm mầm mống và đánh dấu những bước đầu của Vương quốc đó. Trong khi Giáo hội dần dần tăng trưởng, Giáo hội vẫn ao ước thấy Vương quốc hoàn tất và Giáo hội hết lòng hết sức hy vọng và ước muốn được kết hiệp với Đức Vua trong vinh quang.
- Đức Kitô, Đấng Trung gian duy nhất, đã thiết lập dưới đất này Giáo Hội thánh thiện của Người, cộng đoàn đức tin, đức vọng và đức ái, như một cơ thể hữu hình và Người không ngừng đỡ nâng Giáo hội; Người dùng Giáo hội mà tuôn đổ chân lý và ân sủng xuống mọi người. Ta không được coi xã hội trang bị với những cơ chế phẩm trật và nhiệm thể Đức Kito, Giáo hội tại thế và Giáo hội tràn đầy ân phúc thiên thượng như hai thực tại riêng biệt, mà cả hai làm thành một thực thể phức tạp duy nhất, với thành tố nhân tính và thành tố thiên tính… Giáo hội đó, được hiến định và tổ chức trong thế giới này như một xã hội, là hiện thực trong Giáo hội Công giáo do đấng kế vị thánh Phêrô và các giám mục hiệp thông với Người cai quản, mặc dù ở ngoài cơ cấu hữu hình của Giáo hội người ta vẫn có thể tìm thấy nhiều yếu tố thánh hoá và chân lý, mà những yếu tố này, vốn là những ân sủng đặc biệt của Giáo hội Đức Kitô, tự thân cũng quy về mối thống nhất công giáo.
- Trong mọi thời, trong khắp các dân tộc, Thiên Chúa tỏ lòng vui thoả đối với ai kính sợ Người và ăn ở ngay lành (xc. 10, 35). Thế nhưng ý thích của Thiên Chúa là thánh hoá và cứu độ con người, không phải từng cá nhân riêng rẽ bất chấp những liên hệ hỗ tương, mà Người đã muốn biến họ thành một dân để họ biết Người trong chân lý và phục vụ Người một cách thánh thiện. Và Người đã chọn dân Israel làm dân riêng và đã lập giao ước với dân, đã từng bước huấn luyện, bằng cách biểu lộ trong lịch sử của Israel chính bản thân và ý định cứu độ của mình, và thánh hiến dân đó dành riêng cho mình. Nhưng tất cả các chuyện đó đã diễn ra là để chuẩn bị và phác hoạ trước giao ước mới, giao ước hoàn hảo thiết lập trong Đức Kitô, và Mặc khải viên mãn sẽ do chính Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể thông ban.
- Đức Kitô là Đức Chúa, là vị Thượng tế lấy từ trong số người phàm, Người đã làm cho dân mới trở thành “vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1, 6; 5, 9-10). Quả thật, những người đã chịu phép Rửa, nhờ được tái sinh và được sức dầu Thánh Thần, được thánh hiến để trở thành ngôi nhà thiêng liêng và hàng tư tế thánh thiện… Chức tư tế chung cho các tín hữu và chức tư tế có tính chất thừa tác hay giáo phẩm khác nhau theo yếu tính chứ không chỉ theo cấp độ, nhưng vẫn quy biện với nhau, bởi cả hai đều thông phần, theo phương thức khác nhau, vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô. Quả vậy, người có chức linh mục thừa tác, với năng quyền thánh thiêng mình đã tiếp nhận, đào tạo và dẫn dắt đoàn dân tư tế, cử hành in persona Christi hy lễ tạ ơn (hay : Thánh thể) và nhân danh toàn thể dân tiến dâng lên Thiên Chúa; về phần các tín hữu thì cứ chiếu theo chức tư tế vương giả mà góp phần vào hiến tế tạ ơn, và thi thố chức tư tế của họ trong việc tiếp nhận các bí tích, cầu nguyện và tạ ơn, lấy đời sống thánh thiện, vị tha và bác ái tích cực mà làm chứng (cho Thiên Chúa).
- Được gia nhập một cách đầy đủ vào xã hội đó nghĩa là vào Giáo hội những ai, một khi có Thần Khí của Đức Kitô, chấp nhận toàn bộ cơ cấu Giáo hội cùng tất cả các phương tiện cứu độ thiết lập trong Giáo hội, và trong cơ chế hữu hình của Giáo hội, được kết hiệp với Đức Kitô, Đấng điều khiển Giáo hội qua đức giao hoàng và các giám mục, nhờ liên kết với nhau trong lời tuyên tín, các bí tích, hệ cai quản Giáo hội và mối hiệp thông. Tuy nhiên Ơn cứu độ không dành cho kẻ nào gia nhập Giáo hội mà không lưu lại trong đức ái, kẻ nào tồn tại trong lòng Giáo hội “bằng thân xác chứ không bằng tâm hồn”. Con cái Giáo hội phải nhớ rằng họ được ưu đãi như vậy không phải do công trạng riêng của họ mà là do đặc ân của Đức Kitô; nếu trong tư tưởng, lời nói và hành động, họ không tương ứng với ân sủng đó thì thay vì được cứu độ họ sẽ phải chịu án phạt nghiêm khắc.
- Những ai nhờ phép Rửa chia sẻ danh dự được gọi là kitô hữu nhưng không tuyên xưng đức tin toàn diện hoặc không giữ mối hiệp thông thống nhất dưới quyền đấng kế vị thánh Phêrô, Giáo hội biết mình có nhiều lý do để liên đới với họ. Quả vậy, có nhiều người tôn Kinh Thánh lên hàng quy tắc đức tin và đời sống, thành thật nhiệt tâm trong nếp sống tôn giáo, thương mến kính tin Thiên Chúa là Cha toàn năng và Đức Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ, lãnh nhận dấu ấn ép Rửa kết hiệp họ với Đức Kitô, thậm chí còn công nhận và lãnh nhận các bí tích khác trong Giáo hội hay cộng đoàn Giáo hội của họ. Có nhiều người có cả chức giám mục, cử hành thánh lễ Tạ ơn và nuôi dưỡng lòng tôn kính đức Thánh Mẫu đồng trinh của Thiên Chúa, lại còn có cả sự thông công trong cầu nguyện và các ân phúc thiêng liêng khác…
- Sau hết có những kẻ chưa đón nhận Phúc Âm nhưng vẫn liên quan đến Dân Chúa bằng nhiều cách khác nhau… Quả vậy, những ai vô tình không biết Phúc Âm Đức Kitô và Giáo hội của Người, nhưng thành tâm kiếm tìm Thiên Chúa, cố gắng, dưới ảnh hưởng của ân sủng, thực hiện trong hành động của họ thánh ý Thiên Chúa mà họ nhận biết qua tiếng nói của lương tâm, thì những kẻ đó cũng được hưởng Ơn cứu độ. Thiên Chúa quan phòng không nỡ chối từ những điều cần thiết cho Ơn cứu độ của những ai vô tình chưa đạt tới chỗ minh nhiên nhận biết Thiên Chúa, nhưng vẫn cố gắng ăn ở ngay lành, tất nhiên là với sự trợ giúp của ân sủng. Có những gì là chân, là thiện nơi họ, Giáo hội đều đánh giá là để chuẩn bị cho Tin Mừng, là hồng ân của Đấng soi sáng mọi người nhằm mục đích cuối cùng là họ được sự sống.
- Trong các thừa tác vụ thi thố trong Giáo hội từ những thời đầu, truyền thống chứng thực rằng đứng hàng đầu là thừa tác vụ của những ai được phong chức giám mục… Vậy các giám mục, cùng với các trợ tá là các linh mục va phó tế, đã đảm nhận thừa tác vụ săn sóc cộng đoàn.
- Quyền tối thượng của giám mục đoàn trên toàn thể Giáo hội được thi thố một cách trọng thể trong Đại Công đồng (Concile oecuménique). Không đời nào có một Đại Công đồng mà không được đấng kế vị thánh Phêrô xác nhận hay ít nhất là tiếp nhận trong tính cách đó; và đặc quyền của giám mục Rôma là triệu tập, chủ toạ và xác nhận các công đồng đó. Các giám mục có mặt trên khap thế giới có thể cùng với đức giáo hoàng thi hành quyền tập thể đó, miễn là có đấng làm đầu giám mục đoàn mời gọi các ngài hành động trong tư cách đoàn thể, hay ít nhất phê chuẩn hoặc tự do chấp nhận hành động chung của các giám mục tản mác khắp nơi, sao cho có một hành động đoàn thể đích thực.
- Trong các nhiệm vụ chính yếu của các giám mục, nhiệm vụ hàng đầu là rao giảng Phúc Âm. Quả vậy, các giám mục là sứ giả đức tin đem đến cho Đức Kitô những môn đệ mới, các ngài là thầy dậy “trung thực”, nghĩa là với đầy đủ thẩm quyền của Đức Kitô. Các ngài rao giảng sứ điệp phải tin và phải vận dụng vào nếp sống luân lý cho đoàn dân các ngài được trao phó, và các ngài cắt nghĩa sứ điệp đó dưới ánh sáng của Thánh Thần, bằng cách rút ra từ kho tàng mặc khải cả cái mới lẫn cái cũ (Mt 13, 52)… Giám mục xét riêng từng vị không được hưởng đặc quyền bất khả ngộ; thế nhưng, khi sống tản mác trên khắp thế giới mà các ngài vẫn giữ liên hệ hiệp thông với nhau và với đấng kế vị thánh Phêrô, vẫn giảng dạy một cách trung thực trong lãnh vực đức tin và luân thường đạo lý, vẫn đồng thanh trình bầy một giáo lý như có tính chất vĩnh viễn bó buộc, thì đúng là các ngài công bố một cách bất khả ngộ giáo lý của Đức Kitô. Ta càng thấy rõ điều này khi các giám mục, tụ họp thành đại công đồng, làm công việc dạy dỗ và xét xử cho toàn thể Giáo hội của Đức Kitô trong lãnh vực đức tin và luân thường đạo lý… Giám mục Rôma và các giám mục, chiếu theo nhiệm vụ của các ngài và đúng theo tầm quan trọng của sự việc, dùng hết những phương tiện thích hợp mà nỗ lực cắt nghĩa mặc khải một cách chính xác và trình bầy một cách thích hợp; nhưng không phải là các ngài nhận được một mặc khải công khai mới mẻ như một phần bổ túc cho kho tàng đức tin.
- Các giám mục là đại diện Đức Kitô phái đến; các ngài dùng lời khuyên bảo, thuyết phục và gương sáng, nhưng cũng dùng thẩm quyền và năng quyền thánh thiêng mà cai quản Giáo hội phân bộ được trao phó cho các ngài… Nhiệm vụ chủ chăn, nghĩa là việc chăm sóc đoàn chiên một cách liên tục và thường nhật, được trao phó đầy đủ cho các ngài; ta không được coi các ngài như là đại diện của các giám mục Rôma, bởi vì cac ngài sở hữu một năng quyền đặc biệt cho các ngài, và khi gọi các ngài là đầu của đoàn dân các ngài dẫn dắt thì đó hoàn toàn đúng với sự thật…
- Đức Kitô, Đấng Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế giới, đã thông qua các Tông đồ của Người mà cho các đấng kế vị các ngài là các giám mục tham dự vào chức thánh và sứ mạng của Người. Các ngài đã truyền lại một cách hợp pháp nhiệm vụ thừa tác của các ngài cho nhiều người trong Giáo hội theo những cấp độ khác nhau. Như vậy, thừa tác vụ phục vụ Giáo hội, do Thiên Chúa thiết lập, được thi thố theo phẩm trật khác nhau, bởi những kẻ từ xa xưa vẫn được gọi là giám mục, linh mục, phó tế.
- Danh xưng “giáo dân” nhằm chỉ tất cả các tín hữu ngoại trừ những thành viên của hàng giáo sĩ có chức thánh và các dòng tu được Giáo hội công nhận, nghĩa là các tín hữu đã được sáp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa, trở thành Dân Chúa và thông phần theo phương thức riêng của họ vào chức tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô; họ chu toàn phận sự của họ trong sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Giáo hội và trong thế giới.
- Tong đồ giáo dân là việc tham gia vào chính sứ mạng cứu độ của Giáo hội. Nhờ phép Rửa và phép Thêm sức, ai cũng được Chúa sai đi làm việc tông đồ đó. Các bí tích, nhất là bí tích Thánh thể, thông ban và nuôi dưỡng tình yêu đối với Thiên Chúa và con người, mà đó là linh hồn của mọi hoạt động tông đồ. Ơn gọi đặc biệt của giáo dân là làm cho Giáo hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và những hoàn cảnh mà chỉ nhờ họ Giáo hội mới có thể làm muối cho trái đất.
Công đồng Vatican II Sắc lệnh về Phong trào đại kết (21/11/1964)
134. Quy chế Giáo hội của “các Giáo hội và các cộng đoàn Giáo hội” Sắc lệnh về Phong trào đại kết “Unitatis redintegratio”.
Pháp: Les Actes du Concile Vatican II, Textes intégraux, Le Cerf, Paris 1965, t. 195-219.
- … Hơn nữa trong các yếu tố và các giá trị cùng nhau góp phần vào việc xây dựng và tiếp sinh lực cho Giáo hội, có thể có một vài điều, đúng hơn, có thể có nhiều điều, mà là những điều quan trọng, hiện hữu ngoài phạm vi hữu hình của Giáo hội Công giáo : Lời Chúa trong dạng văn viết, đời sống ân sủng, đức tin, đức vọng và đức ái, những ân huệ nội tâm khác của Thánh Thần và những yếu tố hữu hình khác. Tất cả các điều đó đều có Đức Kitô là ngọn nguồn, và đương nhiên (de jure) thuộc về Giáo hội duy nhất của Đức Kitô…
Do đó, các Giáo hội và các cộng đoàn ly khai, mặc dù, theo như chúng tôi tin, vẫn có những điểm khuyết, không phải là không có ý nghĩa, không phải là không quan trọng, trong mầu nhiệm cứu độ. Quả vậy, Thần Khí Đức Kitô đã khứng lấy đó làm những phương tiện cứu độ mà hiệu lực bắt nguồn từ ân sủng và chân lý viên mãn vốn được trao phó cho Giáo hội Công giáo.
- Người ta không được quên rằng tất cả mọi điều mà ân sủng của Thánh Thần thực hiện nơi các anh em ly khai của chúng ta có thể góp phần xây dựng chính chúng ta. Bởi bất cứ điều gì có tính chất thật sự Kitô giáo thì không đời nào nghịch lại với các giá trị của đức tin, mà còn có thể góp phần cho người ta hiểu thấu đáo hơn mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo hội. Chính vì thế mà sự chia rẽ giữa người kitô hữu với nhau là một trở ngại cho Giáo hội trong việc thực hiện một cách viên mãn đặc tính của mình là tính công giáo nơi những người con tuy thuộc về mình do phép Rửa nhưng đã tách biệt, không hoàn toàn hiệp thông với mình. Thậm chí ngay cả Giáo hội cũng vì thế mà gặp nhiều khó khăn hơn trong việc diễn tả trong cuộc sống hiện thực tính công giáo viên mãn dưới mọi khía cạnh.
- Khi so sánh các giáo thuyết với nhau người ta không được quên rằng có một trật tự hay một “phẩm trật” cho các chân lý của giáo lý công giáo, tùy theo tương quan khác biệt của các chân lý đó với nền tảng đức tin Kitô giáo. Làm như thế là chuẩn bị con đường dẫn mọi người tới chỗ nhận biết sâu đậm hơn và trình bầy mạch lạc hơn sự phong phú khôn dò thấu của Đức Kitô, trong cảnh anh em ganh đua với nhau.
Công đồng Vatican II Tuyên ngôn gởi các tôn giáo phi Kitô giáo (28/10/1965)
135. Dân Chúa trong Do Thái giáo và trong Giáo hội Tuyên ngôn về tương quan giữa Giáo hội với các tôn giáo phi Kitô giáo “Nostra Aetate”
Pháp: Les Actes du Concile Vatican II, Textes intégraux, Le Cerf, Paris 1965, tome III, t. 159-165.
- Khi suy niệm về mầu nhiệm Giáo hội, Công đồng nhớ đến liên hệ thiêng liêng gắn bó dân Giao ước Mới với dòng dõi của tổ phụ Abraham.
Quả vậy, Giáo hội Đức Kitô công nhận rằng mầm mống khai mào cho đức tin của mình và cho việc mình được tuyển chọn đã hiện diện nơi các tổ phụ, nơi Môsê và các ngôn sứ. Giáo hội tuyên nhận rằng mọi kẻ tin vào Đức Kitô, trong tư cách là con cái Abraham chiếu theo đức tin, đều được bao hàm trong ơn gọi của vị tổ phụ đó, và trong cuộc xuất hành của Dân tuyển chọn ra khỏi vùng đất nô lệ, Ơn cứu độ của Giáo hội đã được phác họa trước một cách mầu nhiệm. Vì thế Giáo hội không thể nào quên rằng Giáo hội đã nhờ Dân đó mà tiếp nhận được Mặc khải của Cựu Ước, một dân vốn được Thiên Chúa, với lòng thương xót khôn tả, khứng ban cho Giao ước Cổ xưa, và Giáo hội vẫn được nuôi dưỡng bởi gốc rễ của cây ô-liu chính trên đó được tháp vào những cành của cây ô-liu dại, nghĩa là các dân ngoại. Giáo hội tin rằng Đức Kitô, mối bình an của chúng ta, đã hoà giải Do Thái và dân ngoại bằng thập giá, Người đã liên kết đôi bên thành một nơi bản thân Người… Giáo hội cũng nhắc nhở rằng các Tông đồ, nền móng và cột trụ của Giáo hội, nguồn gốc của các ngài là dân Do Thái, cũng như phần lớn các môn đệ đầu tiên đã loan báo Phúc Âm Đức Kitô cho thế giới… Cho dù là giới giáo quyền Do Thái cùng đồ đệ của họ đã góp phần khích động vào trong cái chết của Đức Kitô, ta không thể cứ lờ mờ mà quy trách nhiệm cho mọi người Do Thái sống vào thời đó hay cho người Do Thái thời nay về những điều xẩy ra trong cuộc thương khó của Người.
Công đồng Vatican II Hiến chế tín lý về Mặc khải
136. Mối thống nhất giữa Kinh Thánh và Giáo hội Hiến chế tín lý về Mặc khải “Dei verbum”
Pháp: Les Actes du Concile Vatican II, Textes intégraux, Le Cerf, Paris 1965, tome II, t. 18.
- Truyền thống thánh thiêng và Kinh Thánh gắn bó chặt chẽ với nhau và ăn thông vào nhau. Cả hai đều xuất phát từ cùng một nguồn suối, kết lại với nhau thành một dòng chảy duy nhất và hướng tới cùng một mục đích. Bởi Kinh Thánh chính là Lời Chúa được ghi chép thành văn dưới sự linh hứng của Thần Khí Thiên Chúa; còn Truyền thống thánh thiêng thì thông truyền nguyên vẹn Lời Chúa, do Chúa Kitô và Thánh Thần trao cho các Tông đồ, cho các đấng kế vị các Tông đồ, để các vị này, dưới sự dẫn dắt soi tỏ của Thánh thần chân lý, trung thành gìn giữ, minh giải và phổ biến Lời Chúa bằng việc rao giảng.
Công đồng Vatican II Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân (18/11/1965)
137. Đặc sủng của giáo dân là do chính Đức Kitô ban tặng Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân Apostolicam actuositatem
Pháp: Les Actes du Concile Vatican II, Textes intégraux, Le Cerf, Paris 1965, tome II, t. 204-205.
Công đồng Vatican II khi nói về giáo dân luôn luôn nhấn mạnh rằng giáo dân thông phần vào chính sứ mạng của Giáo hội, vào nhiệm vụ mà Đức Kitô đã ủy nhiệm cho các tín hữu. Như thế là ta vĩnh biệt mô hình mà giáo hoàng Piô XII đã mô tả như sau : ” Công giáo tiến hành là khí cụ trong tay hàng giáo phẩm, phải coi như cánh tay nới rộng của hàng giáo phẩm, cho nên theo bản chất phải được đặt dưới quyền các đấng lãnh đạo Giáo hội ” 1
- Do bởi được kết hiệp với Đức Kitô là Đầu, giáo dân có bổn phận và có quyền làm công tác tông đồ. Vì được sáp nhập vào Nhiệm thể Đức Kitô nhờ phép Rửa và tiếp nhận sức mạnh của Thánh Thần nhờ bí tích Thêm sức, họ được chính Chúa ủy nhiệm công tác tông đồ. Họ được hiến thánh làm tư tế vương giả và làm dân thánh (xc. 1P 2, 4-10), để tiến dâng công việc của họ làm hiến phẩm thiêng liêng và để làm chứng cho Đức Kitô trên khắp mặt đất… Để giúp họ thực hiện công tác tông đồ đó, Thánh Thần, Đấng thánh hoá bằng thừa tác vụ và các bí tích, còn ban cho các tín hữu những ân sủng đặc biệt…
Việc tiếp nhận các đặc sủng đó, ngay cả những đặc sủng giản dị nhất, kéo theo kết quả là mỗi tín hữu có bổn phận và có quyền sử dụng chúng, trong Giáo hội và trong thế giới, để phục vụ lợi ích của con người và xây dựng Giáo hội.
Công đồng Vatican II Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay (7/12/1965)
138. Một lời mời gọi đối thoại giữa Giáo hội và thế giới Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay “Gaudium et spes”
Pháp: Les Actes du Concile Vatican II, Textes intégraux, Le Cerf, Paris 1965, tome III, t. 63-68.
- Tất cả những điều chúng tôi đã nói về phẩm giá của nhân vị, về cộng đoàn và về ý nghĩa cuối cùng của hoạt động con người, làm nên nền tảng cho tương quan giữa Giáo hội và thế giới và là cơ sở để đôi bên đối thoại.
- Công đồng trân trọng những gì là chân thật, là thiện hảo và là chính đáng trong các cơ chế khác nhau mà nhân loại đã và còn tiếp tục tự tạo cho mình. Công đồng cũng tuyên bố rằng Giáo hội muốn ủng hộ và cổ võ tất cả các cơ chế đó trong mức độ việc đó tùy thuộc Giáo hội và có thể dung hoà với sứ mạng của Giáo hội. Điều Giáo hội ao ước trên hết là có thể tự do phát triển để phục vụ lợi ích con người dưới bất cứ thể chế nào công nhận các quyền căn bản của con người và của gia đình, cùng những gì lợi ích chung đòi hỏi.
- Công đồng khuyến khích người kitô hữu, công dân của hai thành thị (cités), cố gắng chu toàn các nhiệm vụ trần thế của mình một cách trung thành, và cố gắng như vậy trong tinh thần Phúc Âm. Xa rời chân lý là những kẻ, vì biết rằng dưới thế này chúng ta không có quê hương bền vững, mà chúng ta chỉ tiến bước tới quê hương tương lai, tưởng mình có thể lơ là với nhiệm vụ trần thế; họ không nhận ra rằng chính đức tin lại càng bắt buộc họ chu toàn các nhiệm vụ đó, tùy theo ơn gọi của mỗi người. Ngược lại, cũng sai lầm không kém những ai tưởng mình có thể hoàn toàn chìm đắm trong hoạt động trần thế, như thể hoạt động đó không mảy may dính dáng đến đời sống tôn giáo vì theo họ nghĩ, tôn giáo chỉ là việc cử hành phụng tự và tuân giữ một vài bổn phận luân lý nhất định. Sự chia cắt giữa đức tin tuyên xưng và nếp sống thường nhật nơi nhiều người là một trong những sai lầm trầm trọng của thời đại chúng ta.
Công đồng Vatican II Tuyên ngôn về quyền tự do tôn giáo (7/12/1965)
139. Tự do tôn giáo và tự do lương tâm, căn cứ trên phẩm vị của con người Tuyên ngôn về quyền tự do tôn giáo “Dignitatis humanae”
Pháp: Les Actes du Concile Vatican II, Textes intégraux, Le Cerf, Paris 1965, tome III, t. 172-184.
- Công đồng Vatican tuyên bố rằng nhân vị con người có quyền tự do tôn giáo. Quyền tự do này cốt ở chỗ mọi người phải được thảnh thơi trước bất cứ áp lực nào từ phía cá nhân hay đoàn thể xã hội và cũng như trước bất cứ quyền lực nào của con người : như thế, trong lãnh vực tôn giáo không ai bị ép buộc hành động nghịch với lương tâm mình; không ai, trong chốn riêng tư cũng như công khai, trong tư cách là cá nhân hay là liên kết với kẻ khác, bị cản trở, trong những giới hạn chính đáng, làm theo lương tâm mình. Hơn nữa, Công đồng cũng tuyên bố rằng quyền tự do tôn giáo có cơ sở trong chính phẩm giá của nhân vị con người…
- Trung thành với chân lý Phúc Âm, Giáo hội đi theo con đường của Đức Kitô và của các Tông đồ khi Giáo hội công nhận nguyên tắc tự do tôn giáo là xứng hợp với phẩm giá con người và với mặc khải của Thiên Chúa, và khuyến khích quyền tự do đó. Giáo lý đó, Giáo hội đã tiếp nhận từ Đức Kitô và các Tông đồ, và Giáo hội đã gìn giữ và truyền lại suốt bao thời gian. Hẳn là trong cuộc sống của dân Chúa trên con đường lữ thứ trần gian xuyên qua các đổi thay của lịch sử, thỉnh thoảng đã có những lối xử sự ít xứng hợp, thậm chí ngược lại, với tinh thần Phúc Âm, nhưng giáo lý của Giáo hội lúc nào cũng chủ trương rằng không ai có thể bị ép buộc đến với đức tin.
Thánh bộ đức tin Mysterium ecclesiae (1975)
140. Một bản điều chỉnh về sự thống nhất và tính duy nhất của Giáo hội
Trong cuộc tranh luận chủ yếu xoay quanh Hans Kueng và các vấn đề về Giáo hội học và tính bất khả ngộ, Thánh bộ đức tin đã công bố tuyên ngôn “Mysterium ecclesiae”. Tài liệu này đề cập đến các đề tài đại kết và vấn đề chức phẩm trong Giáo hội, và cũng đưa ra một số nhận định về việc mọi công thức tín lý đều có tính chất lịch sử, nhưng không phải vì thế mà có thể sai lầm.
- Tuy nhiên người công giáo phải tuyên xưng rằng chỉ vì được Thiên Chúa xót thương ban tặng hồng ân mà họ mới thuộc về Giáo hội do Đức Kitô sáng lập và do các đấng kế vị của thánh Phêrô và các Tông đồ khác điều khiển; nơi các ngài định chế nguyên thủy và giáo lý của cộng đoàn các Tông đồ, di sản trường cửu của Giáo hội về chân lý và sự thánh thiện vẫn nguyên vẹn và sống động. Vì thế người kitô hữu không được phép tưởng rằng Giáo hội Đức Kitô không là gì khác ngoài tổng số những Giáo hội và những cộng đoàn Giáo hội – tuy cách biệt những vẫn là một (Giáo hội) duy nhất theo một cách nào đó; và người kitô hữu cũng không được tự do chấp nhận rằng ngày nay Giáo hội Đức Kitô không còn hiện hữu nơi nào, nhưng phải coi đó như chỉ là một mục tiêu mà mọi Giáo hội và cộng đoàn phải kiếm tìm.
Tổng hội nghị các địa phận tại Cộng hoà Liên Bang Đức (1971-1975) Niềm hy vọng của chúng ta. Tuyên xưng đức tin trong thời nay (1975).
141. Giáo hội như cộng đoàn hy vọng
Gemeinsame Synode der Bistuemer in der Bundesrepublik Deutschland. Beschluesse der Vollversammlung, Freiburg-Basel-Wien 1976.
“Thượng hội đồng Wuerzburg” dẫn nhập các nghị quyết cụ thể bằng một bản tuyên tín dưới nhan đề “Niềm hy vọng của chúng ta” trình bầy nội dung đức tin theo chiều kích tương lai. Trong viễn tượng đó Giáo hội được hiểu như cộng đoàn hy vọng.
- Giáo hội của chúng ta là một cộng đoàn hy vọng. Chúng ta tưởng nhớ đến Chúa khi chúng ta cùng nhau cử hành sự hiện diện hữu hiệu của Đấng đang hoạt động để cứu độ chúng ta ” cho đến khi Người trở lại “; sự tưởng nhớ đó lúc nào cũng phải trở thành một ký ức nguy hiểm nhắc nhở cho chúng ta và cho thế giới nhớ lại tính chất tạm thời của chúng ta…
Dĩ nhiên sức sống của đoàn dân đó và của các kinh nghiệm hiệp thông mà đoàn dân đó được trải qua tùy thuộc vào sức sống của niềm hy vọng. Không có ai hy vọng cho riêng mình. Bởi niềm hy vọng mà chúng ta tuyên xưng không phải là một sự tin tưởng mơ hồ chung chung, không phải là lòng lạc quan bẩm sinh trước cuộc đời; niềm hy vọng của chúng ta triệt để và đòi hỏi đến nỗi không ai có thể sống nổi niềm đó cho riêng mình và chỉ vì riêng mình mà thôi…
Như vậy niềm hy vọng mà chúng ta được sống đó không ngừng phát sinh những mô hình sống động của cộng đoàn Giáo hội, và mặt khác cộng đoàn Giáo hội mà chúng ta đã được kinh nghiệm lúc nào cũng lại trở thành nơi chốn cho niềm hy vọng sống động chín muồi, cho chúng ta cùng nhau học hỏi và tán dương đức vọng. Nhưng các nếp sống Giáo hội của chúng ta chỉ cho chúng ta và cho những người sống chung quanh chúng ta thấy một cách đầy đủ các nét trên đây của một cộng đoàn hy vọng, nơi nẩy nở một cuộc sống phong phú về mặt quan hệ; cộng đoàn hy vọng đó có thể vì thế mà trở thành chất men cho sự hiệp thông sống động trong một xã hội ngày càng nghèo đi về mặt quan hệ…
- Nơi đây, đối với bản thân chúng ta và đối với thế giới chung quanh chúng ta, hơn bao giờ hết chúng ta có một món nợ là làm chứng cho một cộng đoàn hy vọng, một cộng đoàn tự mình biết nhiều cách lối sống động để ” cùng nhau tụ họp nhân danh Người”, một cộng đoàn lúc nào cũng khơi gợi và khuyến khích những mô hình mới mẻ. Nhưng đặc biệt là hàng giáo phẩm, và cả các thành viên các hội đồng và các đại diện các đoàn thể, phải luôn luôn để mắt đến các nguy hiểm ngăn cản người ta kinh nghiệm cộng đoàn một cách sống động, những nguy hiểm thường xuất phát từ mô hình tổ chức thẩm quyền trong Giáo hội, từ guồng máy quản trị và từ những bó buộc định chế nảy sinh từ đó. Quả là có nhiều người ngày nay đau khổ vì hình ảnh về Giáo quyền trong Giáo hội chúng ta và cảm thấy ngay trong Giáo hội mình cũng bất lực trước sự chi phối của các áp lực xã hội và các tương quan máy móc không khác gì trong khắp thế giới chung quanh. Họ quay lưng bỏ đi hoặc nhẫn nại chịu đựng. Vì thế, hơn bao giờ hết, và một cách quyết liệt như chưa từng có, chúng ta ngày nay cần phải nhậy cảm đối với mối nguy hiểm đó trong Giáo hội chúng ta.
Giáo hoàng Phaolô VI (1963-1978) Evangelii nuntiandi.
142. Giáo hội phổ quát – Giáo hội địa phương Về việc Phúc Âm hoá trong thế giới ngày nay (1975)
Việt: Tông huấn Loan Tin Mừng của Đức Thánh Cha Phaolô VI, tr. 53-55.
Dưới sự khuyến khích của Công đồng Vatican II đề cao vị trí của Giáo hội địa phương, sau Công đồng nhiều khu vực văn hoá đã thấy phát triển nhiều mô hình cá biệt trong Giáo hội Công giáo về mặt phụng vụ và giáo lý đức tin. Vì thế vấn đề đặt ra là tương quan giữa Giáo hội địa phương và Giáo hội phổ quát. Trong Tông thư về sứ mệnh truyền giáo, giáo hoàng Phaolô VI đề cập đến đề tài này. Tông thư công nhận trên nguyên tắc các Giáo hội địa phương.
- … Rao giảng Tin Mừng không phải là một việc làm cá nhân, lẻ loi, thuộc riêng một ai, nhưng là một công việc của toàn thể Giáo hội. Khi một nhà rao giảng, một người dậy Giáo lý hay một chủ chăn tầm thường nhất sống trong một miền xa xăm nhất, lên tiếng giảng Tin Mừng, quy tụ cộng đoàn nhỏ bé hay cử hành bí tích, dầu chỉ một mình, người đó cũng đã thực hiện một tác động của Giáo hội và việc làm của người ấy chắc chắn liên kết với hoạt động rao giảng Tin Mừng của toàn thể Giáo hội, không những bằng những tương quan thuộc định chế, nhưng còn bằng những sợi dây vô hình và những liên hệ thâm sâu của trật tự ân sủng nữa. Dĩ nhiên người đó làm thế không phải vì một sứ mệnh mình tự gán cho mình hay do một thúc đẩy cá nhân, nhưng vì hiệp thông với sứ mệnh của Giáo hội và nhân danh Giáo hội.
Xác tín thứ hai: Nếu mỗi người rao giảng Tin Mừng nhân danh Giáo hội, mà Giáo hội làm như thế là theo lệnh truyền của Chúa, thì không một nhà rao giảng nào có toàn quyền trên cuộc rao giảng Tin Mừng của mình để tùy ý thực hiện theo những tiêu chuẩn và những viễn tượng cá nhân mình, nhưng người đó phải hiệp thông với Giáo hội và với các chủ chăn của mình.
- Tuy nhiên trên thực tế Giáo hội phổ quát này hiện thân cụ thể trong các Giáo hội địa phương được thành lập với một phần nhân loại cụ thể, nói một ngôn ngữ riêng, thừa hưởng một di sản văn hoá, một vũ trụ quan, một quá khứ lịch sử, một vốn liếng nhân bản nhất định. Việc tiếp thu những điểm phong phú của Giáo hội địa phương đáp ứng một cảm thức đặc biệt của con người thời nay.
Chúng ta đừng quan niệm Giáo hội phổ quát như một tổng số hay như một liên bang không thuần nhất gồm các Giáo hội địa phương rất khác nhau. Theo ý Chúa, Giáo hội tuy phổ quát do ơn gọi và sứ mệnh, nhưng một khi đã bén rễ trong những vùng văn hoá, xã hội, nhân sinh khác nhau Giáo hội lại mang những bộ mặt, những biểu hiệu bên ngoài khác nhau tùy theo mỗi miền của thế giới.
Như vậy, khi một Giáo hội địa phương tự ý cắt đứt khỏi Giáo hội phổ quát thì Giáo hội đó không còn sống đúng ý định của Chúa; nó tự làm nghèo chiều kích Giáo hội của mình. Nhưng ngược lại, Giáo hội “tràn lan khắp mặt đất” cũng sẽ chỉ là một ý niệm trừu tượng nếu nó không mang lấy hình thể và đời sống nhờ những Giáo hội địa phương.
Chỉ khi nào chúng ta lưu ý đến cả hai sắc thái của Giáo hội, chúng ta mới nhận thấy mối tương quan phong phú giữa Giáo hội toàn cầu và Giáo hội địa phương.
Ủy ban Công giáo Cổ / Chính thống giáo
143. Giáo hội cổ xưa là hình mẫu cho sự hiệp nhất
Đức: Dokumente wachsende Uebereinstimmung, hg. v. H. Meyer u a., Paderborn-Frankfurt, 1983, 37-53.
Ngay sau 1870 các Giáo hội Cổ Công giáo và Chính thống giáo đã bắt đầu trao đổi đối thoại với nhau, với hy vọng các Giáo hội hiệp nhất với nhau, Giáo hội Cổ Công giáo thành “Chính thống giáo Tây phương”, nhưng cuộc thương thuyết tỏ ra phức tạp hơn như người ta nghĩ lúc đầu. Những năm 60 đem lại nhiều điều kiện đối thoại thuận lợi và từ năm 1975 Ủy ban Công giáo/ Chính thống giáo đã nhóm họp nhiều lần. Tuyên bố chung về Giáo hội học (1977/81) cho thấy phía Chính thống rất mong muốn tìm ra một nền tảng chung, bằng cách trở lại các khái niệm thông dụng trong Giáo hội Cổ xưa. Bản văn dưới đây được tất cả các Giáo hội Chính thống chấp nhận cho nên có thể coi đó như một bản văn chính thức xuất phát từ giáo quyền.
- Vậy Giáo hội do Chúa sáng lập nơi trần thế là thân thể của Đức Kitô, mà Người là Đầu; Giáo hội là một cơ thể vừa có thiên tính vừa có nhân tính; là một cộng đoàn người ta có thể mô tả được và nắm bắt bằng giác quan và đồng thời là mối liên hệ nội tại và thiêng liêng giữa các chi thể và Đấng sáng lập, cũng như giữa các chi thể với nhau. Xét như đoàn dân đang trên đường lữ thứ, Giáo hội sống dưới thế này trong thái độ mong đợi Đức Chúa của mình cho đến khi Vương quốc được hoàn tất. Giáo hội hiện hữu và sống trên Trời nơi những kẻ đã đạt tới mức thập toàn và đang được khải hoàn trên đó cũng như nơi các tín hữu đang chiến đấu trong cuộc chiến đấu cao đẹp (xc. 2 Tm 4, 6). Một mặt, Giáo hội là vô hình và thuộc về thiên giới, mặt khác Giáo hội thuộc trần thế và là hữu hình, là một cộng đoàn và một cơ thể với một thừa tác vụ mục tử và tư tế bắt nguồn một cách bình thường từ các Tông đồ, với những nguyên lý tín lý và luân lý trường tồn, và một nền phụng tự vững bền được quy định đâu ra đó, là một thân thể có phân biệt giữa hàng giáo sĩ và giáo dân.
- Trong Giáo hội diễn ra đời sống mới theo (tinh thần) Đức Kitô trong Thánh Thần; trong Giáo hội ân sủng và sự sống thần thiêng của Đấng là Đầu được ban xuống tất cả các chi thể của thân thể để thánh hoá và cứu độ họ.
Vì thế Giáo hội do Chúa sáng lập nơi trần thế không thể chỉ là một thực thể bên trong, một cộng đoàn vô hình hay một Giáo hội lý tưởng bất khả xác định, mà các Giáo hội riêng biệt chỉ là những bản sao bất toàn. Quan niệm yếu tính của Giáo hội như vậy là đi ngược lại tinh thần Kinh Thánh và Truyền thống, là phá hủy nội dung chân thực của Mặc khải và tính chất lịch sử của Giáo hội…
21, 2 Giáo hội vốn là duy nhất nơi trần thế hiện hữu nơi các Giáo hội địa phương; thân thể Giáo hội có trọng điểm trong thánh lễ Tạ ơn cử hành trong sự hiệp nhất với vị giám mục hợp thức và linh mục đoàn của ngài…
23, 4 Mỗi Giáo hội địa phương, xét như cộng đoàn các tín hữu hiệp nhất chung quanh giám mục và linh mục đoàn, là thân thể Đức Kitô, là sự biểu lộ Đức Kitô toàn diện trong một địa phương nhất định. Bởi sức sống của Giáo hội mà Thiên Chúa là Cha ban tặng nhờ sự hiện diện của Đức Kitô trong Thánh Thần, không được ban từng phần một cho các Giáo hội địa phương, mà mỗi Giáo hội được có nguyên vẹn sức sống đó. Vậy đời sống của các Giáo hội địa phương, mặc dầu khác biệt trong phong tục tập quán, là cùng một đời sống duy nhất…
24, 5 Các Giáo hội địa phương công nhận cùng một thực tại duy nhất nơi các Giáo hội khác và biểu lộ yếu tính đồng nhất của mình nhờ sự thống nhất đức tin, tiếp đó là nhờ sự thống nhất trong đời sống phụng vụ bí tích, nhờ sự thống nhất trong các nguyên lý cơ bản về sự tổ chức theo giáo luật và về việc cai quản đời sống Giáo hội cũng như nhờ sự hiệp nhất trong hàng giám mục. Các nguyên lý cơ bản đó đã được diễn tả một cách trung thực trong các khoản luật của bảy Đại Công đồng và các công đồng địa phương đã được công nhận, hay các nguyên lý cơ bản đó đã được các Giáo phụ chứng thực. Thời nay, khi mà Giáo hội còn phải mong đợi và cầu nguyện để Thiên Chúa giải thoát Giáo hội khỏi mọi sự dữ, hoàn thiện Giáo hội trong tình thương của Người và quy tụ Giáo hội từ cùng trời cuối đất trong Vương quốc của Người, các Giáo hội địa phương phải tận lòng bảo toàn ơn hiệp nhất Thiên Chúa ban tặng cho mình và không ngừng chiến đấu chống lại các thế lực tội lỗi chuyên gây chia rẽ ly khai.
File chi tiết: 273.06_GIAO-HOI-HOC-QUA-CAC-TAC-GIA.pdf







